Trong
đời không có cái gì là tự nhiên mà có. Tất cả đều do
nhân duyên sinh ra và cũng do nhân duyên mà biến đổi. Sự
thanh bình trong cuộc sống cũng nương theo sự vận hành của
định luật duyên khởi. Có thể khẳng định rằng, sự an
lạc của cá nhân và sự thanh bình trong xã hội phần lớn
là do chính con người quyết định. Và ngược lại, sự bất
an, chiến tranh, bạo động, thù địch trong xã hội cũng do
chính con người tạo ra và thậm chí ngay những thảm họa
do thiên tai gây ra cũng có một phần trách nhiệm của con người
trong đó. Chúng hoàn toàn không phải do một đấng tối cao
hay là một năng lực siêu nhiên nào ban phước, giáng họa,
thưởng phạt con người cả.
Tận
trong sâu thẳm của cõi lòng, tất cả mọi người đều mong
muốn có được một cuộc sống
an lành, hạnh phúc, muốn sống trong
thanh bình. Vậy thì tại sao từ xưa cho đến nay những con
người bất hạnh, luôn sống trong lo sợ, bất an và đau khổ
vẫn nhan nhản trong xã hội, và chiến tranh, bạo loạn, thù
địch vẫn diễn ra liên miên? Nguyên nhân của vấn đề này
là do đâu?
Có
thể khẳng định rằng, sở dĩ con người vượt lên trên
tất cả muôn loài là bởi con người có lý trí, có ý thức.
Hay nói cách khác là con người có Tâm. Tâm là yếu tố quan
trọng nhất, quyết định tính chất của
cuộc sống. Thiện hay ác cũng do tâm, hạnh phúc hay khổ
đau cũng xuất phát từ tâm. Và do vậy, con người có thể
sống trong thanh bình, hạnh phúc hay không cũng chính do tâm
của con người đóng vai trò quyết
định. Nếu chúng ta nói năng hay
hành động với tâm thanh tịnh thì
chúng ta có được hạnh phúc, chúng
ta sống trong thanh bình; ngược lại, nếu
chúng ta nói năng hay hành động với tâm nhiễm ô thì chúng
ta sẽ phải khổ đau, bất an, gây
nên sự hận thù và bất hòa với người khác. Là bạn hay
là thù cũng do chính chúng ta tạo nên. Ngài Đạt-lai Lạt-ma
có dạy:
“Bạn
và thù bắt nguồn từ những nhân tố khác nhau, trong đó nhân
tố quan trọng nhất là thái độ của chúng ta. Khi chúng ta
cởi mở với người khác, sẵn sàng bày tỏ tình bạn và
sự thiện cảm với họ thì ngay lập tức sẽ tạo ra
một bầu không khí tốt.
Khi
chúng ta làm được điều đó thì người khác sẽ đến với
chúng ta với một nụ cười rạng rỡ trên nét mặt của họ,
không phải là một nụ cười gượng ép, giả tạo mà là
một nụ cười chân thực. Nhưng nếu chúng ta mang trong mình
những ý định xấu, những ý tưởng tiêu cực,
nếu chúng ta không quan tâm đến những quyền lợi và
những ước muốn của người khác; hay nói cách khác, nếu
chúng ta chỉ nghĩ đến bản thân mình và có ý muốn lợi
dụng người khác cho những mục đích
của cá nhân mình thì tình huống
sẽ trở nên xấu đi, thậm chí ngay những người
thân trong gia đình chúng ta cũng sẽ
rời xa chúng ta. Điều này cho thấy rằng bạn và thù là sản
phẩm của chính thái độ của cá nhân chúng ta.”(1)
Một
trong những nguyên nhân dẫn đến
bất an, chiến tranh, bạo loạn, gây hận kết thù
với nhau đó là lòng tham của
con người. Dân gian ta thường bảo rằng “tham thì thâm”,
quả thật là một sự đúc kết
thâm thúy. Lòng tham làm cho con người
mất hết lương tri, họ bất chấp
mọi thủ đoạn để đạt được tham
vọng của bản thân. Vì lòng tham con người có thể tàn
hại lẫn nhau, chém giết nhau. Đôi khi
vì lòng tham mà có những người đã giết hại cả những
người thân yêu nhất của mình, họ có thể
giết cha, giết mẹ, giết bà con, họ hàng, giết
những người bạn đã đồng cam cộng khổ. Lịch sử đã
cho chúng ta thấy có không ít những
vị hoàng tử đã giết chết vua
cha để đoạt lấy ngôi vua, không
ít những vị hoàng thân quốc thích,
các quan đại thần đã lập mưu tính kế để soán ngôi, đoạt
vị. Trong xã hội hiện tại cũng có không ít
những người con giết cha để đoạt gia tài, anh
em chém giết nhau, đưa nhau ra tòa vì chia tài sản không đồng
đều, vợ chồng mưu hại nhau để lấy tài sản của nhau.
Một khi con người bị sai sử bởi lòng tham thì chính bản
thân họ cũng bất an, sợ sệt, chính họ cũng không có hạnh
phúc. Người nào càng ham muốn nhiều thì nhu cầu lợi dưỡng
càng nhiều thêm, do vậy khổ đau ngày càng tăng.
Trong
Đại kinh khổ uẩn đức Phật có dạy rằng: “Này các
Tỳ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên
nhân, do chính dục làm nhân, nên vua tranh đoạt với vua, Sát-
đế-lỵ tranh đoạt với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn tranh
đoạt với Bà- la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia
chủ, cha mẹ, anh em, bè bạn tranh đoạt lẫn nhau. Khi họ đã
dấn thân vào sự tranh đoạt, họ đánh nhau bằng tay, ném
nhau bằng đá, đập nhau bằng gậy
và chém nhau bằng gươm. Do đó, họ bị tử vong, hoặc khổ
đau gần như tử vong”.(2)
Đấy
là nói về tham tiền tài, danh vọng. Con người
còn bị sự chi phối bởi lòng tham đắm sắc dục, tham
về ăn uống, ưa sự nhàn rỗi. Đối với sắc đẹp, mà cụ
thể là đối với những khoái cảm
về xúc chạm thân xác, con người đắm say trong đó, không
biết chán, không biết mệt và càng
ngày càng lún sâu thêm. Về vấn đề này,
trong Kinh Tăng chi bộ, phẩm Sắc, đức Phật có dạy rằng:
“Ta không thấy một sắc… một thanh… một hương... một
vị… một xúc nào khác, này các
Tỳ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn
ông như sắc… thanh… hương...
vị… xúc người đàn bà. Này các Tỳ-kheo, xúc người đàn
bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông” và
“Ta không thấy một sắc… một thanh... một
hương... một vị... một xúc nào khác, này các Tỳ-kheo, xâm
chiếm và ngự trị tâm người đàn bà, như sắc… thanh...
hương... vị... xúc người đàn ông. Này các Tỳ-kheo, xúc
người đàn ông xâm chiếm và ngự
trị tâm người đàn bà”.(3)
Sự
hưởng thụ khoái cảm nhục dục quá độ khiến cho thân thể
hao mòn, bệnh tật phát sinh. Trong
thực tế, nhiều người đã có người hôn
phối nhưng khi gặp những người
khác phái vẫn nảy sinh sự ham
muốn. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ của
bao gia đình, đem đến cái chết oan uổng của nhiều người
và dẫn đến những tai nạn thương tâm.
Hậu quả của vấn đề này còn
đưa đến cho xã hội nhiều tai hại khác, đó là an ninh
xã hội bị xáo trộn, tội phạm tăng thêm, số trẻ em mồ
côi, vất vưởng, không nơi nương tựa
càng nhiều,… Và đã có không ít những quan chức, doanh
nhân phải đánh mất sự nghiệp của
mình cũng chỉ vì sắc dục. Sự đắm nhiễm
sắc dục quá độ khiến cho bao người
cuồng loạn, khổ đau.
Sự
sân hận, ganh ghét lẫn nhau cũng là nguyên
nhân quan trọng dẫn đến chia rẽ, bất an và tàn hại lẫn
nhau. Vì nóng giận, ganh ghét con người
có thể chém giết lẫn nhau, mưu
hại nhau, đánh mất tình thân, phá
vỡ sự giao hảo giữa người với người. Đồng thời, một
khi con người nung nấu sự tức giận,
ganh ghét trong lòng thì chính họ cũng bị chúng thiêu đốt,
bị chúng hành hạ, chẳng những mang tâm
bệnh mà còn dẫn đến thân bệnh, điều này
đặc biệt nguy hiểm đối với những người bị bệnh
tim và bệnh cao huyết áp, vì trong cơn
giận dữ, căm phẫn họ rất dễ bị ngột thở,
rất dễ bị xuất huyết não và dẫn đến đột tử. Trong
bài giảng về Từ bi, đức Đạt-lai Lạt-ma đã nhấn mạnh:
“Sự ghét giận khiến chúng
ta mất sức khỏe và mất đi những người
bạn. Và cuối cùng nó sẽ tàn
hoại đời sống của chúng ta. Những xúc cảm tiêu
cực gây ra những nguy hại ở tất cả mọi cấp độ - cá
nhân, gia đình, cộng đồng, quốc gia, và thậm chí cả toàn
thế giới”. (4)
Những
nhận thức sai lầm, những định kiến, cố
chấp và sự phân biệt giai cấp, giới tính, kỳ thị chủng
tộc, tôn giáo, màu da cũng là những nguyên nhân gây ra khổ
đau, chia rẽ, phá hủy đời sống an bình, hạnh phúc của
cá nhân và xã hội. Những hành vi, những lời nói và những
ý nghĩ bất thiện của con người,
do chính con người tạo ra dưới sự thúc đẩy của tham, sân,
si chẳng những gây ra khổ đau cho con người trong hiện tại
mà còn ảnh hưởng đến tương lai. Và
một khi mình đã tạo ra thì không thể nào tránh khỏi hậu
quả:
Không
trời cao biển rộng, Không hang động, núi rừng. Ðã tạo
nghiệp ác độc,
Trên
đời hết chỗ dung. (Kinh Pháp Cú, kệ thứ 127)
Thế
thì làm sao để có thể tạo dựng thanh bình cho cuộc sống?
Khổ đau và bất an do tâm tạo ra, hay nói cách khác là do chính
con người tạo ra thì sự thanh
bình, hạnh phúc của cuộc sống cũng bắt nguồn
từ chính tâm thức của con người, từ chính sự
thay đổi nơi mỗi cá nhân trong cộng đồng xã
hội. Theo ngài Lama Thubten Zopa Rinpoche:
“Bạn
không tìm thấy được sự thanh bình nếu
bạn quên đi việc chuyển hóa nội tâm. Thông qua sự trưởng
dưỡng của một tấm lòng lương thiện người
ta có thể đạt được sự an bình trong tâm hồn.”(5)
Để
giúp con người tìm được sự bình an trong tâm hồn, nếm
được hương vị an lạc, hạnh phúc trong cuộc sống, để
mọi người có thể sống với nhau trong thanh bình, hòa hợp,
đức Thế Tôn đã dạy nhiều phương pháp thực tập. Những
phương pháp ấy quả thật rất thiết thực và đem
lại lợi ích ngay trong hiện tại
cũng như tương lai cho những ai
thực tập theo những giáo pháp ấy.
Giáo sư Jan Willis, trong bài tham luận tại hội thảo về
vấn đề hòa bình thế giới, đã khẳng
định: “Tôi tin rằng Phật giáo
đem đến cho chúng ta những phương
pháp thiết thực để giúp chúng ta chuyển hóa một thế giới
bạo động và để xây dựng một nền thanh bình dài lâu,
trước hết là từ bên trong mỗi chúng ta rồi nới rộng dần.”(6)
Một
trong những pháp môn căn bản nhất mà
đức Phật đã dạy để giúp con người sống an
lành, hạnh phúc trong tinh thần hòa hợp, thương yêu, đùm
bọc lẫn nhau đấy là Từ bi. Tu tập
tâm từ bi giúp cho chúng ta mở rộng cõi lòng, biết bao dung
và tha thứ, biết thương yêu, cảm
thông và chia sẻ với mọi người, không còn bị
tâm sân hận và ganh ghét, đố
kỵ nung đốt và sai khiến nữa.
Đồng thời, khi đối xử với mọi người với
tâm từ ái, chúng ta có thể cảm hóa được người
khác, dễ dàng tạo được thiện cảm trong
lòng mọi người, do vậy mà chúng ta có thêm những mối quan
hệ tốt và bớt đi những mối thù địch. Có một lời dạy
trong kinh Pháp cú mà hầu như tất cả
mọi người con Phật đều biết đến, đó là:
Hận
thù diệt hận thù,
Ðời
này không có được,
Từ
bi diệt hận thù
Là
định luật ngàn thu.
(Kinh
Pháp cú, kệ thứ 5)
Trong
kinh Thương yêu (Pāli - Mettā sutra), đức
Phật đã dạy về sự tu tập tâm từ như sau: “Như một
bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở
cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối
xử với tất cả mọi loài. Ta hãy đem lòng từ bi không giới
hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên
xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất
cứ gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn
một chút hờn oán hoặc căm thù.
Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi
nằm, miễn là còn thức, ta nguyện
duy trì trong ta chánh niệm từ bi. Nếp
sống từ bi là nếp sống cao đẹp nhất.”(7)
Cùng
với việc tu tập tâm từ bi là thực hành
hạnh bố thí, thiểu dục tri túc để chuyển hóa tâm
tham lam. Bởi thấy được nguyên nhân
gây ra khổ đau và xung đột trong cuộc sống là sự tham
lam, vì vậy đức Phật đã
dạy pháp môn bố thí và
sống thiểu dục tri túc. Một khi chúng ta sống ít ham
muốn, biết vừa đủ và biết dâng tặng
những vật thuộc sở hữu của mình cho người khác thì lúc
ấy tâm tham dục trong chúng ta sẽ
bị suy yếu dần. Và khi chúng ta sống một đời sống
tri túc thì chúng ta rất dễ có được niềm an lạc. Trong
kinh Di Giáo đức Phật có dạy:
“Này các đệ tử, nếu các vị muốn
giải thoát mọi khổ đau thì nên thường xuyên tu tập quán
biết đủ. Pháp biết đủ là cơ
sở của sự an lạc, hạnh phúc và sung mãn. Người biết đủ
thì dẫu nằm trên đất vẫn thấy an lạc, người
không biết đủ dù sống ở thiên đường vẫn
không vừa ý”. Người biết sống tri túc thì không lấy
lòng người khác bằng cách dua nịnh, luồn
cúi và cũng không bị các giác quan sai sử, thao túng, vì vậy
mà tâm người đó được thanh thản
và không tổn hại đến người khác, không gây ra bất hòa.
Tu
tập tâm nhẫn nhục cũng là một pháp môn giúp hành giả có
thể tạo dựng hạnh phúc cho mình và được mọi người mến
mộ. Tu tập hạnh nhẫn nhục thì hành giả phải biết làm
chủ tâm ý của mình, làm chủ được
lời nói cũng như hành vi của mình, không để tâm
sân hận thiêu đốt, không để những
ý nghĩ ghen ghét, thù địch sai
khiến, phải thận trọng trong từng
lời ăn tiếng nói, trong từng hành
vi biểu hiện của mình, không buông
lời thô ác để trả đũa. Nhẫn
nhục là sự biểu hiện sức mạnh nội tâm. Nhẫn nhục còn
là phương thuốc thần hiệu để
đối trị tâm sân hận, làm
lắng dịu lòng sân hận trong mình và có thể làm dịu lại
tâm sân hận, thù địch nơi người khác. Nhẫn nhục đúng
lúc có thể cảm hóa người khác dễ dàng.
Sáu
phép hòa kỉnh cũng là những nguyên
tắc sống giúp con người tạo lập
một tập thể hòa hợp, một xã hội thanh bình.
Nếu mọi người đều thực tập
Sáu phép hòa kỉnh thì xã hội sẽ không có sự
tranh chấp, cướp đoạt, tàn hại
lẫn nhau. Ngược lại, mọi người
sẽ thương kính nhau, hòa đồng với
nhau như nước với sữa, chia sẻ ngọt bùi cùng
nhau và giúp nhau cùng tiến bộ,
cùng xây dựng hạnh phúc cho cuộc sống.
Những
giới luật mà đức Phật đã chế định cho người Phật
tử tại gia cũng như hàng ngũ xuất gia hành trì cũng không
ngoài mục đích là giúp hành giả đạt được sự an lạc
nội tâm, tạo lập một đời sống hạnh
phúc và thanh bình cho cá nhân
và xã hội. Điều này chúng ta có thể nhận thấy rất
rõ qua năm giới mà đức Phật đã chế ra: không sát hại,
không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối và không uống
rượu. Đây là năm giới điều căn bản nhất trong đời sống
tu tập của người Phật tử, xuất gia cũng như tại gia. Việc
giết hại kẻ khác, trộm cắp tài
vật của người khác, sống không chung thủy, nói dối
trá, lừa gạt người khác và sử dụng
những chất gây nghiện, những chất độc hại khiến
cho mình và người đều chịu khổ đau,
bất hạnh, gây ra những xáo trộn, bất an và nguy hại cho
gia đình và cộng đồng xã hội. Vì thế, muốn
có được an vui trong cuộc sống,
được sống trong thanh bình thì phải thực tập năm giới
điều này. Sự sống là vô cùng quan
trọng. Chúng ta muốn tồn tại, muốn
được sống thanh bình mà lại hủy
diệt sự sống quanh ta thì chẳng
khác gì việc mò kim đáy bể. Vì thế, bảo vệ và tôn trọng
sự sống, không gây tổn hại đến mạng sống của tất cả
mọi loài cũng có nghĩa là chúng ta đang xây dựng cho hạnh
phúc của cá nhân và sự thanh bình của cộng đồng xã
hội. Chúng ta có thể khẳng định rằng
năm giới này là những nguyên tắc đạo đức căn bản của
xã hội loài người, chứ không riêng gì những người đệ
tử Phật. Là một người có lý trí, có lương tri, muốn sống
trong hạnh phúc, thanh bình thì nên thực hành theo năm nguyên
tắc đạo đức này.
Với
tâm từ bi vô lượng, muốn cứu khổ cho
muôn loài, muốn giúp mọi người
thoát khỏi khổ đau trong cuộc sống, Thái tử Tất-đạt-đa
đã từ bỏ ngôi vị Đông cung
thái tử, từ giã hoàng cung xa hoa lộng lẫy, từ
giã người vợ diễm kiều và người
con thơ yêu dấu để ra đi với mong ước tìm
ra chân lý, tìm ra con đường cứu khổ. Vì thế,
sau khi đã đạt được sự giác ngộ, giải thoát mọi hệ
lụy, khổ đau, đức Phật đã không
biết mệt mỏi, không quản ngại gian nan, vất vả
trong việc giảng dạy những pháp môn tu tập đến
với mọi người nhằm giúp họ có thể tìm được niềm hạnh
phúc, an lạc trong cuộc sống, hay nói cách khác là để giúp
mọi người có thể sống trong
an bình. Chính vì vậy mà tất cả những pháp môn
tu tập trong đạo Phật đều không ngoài mục đích ấy. Pháp
môn tu tập để được sống an lạc, hạnh phúc mà đức Phật
đã dạy thì rất là nhiều,
ở trên chúng tôi chỉ nêu ra những nét đặc trưng mà
thôi. Tuy có nhiều pháp môn tu tập khác nhau để con người
có thể sống trong thanh bình, hạnh
phúc, nhưng cốt tủy của chúng vẫn là không ngoài
việc chuyển hóa tham lam, sân hận và si mê
nơi mỗi người, vẫn dựa trên nền
tảng của giới-định-tuệ và khởi điểm là từ nơi mỗi
cá nhân trong xã hội, từ việc chuyển
hóa nội tâm và thanh bình trong
tâm của mỗi cá nhân. Xã hội không thể nào có được sự
thanh bình khi mỗi cá nhân, những tế bào cấu thành nên xã
hội, không có được sự thanh bình trong tâm, khi mà
trong tâm mỗi người vẫn còn bị
khích động bởi sự tham lam, sân
hận, vẫn ngổn ngang những ý nghĩ
thù hằn, ganh ghét, những ý tưởng phân biệt, kỳ thị.
Ngày
nay, với sự tinh xảo của những thành tựu khoa học, công
nghệ, với những vũ khí hủy diệt hàng loạt, ý thức về
trách nhiệm đối với sự an bình, hạnh phúc đối với cá
nhân và cộng đồng xã hội nơi mỗi người cần được nâng
cao hơn nữa, cần phải lưu tâm nhiều hơn. Nếu không thì
chỉ vì một ý niệm thù địch, chỉ vì tham vọng cá nhân
là chúng ta có thể gây hại đến không biết bao nhiêu người.
Để góp phần trong việc xây dựng thanh bình trong cuộc
sống, cũng là thực hiện tâm nguyện
cứu khổ độ sanh của đức Từ
Phụ, những người con Phật chúng
ta cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc truyền bá giáo
lý đạo Phật đến với mọi người và tự thân chúng ta
phải tu tập để có được hạnh phúc, an lạc
trong cuộc sống, để có được một nội tâm thanh
bình, và cũng là để chia sẻ kinh nghiệm tu tập với người
khác, để làm những minh chứng hùng hồn cho lợi
ích thiết thực của giáo lý đạo Phật trong
đời sống cá nhân và xã hội.
1.
His Holiness The Fourteenth Dalai Lama, Compassion.
2.
HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ, Kinh số 13: Đại kinh
khổ uẩn.
3.
HT. Thích Minh Châu dịch, Kinh Tăng chi bộ, phẩm Sắc.
4.
His Holiness The Fourteenth Dalai Lama, Ibib.
5.
Lama Thubten Zopa Rinpoche, In search of meaningful life.
7.
HT. Thích Nhất Hạnh dịch, Kinh
6.
Jan Willis, Buddhism and peace.
Tập
San Pháp Luân 52 tháng 6 năm Mậu Tý
08-07-2008
16:23:12