Lời
Giới Thiệu
Lâu
nay, trên mặt báo chí, thỉnh thoảng thấy xuất hiện vài
ba bài viết về đạo Phật. Có bài nói đúng mà cũng có bài
chứa nhiều sai lạc, dễ làm lầm độc giả.
Không
phải chỉ đọc một vài quyển kinh sách mà gọi là đủ điều
kiện để viết về đạo Phật. Tuy nhiên, nếu đã tự nhận
là tu theo đạo Phật, mỗi Phật tử không thể không nên biết
qua đại cương Phật học.
Ðể
giúp ích về phương diện này, và cũng để cho mọi người
khỏi hiểu sai lạc vì những bài báo nói trên, thầy Thạc
Ðức, giáo sư tại Phật Học Ðường Việt Nam, đã viết
một loạt mười bài về đạo Phật trên báo Dân Chủ.
Nay
thể theo ý muốn của nhiều giáo hữu chưa đọc, hoặc đã
đọc rồi mà muốn cho nhiều người khác cùng được đọc,
chúng tôi đã góp nhặt những bài ấy và cho in ra thành sách,
mong rằng lối trình bày sáng suốt và mạch lạc của tác
giả sẽ giúp độc giả có một nhận thức rõ rệt về đạo
Phật là một đạo đang chinh phục hàng trí thức Âu Mỹ,
sau khi đã thấm nhuần tâm hồn người Châu Á.
Viết
tại Sài Gòn, ngày 20/1/57
Hội
trưởng Hội Phật Học Nam Việt
Cư
sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Nguyệt
San Phật Học Louisville, KY - USA
Tái
bản lần thứ nhất Năm 1998
Ðịa
chỉ liên lạc:
Phat-Hoc
Magazine
P.O.
Box 221483
Louisville.
KY 40252-1483. USA
Ðạo Phật
Là Triết Học
Hay Là Một
Tôn Giáo?
Ðạo
Phật là gì? Là một triết học, một khoa học, một luân
lý, hay là một tôn giáo? Cho đến bây giờ vẫn còn rất nhiều
người thắc mắc về vấn đề nầy.
Trước
mắt tôi là một quyển sách. Nếu bạn hỏi rằng vì sao tôi
thấy được cuốn sách đó, tôi sẽ trả lời: vì tôi có
đôi mắt. ''Vì có đôi mắt'' lý ấy ai cũng công nhận. Câu
trả lời tuy không sai, nhưng cũng chưa đúng hẳn. Phải muốn
thấy được cuốn sách, ta cần phải có đôi mắt, nhưng đồng
thời cũng cần có ánh sáng, có không gian, và ít ra, cuốn
sách đó không có cái gì ngăn che lại... Bao nhiêu điều kiện
cần thiết để tôi có thể thấy được cuốn sách! Những
điều kiện ấy tương hợp để giúp tôi có thể thấy được
một sự vật. Khi bạn hỏi tôi rằng đạo Phật có phải
là một triết học không, một tôn giáo không... tôi sẽ trả
lời bạn rằng: ''Chẳng quan hệ gì lắm những cái tên gọi
ấy, bởi vì đạo Phật không phải chỉ là một triết học,
hay là một tôn giáo, một khoa học...''
Ðạo
Phật không phải chỉ là một siêu hình học, dù đạo Phật
có đề cập đến những thắc mắc siêu hình. Siêu hình chỉ
là một phương diện của đạo Phật, và ngoài phương diện
ấy, đạo Phật còn có nhiều phương diện khác nữa. Ðạo
Phật có phải là một triết học không? Phải. Có phải là
một huyền học không? Phải. Có phải là một luân lý học
không? Phải. Ðạo Phật là tất cả; cái gì cũng có trong
đạo Phật. Nhưng nếu chỉ nghiên cứu sâu xa về một mặt
mà bảo rằng đạo Phật chỉ là triết học hoặc chỉ là
một luân lý hay một tôn giáo, thế là đã nhìn đạo Phật
một cách phiến diện.
Câu
chuyện năm người mù rờ voi giúp chúng ta hiểu thêm về vấn
đề nầy. Người rờ chân, bảo voi là cái cột nhà. Người
rờ đuôi, bảo voi là cái chổi. Nhưng thực ra, voi không phải
như cái cột nhà, dù nó có bốn chân giống như bốn cột
nhà, không phải như cái chổi, dù nó có cái đuôi giống như
cái chổi. Cũng như thế, người chú trọng đến phương diện
triết học sẽ cho đạo Phật là triết học, kẻ chú trọng
đến phương diện tôn giáo sẽ cho đạo Phật là tôn giáo...Kỳ
thực, đạo Phật không phải chỉ là triết học hoặc tôn
giáo, hay luân lý. Ðạo Phật bao gồm tất cả triết học,
luân lý, tôn giáo, huyền học.
Có
người sẽ bảo rằng đạo Phật tuy không phải chỉ là một
triết học, một luân lý, nhưng có thể gọi là một tôn giáo,
bởi vì có hình thức đầy đủ của một tôn giáo. Nhưng
có nhiều người - mà nhất là người Tây Phương - thấy đạo
Phật không thờ phụng một đấng tạo hóa nào, thì lại chủ
trương ngược lại rằng Phật giáo không phải là một tôn
giáo mà chỉ là một triết học. Họ nói ''Nếu đạo Phật
là một tôn giáo (une religion) thì có gì minh chứng rằng đạo
Phật là một chân lý thần khải (une révélation)? Nguyên lý
thần truyền nào làm nền tảng cho sự thành lập tôn giáo
này?''
Câu
hỏi đó thường được nêu ra luôn trong giới học giả Tây
Phương. Nhưng thực ra, chẳng có gì quan hệ. Dù ta có gọi
đạo Phật là một tôn giáo hay một triết học đi nữa thì
đạo Phật cũng vẫn là đạo Phật, đạo Phật không vì thế
mà thay đổi đi chút nào. Tiếng ''tôn giáo'' là một tiếng
mới. Trong tam tạng kinh điển ngày xưa, ta không thấy một
tiếng nào có nghĩa tương đương.
Người
đặt ra nghi vấn trên cho rằng ''Tôn giáo thì phải có thần
khải, phải có yếu tố thần truyền, thiêng liêng''. Ðịnh
nghĩa này có vẻ tạm thời quá. Chúng ta thử mở một cuốn
sách từ điển ra, và sẽ thấy ''Tôn giáo = sự liên lạc
giữa người ta với một thượng đế hữu ngã''. Nhưng không
phải ai cũng công nhận như thế. Nếu ta đem hỏi một nhà
triết học , một tư tưởng gia, một nhà huyền học... thì
ta sẽ thấy mỗi người định nghĩa tôn giáo một cách khác
tùy theo sự suy nghĩ và sự hiểu biết của họ. Và trong số
các lối định nghĩa, sẽ có những định nghĩa không bắt
buộc rằng tôn giáo phải là một sự thần khải, phải thờ
một đấng Thượng Ðế, hay phải có một yếu tố linh thiêng.
John
Stuart Mill bảo: '' Sự chủ yếu của tôn giáo là hướng tất
cả mọi xúc cảm và mọi ước muốn của mình một cách nhiệt
thành về một đối tượng lý tưởng được xem như siêu
tuyệt nhất'' (L'essence de la religion est la direction forte et zéleé
des émotions et des désirs vers un objet idéal reconnu comme de la plus
haute excellence).
Voltaire
cho rằng tôn giáo là ''một thứ vô lý đặt ra để bắt đa
số phục tùng''. Một cuốn tự điển của Nga Sô bắt chước
theo quan niệm của Voltaire, cho rằng ''Tôn giáo là sự tin tưởng
vào thần linh, một sự tin tưởng không căn cứ trên nền
tảng khoa học nào cả''. Auguste Comete cho rằng: ''Tôn giáo
là sự thờ phụng nhân loại''. Whitehead bảo: ''Tôn giáo là
sự sinh hoạt của cá nhân trong đơn độc vắng lặng. Nếu
anh không sinh hoạt trong vắng lặng đơn độc thì anh không
phải là người có tôn giáo''.
Và
Aldous Huxley bảo: ''Tôn giáo là một lối giáo dục nhờ đó
mà con người có thể tự giới '' (la religion est un systéme
d'éducation par le moyen duquel les étres humains peuvent se discipliner).
Vậy
thì không có một công thức nhất định nào cả. Và lối
định nghĩa nào cũng có lý riêng của nó. Ta có quyền nhận
hay không nhận định nghĩa của kẻ khác, tùy theo ý ta. Nếu
bạn muốn dùng định nghĩa của Voltaire hay của cuốn tự
điển Nga Sô thì tùy ý bạn, nhưng người khác như tôi thì
lại không nhận được định nghĩa đó. Miễn là bạn đừng
bắt mọi người phải nhận định nghĩa bạn là đúng và
cho tất cả các định nghĩa khác là sai.
Ý
tưởng thần khải là một ý tưởng có từ rất lâu. Không
những kinh Vệ Ðà được xem như là thần khải mà khoa dược
khoa học ngày xưa của Ấn Ðộ, của Trung Hoa cũng được
xem là thần khải nữa.
Văn
phạm Sanscrit, dân Ấn Ðộ tin rằng cũng là một thứ thần
khải, Chính trong hiện thời, ở Ấn Ðộ và ở Trung Hoa cũng
còn nhiều người tin rằng khoa y dược là một khoa do thần
nhân truyền dạy. Cho đến phép cấy lúa, bói toán cũng là
do thần nhân chỉ bảo. Ý tưởng thần khải, như thế, đã
là một ý tưởng rất xưa và rất sơ khai. Vậy thì có quan
hệ gì lắm đâu ở chỗ ''thần khải'' hay không ''thần khải''?
Nếu một tôn giáo mà tôi không có sức hiểu và thực hành
theo được, nếu tôn giáo ấy không có ảnh hưởng và hậu
quả gì đến tôi, thì dù nó có thần khải hay không, đối
với tôi nó vẫn là vô nghĩa.
Trái
lại, nếu một ''tôn giáo'' không có thần khải mà tôi hiểu
được, thực hành được, có thể đem lại cho tôi nhiều
ảnh hưởng tốt và những hậu quả tốt thì tôi vẫn tôn
thờ phụng sự như thường.
Vậy
ta không cần thắc mắc ở chỗ thần khải hay không thần
khải, đạo Phật là tôn giáo hay không là tôn giáo. Ta phải
vượt ra ngoài những loại định nghĩa kia, như thế mới hiểu
được đạo Phật là gì. Ta cũng có thể gọi Ðạo Phật
là một triết học, một tôn giáo, nếu ta muốn, nhưng không
phải vì thế mà ta biến cải được đạo Phật. Ðạo Phật
là đạo Phật, hoặc nói rõ hơn, đạo Phật là những giáo
lý của Phật dạy.
Phật Học
Với Các Môn Học Khác
Tất
cả các môn học đều có mục đích là hiểu biết. Hiểu
biết để được thỏa mãn, và hơn nữa, hiểu biết để
hành động.
Con
người, khi sanh ra, đã mang theo những bất mãn và thắc mắc.
Những bất mãn và thắc mắc ấy một khi chưa được thanh
toán, thì còn là nguyên do của muôn ngàn đau khổ.
Với
một khối óc và một trái tim, con người sinh hoạt khác hẳn
loài vô tình. Bao nhiêu lo âu, giận ghét, bao nhiêu thương yêu
say đắm đã gây cho con người những cuộc khủng hoảng liên
miên về đời sống tình cảm. Thêm vào đó, những câu hỏi
về giá trị cuộc sống được đặt ra, cấp bách và khẩn
thiết không khác gì vấn đề cơm áo. Nhìn những cảnh tượng
đau thương, nhìn những cuộc bể dâu thay đổi của kiếp
sống, con người bàng hoàng tự hỏi mình là ai, đâu là nguồn
gốc của tất cả các hiện tượng, trước mình là ai và
sau mình sẽ có những gì. Vì sao muôn loài tồn tại, tồn
tại để mà tương tàn tương sát, tồn tại để chứng kiến
bao nhiêu nỗi thảm sầu? Ý nghĩa của cuộc sống là gì? Con
người sẽ về đâu sau khi chết? Tất cả những câu hỏi
ấy đến trong trí óc chúng ta như những ngọn gió lốc bạo
tàn. Con người làm sao có được hạnh phúc trong trạng thái
thắc mắc nghi ngờ đó của tâm tưởng?
Bao
nhiêu bất mãn và thắc mắc thì bấy nhiêu đau khổ. Người
ta chỉ có thể có hạnh phúc được khi đã làm thỏa mãn
được những bất mãn và thắc mắc kia. Và như thế thì chỉ
có cách là phải hiểu biết.
Song
có người bảo: "Sự hiểu biết ấy, đối với đại đa số
quần chúng, không cần thiết nào. Quần chúng ít thắc mắc
về những vấn đề siêu hình kia"
Nhưng
ta thử hỏi: Quần chúng có cần thắc mắc về vấn đề nhân
sinh không? Hành động theo đường lối nào, làm sao mà hành
động để xây dựng được một đời sống xã hội hòa bình,
hạnh phúc? Vấn đề nhân sinh được giải quyết như thế
nào? Không ai sống trong xã hội mà lại không cần biết đến
vấn đề đó. Bởi vì có những nhu cầu không thể thiếu
được đối với con người đang sống trong xã hội. Dù si
ám đến đâu, tôi cũng có thể nhận được rằng tôi cần
cơm áo, nhà cửa, tôi cần đến những mối liên lạc giữa
tôi với mọi người trong xã hội. Mà muốn có một nhận
thức về đường lối nhân sinh, tôi phải có một nhận thức
về sự sống, về vũ trụ. Tự-nhiên-giới và nhân-sự-giới
có những tương quan hết sức mật thiết, những liên lạc
hết sức chặt chẽ, và con người muốn thông hiểu nhân-sự-giới,
trước tiên, phải có nhận thức rõ ràng về tự-nhiên-giới.
Huống
nữa vấn đề nhân sinh không phải chỉ là vấn đề no cơm
ấm áo. Con người muốn sinh hoạt cho ra người; nghĩa là cuộc
sống phải có văn hóa, có hướng đến Chân, Mỹ, Thiện.
Và dù ta không có những thắc mắc siêu hình, ta cũng phải
giải quyết những vấn đề siêu hình, bởi vì một nhận
thức về nguyên lai và cứu cánh của vũ trụ bao giờ cũng
là nền tảng cho một nhận thức về đường lối nhân sinh.
Tóm
lại, con người cần, rất cần phải hiểu biết. Các môn
học của con người là để cung cấp sự hiểu biết đó cho
loài người.
Môn
học thường tự hào về mình hơn hết là Khoa Học. Khoa học
thường tự hào bằng cứ hoàn toàn vào thực nghiệm và tìm
hiểu được nhiều hiện tượng. Làm như không còn có môn
học nào khác biết căn cứ trên thực nghiệm để tìm hiểu
được các hiện tượng nữa cả.
Khoa
học chỉ có thể giải thích những hiện tượng và những
sự kiện xẩy ra trong sự tương quan giữa những hiện tượng
ấy. Ðối tượng của khoa học là những hiện tượng khách
quan mà ai cũng có thể đo lường và kiểm soát được ở
mọi địa phương, mọi trường hợp. Cái biết của khoa học
là cái biết về những hiện tượng, cho nên cái nhìn của
khoa học là cái nhìn chi li; vì thế, khoa học tránh không trả
lời những câu hỏi về ý nghĩa, giá trị, và nguyên ủy cuộc
đời. Khoa học không thể vượt ra ngoài những hiện tượng
cụ thể. Thật đúng như lời của nhà triết học Pierre Jean:
"Cái thứ khoa học biết thì biết nhiều mà hiểu thì không
hiểu gì hết" (cette science qui sait tout et ne comprend rien). Vì
thế, cái khát khao hiểu biết tuyệt đối của con người
không thể nhờ khoa học giải đáp được.
Ðứng
về phương diện nhân sinh, "khoa học mà không có lương tri
thì chỉ tổ phá hoại tâm hồn", nền văn minh vật chất,
con đẻ của khoa học, đã tiến đến chỗ cùng cực với
một sức phá hoại ghê gớm: cái biết của khoa học ở đây
lại cũng không phải là cái có thể giải quyết được một
cách căn bản vấn đề nhân sinh.
Tâm
lý học và xã hội học có thể đi xa hơn. Cái biết của
tâm lý học và của xã hội học có thể vượt khỏi cái
biết hiện thời và hiện xứ của khoa học, có thể khám
phá ra nguyên do của nhiều sự kiện tâm lý, xã hội. Tuy nhiên,
đứng về phương diện tuyệt đối, tâm lý học và xã hội
học vẫn không có cao vọng giải quyết được những thắc
mắc siêu hình, và đứng về phương diện nhân sinh, các môn
học nầy cũng chưa có thể định được giá trị và tiêu
chuẩn cho các hiện tượng tâm lý, xã hội.
Triết
học có một cái nhìn tổng quát hơn, rộng rãi hơn. Triết
học chủ trương giải quyết những vấn đề siêu hình, và
nương vào những giải quyết ấy, thiết lập những đường
lối nhân sinh phù hợp. Triết học muốn tìm đến bản thể
và chân tướng của vũ trụ vạn hữu, chủ trương hoặc nhất
nguyên, hoặc đa nguyên, hoặc vô nguyên... Tuy bước đầu cũng
có căn cứ trên thực nghiệm đấy, nhưng dần dần lìa xa
thực nghiệm để đi sâu vào những biên giới siêu hình xa
thẳm. Những lối giải đáp của triết học thật táo bạo
và cố nhiên là không thể kiểm sát được bằng thực nghiệm.
Từ xưa đến nay, biết bao nhiêu triết gia, biết bao nhiêu
lý thuyết chủ trương không giống nhau, và ta nào biết được
đâu là chân lý. Cái mà hôm qua người ta gọi là chân lý,
hôm nay đã không còn là chân lý nữa rồi. Cái mà hôm nay
mọi người cho là chân lý, ngày mai hẳn lại có thể là sai
lạc. Lý trí con người khổ sở vô cùng trong khi đi tìm chân
lý, và đến bây giờ con người lại đâm ra nghi ngờ không
biết rằng lý trí mình có thể có khả năng đạt đến chân
lý hay không? Sự ghi ngờ đó quả đã tố cáo sự kém hèn
của cái tri thức nhân loại. Cái biết của triết học đã
bâng quơ như thế thì làm sao hướng dẫn được nhân sinh
một cách vững vàng chắc chắn?
Nương
vào đâu để có chỗ an tâm lập mạng? Con người chỉ còn
biết vào tôn giáo...
Tôn
Giáo phần nhiều được thành lập trên đức Tin, bác bỏ
hẳn phần lý trí. Ở trong địa hạt nầy, con người phải
đặt hết sự Tin tưởng vào một đấng thần minh, sống đúng
theo những giáo điều định sẵn để chờ một ngày giải
thoát. Con người ở đây được yên ổn hơn, nhưng thương
thay, không dám nghĩ, và làm một điều gì mình cho là đúng
mà ngược lại với những giáo điều cố định. Triết học
thì thuần Hiểu, mà tôn giáo lại là thuần Tin - Cái biết
ở đây không còn có cánh để có thể mong bay xa được nữa.
Ðạo
Phật, như trong bài trước chúng tôi đã nói, bao gồm cả
khoa học, tâm lý học, xã hội học, triết học và tôn giáo.
Không có một vấn đề nào thuộc siêu hình, một vấn đề
nào thuộc nhân sinh mà đạo Phật không đề cập đến. Tuy
đạo Phật không đề cập đến tất cả những chi tiết của
các môn học kia, song ta có thể tìm ở đạo Phật những nguyên
tắc tổng quát giải thích được mọi vấn đề.
Ðạo
Phật lấy sự sống làm căn bản và chủ trương giải thoát
con người khỏi tình trạng sinh hoạt đau khổ, nên chi những
giải quyết của Phật giáo rất là thực tiễn.
Về
các hiện tượng, đạo Phật không chủ trương tìm hiểu cho
cặn kẽ. Bởi vì sự tìm hiểu đó không có lợi ích gì cho
sự tiến bộ trên đường giải thoát. Ðức Phật dạy lý
nhân quả, lý nhân duyên tương-quan tương-thành để chỉ bày
con đường diễn biến thành hoại của muôn vật. Người Phật
tử cần thấy nguyên tắc tương duyên ấy mà quán sát, tu
tập xây dựng. Một quan niệm tương-quan tương-duyên chẳng
hạn có thể làm cơ sở cho một nguyên tắc tổ chức xã hội,
một nguyên tắc giáo dục hợp lý, và là một nguyên do phá
tan những cố chấp mê mờ sẵn có của chúng ta. Trong kinh
Bách dụ, đức Phật Thích Ca có thuật câu chuyện: Một người
bị tên độc, khi thấy người ta bảo rút mũi tên ra, thì
ngăn lại, bảo: "Khoan, để tôi hỏi xem ai bắn mũi tên nầy,
người đó tên họ là chi, ở xứ nào, và thuốc độc nầy
lấy ở đâu, công hiệu ra sao đã." Nếu dần dà tìm hiểu
cho hết từng ấy thứ thì thuốc độc đã thấm vào làm cho
người ấy chết rồi. Cho nên việc quan hệ là phải nhổ
ngay mũi tên và rửa thuốc. Cái biết kia chẳng quan hệ chi.
Ðức Phật chỉ dạy những cái biết cần thiết để cho con
người thoát khổ thôi. Mà những cái biết Phật dạy là những
cái biết lớn lao, không phải là những cái biết lặt vặt.
Cái
biết nào là cái biết lớn lao?
Cái
biết về sự sinh tử và giải thoát.
Với
một trí tuệ giác ngộ, đức Phật đã đạt đến chân lý
tuyệt đối. Nhưng chân lý tuyệt đối ấy phải do mỗi người
tự chứng ngộ. Chân lý kia không thể giải bày trên ngôn
ngữ văn tự được, vì những thứ nầy có một giá trị
thật kém cỏi. Nếu Phật có giải bày thì cũng chỉ giải
bày được bóng dáng của chân lý và những phương tiện để
đi đến chân lý mà thôi. Sự chỉ bày ấy có căn cứ trên
sự giác ngộ thấu đạt, chứ không phải chỉ là những suy
luận siêu hình vẩn vơ như ở triết học. Giáo lý viên giác
và duy nghiệp của Phật dạy chẳng hạn, có thể thuyết minh
được nguyên ủy của vũ trụ nhân loại và vạch được
con đường đi cho nhân loại. Giáo lý duy thức trình bày cặn
kẽ những hành tướng và tác dụng của tâm lý con người,
chính xác, rành rẽ và sâu xa gấp mấy mươi lần tâm lý học
thực nghiệm. Và còn nguyên tắc tổ chức xã hội nào hợp
lý và làm thỏa mãn chúng ta hơn là nguyên tắc "tự biến
cọng biến" của giáo lý duy nghiệp? Con người nương vào
giáo lý Phật dạy để tìm hiểu, để thực hành, cải tạo
bản thân mình và xã hội mình, để được giải thoát và
giác ngộ. Nhưng con người không bị bắt buộc phải tin theo
giáo lý ấy một cách mù quáng. Phật dạy: "Ðừng vội tin
tưởng một điều gì dù điều đó là do một vị truyền
giáo chỉ dạy. Phải suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi tin, và
khi tin rồi phải cương quyết thực hành để đi đến kết
quả" (kinh Kalama).
Nhờ
tìm hiểu, thực hành, chứng đạt, con người có thể cởi
mở được tất cả những nghi nan, thắc mắc. Từ một quan
niệm chính xác - quan niệm duy nghiệp - về vũ trụ và con
người, Phật tử đi đến một quan niệm hợp lý về sự
sống. Người ta tìm thấy ở đạo Phật sự thỏa mãn về
lý trí, về tình cảm. Con người ở đây không bị đè nén,
gò ép, con người ở đây không còn bị thắc mắc nghi nan.
Con người ở đây có thể tìm được chỗ an tâm lập mạng.
Cái
biết của bậc giác ngộ là "cái biết cùng khắp, chân chính
và cao tột" (vô thượng chính biến tri giác). Lời dạy của
bậc giác ngộ gọi là giáo pháp. Phật tử tìm hiểu, chứng
nghiệm chân lý chỉ bày trong giáo pháp ấy để có thể đi
đến cái biết cao tột chân chính kia mà phá tan mọi thắc
mắc. Lòng tin ở đây được lý trí kiểm sát, và cái Tri
đi đến cứu cánh một lần với cái Hành.
Ðó
là nói về phương diện khát khao chân lý. Còn về phương
diện nhân sinh, giáo lý bày giải nguyên tắc tổ chức sinh
hoạt xã hội, và những phương pháp đào luyện nên một nhân
sách siêu việt, chỉ bày một nếp sống hướng thiện, giải
thoát.
Kho
tàng kinh điển còn đó, chúng ta sẽ dần dần tìm học và
sẽ thấy rằng cái biết của Phật quả là một cái biết
rộng lớn và cao đẹp vô song.
Vấn Ðề
Ðức Tin Trong Ðạo Phật
Ðức
Thích Ca có dạy: "Tin là căn bản của sự thành công, và là
nguồn gốc của muôn hạnh lành". Nhưng lòng tin của người
Phật Tử không phải là một lòng tin cuồng nhiệt, sôi nổi,
không suy xét.
Một
đức tin đưa con người đến chỗ thành công quyết không
phải là một thứ mê tín. Một tín ngưỡng mù quáng không
xây dựng trên lý trí xét đoán là một nguy hại lớn cho đời
sống của cá nhân, của gia đình, dân tộc và xã hội. Cái
tín ngưỡng sai lầm có thể làm hại tinh thần quần chúng.
Sự tín ngưỡng mù quáng không căn cứ trên lý trí xét đoán
đã đào luyện và sẽ đào luyện lên những trí óc lười
biếng, ỷ lại, nô lệ cho hoàn cảnh, nô lệ cho dục vọng.
Một
đức tin hổn tạp, thiếu căn cứ, thường hay đi với sự
nương nhờ vào một thế lực phỉnh phờ. Hai thứ ấy nương
nhau, có ảnh hưởng lẫn nhau rất mạnh. Hai thứ ấy cũng
đều tạo nên những bộ óc yếu đuối, ỷ lại, thiếu tinh
thần tự lập. Do một tin tưởng sai lầm, tinh thần càng ngày
càng bị u tối, và sau bức màn thành kiến, con người làm
sao trổi dậy, cường tráng và tự lập cho được?
Ðạo
Phật truyền sang đất Việt đã gần 2.000 năm, có thời rực
rở huy hoàng, nhưng cũng có thời lu mờ hôn ám. Rực rở huy
hoàng hay lu mờ hôn ám chỉ là ở tại đức tin: mê tín đã
gây nên cái hình thức tào tạp của đạo Phật của thời
cận đại. Có nhiều người tự xưng là tín đồ đạo Phật
mà lại có những tín ngưỡng sai lạc hẳn tinh thần Phật
Giáo. Căn cứ vào hình thức ấy, người ta vội mỉm cười,
cho đạo Phật là mê tín, là ỷ lại thần quyền, là chỉ
lo tư lợi, là chán đời, là nhu nhược yếu đuối.
Số
người chịu khó đi sâu vào tinh thần Phật Giáo có được
bao nhiêu đâu! Nhiều kẻ mang danh là tín đồ mà sự hiểu
biết và hành động trái hẳn giáo lý Phật dạy, phản lại
tinh thần từ-bi trí-tuệ của Phật Tổ. Nhận xét bằng một
cặp mắt kém nhận xét, nhiều người trông thấy những màu
mè ấy vội kết luận rằng đạo Phật chỉ là một đa thần
giáo như những đa thần giáo ngày xưa!
Phật
giáo nước Việt trong mấy thế kỷ vừa qua đã có một hình
thức tào tạp. Những hình thức bói xăm, vàng mã, đồng bóng
họp chung lại gọi là "đạo", và trong trường hợp nào (ví
dụ như lên đồng lên bóng chẳng hạn) người ta cũng "mô
Phật" được! Những vị chân tu cùng đạo Phật chân chính,
vì thế, được ít người biết đến. Hèn gì mà đạo Phật
không bị nhận thức sai lầm.
Có
bao nhiêu kẻ thường ngày không biết đến Phật, không nghe,
không hiểu, và không làm theo lời Phật dạy, khi lâm nạn
mới đến chùa tháp, đốt một nén hương khẩn cầu. Họ
xem đạo Phật là một lối chuyên môn thờ cúng, và Phật
là một vị thần thiêng liêng sẵn sàng ban phúc diệt họa
cho họ mỗi khi họ cần đến.
Một
hôm, có người trong phái Kalmala đến tìm Phật và hỏi Ngài:
"Bạch đức Thế Tôn, các thầy Bà-la-môn ngoại đạo đến
thăm chúng tôi, người nào cũng bảo rằng chỉ có lời của
họ mới đúng chân lý mà thôi. Bạch Ngài, chúng tôi thật
lấy làm phân vân không biết theo bên nào, bỏ bên nào".
Trả
lời câu hỏi ấy, đức Phật không bảo rằng Ngài là chúa
tể vạn vật, chỉ có đạo Ngài mới nên theo; ngài không
bảo rằng các vị giáo chủ và các đạo khác đều là hư
ngụy, là sai lầm. Lời dạy của Ngài rất rộng rãi. Ngài
bảo: "Ngươi đừng vội tin theo ai cả. Tất cả những gì
ngươi đã thực nghiệm sâu xa, hợp với lý trí xét đoán
của ngươi, có thể đem lại hạnh phúc cho chính ngươi và
những kẻ khác, những cái ấy, ngươi hãy nhận đó là chân
lý và hãy cố sống đúng theo chân lý ấy ".
Ðọc
đoạn vừa rồi trong kinh Kalama, chúng ta nhận thấy hai điều:
một là đạo Phật không bao giờ bắt buộc người ta tin theo
một cách mù quáng; hai là đức Phật không phải là một vị
chúa tể có quyền phép lạ, có thể đem tín đồ mình đặt
ở thiên đường hay ở địa ngục tùy theo ý thích của mình.
Nội
một sự kiện " không buộc người phải tin theo một cách
mù quáng" đủ chứng tỏ rằng đạo Phật có một tinh thần
thật rộng rãi và có tính cách nhân loại. Ðạo Phật dạy
rằng không hiểu Phật mà theo Phật thì đã không có lợi
mà còn có hại là khác nữa.
Chính
đức Phật Thích Ca cũng có dạy: "Tin ta mà không hiểu ta,
ấy là bài báng ta vậy ".
Như
thế, người nào tin Phật như một vị chúa tể có quyền
ban phúc trừ họa tức đã bài báng Phật.
Một
lòng tin chân chính phải đi theo với một lý trí xét đoán.
Hiểu rồi mới tin, thì cái tin ấy mới là chánh tin. Ðối
với đạo Phật, tin mà không hiểu thì sẽ lạc đường.
Ðạo
Phật chủ trương cá nhân có quyền thẩm sát tất cả, và
tin hay không là tùy ở mình. Chúng ta hãy đọc đoạn nầy
cũng ở trong kinh Kamala:
"Ðừng
vội tin tưởng những cái gì mà người ta thường lập đi
lập lại luôn. Ðừng vội tin tưởng một điều gì dù điều
đó là một tập tục cổ truyền đã trải qua nhiều thời
đại. Ðừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó là
điều người ta hay đồn và hay nói đến luôn. Ðừng vội
tin tưởng một điều gì dù điều đó là do bút tích thánh
nhân xưa để lại. Ðừng vội tin tưởng một điều gì dù
điều đó là một luật lệ đặt ra từ lâu và được xem
như là chánh đáng. Ðừng vội tin tưởng một điều gì dù
điều đó là do quyền năng của một bậc thầy hoặc do quyền
lực của một nhà truyền giáo.
Tất
cả những gì hợp với lý trí xét định, hãy tin ".
Tam
Tạng giáo điển của Phật Giáo đối với Phật Tử không
giống những thánh kinh đối với tín đồ các tôn giáo khác.
Phật Tử không bị bắt buộc tin vào kinh điển một cách
mù quáng. Kinh điển đối với Phật Giáo không phải là một
"tối hậu chân lý", một bảo vật mà ai cũng phải thờ lạy.
Kinh điển không phải là những bùa chú linh thiêng mà hể
đọc lên là được Ðức Phật cứu độ. Kinh điển chỉ
là lời dạy của Phật, của một bậc giác ngộ. Ðức Phật
đã từng nói:
"Này
các tỳ kheo! Hãy xem ta như kẻ hướng dẫn các ngươi trên
đường tu học".
Ðịa
vị của Ðức Phật trong Phật Giáo là địa vị của một
người dẫn đường trong đám người lạc hướng, hay nói
cho khác hơn, địa vị của một lương y trong đám bệnh nhân
đau khổ.
Nếu
những người lầm đường không đi theo con đường của người
dẫn lối thì không khi nào đến đích được, và đó là lỗi
của người không đi, chứ không phải là lỗi ở người chỉ
đường. Vị lương y cho thuốc uống, nhưng sợ đắng không
uống, bệnh không lành, đó chỉ là lỗi ở các con bệnh,
chứ không phải lỗi ở lương y.
Nếu
Phật Tử không hiểu lời dạy của Phật, không thực hành
theo những lời dạy của Ngài, thì Ðức Phật và tam tạng
giáo điển của Ngài đối với người kia không còn ý nghĩa
gì nữa cả. Bởi thế, đốt hương, kết hoa, tỏ lòng biết
ơn Phật cũng chưa phải là việc cần làm nhất của một
người Phật Tử chân chính. Thực hành và sống theo lời Phật
dạy mới là Phật Tử chân chính vậy.
Căn
cứ vào những lời trong kinh Kalama và căn cứ trên lý nhân
quả xác thực, chúng ta thấy rằng Ðức Phật không phải
là một vị chúa tể toàn năng có thể ban phúc lợi và sự
giải thoát cho con người, nếu con người có cầu nguyện Ngài.
Lạy Phật, dâng hương lễ Phật, mới là việc làm của kẻ
biết ơn. Muốn giải thoát, muốn có an lạc, con người phải
biết xem Phật như một ngôi sao dẫn đường, một bậc Thầy
sáng suốt.
Hãy
nhìn Ðức Phật ở địa vị chính của Ngài, và đừng bao
giờ đặt ngài ở địa vị một thần linh, một chúa tể.
Người Phật Tử nếu có tin tưởng, thì chỉ là tin tưởng
ở sự dẫn đạo sáng suốt của bậc giác ngộ, tin tưởng
ở khả năng giác ngộ ( Phật Tính ) sẵn có ở mọi loài,
chứ không phải tin nơi quyền phép có thể ban phúc trừ họa.
Hiểu
như thế, ta mới thấy rằng những tâm niệm đen tối, mê
tín, ỷ lại vào quyền năng vu vơ của thần thánh không phải
là một lòng tin mà đạo Phật đòi hỏi. Người học Phật
phải thận trọng, luôn luôn giữ thái độ khách quan trong
khi tìm hiểu kinh điển, và như thế là có tinh thần khoa học.
Trí óc kẻ học Phật phải là một cơ quan gạn lọc vàng
sõi, phân biệt rõ ràng, đừng để bị nô lệ cho những kiến
văn, sách vở, và những thành kiến dựa vào tình cảm.
Vấn Ðề
Chân Lý Trong Ðạo Phật
Trong
một bài trước, chúng ta đã thấy rằng đạo Phật chủ trương
một cái Biết rộng rãi, thấu triệt, và cao tột (Vô Thượng
Chánh Biến Tri Giác). Cái Biết nầy căn cứ trên những thực
nghiệm tâm linh, trên sự giải thoát giác ngộ của một vị
Phật đã siêu xuất vô minh và sinh tử luân hồi. Cái Biết
ấy là cái biết về chân tướng của vạn hữu, cái Biết
về bộ mặt thực của mọi hiện tượng (bản lai diện mục).
Chân
tướng ấy, bộ mặt thực ấy, được gọi là chân như, là
bản thể, là Phật; nói tóm lại, là chân lý. Vấn đề chân
lý trong đạo Phật được quan niệm như thế nào?
Ðạo
Phật chủ trương rằng tri thức con người có thể đạt được
đến chân lý, với điều kiện là con người phải chuyển
cái tri thức hiện thời thành trí tuệ Bát Nhã. Tri thức của
chúng sanh có một khả năng kém cỏi vì đã bị bao nhiêu mê
ám che lấp (vô minh). Nay diệt được những mê ám ấy thì
có thể chuyển Thức (tri thức) thành Trí (Bát Nhã) và với
khả năng nầy, con người mới có thể trực nhận được
Bản Thể.
Duy
thức học phân biệt ba loại hiểu biết mà tri thức con người
có thể có được:
1.
- Sự hiểu biết bằng hiện lượng.
Lượng
tức là sự phân biệt, so đo, hiểu biết. Hiện lượng là
cái biết trực tiếp những sự vật trong thời gian hiện tại
và không gian hiện tại. Sự hiểu biết nầy không cần trải
qua một trung gian suy luận. Tôi thấy trước mặt tôi có một
cuốn tự điển. Cái "thấy" ấy là hiện lượng, khả năng
nhận thức trực tiếp không cần suy nghĩ. Có thể tạm xem
như là một lối trực giác được.
Nhưng
có trường hợp hiện tượng đúng và có trường hợp hiện
tượng sai. Thấy sợi dây, cho nó là sợi dây, đó là "chân
hiện lượng" (hiện lượng đúng). Thấy sợi dây, hoảng hốt
cho là con rắn, ấy là "tợ hiện lượng" (hiện lượng sai).
Tợ nghĩa là tương tợ như đúng, nhưng kỳ thật là sai lầm.
2.
- Sự hiểu biết bằng tỷ lượng.
Tỷ
đây có nghĩa là so sánh, suy luận, đối chiếu. Nếu ta hỏi
"chiều mai có thể có mưa không" thì hiện lượng của ta không
trả lời được vì nó chỉ có thể biết được việc trong
hiện thời và hiện xứ. Chiều mai tức là việc xảy ra ở
trong thời gian khác, vậy phải nhờ vào một khả năng suy
luận khác: khả năng ấy là tỷ lượng. Củng như khi tôi
hỏi: "Có gì trong lòng trái đất không" thì hiện lượng của
tôi cũng không thể trả lời, vì việc ở đây không phải
là việc ở hiện xứ, không thể nhận biết được nếu không
có tác dụng suy luận. Vì thế phải cần dùng tỷ lượng.
Sau
bức tường kia có gì mà khói lên? Tỷ lượng trả lời rằng
có lửa. Bởi về nó suy luận "có khói tức là phải có lửa".
Nếu sau bức tường mà có một đống lửa thực, thì gọi
là "chân tỷ lượng" (tỷ lượng đúng), còn nếu sau bức
tường có một vật khác không phải lửa nhưng cũng có thể
làm nguyên nhân cho khói (như một chiếc xe hơi rồ máy chẳng
hạn) thì gọi là "tợ tỷ lượng" (tỷ lượng sai).
Hiện
lượng tuy chỉ cần nhận thức những sự vật ở hiện thời
và hiện xứ nhưng vẫn cứ bị sai lầm luôn luôn. Tỷ lượng
vì phải suy đạt đến những cái ở thời gian khác và ở
địa phương khác nên lại dễ bị sai lầm hơn nữa. Do đó,
sự suy tư trắc đạt của tỷ lượng thường dẫn ta đi xa
sự thực một cách đáng sợ. Các nghi vấn lớn lao về cuộc
đời, về bản thể, đã không thể giải quyết nhờ hiện
lượng, thì cố nhiên phải nhờ tỷ lượng. Nhưng tỷ lượng
thường dẫn ta đến những biên giới siêu hình xa lăng lắc
và thường biến ảo không lường. Ngọc Hoàng, Thượng Ðế,
Nam Tào, Bắc Ðẩu, Táo Quân, Phạm Thiên v.v... đều là những
sản phẩm của tỷ lượng. Trong phạm vi thực nghiệm, tỷ
lượng còn tỏ ra lắm lúc sai lầm, huống hồ là khi đã vượt
ra ngoài thực nghiệm. Ðôi cánh tự do và táo bạo của tỷ
lượng đưa ta đi cùng khắp, nhưng khi trở về chỉ đem lại
những giải thuyết khó tin khó nhận. Thế cho nên tỷ lượng
trong rất nhiều trường hợp đã là tợ tỷ lượng, và con
người không thể nương vào đấy để đi tìm chân lý.
Vậy
thì do đâu mà tri thức của chúng sanh không thể tìm đến
chân lý? Chính là do ở tợ hiện lượng và tợ tỷ lượng.
Nhưng tại sao tri thức chúng sanh lại không thuần là chân
hiện lượng chân tỷ lượng mà lại có xen vào tợ hiện
lượng và tợ tỷ lượng?
Ðạo
Phật chủ trương: vì có một yếu tố mê mờ, si ám đã gây
nên những thứ "tợ" đó. Thứ mê mờ si ám kia được gọi
là vô minh (avidya).
Các
bậc giác ngộ là những người đã phá trừ được vô minh,
tiêu diệt được tợ hiện lượng và tợ tỷ lượng, phát
triển đến cùng cực chân hiện lượng và chân tỷ lượng.
Hai khả năng sau nầy, sau khi vô minh đã bị trừ diệt, có
thể đạt đến trạng thái sáng suốt cao nhất của nó là
Bát Nhã Trí (Prajna) để có thể trực nhận được chân lý
vạn hữu.
Các
bậc giác ngộ, sau khi chứng đạt chân lý, liền nghĩ đến
việc giảng giải cho người chưa chứng đạt. Nhưng chân lý
tuyệt đối không thể dùng một khí cụ tầm thường kém
cỏi là ngôn ngữ để có thể thuyên giải, thuyên minh. Thế
cho nên dù các bậc giác ngộ có thuyên giải, thì cũng có
thể thuyên giải được ảnh hưởng của chân lý và phương
pháp đạt đến chân lý, chứ không thể thuyên giải bản
thân của chân lý được.
Ảnh
tượng của chân lý chỉ là một phương tiện để chỉ bày
chân lý chứ không phải là chân lý. Chúng sanh phải nương
vào ảnh tượng ấy để tìm dần đến chân lý bằng học
tập, bằng thực hành. Tuy chưa phải là bản thân chân lý,
nhưng ảnh tượng kia cũng vượt khỏi những hình bóng tưởng
tượng trắc đạc sai lầm, những vọng tưởng điên đảo
về chân lý của tợ tỷ lượng.
Vì
thế, chân lý không nằm trong kinh điển, và kinh điển chỉ
là phương tiện chỉ bày chân lý. Cho nên đức Phật có dạy:
"Chân
lý là mặt trăng. Giáo lý của ta là ngón tay chỉ mặt trăng.
Ðừng lầm ngón tay ta là mặt trăng vậy". Nếu y theo kinh điển
để giải nghĩa, để tìm chân lý trong những giòng chữ, thì
đó chính là chỉ biết nhìn ngón tay mà chưa biết nhìn mặt
trăng. Nhưng rời bỏ hẳn kinh điển đi thì lại có thể rơi
vào những điên đảo vọng tưởng của tợ tỷ lượng. Thế
nên một vị tổ sư đã nói: "Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật
oan; ly kinh thất tự, tức đồng ma thuyết", nghĩa là: "Chấp
chặt nơi văn tự mà giải nghĩa, thì oan cho đức Phật, mà
rời bỏ kinh điển thì lại lạc vào những tà thuyết của
ma vương".
Vậy
ngoài hai loại hiểu biết là hiện lượng và tỷ lượng,
ta còn có một loại hiểu biết thứ ba nữa là thánh giáo
lượng.
3.
- Sự hiểu biết bằng thánh giáo lượng.
Sự
hiểu biết nầy có được là nhờ căn cứ trên lời dạy
của các bậc giác ngộ. Ðó chính là những "ngón tay chỉ
mặt trăng" nhờ đấy mà kẻ phàm phu có được những phương
tiện để trở thành bậc thánh nhân giác ngộ.
Nhưng
đối với những thánh giáo nầy, ta cũng phải giữ một thái
độ dè dặt tìm hiểu. Vì chưa thấu đạt trực tiếp, nên
ta chưa biết một cách "thực nghiệm" rằng chân lý có thực
là một chân lý không, hay chẳng qua chỉ là một mớ tợ tỷ
lượng như bao nhiêu thứ tợ tỷ lượng khác. Ở đây, phải
có đức tin. Nhưng đức tin này cũng phải do những nhận xét,
những chứng nghiệm sơ bộ mới được xây dựng vững vàng.
Ví
như trong khi con người đang cố chấp vạn vật là thường,
có bản ngã, mà nghe Phật dạy một chân lý gồm có chủ trương
vô thường vô ngã thì con người phải kiểm soát lại xem
có thực rằng vạn vật là vô thường vô ngã hay chăng. Nếu
thực thì đó có thể là một trong những căn bản cho Ðức
Tin vậy.
Ta
lấy thêm một thí dụ trong câu chuyện giả đặt sau đây:
Một
vùng kia, người ta mắc bệnh truyền nhiễm. Một bác sĩ đến
nghiên cứu chứng bệnh và trị lành được nhiều người.
Chứng bệnh dần dần bớt hoành hành trong vùng đó. Một bác
nhà quê đến thăm bác sĩ.
Bác
sĩ vốn là một nhà vi trùng học đại tài, bảo bác nhà quê
của chúng ta rằng có những sinh vật nhỏ hết sức, đến
nỗi mắt trần (l’oeil nu) không thể trông thấy được; những
sinh vật ấy phá hoại cơ thể con người và làm ra nhiều
bệnh truyền nhiễm rất nguy hại như bịnh lao, bịnh dịch,
bịnh đậu mùa... Khó tin quá, bác nhà quê lắc đầu. Tin sao
được khi mình chưa nghe ai nói đến một "chân lý" kỳ quái
như thế bao giờ. Nếu tin ngay thì là mê tín đấy, dù là
tin đúng. Mà không tin thì không làm sao thấy được sự thực
- thấy vi trùng -
Kỳ
thực, bác sĩ vốn là một nhà có thực học, sự thực kia
(vi trùng làm bệnh) ông thấy rất rõ ràng, nhưng chẳng biết
làm sao cho bác nhà quê tin! Ông bèn cắt nghĩa một cách tàm
tạm (phương tiện) rằng những con "vi trùng" ấy nó như cái
móc câu, hay là cái phết. Nhưng "sự thực" ấy của nhà bác
học nói ra, đối với bác nhà quê là "siêu hình" quá, khó
tin quá. Con trùng gì mà như cái móc câu, như cái phết? Con
trùng gì mà lại không trông thấy được? Không trông thấy
được mà lại biết như cái phết, như cái móc câu?
Trước
kia, bác nhà quê cho rằng bệnh là do ma quỷ, la sát làm hại.
"Ma quỷ, la sát" chính là vọng tưởng điên đảo, là sản
phẫm của tợ tỷ lượng. Nay "vi trùng móc câu" là thánh giáo
lượng. Bác nhà quê có thể tin được cái chân lý "vi trùng
móc câu" này chăng(?)
Ban
đầu thì nghi. Nhưng sau xét nghiệm lại, bác thấy có những
điểm sự thực làm bác có thể tin được: Trước khi bác
sĩ đến, người ta đã cúng cấp trừ tà trừ quỷ nhiều,
sao bệnh không bớt hoành hành? Sao bác sĩ chích thuốc cho ai
thì người ấy khỏi? Bác sĩ học giỏi hơn, thông thái hơn
mình, ai chối cãi được điều ấy? Nếu không biết rõ, nếu
phỏng đoán mù mờ thì cái chân lý "vi trùng móc câu" kia làm
sao có thể làm nền tảng cho một thứ thuốc hay được? Hơn
nữa, được nghe lời giảng giải về vi trùng, về kính hiển
vi, bác nhà quê đã thấy hợp mắt lắm rồi. Vì thế bác
nhà quê tin.
Nhưng
tin chưa đủ. Phải "thấy" cho được mới nghe. Bởi vì nếu
có tin, thì chỉ tưởng tượng được "nó" mà thôi. Nhưng
làm sao mà tưởng tượng? Bác nhà quê quyết được nhìn qua
kính hiển vi. Và sau khi "lao tâm khổ tứ" nhiều phen, mới
thấy được các "chân lý vi trùng". Bấy giờ là một sự
nhận thức trực tiếp. Và ống kính kia quả là Bát Nhã Trí,
là "vô thượng chính biến tri giác" vậy.
Bác
nhà quê không thỏa mãn với lời mô tả của bác sĩ, muốn
được "thấy vi trùng" một cách trực tiếp. Bác biết rằng
tưởng tượng theo lời mô tả của bác sĩ thì tuy không còn
sai như khi bác vọng tưởng quỷ quái la sát nữa, nhưng cũng
vẫn chưa đúng hẳn. Vậy thì người học Phật cũng không
thỏa mãn với những ngón tay chỉ mặt trăng, những bóng dáng
của chân lý, dù bóng dáng đó đã vượt xa vọng tưởng của
tợ tỷ lượng.
Người
học Phật cần có đủ năng lực trí tuệ để học hiểu,
để nhận thấy những điểm đúng chân lý của thánh giáo
lượng, để tin và bắt tay vào cuộc thực nghiệm lớn lao
hàng kiếp, cuộc thực nghiệm mà thái tử Tất Ðạt Ða đã
hoàn thành một cách vẻ vang và rực rở dưới cội Bồ Ðề.
Vấn Ðề
Khổ Vui Trong Ðạo Phật
Trong
bài thuyết pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển, đức Phật
Thích Ca giảng giải giáo lý Tứ Ðế và có đề cập đến
vấn đề khổ cùng phương pháp diệt khổ.
Danh
từ "Dukkham ariyasaccam" thường được các nhà học giả dịch
là "Khổ Ðế", là "Chân lý về sự khổ" thành thử mọi người
cứ an trí rằng đạo Phật chủ trương cuộc đời chỉ toàn
là khổ đau.
Lối
phiên dịch ấy không được chính xác lắm và đã làm cho
nhiều người hiểu lầm. Bởi vì chỉ nhận chữ "dukkha" với
cái nghĩa hẹp của nó như thế, nên lắm kẻ cho đạo Phật
là bi quan yếm thế.
Thực
ra, đạo Phật không phải bi quan, cũng như không phải lạc
quan. Ðạo Phật nhìn cuộc đời một cách khách quan, thực
tại. Ðạo Phật không ru người trong giấc mơ thiên đường.
Ðạo
Phật không phủ nhận những cái vui (lạc thọ) của cuộc
đời, và trái lại, còn công nhận nhiều hình thức của cái
vui vật chất hay tinh thần, quy định cho giới tại gia và
cho cả giới xuất gia nữa. Nhưng những cái vui ấy, cũng như
những cái khổ (khổ thọ) đều nằm gọn trong dukkha cả.
Dù cho con người có thể đạt đến những trạng thái thiền
định cao siêu khoái lạc ở tận "Không vô biên xứ thiên"
hay "Thức vô biên xứ thiên" đi nữa, thì những cái lạc thọ
siêu thoát ấy cũng vẫn còn nằm ở trong dukkha như thường,
bởi vì con người chưa thoát được tam giới vô thường và
hư giả.
Vậy
bản ý của đức Phật khi dạy giáo lý Tứ Diệu Ðế không
phải là mong cho con người trốn tránh khổ thọ để đi tìm
lạc thọ. Khổ thọ và lạc thọ đều nằm trong dukkha. Giải
thoát là giải thoát khỏi cái dukkha ấy, chứ không phải trốn
khổ tìm vui một cách quá tầm thường.
Dukkha
cũng có thể gọi là khổ, nếu ta hiểu chữ "khổ" không phải
là khổ thọ. Và giải thoát cũng có thể được là vui nếu
nếu ta hiểu chữ vui không phải là lạc thọ.
Ta
lấy một câu chuyện là thí dụ cho dễ hiểu: Hai con gà đang
cãi nhau về vui và khổ ở trong lòng. Chúng đàm luận về
cái ngon, dỡ của những lúa ngô mà người ta đem tới cho
chúng ăn, và cho rằng ăn ngô là vui, ăn thóc là khổ v.v...
nhưng chúng không biết rằng một lát nữa chúng sẽ bị đem
đi làm thịt.
Cái
vui và cái khổ mà chúng ta đang bàn ấy chỉ là thứ "vui khổ
trong lòng", một thứ vui khổ giả ảo, không đáng gọi là
vui khổ. Vì sao? Chúng nó sắp bị ăn thịt; gọi là "vui, khổ"
những cái mỏng manh chốc lát ở trong lòng thì có nghĩa lý
gì? Vậy cái khổ mà chúng phải tránh, không thể chỉ là
cái khổ nhỏ nhặt kia, mà là một cái khổ to lớn: cái khổ
bị nhốt trong lồng và sắp bị đem làm thịt. Cái khổ này
cũng như dukkha vậy, nghĩa là bao gồm những khổ thọ và lạc
thọ giả ảo, nhất thời, xây dựng trên vô thường, vô ngã.
Cái vui chân thật của hai con gà phải tìm đến, không thể
chỉ là cái vui nhỏ nhặt trong lồng, mà là một cái vui to
lớn: cái vui được sổ lồng và khỏi bị đem làm thịt.
Cái vui này cũng như cái vui giải thoát vậy.
Vấn
đề khổ vui của con người cũng thế. Những khổ thọ và
lạc thọ đều xây dựng trên sự vật vô thường vô ngã,
cho nên đều gọi là dukkha. Ðạo Phật chủ trương phải giải
thoát dukkha. Giải thoát dukkha tức là tìm đến cái vui hoàn
toàn, cái vui không bao giờ sợ tan biến vì vô thường, cái
vui khác hẳn những lạc thọ mong manh.
Ðã
có một quan niệm như thế về dukkha, bây giờ ta mới tạm
dùng chữ khổ để thay cho chữ dukkha, và xét về chữ khổ,
chữ khổ gồm có những nghĩa vô thường vô ngã, hư ngụy
và hổ tương đối kháng, chữ khổ bao gồm cả khổ thọ
và lạc thọ.
Khổ
(Dukkha) có ba hình trạng sau đây:
1.
Khổ-khổ (dukkha - dukkha)
2.
Hoại-khổ (viparinama - dukka) và
3.
Hành-khổ (sankhara - dukkha).
Tất
cả những khổ thọ của kiếp sống như sinh, già, bệnh, chết,
ghét nhau mà bị gần nhau, yêu nhau mà bị xa nhau, ưa muốn
mà không được toại nguyện...., tóm lại những đau khổ
về thể xác và tâm linh đều được liệt vào loại khổ-khổ
(Dukkha = khổ thọ).
Những
cảm giác lạc thọ của đời sống không thể nào còn mãi
được, vì thế đều rất vô thường. Trước sau, chúng cũng
tan mất. Khi chúng tan mất thì phát sinh một khổ thọ. Vậy
sự chuyển biến diệt hoại này, nguyên do của khổ-khổ,
cũng nằm trong Dukkha và được liệt vào hạng hoại khổ (Dukkha
= biến hoại).
Hình
trạng thứ ba là hành khổ, quan hệ hơn nhiều. Ở đây, chúng
ta phải tìm hiểu thế nào là một "chúng sinh", một "cá nhân",
hay một "cái ta". Theo đạo Phật, cái mà con người gọi là
"Cái Ta" (le moi) ấy, vốn là sự tổng hợp của năm uẩn (ngũ
uẩn: les cinq khandhas). Phật dạy:
"Tóm
lại, ngũ uẩn là khổ"
(Sankhittena
pancupa danakkhandha dukkha).
Cần
phải hiểu rằng: Ngũ uẩn và khổ (Dukkha) không phải là hai
việc khác nhau. Chính ngũ uẩn là dukkha vậy. Uẩn có nghĩa
là những yếu tố của sinh tử, ngăn che chân lý.
Uẩn
thứ nhất là vật chất, gọi là sắc uẩn (Rupak - khandha).
Trong sắc uẩn, có bốn yếu tố gọi là tứ đại chủng và
những chuyển hóa vật do bốn yếu tố ấy cấu thành. Bốn
yếu tố đó là:
- Yếu
tố cứng (éléments de solidité)
-
Yếu tố lưu động (éléments de fluidité)
-
Yếu tố năng lực (énergie) và
-
Yếu tố chuyển động (mobilité).
Trong
đại tạng Trung Hoa, người ta thường gọi tạm là địa,
thủy, hỏa, phong.
Trong
những chuyển hóa vật (dérivés) của tứ đại chủng, ta thấy
có: ngũ căn (năm cảm quan), ngũ trần (đối tượng của năm
cảm quan ấy). Tóm lại, tất cả vật chất đều nằm trong
sắc uẩn.
Uẩn
thứ hai là cảm giác, gọi là thọ uẩn (vedanak - khandha). Thọ
uẩn gồm những cảm giác vui (khoái lạc), khổ (đau khổ)
và không vui không khổ (xã thọ), phát sinh do sự tiếp xúc
giữa cảm quan và ngoại cảnh.
Uẩn
thứ ba là tri giác, gọi là tưởng uẩn (sannak - khandha). Tưởng
uẩn là những tri giác của con người khi giác quan và ý thức
tiếp xúc ngoại cảnh.
Uẩn
thứ tư là sự suy tư tác động của tâm lý, gọi là hành
uẩn (sankharak - khandha). Ðó là những hoạt động tâm lý của
con người, có thể là thiện, là ác, và có thể tạo nên
nghiệp nhân, nghiệp quả. Ví dụ như sự giận dữ, sự tham
muốn, sự kiêu căng, sự tin tưởng, sự quyết định... Có
tất cả 51 "Hành" như vậy, mà duy thức học gọi là "Tâm
sở" (propriétés mentales).
Uẩn
thứ năm là tác dụng nhận biết, tri thức, gọi là thức
uẩn (vinnanak - khandha). Thức uẩn là tác dụng phân biệt,
hiểu biết, chấp ngã, duy trì ảnh hưởng, kinh nghiệm, và
duy trì sinh mạng.
Giải
nghĩa về ngũ uẩn như thế là giải nghĩa một cách rất sơ
lược. Vậy thì cái "Ta" được cấu tạo nên do năm "uẩn"
ấy. Năm uẩn đều vô thường, chuyển biến, sinh diệt biến
di trong từng giây phút. Vạn vật nối tiếp nhau để sinh diệt,
không có thực thể (substantiatité). Vậy không có gì đáng
gọi là "Ta" trường tại và bất biến cả.
Ai
cũng phải công nhận rằng trong năm uẩn sắc, thọ, tưởng,
hành và thức không có uẩn nào gọi được là "Ta" cả. Nhưng
khi năm uẩn ấy, gồm có hai phần vật chất (sắc pháp) và
tinh thần (tâm pháp) - tương quan, tương duyên, tác động và
hòa hợp lẫn nhau thành như một cá thể sinh lý tâm lý, ta
liền có ý tưởng về một cái "TA" trường tồn bất biến
ấy chẳng qua chỉ là một sự mê lầm cố chấp mà Duy thức
học gọi là "Ngã si" và "Ngã kiến".
Năm
uẩn kia chính là bản thân của Dukkha, của khổ, và ở đây,
ngũ uẩn được gọi là hành khổ (Dukkha = ngũ uẩn vô ngã).
Lời
giải thích về khổ đế này chẳng khác gì lối biện giải
về giáo lý vô thường vô ngã. Lý vô thường vô ngã là một
lý rất thực, đúng với những xét nghiệm của mọi người.
Không phải vì thấy vạn vật là vô thường vô ngã mà tất
cả những người Phật tử đều sinh ra buồn rầu chán nản.
Trái lại. Một Phật tử có được nhận thức và chứng nghiệm
được lý vô thường vô ngã, là một người sung sướng nhất
đời. Người ấy sẽ nhìn cuộc đời với đôi mắt bình
tĩnh, an lạc. Sự thành hoại, sinh diệt của vạn vật không
lay chuyển được tâm hồn người, không làm cho người phải
đau khổ, lo lắng, bồn chồn, băn khoăn, thắc mắc. Ðức
Phật và các vị đệ tử chứng ngộ thường có một nét
mặt trầm tĩnh, tươi vui, an lạc. Nụ cười bất diệt của
các pho tượng ngày xưa đã nói lên được những cái vui an
nhiên giải thoát ấy.
Trên
phương diện nhân sinh, đạo Phật không dạy người chỉ rời
bỏ khổ thọ mà đi tìm lạc thọ, nhất là thứ lạc thọ
do dục vọng gây nên. Cũng không phải đạo Phật chủ trương
rằng lạc thọ cũng chỉ là khổ thọ. Ðạo Phật chỉ dạy
con người diệt trừ những nguyên nhân gây nên khổ thọ.
Những khoái lạc dục vọng cũng là nguyên nhân gây nên khổ
thọ.
Diệt
dục vọng, thêm từ bi để làm vơi bớt đau khổ của kiếp
sống. Nhưng mục đích cao cả của đạo Phật phải là được
giải thoát, nghĩa là chứng nghiệm được lý vô thường vô
ngã, thoát ra ngoài những ràng buộc và lung lạc của sự vật
đang thành hoại biến dị và nhìn những thành hoại ấy với
một tâm trạng an lạc, hồn nhiên.
Vấn
Ðề Giải Thoát Trong Ðạo Phật
Giải
thoát nghĩa là cởi mở những dây ràng buộc mình vào một
hoàn cảnh đau khổ nghịch ý.
Niết
Bàn (Nirvana) của đạo Phật không phải là một cõi thiên
đàng như nhiều người lầm tưởng. Người ta thường cho
rằng tu học là cốt để được giải thoát khỏi cuộc đời
nầy, và khi chết, được đưa vào một thế giới đẹp đẽ,
đầy đủ những lạc thú, không sợ một khổ đau nào xâm
chiếm. Thế giới đẹp đẽ ấy gọi là Cực Lạc, hoặc là
Niết Bàn. Thật không có gì lầm lạc hơn nữa.
Ðạo
Phật chủ trương vạn vật vô thường và vô ngã và vì thế,
không bao giờ công nhận có một sự tồn tại bất biến của
một thế giới, dù thế giới ấy là thế giới Cực Lạc.
Cuộc
sống là gì? Là một giòng biến chuyển. Vì có biến chuyển
nên mới có sinh diệt thành hoại: mà có sinh diệt thành hoại
tức là có thời gian. Ý niệm về thời gian không thể nào
tách biệt khỏi ý niệm biến chuyển: nếu không có biến
chuyển, không có thời gian, thì sẽ không có sự sống.
Ta
thử tưởng tượng thời gian ngừng hẳn lại, vạn vật im
lìm, bất biến, bất động... Không thể nào có sự sống
được. Sự tồn tại im lìm nầy là một cái chết hoàn toàn.
Giả sử Niết Bàn là một cuộc sống đi nữa, thì cuộc sống
nầy hẳn cũng không phải là một cuộc sống hạnh phúc, vì
đã là một cuộc sống, tất nhiên phải là một dòng biến
chuyển, mà đã có biến chuyển là có thành hoại, có sinh
diệt, có đau khổ.
Nếu
Niết Bàn không phải là một cảnh giới, một cuộc sống,
thì là gì?
Về
vấn đề nầy, lắm nhà học giả nghiên cứu chưa đến nơi
đến chốn, đã vội kết luận rằng Niết Bàn là một trạng
thái diệt hoại, hư vô. Nói như thế, tuy họ tỏ ra đã hiểu
Niết Bàn không phải là một cảnh giới Cực Lạc, nhưng họ
cũng lại tỏ ra rằng họ chưa hiểu Niết Bàn là gì. Bảo
Niết Bàn là diệt hoại, hư vô, lại bảo rằng Niết Bàn
là một "trạng thái " (état) thì có nghe được không? "Trạng
thái" là gì? Tạm cho là tình trạng đi. Nhưng tình trạng của
cái gì? Có phải là của một cá vật nào đó không? Nếu
thế cái trạng thái nầy cũng luôn luôn chuyển biến, vì không
có cá vật nào mà không chuyển biến. Còn nếu là sự diệt
hoại, sự hư vô, thì làm gì có trạng thái mà gọi là trạng
thái diệt hoại, hư vô.
Cho
nên bảo rằng Niết Bàn là một trạng thái thì không đúng.
Chữ Niết Bàn vốn là do tiếng phạn Nirvana, có thể dịch
là diệt độ, là giải thoát. Cần có một câu giải thích
để khỏi hiểu lầm. Diệt độ không có nghĩa là một sự
tiêu diệt hoàn toàn thành hư vô như các học giả Tây Phương
lầm tưởng. Diệt đây có nghĩa là sự chấm dứt của dòng
nhân quả nghiệp báo. Ðộ có nghĩa là qua khỏi dòng mê mờ
để lên bờ giác ngộ giải thoát. Ðạo Phật chủ trương
rằng sự sống của một chúng sinh là một dòng biến chuyển
liên tục theo đà nhân quả tiếp nối của ngũ uẩn. Ðộng
cơ của dòng sống ấy là ham muốn, là dục vọng. Còn ham
muốn, còn dục vọng, là còn sự sống, còn luân hồi sinh
tử, cũng như còn dầu còn bấc thì đèn còn cháy vậy. Khi
dục vọng tiêu diệt, dòng biến chuyển của ngũ uẩn sẽ
dừng lại và hết sinh diệt. Lúc bấy giờ Niết Bàn hiển
hiện. Niết Bàn là sự hiển hiện của bản thể sáng suốt
mầu nhiệm, hoặc nói cho khác hơn, là sự thể nhập vào bản
thể vô biên trong sáng của một chúng sinh giải thoát.
Niết
Bàn có hai thứ: Niết Bàn Hữu Dư Y và Niết Bàn Vô Dư Y.
Một
chúng sinh được giải thoát, song còn thân mạng và còn hoàn
cảnh tồn tại: sinh hoạt với thân mạng ấy và hoàn cảnh
ấy mà vẫn an nhiên, giải thoát, vẫn không bị sự vật lung
lạc, kéo lôi theo đà lo sợ đau buồn. Như thế là Niết Bàn
Hữu Dư Y. Khi thân mạng và hoàn cảnh hết tồn tại, thì
sự thể nhập bản thể được thực hiện: đấy là Vô Dư
Y Niết Bàn, không có sinh tử, không có khổ đau, vì Vô Dư
Y Niết Bàn không phải là một cuộc sống có sinh diệt. Vô
Dư Y Niết Bàn là bản thể thường còn bất sinh bất diệt
của vạn loại hữu tình và vô tình, không thể dùng ngôn
ngữ để hình dung, trí thức để quan niệm.
Tuy
nhiên từ Niết Bàn Vô Dư Y có thể hiện ra diệu dụng mầu
nhiệm. Hóa thân của các Ðức Phật, các vị Bồ Tát đều
là những biến hiện "tùyduyên" của các bậc giải thoát an
trú trong Vô Dư Y Niết Bàn. Ở quả vị Phật, có hai loại
trí tuệ: một loại là Vô Phân Biệt Trí, cùng với bản thể
chân như an trú, không phân biệt đối tượng và chủ thể;
một loại là Sai Biệt Trí có khả năng nhận thức các hiện
biến nhiệm mầu của bản thể thường trú, tức là thế
giới hiện tượng. Nhận thức như thế đó để hóa độ,
để hoàn thành bản nguyện độ sanh.
Thế
giới hiện tượng là thế giới diệu dụng biến hóa của
thế giới bản thể. Nhưng vì vô minh che lấp, chúng sinh nhìn
thế giới ấy như một thế giới khổ đau, đen tối, vì đã
đem ác nghiệp của mình để hòa hợp vào đó, hoặc nói khác
hơn, vì đã có một nhận thức sai lạc lấm láp phần chủ
quan đen tối. Mang một cặp kính ác nghiệp, chúng sinh nhìn
thế giới hiện tượng mầu nhiệm kia thành một thế giới
đau thương và với ác nghiệp mình, lăn lộn trong thế giới
đau thương rất "chủ quan" ấy.
Các
vị chứng ngộ xưa đã từng ca ngợi trăng nước muôn hoa
là những biểu hiện của bản thể, là vì họ đã lột bỏ
được cặp kính vô minh đó, và kinh Pháp Hoa cũng dạy rằng
chim kêu hoa nở là hiện tượng mầu nhiệm của bản thể,
của "pháp thân" bất diệt:
Chư
pháp tùng bản lai,
Thường
tự tịch diệt tướng.
Xuân
đáo bách hoa khai,
Hoàng
oanh đề liễu thượng
Dịch:
Các
hiện tượng xưa nay,
Bản
tính thường vắng lặng.
Xuân
đến trăm hoa mừng,
Oanh
vàng ca liễu thắm.
Vậy
bản thể của các hiện tượng vốn là chân như sáng suốt,
không sinh diệt, là Niết Bàn. Vậy Niết Bàn là qua bờ bên
kia, là giải thoát, là chấm dứt sinh tử. Nhưng chỉ là chấm
dứt sự sinh tử mà chủ thể sinh tử là bị động. Một
chúng sinh giải thoát, có Niết Bàn, có thể an nhiên sinh hoạt
trong sinh tử mà vẫn không thấy có sinh tử, khổ đau, vẫn
có trong tay một khả năng mầu nhiệm, tự do sinh diệt, tự
do an trụ, tự do Niết Bàn. Khả năng ấy, đạo Phật gọi
là khả năng tùy duyên hóa độ, là khả năng "tự tại", một
trong bốn đức của Niết Bàn: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Tự
Tại là ngã vậy.
Ở
đây cũng cần giải thích chữ Phật.
Phật
là gì? Phật là một bậc có khả năng viên mãn để có thể
giác ngộ cho mình và cho người. Các vị Bồ Tát cũng có khả
năng ấy nhưng chưa được viên mãn như Phật, nên chưa có
thể gọi là "giác hạnh viên mãn".
Phật
là một hóa hiện viên mãn nhất, tốt đẹp nhất, và xứng
đáng nhất cho bản thể sáng suốt. Vì là một hóa hiện,
một biểu hiện, nên "các đức Phật", đều là những hóa
thân của Phật, chứ chưa hẳn là Phật. Hóa thân (như cá
nhân đức Thích Ca) thì có sinh có diệt, chứ pháp thân, tức
là Phật, thì luôn luôn bất diệt bất sinh. Cũng như các lớp
sóng có lên có xuống, có thành có hoại, chứ bản thể của
các lớp sóng là nước thì chẳng lên xuống, thành vỡ bao
giờ.
Vậy
một chúng sinh thành Phật tức là thể nhập vào bản thể
vô biên, hoàn toàn sáng suốt. Và từ bản thể sáng suốt
ấy, từ Niết Bàn ấy, có thể hoàn toàn tự do tự tại để
hóa thân, sinh hoạt, trôi nổi trong sự sinh tử biến hoại
của thế giới hiện tượng mà vẫn an nghiên giải thoát,
không bao giờ bị lôi cuốn theo nghiệp lực như vô lượng
chúng sinh. Ðến đây, ta mới hiểu được câu kinh mầu nhiệm
nầy mà mọi người đều truyền tụng "Niết Bàn tức là
sinh tử, sinh tử tức là Niết Bàn". Quả thực, Niết Bàn
không tồn tại ngoài sinh tử, và chính trong sinh tử, các đức
Phật đã tìm thấy Niết Bàn.
Ðể
chấm dứt bài nầy, ta hãy đọc đoạn thâm thúy sau đây trong
kinh Phạm Võng:
"Chân
tướng của mọi hiện tượng là bất sinh bất diệt, không
thường cũng không đoạn, không sinh tử, không Niết Bàn. Kẻ
ngu si sợ hư không mà muốn đi trốn thì dù bỏ hư không mà
chạy cũng không thể nào thoát được hư không. Kẻ đi tìm
hư không dù có chạy khắp đông tây nam bắc cũng không tìm
thấy hư không. Nhưng kẻ ấy chỉ biết cái Danh của hư không
mà không phân biệt được cái Thực của hư không.
Nay
có kẻ muốn tìm Niết Bàn, thường qua lại trong Niết Bàn
mà không biết đó là Niết Bàn, chỉ thấy toàn là sinh tử
phiền não: kẻ ấy chỉ biết cái Danh của Niết Bàn mà không
biết cái Thực của Niết Bàn vậy".
Cho
nên, ta không thể bảo Niết Bàn có ngoài sinh tử cũng không
thể bảo rằng giải thoát tức là lìa bỏ đời hiện tại.
Chính trong hiện tại, con người phải tìm ra Niết Bàn: con
người vẫn có thể giải thoát mà không rời thế gian sinh
diệt.
Vấn Ðề
Tâm Vật Trong Ðạo Phật
Ðạo
Phật chủ trương nhất nguyên hay đa nguyên, duy tâm hay duy
vật?
Ðứng
ngoài đạo Phật thì "vọng tưởng" rằng đạo Phật là nhất
nguyên, là đa nguyên, là duy tâm hoặc là duy vật. Nhưng bước
vào trong đạo Phật, trong rừng giáo lý -- để quan sát, người
ta sẽ thấy một hiện tượng kỳ lạ. Là khi đứng về hướng
nầy, người ta thấy đạo Phật chủ trương nhất nguyên,
nhưng khi đứng qua hướng kia, lại thấy rỏ ràng đạo Phật
chủ trương đa nguyên. Rồi đứng trên miếng đất nầy, người
ta thấy đạo Phật chủ trương duy tâm, nhưng đứng sang miếng
đất khác, thì rỏ ràng là đạo Phật chủ trương duy vật.
Quả
thật là một sự kỳ lạ. Kẻ nóng tính nghe như thế sẽ
bực mình và sẽ cho đó là một lối chủ trương ba phải.
Nhưng không. Ðứng về phương diện triết học, đạo Phật
có những hệ thống lý thuyết rất phong phú, mà tất cả
đều đi đến một sự nhất trí vô cùng hoàn mỹ.
Nhiều
người nghe câu kinh "tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức" liền
chỉ ngay đạo Phật mà bảo rằng: Ấy đấy, đạo Phật duy
tâm rõ ràng, còn chối cãi gì nữa. Thực ra, đạo Phật có
chối cãi đâu. Ðạo Phật chỉ giảng giải rằng chữ Tâm
của đạo Phật không phải như chữ Tâm của thế gian, của
triết học. Phật học là một môn Tâm học. Nhưng tâm ở
đây không phải là linh hồn, là tất cả những hiện tượng
tâm lý, và "tâm học" của đạo Phật rất khác xa "tâm lý
học" của triết học vậy.
Cũng
có kẻ thấy đạo Phật chủ trương bác bỏ thuyết linh hồn
tồn tại độc lập (điểm này có thể làm nhiều bạn giật
mình), không công nhận tạo hóa, thì lại chỉ vào đạo Phật
mà bảo rằng: Ấy đấy, đạo Phật duy vật rỏ ràng, còn
chối cãi gì nữa. Thực ra, đạo Phật có chối cãi đâu.
Ðạo Phật chỉ giảng giải rằng cái mà người ta gọi là
linh hồn ấy, đạo Phật gọi ý và thức, và khi xác thân
tiêu hoại, ý và thức ấy không còn tác dụng nữa, nghĩa
là không sinh hoạt như một hồn ma bóng quế như giới ít
học hiểu lầm.
Chủ
nghĩa duy vật là một chủ nghĩa cho rằng thực tại chỉ là
vật chất. Vũ trụ, nhân loại và sinh vật đều là vật chất,
nói một cách tinh vi hơn, đều có một nền tảng chung là
vật chất. Cả đến phần tinh ba nhất của loài động vật
là tư tưởng, là cảm tình cũng đều do nền tảng vật chất
mà có. Những tư tưởng và tình cảm ấy không thể phát hiện
nếu không có vật chất. Tinh thần cũng là sản phẩm thượng
hạng của vật chất, duy có tinh tế hơn những sản phẩm
khác như đường, như mật, như sinh tố, như thần kinh hệ...
mà thôi.
Người
chủ trương duy vật thường lý luận rằng: chỗ nào không
có vật chất thì không thể có tinh thần, do đó tinh thần
là do vật chật mà có, tinh thần là một thuộc tính của
vật chất.
Ta
không cần phải mất thì giờ để bác bẻ cái quan niệm nông
cạn và thiên lệch này trong khi mọi người đã thấy cái
vô lý của nó rồi. Tuy nhiên cũng cần nói rằng duy vật luận
chỉ chú trọng đến phần ngoại giới, xao lãng hẳn phần
nội giới phong phú sâu xa mà ở đây nhà khoa học chỉ có
thể rọi vào những tia sáng ngắn ngủi nhất. Mà dù người
duy vật có để ý đến nội giới đi nữa thì vẫn xem nội
giới như một đối tượng tầm thường như bao nhiêu đối
tượng vật chất khác, dù nhà duy vật cho nó là "một hình
thức tinh tế nhất của vật chất". Tinh thần tự đối tượng
hóa đã là một việc khó làm, mà tinh thần tự cho mình là
thuộc tính của vật chất lại là chuyện khó nghe. Ðời thuở
nào lại có một thứ thuộc tính kỳ quái có thể "biết"
mình là thuộc tính của vật chất!
Còn
bảo rằng "chỗ nào không có vật chất thì không có linh hồn"
cũng thật lạ lùng. Làm như tai mắt người có thể "thấy"
được thứ tinh thần tồn tại độc lập vậy. Tai mắt ta
chỉ nhận được sự hiện hữu của tinh thần nhờ những
dấu hiệu vật chất. Tinh thần vẫn hiện hữu, nhưng ta không
nhận được sự hiện hữu đó nếu ta không nhờ một vài
dấu hiệu vật chất, cũng như lúc nào cũng có làn sóng điện,
và những âm thanh chở trên các làn sóng điện ấy, nhưng
ta chỉ nhận được sự hiện hữu của các âm thanh được
chở trên các làn sóng kia nếu ta có một chiếc máy thu thanh.
Vậy
thì nhà duy vật đừng bắt ta đi tìm tinh thần ở chỗ không
có vật chất. Nhưng nói thì nói thế thôi, chứ đạo Phật
cũng không nhận rằng có thể có cái "hiểu biết" (cái mà
thế gian gọi là cái hồn) tồn tại ngoài xác thân loài động
vật. Lát nữa ta sẽ hiểu điểm này.
Chủ
nghĩa duy tâm chủ trương ngược lại rằng vật chất không
phải thực có, vật chất không tồn tại ngoài ý thức chủ
quan của con người. Chỉ có ý thức chủ quan là thực tại,
còn bao nhiêu cái khác đều là sản phẩm của ý thức chủ
quan, đều là những biểu tượng của ý thức, gọi tắc là
những "ý tượng". Duy tâm luận chủ trương ngoài tâm lý của
mình không còn gì cả; vũ trụ, thế giới, những người khác
và chính tâm ý của những người khác cũng không thực tại.
Người
duy tâm cũng như những người duy vật cố tình phủ nhận
một mặt của sự thực; người duy tâm cố tình là ngơ không
nhận những ảnh hưởng và những tác động của vật chất
của sinh lý trên tư tưởng và tâm lý của mình. Những loài
hữu tình sống xung quanh ta cũng có những cảm tình, những
tư tưởng, nói tóm lại, một tâm lý chủ quan của họ. Trong
sinh hoạt thường nhật ai không nhận rỏ điều đó. Ta không
thể chỉ công nhận có sự tồn tại của tâm ý riêng ta.
Ðạo
Phật không vướng vào duy tâm, không vướng vào duy vật, nhưng
cũng không phải một nhị nguyên thuyết. Duy thức học đạo
Phật chủ trương rằng ngũ uẩn tức là toàn thể những hiện
tượng vật lý, tâm lý (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), đều
là những thứ phát hiện của "chủng tử" tiềm lại trong
A Lại Gia Thức (Alaya - vinnana) mà thôi.
Những
hiện tượng tinh thần hay vật chất (sắc pháp hay tâm pháp)
đều là đứng về thế hiển phát. Khi chưa hiển phát, chúng
đứng về thế tiềm tàng. Ðứng về thế tiềm tàng, chúng
gọi là "chủng tử" (danh từ của duy thức học). Ðứng về
thế hiển phát chúng gọi là hiện hành. Chủng tử sinh hiện
hành, hiện hành trở về chủng tử, chủng tử là hiện hành,
hiện hành là chủng tử, sự phát hiện nầy được tiếp
diễn không ngừng.
Ðiểm
này đòi hỏi chúng ta nhiều kiến thức về duy tâm học. Ở
đây chúng ta chỉ lược qua đại cương. Chủng tử là một
thứ "năng lực" làm bản chất cho tất cả mọi hiện tượng
tâm lý và vật lý, nghĩa là cho mọi hiện hành. Mà toàn thể
chủng tử nằm gọn trong A Lại Gia Thức, hoặc nói một cách
khác, toàn thể chủng tử là A Lại Gia Thức. Vậy A Lại Gia
Thức là căn bản cho mọi hiện tượng tâm và vật .
Mỗi
hiện tượng (tâm lý hay vật lý cũng vậy) khi tàn hoại thì
trở về chủng tử để rồi phát sinh hiện hành khác. Nói
thế cho dể hiểu, kỳ thực vì mỗi hiện hành sinh diệt trong
từng giây phút, nên hiện hành luôn luôn trở về chủng tử
và chủng tử luôn luôn trở về hiện hành. Sự liên tục
mau chóng quá đến nổi ta không nhận ra kịp đó thôi.
Các
hiện hành sinh khởi cách nào? Sinh khởi theo luật tương quan
tương duyên (loi d’interdépendance). Ví dụ: ý thức, lý trí,
tình cảm sinh khởi nhờ nương vào các hiện tượng sinh lý
vật lý. Nương vào để được phát sinh mà thôi, chứ không
phải các hiện tượng sinh lý vật lý "sinh ra" các hiện tượng
tâm lý. Hiểu như thế, ta không còn cho tâm sinh lý, hay vật
sinh tâm nữa. Chúng nương vào nhau mà tương thân tương thành,
và do chủng tử ở A Lại Gia. Chủng tử là "thân nhân duyên"
nghĩa là những nhân chính, còn các hiện tượng giúp chúng
phát sinh thì gọi là "tăng thượng duyên" nghĩa là các điều
kiện thuận lợi giúp cho sự phát sinh ấy.
Nguyên
nhân chính của mọi hiện tượng, như thế, tức là chủng
tử. Nhưng gọi là nguyên nhân cũng không đúng hẳn; phải
gọi là bản chất. Vậy chủng tử trong duy thức học được
xem như là một thứ "năng lực" làm nền tảng cho cả hai loại
hiện tượng tâm và vật.
Tất
cả chủng tử, hiện hành gom góp chung lại gọi là A Lại
Gia.
Sau
khi thân xác tiêu hoại, thiếu điều kiện để "hiện hành",
các hiện tượng tâm lý trở về tiềm thức nơi A Lại Gia.
Như thế, không có một linh hồn tồn tại ngoài thể xác.
Cái tác dụng tinh thần kia, sự hiểu biết phân biệt yêu
ghét kia không hiện hành nữa, thì sao gọi là có linh hồn
được. Tuy nhiên A Lại Gia Thức sẽ biến chuyển, chín muồi,
để đem tất cả năng lực chủng tử mà phát hiện ra một
thế giới mới, một hoàn cảnh mới, một sinh mệnh mới.
Nghe
nói thế, có người sẽ cho rằng đạo Phật đã rơi vào duy
tâm. Nhưng không, không có một A Lại Gia tồn tại độc lập.
Mà có nhiều A Lại Gia của nhiều chúng sinh. A Lại Gia này
tồn nhờ sự hiện tồn của A Lại Gia khác, và các A Lại
Gia khác cũng tồn tại nhờ A Lại Gia này. Tất cả đều vâng
theo luật tương quan tương duyên mầu nhiệm.
Ý
thức chủ quan của ta nằm gọn trong A Lại Gia ta. Thế giới
khách quan tồn tại ngoài ý thức ấy, nhưng không phải chỉ
là một thế giới hiện hành của riêng A Lại Gia ta, mà là
một thế giới hiện hành do vô số A Lại Gia cọng đồng
kiến tạo. Ðiểm này ta sẽ thấy rỏ ràng trong giáo lý tự
biến cọng biến của duy nghiệp luận. Chỉ khi nào A Lại
Gia trong sạch, sáng suốt do công phu tinh luyện mà trở thành
Ðại Viên Cảnh Trí, nó mới tách rời ra khỏi sự cọng đồng
ấy và thể nhập về biển Bản Thể vô cùng rộng lớn thanh
tịnh và sáng suốt.
Vấn
Ðề Linh Hồn Trong Ðạo Phật
Ðạo
lý luân hồi thường được người ta hiểu một cách nông
cạn. Hầu hết mọi người khi nghe hai tiếng Luân Hồi đều
nghĩ đến một sự tiếp nối sinh hoạt trong nhiều xác thân
của một chiếc linh hồn cố định. Người ta nghĩ rằng khi
chết, linh hồn sẽ rời khỏi xác thân để đi vất vơ vất
vưởng trong hư không, đợi nhập vào một xác thân mới sinh,
hoặc là xuống âm phủ chịu cực hình trước khi đi đầu
thai làm thân người hay thân trâu ngựa ...
Thực
ra, đạo Phật chủ trương rằng sau khi con người chết, không
có cái gì thoát ra ngoài xác thân để rồi nhập vào một
xác thân khác cả. Như chúng ta đã thấy trong bài trước,
đạo Phật dạy rằng sinh mạng là sự cấu hợp liên tục
của ngũ uẩn, tức là những yếu tố sinh lý, tâm lý (sắc,
thọ, tưởng, hành, thức). Sắc uẩn là phần vật chất. Thọ
uẩn (sensations), tưởng uẩn (perceptions), hành uẩn (formationss
mentales) và thức uẩn (conscience) là phần tinh thần. Những
tác dụng tinh thần nầy chỉ có thể "hiện hành" được khi
có căn cứ phát sinh. Căn cứ phát sinh đó là phần thể xác,
sinh lý; cũng vì thế mà thể xác được gọi là thân căn.
Nếu thân căn thiêu hoại, các tác dụng tâm lý kia không hiện
hành nữa mà trở lại thế tiềm phục, nghĩa là trở thành
chủng tử.
Nếu
căn thân là một cấu hợp của tứ đại chủng, luôn luôn
chuyển biến, thì những tác dụng tinh thần kia cũng hợp thành
một dòng liên tục biến động không ngừng. Con người của
ta đổi mới từng giây phút; thân xác trong giờ phút trước.
Dòng tâm lý kia cũng vậy, luôn luôn biến động. Mỗi phút,
có những cảm giác mới, những tư tưởng mới, đến thay
cho những cảm giác và những tư tưởng cũ đang phai dần,
hoặc đang nép sâu vào ký ức - đang lùi về tiềm thế chủng
tử -- Vì luôn luôn biến chuyển, nên dòng tâm lý ấy không
phải là một cá thể đồng nhất, vĩnh cữu, do đó, không
thể gọi là một bản ngã được. Cái mà người ta cho là
linh hồn phải là một bản ngã đồng nhất, bất biến, làm
chủ thể cho sinh mạng. Ở đây, đạo Phật chủ trương không
có bản ngã, nghĩa là không có linh hồn: những tác dụng tâm
lý của con người vẫn chỉ là những tác dụng tâm lý. Chúng
phát hiện và hoạt động khi có điều kiện (thân căn sinh
hoạt) và trở về trạng thái chủng tử tiềm phục khi các
điều kiện kia tan rã (thân căn tiêu hoại).
Nhiều
người quả quyết rằng núp sau các hiện tượng sinh lý vật
lý luôn luôn biến chuyển kia, phải có một yếu tố bất
biến. Chính yếu tố đó là linh hồn, và chính linh hồn đó
tự nhận mình là một bản ngã. Nếu không có linh hồn đó
thì làm sao giải nghĩa được cái tính chất đồng nhất nó
tồn tại qua mọi biến chuyển, tính chất đồng nhất mà
mọi người đều cảm thấy ở tự thân mình hoặc ở bản
thân một người khác.
Nhưng
xét kỹ, tính chất đồng nhất ấy chẳng cần đòi hỏi sự
hiện hữu của một bản ngã, một linh hồn nào cả.
Năm
ngoái, tôi có mua một chiếc ghế gỗ để ngồi. Năm nay, cái
ghế ấy đã cũ đi nhiều, đã thay đổi nhiều, vì nó đã
gảy mất một cái chân và tróc mất lớp vảy ở ngoài. Tuy
nhiên tôi vẫn biết rằng cái ghế ấy chính là cái ghế mà
tôi mua năm ngoái. Vậy thì do đâu mà tôi nhận ra được tính
chất đồng nhất của cái ghế trong "lịch trình biến chuyển"
của nó? Phải chăng vì cái ghế kia có chứa đựng một "yếu
tố bất biến", một linh hồn? Nếu thế cái "yếu tố bất
biến" ấy của cái ghế mới được gọi là gì? Chẳng lẽ
gọi là linh hồn của cái ghế, hay là bản ngã của cái ghế
?
Cho
nên, không có yếu tố nào bất biến, nghĩa là không có linh
hồn, không có bản ngã. Chỉ có những hiện tượng vật lý
và tâm lý chuyển biến.
Vậy
thì nhờ đâu mà ta cảm thấy tính chất đồng nhất của
một vật? Theo Phật Học sở dĩ qua sự chuyển biến ta vẫn
cảm thấy có một cái gì đồng nhất là vì ta có một vọng
tưởng. Thứ vọng tưởng đó do giả tướng liên tục gây
nên.
Các
hiện tượng luôn luôn biến diệt và sinh thành, từ chủng
tử trở nên hiện hành, từ hiện hành quay về chủng tử.
Sự biến diệt sinh thành ấy xảy ra mau chóng quá đến nỗi
ta không nhận thấy kịp và ta tưởng có một tính cách đồng
nhất của cá vật qua thời gian biến chuyển. Cũng như khi
ta quay một đốm lửa thành vòng tròn, ta thấy có một "vòng
tròn lửa" tồn tại, kỳ thực vòng tròn ấy chỉ là một
giả tướng liên tục, cấu hợp nên do những đốm lửa luôn
luôn đổi mới.
Gọi
là những đốm lửa luôn luôn đổi mới vì tạo nên vòng
tròn đó không phải chỉ là một đốm lửa mà là vô số
đốm lửa. Ðốm lửa sau vì cháy trên một chất củi khác
nên đã không phải là đốm lửa trước nữa. Như thế đốm
lửa ở phía trên vòng tròn đã không phải là đốm lửa phía
dưới vòng tròn. Tuy vậy, đốm lửa sau cũng không phải là
một đốm lửa khác hẳn đốm lửa trước. Vì nếu không
có đốm lửa trước thì cũng sẽ không có đốm lửa sau.
Ðốm lửa trước làm nhân cho đốm lửa sau. Dây liên tục
đó đã gây cho ta vọng tưởng về tính cách đồng nhất.
Ðể hiểu rõ, ta nên đọc đoạn nầy trong kinh "Di Lan Ðà
vấn đạo" (les Questions du Milinda):
"Nầy
Ðại Vương! Nếu có người thắp một ngọn đèn lên, ngọn
đèn có thể cháy suốt đêm được không?"
--"Bạch
Ngài, ngọn đèn có thể cháy đến sáng".
"Vậy
ngọn lửa đèn lúc canh một có phải chính là ngọn lửa đèn
lúc canh hai không? "
--"Bạch
Ngài, Không ".
"Ngọn
lữa lúc canh hai với ngọn lữa lúc canh ba có phải là một
không?"
--"Bạch
Ngài, cũng không phải".
"Vậy
thì canh một có một cây đèn, canh hai có một cây đèn khác,
và canh ba có một cây đèn khác nữa chăng? ".
--"Bạch
Ngài, không. Ánh sáng suốt đêm chỉ do một cây đèn mà tỏa
ra thôi ".
"Ðại
Vương! Sự liên tục của một người hay một vật cũng vậy.
Con người của phút nầy sinh, thì con người của phút trước
diệt, dòng liên tục không ngừng. Con người phút sau không
phải là "một" với con người phút trước, nhưng cũng không
phải là "khác" với con người phút trước. Như thế, con người
liên tục mãi cho đến giai đoạn cuối cùng của ý thức bản
ngã".
Ta
có thể tạm ví xác thân ta với cây đèn, bấc, dầu; và tinh
thần ta với ngọn lửa đèn, cả hai đều biến chuyển không
dừng, không phải "đồng nhất" mà cũng không phải "sai dị"
(phi nhất phi dị).
Bản
thân ta (gồm cả tinh thần lẫn vật chất) không phải là
một cá thể đồng nhất bất biến, mà là một dòng liên
tục thường biến. Chính cái giả tướng "một dòng liên tục'
ấy đã gây cho ta ý niệm về tính cách đồng nhất của mọi
vật và của chính bản thân ta.
Nếu
không có một bản ngã bất biến, một linh hồn -- thì cái
gì đi luân hồi, cái gì đi đầu thai, cái gì làm chủ thể
cho dòng sinh tử?
Câu
hỏi ấy là một thắc mắc lớn lao cho nhiều người. Chúng
ta thường thấy trong kinh Phật có những câu chuyện luân hồi
nhân quả mà trong đó, một người chết ở thành Ba La Nại
có thể đầu thai thành một con vật ở thành Ca Tỳ La...Vậy
cái gì thoát khỏi xác thân người kia để đi đến thành
Ca Tỳ La nhập vào xác con vật nọ? Làm sao cái chết của
một sinh vật lại được nối tiếp với cái sanh của một
sinh vật khác?
Ta
đã thấy rằng đạo Phật không công nhận linh hồn, và do
đó không nhận rằng có linh hồn di chuyển. Ðạo Phật chỉ
chủ trương nhân quả (Patica Samuppada): một hậu quả nào phát
sinh cũng phải có những nguyên do tiền hữu. Còn dục vọng,
còn ham muốn thì vẫn còn sự sống. Trong thời gian dục vọng
còn tồn tại, các chủng tử trong A Lại Gia phần nhiều còn
là hữu lậu, nghĩa là còn khuynh hướng phát hiện sinh tử.
Nếu
sau khi đời sống chấm đứt mà dục vọng đều đã tiêu
diệt hết, vô minh không còn hiện hữu và các chủng tử đã
trở thành vô lậu. A Lại Gia trở về thể nhập với bản
thể sáng suốt, thì dòng sinh mạng không còn tiếp diễn nữa.
Nhưng nếu dục vọng vẫn còn, thì A Lại Gia còn nằm trong
trạng thái ô nhiểm, chưa có thể giải thoát luân hồi được.
Do đó, dòng sinh mệnh phải được tiếp nối.
Trong
cuốn "The Dhamma of Buddha", Ðại Ðức Jagdish Kasyapa có viết
một đoạn đại ý như sau về vấn đề luân hồi" Ai cũng
biết trận giặc trăm năm (La guerre de Cent ans) giữa Pháp và
Anh. Gọi là trận trăm năm, nghĩa là có nhiều trận giặc
nối tiếp nhau trong vòng một trăm năm, chứ không phải chỉ
là một trận kéo dài trong một trăm năm. Các trận giặc nhỏ
kia xảy ra ở những thời gian khác nhau ở những địa điểm
khác nhau, và với những chiến binh chiến cụ luôn luôn đổi
mới. Nhưng sao tất cả các trận nhỏ ấy lại được gồm
lại trong một ý niệm "trận giặc trăm năm"? Tại sao đánh
một vài trận rồi người ta không thôi đi, để cứ tiếp
tục đánh thêm nhiều trận khác? Có phải là vì do ý tưởng
thù nghịch giữa hai nước đang còn không?
Vậy
"ý tưởng thù nghịch" kia là nguyên do cho cuộc chiến tranh
và cho sự tiếp nối liên tục của các trận đánh. Còn ý
tưởng ấy thì các trận đánh vẫn còn tiếp diễn. Cũng như
thế, còn dục vọng thì còn phải tiếp tục sinh tử, với
một thân căn mới, một hoàn cảnh mới, một thế giới mới.
Một
đợt sóng ở đây xuất hiện. Vì đâu? Vì một sức đẩy
ở đàng kia. Ðợt sóng nầy lên rồi xuống, và khi xuống,
tạo thành một sức đẩy mới. Do sức đẩy nầy mà đàng
xa kia phát sinh một đợt sóng khác: chính đợt sóng khác ấy
là kết quả của đợt sóng nầy, tiếp nối do đợt sóng
nầy vậy. Giai đoạn sinh mệnh trước tạo nghiệp nhân mê
lầm sinh tử cho giai đoạn sinh mệnh sau; giai đoạn sinh mệnh
sau tạo nghiệp nhân cho giai đoạn sinh mệnh sau nữa, và cứ
như thế mãi.
Tất
cả những nghiệp nhân của ta về ngôn ngữ, ý nghĩ, hành
vi, cùng tất cả những ảnh tượng, cảm giác đều trở về
tiềm phục trong A Lại Gia của ta, không hề mất đi đâu cả.
Chúng tạo thành một động lực, gọi là "nghiệp lực", đẩy
chúng ta vào một giai đoạn sinh mệnh mới, một kiếp sống
mới.
Vấn
đề luân hồi trong đạo Phật là một vấn đề sâu xa, cầu
phải tìm hiểu lâu dài. Bài nầy chỉ có thể gợi được
một vài ý niệm căn bản đủ để độc giả có thể phá
bỏ những thành kiến từ xưa về luân hồi mà thôi vậy.
Vấn
Ðề Nguyên Nhân Ðầu Tiên Trong Ðạo Phật
Vấn
đề nguyên nhân đầu tiên là một vấn đề thường làm cho
con người ta thắc mắc nhất.
Mỗi
khi ngước mắt nhìn vũ trụ, con người thường băn khoăn
tự hỏi: "Vũ trụ do đâu mà có? Nguyên nhân đầu tiên của
vạn vật là gì?". Câu hỏi nầy đã được đặt ra từ bao
giờ mà đến nay vẫn không có được một câu trả lời nào
thỏa đáng. Bao nhiêu trí óc đã từng thắc mắc, băn khoăn
đau khổ vì nó. Giá mà câu hỏi kia được giải đáp, có
lẽ con người sẽ sung sướng lắm, là dù "buổi mai nghe mà
buổi chiều chết" cũng lấy làm thỏa mãn vậy.
Cũng
bởi vì nỗi khổ đau thắc mắc ấy của loài người mà các
thần giáo ra đời. Mỗi thần giáo chủ trương một vị thần
linh tối cao tối đại tạo lập nên trời đất và muôn vật.
Ðó là Brahma, là Allah, là Jéhovah, là Thượng Ðế, là Chúa
Trời... Bản thể của các vị chúa tể ấy, loài người không
thể hiểu thấu được. Quyền phép tạo lập, cứu vớt và
trừng phạt của các vị ấy, trí óc loài người không thể
kiểm soát được. Về các vị ấy, người ta không thể dùng
lý trí để suy luận, chỉ có thể đem một lòng Tin để thừa
nhận mà thôi.
Lòng
Tin ấy chính là một sự vỗ về an ủi, một "liều thuốc
tê" để con người có thể làm dịu lại trí não đang bị
căng thẳng, đang bị khổ đau vì câu hỏi trên kia mà thôi.
Ðưa
ra một "đấng" tạo hóa để giải quyết vấn đề nguyên
lai của vũ trụ, thực ra, cũng giản dị và dễ dàng lắm.
Nhưng đó không phải là một lối giải đáp hợp lý. Những
kẻ không có đức Tin thì không bao giờ có thể được an
ủi một cách quá dễ dàng như vậy. Họ vẫn có thể băn
khoăn, điên dại, khổ sở về câu hỏi ác nghiệt kia.
Công
nhận một đấng tạo hóa, tức là chận đứng sự hiểu biết
của con người lại. Người xưa, khi trông thấy những hiện
tượng kỳ bí của vũ trụ, cũng đã ước mong được một
lời giải đáp có thể làm thỏa mãn họ. Họ không thể cắt
nghĩa được các hiện tượng ấy một cách khoa học, cho nên
đã cầu cứu đến những lực lượng siêu nhiên, thần bí.
Gió thổi là bởi thần gió đi qua. Nước ngập là bởi thần
thủy giận dữ. Nếu khoa học mà chấp nhận lối trả lời
đó thì làm sao khoa học có thể tiến lên mà cắt nghĩa bằng
thuyết nhân duyên sinh rằng gió là kết qủa của sự chuyển
động không khí, rằng lụt là do nước nguồn chảy về quá
nhiều?
Tất
cả những giải đáp có tính cách mê tín như thế đều là
những trở lực lớn lao ngăn cản bước tiến của trí thức
nhân loại. Khi đã công nhận rằng đấng tạo hóa đã sinh
ra muôn vật, không ai còn có thể tự hỏi rằng nguyên do nào
đã tạo ra đấng tạo hóa và đấng tạo hóa nương vào đâu
để được phát sinh. Như thế, chính ý niệm về nguyên nhân
đầu tiên sẽ làm cho sự tìm hiểu của ta bị chận đứng
hoàn toàn, không thể tiến thêm một bước nào nữa.
Ðạo
Phật chủ trương không có nguyên nhân đầu tiên. Ý niệm
về nguyên nhân đầu tiên là một "vọng tưởng điên đảo"
do sự cố chấp mê lầm của chúng sinh mà có. Nếu hiểu được
giáo lý đạo Phật, ta sẽ thấy câu hỏi "nguyên nhân đầu
tiên là gì?" là một câu hỏi ngớ ngẩn, buồn cười, không
đáng làm cho chúng ta thắc mắc.
Trong
những bài trước, chúng ta đã thấy rằng, theo đạo Phật;
các hiện tượng vũ trụ luôn luôn biến chuyển và sinh diệt,
không lúc nào dừng nghỉ. Sự sinh diệt của những hiện tượng
ấy được thể hiện trên đường lối nhân duyên (paticca
samuppada). Một hiện tượng phát sinh, không những chỉ do một
"nhân" tiền hữu, mà còn là do vô số các "duyên" (điều kiện
giúp cho sự phát sinh) khác. Các duyên này cũng không phải
tự nhiên mà có. Chúng cũng là một "quả" do vô số "duyên"
khác tạo nên. Như thế, "một" hiện tượng có liên quan (dù
gần dù xa) với "tất cả" các hiện tượng của vũ trụ.
Nói
"hiện tượng" đây tức là nói một "dòng hiện tượng". Bởi
vì khi nói đến một hiện tượng, ta thường nghĩ đến cả
lịch trình phát sinh, trưởng thành, hư hoại, và tan rã (thành,
trụ, hoại, không) của hiện tượng ấy. Có thành, trụ, hoại,
không tức là có chuyển biến, mà có chuyển biến thì cố
nhiên nó không phải là "một" hiện tượng đồng nhất bất
biến. "Nó" là một "dòng hiện tượng", bởi vì "nó" của
phút sau đã không phải "nó" của phút trước. Với lại, trước
khi "nó" (dòng hiện tượng) phát hiện, ta bảo rằng chưa có
"nó". Kỳ thực, "nó" đã có muôn ngàn nhân duyên tiền hữu
rồi, sở dĩ ta không nhận được "nó" là vì ta không thấy
được "nó" bằng cặp mắt thiển cận mà thôi.
Bạn
tôi có "ráp" một cái xe đạp ở Saigon từ năm 1945 tại hiệu
Dur-Ford, giá 400đ. Cái xe ấy cũ dần, hư dần, bạn tôi đã
thay mấy ổ líp, nào niềng, nào lốp, nào vỏ, nào tăm. Bạn
tôi lại thay cả tay lái, và vừa rồi, gảy khung xe, bạn tôi
liệng vào xó hè, không dùng nữa. Bạn tôi chỉ nó mà bảo
tôi: "Ðó là chiếc xe tôi mua ở Saigon năm 1945 giá 400đ. đãy"
Bạn tôi không ý thức được sự thay đổi của chiếc xe
kia và vẫn một mực "đồng nhất" cái xe năm nay với cái
xe trước đây 12 năm. Lẽ ra, trong "quá trình" biến chuyển
của chiếc xe, bạn tôi phải thấy chiếc xe hôm sau khác với
chiếc xe hôm trước, và hơn thế nữa, chiếc xe phút sau khác
với chiếc xe phút trước...
Tệ
hơn nữa là bạn tôi cho rằng chiếc xe chỉ "có" từ khi bạn
tôi mua và "hết có" từ khi nó gảy khung. Bạn tôi không biết
rằng chiếc xe đã "có" từ trước khi bạn tôi mua, và hơn
nữa, "có" từ vô thỉ, trong các nhân và duyên của nó. Bạn
tôi lại cũng không biết rằng cái xe vẫn "có" sau khi nó gảy
khung, hư hoại nằm sau xó hè. Nó nằm đó, nằm mãi đó để
biến chuyển, để tiếp tục dòng đăng lưu nhân quả của
nó, tương quan và tương duyên với vạn vật khác. Con của
bạn tôi sẽ tháo một cái chuông lắp vào xe nó, biết đâu.
Cháu của bạn tôi sẽ tháo một cái tăm để mài nhọn, làm
chiếc dùi đóng sách, biết đâu. Và biết đâu đống sắt
còn lại ấy sẽ "luân hồi" vào trong một dụng cụ khác bằng
kim khí ...
Bạn
tôi chấp rằng chỉ có một cái xe đồng nhất bất biến,
mà kỳ thực, chỉ có một hiện tượng "xe" luôn luôn chuyển
biến. Ðó là "vọng tưởng’’ thứ nhất.
Bạn
tôi, vì cái ý thức vụ lợi, chỉ cắt xén một giai đoạn
của thực tại để mà cho rằng "có", và cho tất cả những
giai đoạn trước và giai đoạn sau đều là "không". Cái quan
niệm về có và không sai lạc ấy là một "vọng tưởng" thứ
hai.
Hai
thứ vọng tưởng kia phản chiếu một nhận thức sai lầm
chung cho tất cả mọi người.
Muôn
vàn hiện tượng có biến chuyển, vì thế có sinh diệt thành
hoại, nên ta cảm thấy cái có và cái không của vạn vật.
Quan niệm về có và không của chúng ta hoàn toàn do sự sinh
diệt của ngàn muôn hiện tượng mà có. Kỳ thực, muôn ngàn
hiện tượng chỉ kế tiếp nhau mà phát hiện theo luật tương
quan tương duyên, cái có và cái không của chúng chỉ là giả
tưởng do trí óc "vọng tưởng" của ta tạo ra mà thôi. Không
có gì thêm vào, cũng không có gì bớt đi. "Rien ne se crée,
rien ne se perd" câu nói này thật là chí lý. Vậy thì có và
không chỉ là những giả tưởng của các hiện tượng sinh
diệt. Trí óc ta nhận "có", là khi nào ta thấy được một
hiện tượng do nhân duyên cấu hợp; trí óc ta nhận "không"
khi ta thấy hiện tượng ấy theo nhân duyên mà tan rã. Cái
"có, không" của ta quan niệm, là cái có, không của các đợt
sóng, chứ không phải của nước. Muôn ngàn đợt sóng thấp,
cao, lớn, bé, đua nhau thành, hoại, có, không; còn nước (bản
thể của muôn ngàn đợt sóng ấy) vẫn không bao giờ chịu
luật có, không, thành, hoại của các đợt sóng vốn là hiện
của mình.
Về
mỗi đợt sóng, ta có thể phân biệt đầu đuôi, mất còn,
to nhỏ. Những danh từ này chỉ để nói cho sinh diệt của
các làn sóng, không thể gán vào cho nước.
Về
các hiện tượng, ta phân biệt có thỉ, có chung, có nhân ,
có duyên, có lớn, có nhỏ. Nhưng những danh từ thỉ chung,
nhân duyên, lớn nhỏ ấy không thể gán cho vũ trụ, cho thực
tại, cho bản thể. Hiện tượng tuy còn mất sinh diệt, bản
thể vẫn bất biến, trường tồn. Hai đầu đòn cân tuy có
lên xuống, có chậm mau, có sau trước, nhưng chính bản thân
cái đòn cân vẫn là cái đòn cân, không có lên xuống, chậm
mau, sau trước gì cả.
Thực
tại là cả một cái gì vượt ra khỏi sinh diệt, tồn vong,
không có. Thế mà người ta nở nào xem thực tại như là những
hiện tượng có sinh diệt, có thỉ chung, và bắt trí óc phải
tìm ra "nguyên nhân đầu tiên" của nó.
Trong
biển sinh diệt, "một" hiện tượng là nhân cho "tất cả"
các hiện tượng khác, và cũng là quả do tất cả mọi hiện
tượng khác làm nhân. "Một" do "tất cả" mà thành, "tất cả"
đều do "một" mà phát hiện. Trong một có tất cả, trong tất
cả có một, lý "nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức
nhất" ấy vốn là căn bản của luật nhân duyên tương hợp
tương thành.
Trong
thế giới tương quan tương duyên nhiệm mầu của hiện tượng,
trí óc ta có tật cắt xén, phân chia thành từng cá thể riêng
biệt rồi đi tìm một nguyên nhân cho cá thể ấy.
Quan
niệm nhân quả một chiều (một nhân một quả) của Aristote
ngày xưa đã là sai lạc lắm rồi. Nay muốn ngược dòng nhân
quả một chiều ấy để tìm đến nguyên nhân đầu tiên thật
không còn gì dại dột và ngây ngô hơn nữa.
Các
giả tướng sinh diệt, có không, chung thỉ, hoàn toàn do óc
vô minh, vọng tưởng của con người tạo ra cả. Một ngày
kia, thể nhập vào Thực Tại, vào cuộc sống muôn đời, ta
không còn thấy những giả tướng sinh diệt có không kia nữa.
Thực tại là thực tại. Nó không "có" và không "không" như
các hiện tượng sinh diệt. Thực tại vượt ra ngoài giả
tướng có không. Nếu như thực tại có "có", thì cái "có"
ấy chẳng phải là cái "có" của giả tướng nhân duyên. Nếu
nó có "không", thì cái "không" ấy cũng chẳng phải là cái
"không" của giả tướng nhân duyên. Thực tại không "có" một
cách giả tạm như hiện tượng sinh diệt, nên gọi là "diệu
hữu"; thực tại không "không" một cách giả tạm như hiện
tượng sinh diệt nên gọi là "chân không".
Diệu
hữu và chân không là hai danh từ dùng để mô tả thực tại
bất biến, bất sinh, bất diệt, vô thỉ, vô chung. Con người
khi thể nhập vào lòng thực tại thì bao nhiêu giả tướng
sinh, diệt, thành, hoại, thỉ, chung đều tiêu tan cả.
Ðể
làm sáng tỏ nguyên lý này, ta nên lấy một thí dụ:
Một
hôm, ta trông thấy một chú bé mủm mỉm dễ thương, tay chân
hồng hào nằm ngủ trong nôi. Mười năm sau, ta trở về, trông
thấy một cậu bé tay chân cứng cát, chạy nhảy nô đùa và
tỏ ra rất láu lĩnh. Ta bảo: "Chà, cậu bé mau lớn làm sao".
Trong trí, ta hình dung một cậu bé lúc mới sinh, ta so sánh
hình ảnh ấy với hình ảnh bây giờ, ta thấy có biến chuyển,
có trước sau, có lớn nhỏ, nghĩa là có thời gian. Cha mẹ
của cậu bé thì ít suy tưởng như ta và ít thấy như ta. Họ
ở gần cậu bé luôn, và không thấy cậu bé "mau lớn" như
ta thấy. Nhưng nếu cố ngồi nhớ lại một vài hình bóng
ngày xưa của cậu bé và đem so sánh những hình bóng đó với
hình ảnh bây giờ, họ cũng thấy được một ít những biến
chuyển, đổi thay. Ðến như chính cậu bé ấy thì cậu không
hề có cảm tưởng rằng cậu đã lớn, cậu đã biến chuyển
hàng năm, hàng ngày, hàng giây phút. Cậu không cảm nhận được
sự sinh diệt của các tế bào trong cơ thể cậu. Cậu không
có những ý tưởng về sinh diệt, trước sau, lớn nhỏ, biến
chuyển hay không biến chuyển; tóm lại, trong snh hoạt bản
thân, cậu không có ý thức về không gian và thời gian. Vì
sao thế? Vì chính cậu là thực thể, cậu đã "thể nhập
vào thực tại". Nếu cậu tự đối tượng hóa để suy nghiệm,
cậu hồi tưởng một vài hình ảnh cũ của bản thân rồi
đem so sánh nó với hình ảnh hiện thời của mình, cậu cố
ý thức được rằng các tế bào trong cơ thể cậu đang sinh
diệt từng giây phút, thì cậu sẽ cảm thấy tất cả những
biến chuyển, sinh diệt, thành hoại, thỉ chung, còn mất, nghĩa
là cậu sẽ thấy có thời gian và không gian. Chính vì "đối
tượng hóa" mình như vậy, nên cậu sinh ra lo sợ, suy nghĩ,
bực dọc ... Giá đừng bao giờ cậu "đối tượng hóa" mình
cả, thì cậu sẽ suốt đời sống trong an lạc hồn nhiên.
Vậy
con người nằm trong thực tại, con người chính là thực tại,
là những hiện tượng của thực tại bất sinh bất diệt.
Vì vô minh, con người đã "đối tượng hóa" thực tại, cho
nên đã lo sợ, buồn vui, thương ghét, đã khổ đau vì những
giả tướng sinh diệt, thành hoại, thỉ chung. Và nay con người
lại muốn điên đảo thêm, khổ đau khắc khoải thêm, cho
nên mới bôn ba đi tìm cái "bắt đầu" của vũ trụ, cái "nguyên
nhân đầu tiên" hư ảo không bao giờ có vậy.
Vấn
Ðề Nhân Vị Trong Ðạo Phật
Nói
"nhân vị" tức là chìu theo một danh từ của thời đại.
Ðáng lẽ ra, phải nói "vấn đề địa vị con người" trong
đạo Phật.
Bởi
vì, "nhân vị" là gì? Chúng tôi tưởng không cần định nghĩa
một cách rắc rối lôi thôi; cứ theo cái hiểu của đa số
hiện thời thì nhân vị tức là "con người", hoặc đầy đủ
hơn nữa thì là "phẩm vị của con người", hay là "địa vị
của con người".
Ai
cũng công nhận rằng trong các loài sinh vật trên mặt trái
đất, con người là một sinh vật tương đối hoàn hảo hơn
cả về phương diện tổ chức cơ thể cũng như về phương
diện khả năng tinh thần.
Sinh
hoạt tâm linh của con người phong phú hơn mọi vật. Khả
năng ý thức, khả năng tự chủ và khả năng phán đoán của
con người đã nâng con người cao hơn mọi vật, và vì thế,
con người có một phẩm vị đặt biệt, một địa vị độc
tôn. Con người có nhiều điều kiện hơn hết để tiến hoá,
tự do tiến hóa, tự do phát triển đến tận cùng những khả
năng tốt đẹp của chính mình. Nếu con người thiếu những
điều kiện ấy thì con người không còn là con người nữa,
mà con người sẽ chẳng hơn gì mọi loài khác. Vì thế, nếu
con người bị cản trở trên bước đường tiến hóa, nếu
con người bị tước mất quyền tự do phán đoán, tự do suy
tưởng, tự do quyết trạch, tóm lại, bị tước mất quyền
tự do tiến hóa, tức là nhân vị của con người bị khinh
thị, chà đạp, vì con người bây giờ chẳng còn có gì để
mà tự bảo rằng mình là "tối linh ư vạn vật" nữa.
Vậy,
vấn đề nhân vị chẳng qua chỉ là vấn đề địa vị của
con người, vấn đề tự do.Về vấn đề nầy, đạo Phật
quan niệm như thế nào?
Ðạo
Phật chủ trương rằng tất cả muôn loài đều có Phật tính,
nghĩa là đều có khả năng thành Phật. Bởi vì chúng sinh
tuy lượng số vô lượng, nhưng loài nào cũng mang nơi mình
yếu tố tròn đầy sáng suốt của bản thể. Một ngày mai,
vô minh diệt hết, bản tính thanh tịnh sáng suốt hiển hiện,
chúng sinh có thể thành Phật. Ðứng về phương diện nầy,
nghĩa là đứng trước vấn đề Phật tính, tất cả mọi
loài đều bình đẳng, tuyệt đối bình đẳng, không có loài
nào hơn, không có loài nào kém. Luận Ðại Thừa Khởi Tín
có câu: "Ðứng về phương diện bản thể, tất cả các pháp
từ xưa đến nay, lìa các tướng nơi lời nói, nơi chữ nghĩa,
nơi tưởng tượng, tuyệt đối bình đẳng, không có thay đổi,
không có hư hoại, cùng chung một bản thể sáng suốt của
nhất tâm, nên gọi là chân như" (nhất thiết chư Pháp, tùng
bản dĩ lai, ly ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm
duyên tướng, tất cánh bình đẳng, vô hữu biến dị, bất
khả phá hoại, duy thị nhất tâm, cố danh chân như).
Tuy
nhiên đứng về phương diện nghiệp quả, mọi chúng sinh đều
có một căn thân sinh hoạt trong một hoàn cảnh khác nhau. Tùy
theo nghiệp nhân mà mỗi loài chúng sinh cảm thọ một thân
ngũ uẩn thô phù hay tinh tế. Ở các hạ đẳng động vật,
tổ chức cơ thể không được tinh vi bằng tổ chức cơ thể
của các thượng đẳng động vật. Các tác dụng tâm lý (thọ,
tưởng, hành, thức) vì căn cứ trên tổ chức cơ thể ít
tinh vi ấy nên phát hiện một cách yếu ớt, hoặc nói cho
đúng hơn, một cách thô sơ.
Khả
năng tinh thần cũng có thể tỷ dụ như điện vậy. Máy nhỏ
và yếu thì chỉ có thể phát ra điện yếu. Bóng đèn nhỏ
thì ánh sáng mờ nhạt, nếu bóng đèn lớn, ánh sáng sẽ rực
rỡ hơn. Thân căn của một chúng sinh vốn là một trong những
tăng thượng duyên (điều kiện) cho sự phát hiện tác dụng
tâm lý vậy.
Ở
địa hạt con người, ta cũng có thể thấy được sự thực
ấy: một tinh thần sảng khoái chỉ có thể phát hiện trong
một thân thể khỏe mạnh (nhưng không phải một thân thể
khỏe mạnh bao giờ cũng có thể làm phát hiện một tinh thần
sảng khoái: định lý đảo nhiều lúc không đúng). Một tâm
hồn bạc nhược lắm khi chỉ do một thân xác yếu đau.
Vậy
nhờ một tổ chức thân căn tinh tế, một khả năng tinh thần
dồi dào mạnh mẽ hơn mọi loài, mà con người có nhiều điều
kiện hơn hết để tiến hóa, để mà hoạt động tự giải
phóng mình. Ðịa vị độc tôn của con người trên trái đất
nầy chính là do nghiệp nhân của con người đã gây từ trưóc,
chứ không phải do ân sủng của một đấng thiêng liêng nào,
lại càng không phải vì con người là "hình ảnh" của đấng
thiêng liêng ấy.
Nói
rằng con người có thể thành Phật, thì được. Nhưng nếu
nói rằng chỉ có con người mới có thể thành Phật thì sai.
Bởi vì không phải chỉ có con người mới có Phật tính.
Mọi loài đều có Phật tính cả, cho nên mọi loài đều sẽ
thành Phật. Con người vì có nhiều điều kiện thuận lợi
nên có thể thành Phật mau hơn mà thôi. Chứ không phải chỉ
con người mới có "ân sủng" của Phật. Lại càng không phải
chỉ có con ngưới mới có tác dụng tinh thần, mới có "linh
hồn".
Tại
sao khi thấy mọi loài khác, với tổ chức cơ thể ít tinh
vi hơn, với tác dụng tinh thần ít sắc bén hơn, người ta
vội cho chúng là không có "linh hồn" nhỉ? (Ở đây, chúng
tôi dùng chữ linh hồn với nghĩa: những tác dụng tinh thần
có biến chuyển).
Tại
sao cho rằng chỉ có con người mới có "lý trí" thôi, còn
bao nhiêu loại khác thì chỉ sống với bản năng? Ai lại chẳng
thấy có những người đặc óc, ngu si, sống với "bản năng"
còn hơn một vài loài vật, và có những con vật lanh lẹ khôn
ngoan sống với "ý thức" còn hơn một vài hạng người?
Cho
nên đạo Phật chỉ nhận rằng con người hơn mọi loài nhờ
có nhiều điều kiện sinh lý và tâm lý thuận lợi cho sự
tiến hóa chứ không phải chỉ loài người mới có thể tiến
hóa thành Phật. Xác nhận địa vị thuận lợi của con người,
đức Phật đã từng nói trong kinh Hoa Nghiêm:
"Nhân
thị tối thắng" (Con người là hơn cả). Trong nhiều kinh điển,
ngài luôn luôn lặp lại câu này để khuyên các đệ tử nên
lợi dụng những điều kiện thuận tiện mà con người sẵn
có để tiến bước mau lẹ trên đường giải thoát: "Nhất
thất nhân thân, vạn kiếp nan phục" (Một phen mất thân người,
muôn kiếp khó trở lại).
Và:
"Nhân
thân nan đắc, Phật pháp nan văn". (Làm được thân người
là khó, và được nghe Phật pháp cũng khó).
Trong
bộ Dị Bộ Tôn Luân Luận có câu: "Tất cả những kết quả
tốt đẹp giác ngộ đều thực hiện bởi con người". Như
thế, con người có năng lực nhiều hơn cả trong mọi loài.
Lại trong kinh Ưu Bà Tắc cũng có một câu ca ngợi hoàn cảnh
thuận lợi của con người: "Trong mọi loài, con người đủ
diều kiện hơn, như về trí khôn ngoan chẳng hạn. Hơn nữa,
hoàn cảnh con người không quá khổ như địa ngục, không
quá vui như thiên đường và không ngu si như thú vật".
Tuy
nhiên tất cả mọi sự tán dương ấy chỉ là để cho con
người ý thức được khả năng mình, giá trị mình, chứ
không phải để cho con người tự hào tự thị, rằng mình
là hơn hết. Không! nếu con người không biết sử dụng khả
năng sẵn có để tiến hóa đến Chân Mỹ Thiện, nếu con
người cứ chạy theo dục vọng kém hèn làm cho thân thể và
tinh thần mình mỗi ngày một tiều tụy, ngu si, phá sản, ấy
chính là con người tự kéo mình xuống ngang hàng với loài
cầm thú. Chẳng những thế, một mai kia nghiệp nhân xấu xa
sẽ lại đưa con người đến địa vị thực của loài cầm
thú nữa. Vậy thì dù con người có còn sinh hoạt với xác
thân người đi nữa thì cũng không còn đáng gọi là người,
vì con người đã giết chết nhân vị mình, đã không muốn
ngồi ở "địa vị" của mình nữa.
Với
địa vị tối thắng của mình, con người phải:
1.
Ðừng làm phá sản những khả năng tốt đẹp sẵn có;
2.
Phát triển những khả năng tốt đẹp ấy;
3.
Tin tưởng vào những khả năng của chính mình và đừng trông
cậy vào những thế lực vu vơ bên ngoài;
4.
Sử dụng những khả năng tốt đẹp ấy để tiến mạnh trên
bước đường giải phóng;
1.-
Ðừng làm phá sản những khả năng tốt đẹp sẳn có.-- Những
khả năng nầy mà phát hiện được là do nghiệp nhân tốt
đẹp của con người từ quá khứ. Ðó là những phương tiện
quý báu để con người có thể tiến bộ. Chúng cần thiết
cho sự giải thoát của con người cũng như vốn liếng cần
thiết cho nhà buôn, dầu xăng cần thiết cho máy móc, và mầu
sắc cần thiết cho nhà họa sĩ. Mất chúng là mất tất cả.
Mất chúng tức là trở về ngang hàng với mọi loài thú vật
khác, là mất địa vị con người, mất tất cả những gì
mà con người có thể tự hào là "tối linh ư vạn vật". Ðiều
kiện để giữ gìn nó là phải giữ mãi thân người. Mà giữ
mãi thân người (với tất cả ý nghĩa của tiếng nầy) thì
không có phương tiện nào hơn là giữ mãi nhân phẩm. Con người
không được phóng túng, buông lung theo ngũ dục (tiền tài,
sắc dục, hư danh, ham ăn và ham ngủ). Năm thứ ấy hạ thấp
con người xuống, lôi kéo con người xuống ngang hàng với
mọi loài và có khi tệ hơn mọi loài là khác nữa. Năm thứ
ấy là nguyên nhân độc hại làm cho con người phá sản. Thân
xác ta, vì rượu chè, vì sắc dục, vì bôn ba danh lợi, vì
ham ăn ham ngủ sẻ trở nên bệ rạc, đần độn, tối tăm,
nặng nề. Tinh thần ta cũng vì những thứ ấy mà trở nên
đê hèn, thấp kém, si mê, cuồng loạn. Muốn cho con người
của ta không phá sản, ta phải xa lánh dục vọng. Trong kinh
điển, đức Phật có dạy "Muốn giữ được thân người,
cần phải tu tập pháp ngũ giới và thập thiện nghiệp". Vậy
ngũ giới và thập thiện nghiệp là gì?
Ngũ
giới là năm điều răn cấm:
Không
sát hại sinh mạng.
Không
trộm cướp của kẻ khác.
Không
tà dâm, đa dục.
Không
uống rượu say sưa.
Không
nói dối, xảo trá, nói hai lưỡi, nói thêu dệt.
Thập
thiện nghiệp là gì? Là mười nghiệp lành, gồm trong ba loại:
hành vi, ngôn ngữ, tư tưởng:
Về
hành vi có ba nghiệp thiện:
Không
sát hại.
Không
trộm cướp.
Không
tà dâm.
Về
ngôn ngữ, có bốn nghiệp thiện:
Không
nói dối.
Không
nói thêu dệt.
Không
nói hai lưỡi.
Không
nói hung dữ.
Về
tư tưởng, có ba nghiệp thiện:
Không
có tư tưởng tật đố, hiềm khích.
Không
có tư tưởng sân hận, oán thù.
Không
có tư tưởng hắc ám, si mê.
Ðó
là những sợi dây chắc chắn nhất để ràng buộc con người
không cho rơi xuống ngang hàng thú loại, địa ngục và ngạ
quỷ. Giữ được thân người thì có thể bảo tồn mãi những
khả năng tốt đẹp của con người, những khả năng có thể
đưa con người lên các nấc thang giải thoát, tiến bộ. Nêu
cao giá trị con người, đức Phật chỉ muốn con người thấy
được những khả năng quí giá đó và đừng làm phá sản
những khả năng ấy mà thôi.
2.-
Phát triển những khả năng tốt đẹp ấy.-- Ðã không làm
phá sản chúng, con người lại còn phải làm cho chúng phát
triển nữa. Với những phương pháp tập luyện thể xác và
bồi đắp tinh thần, con người có thể phát triển chúng đến
một mức thật tốt đẹp. Nhờ đó, những khả năng kia có
thể giúp con người tiến hóa mau lẹ, dễ dàng. Một đời
sống tự do mới có thể cho con người một hoàn cảnh tốt
đẹp để tự đào luyện. Trong một cuộc sống mà con người
phải hoạt động như một cái máy mà suy tưởng theo một
chìu hướng nhất định, thì những khả năng tốt đẹp của
con người rất dễ bị ngăn cản và có thể bị tiêu hoại.
Sống trong một xã hội thiếu tự do, con người sẽ bị cằn
cỗi. Bởi vì một xã hội độc tài bao giờ cũng bắt buộc
con người nói và làm theo một hướng nhất định. Những
hành vi nào, những ngôn ngữ nào trái với đường lối hiện
tại sẽ bị cấm chỉ, và con người chủ động của các
hành vi và ngôn ngữ ấy sẽ bị trừng phạt, tiêu hủy. Ðã
đành không được nói, không được làm, nhưng con người
vẫn có quyền suy tưởng. Nhưng suy tưởng mà không thể nói
và làm theo sự suy tưởng của mình là một điều đau khổ
cho con người. Vì thế, con người sẽ rất sợ đời sống
suy tưởng, đời sống nội hướng, và phải đi tìm sự khuây
lãng, trong chỗ đông người, ở một quán cà phê, nơi một
cuộc hội họp chẳng hạn. Con người sẽ không chịu nổi
đời sống tâm linh nội hướng và dần dần đâm ra sợ hãi
sự cô độc lẻ loi. Con người tìm đến giữa xã hội và
biến mình thành một bánh xe vô tri trong cái toàn thể máy
móc vô tri vô giác ấy. Và vì thế, những khả năng tốt đẹp
của con người bị kìm hãm, bị tiêu diệt.
Vậy
con người cần phải sống tự do. Tự do đây không có nghĩa
là tự do trốn tránh bổn phận, tự do chạy theo ngũ dục,
mà là tự do suy tưởng, hành động theo hướng chân thiện
mỹ, tự do phát triển và nâng cao hơn nữa giá trị chân thật
mà con người có thể đạt đến được.
3.-
Tin tưởng ở khả năng tốt đẹp của chính mình và đừng
trông cậy vào những thế lực vu vơ bên ngoài.-- Ðức Phật
đã từng dạy: "Hãy tự thắp đuốc lên mà đi". Như thế,
đạo Phật xác nhận rằng con người đã có đủ khả năng
tiến đến giải thoát, không cần nương nhờ vào đâu nữa.
Phải tin tưởng mạnh mẽ vào những khả năng tốt đẹp sẵn
có của mình; nếu còn nương cậy vào những thế lực bên
ngoài tức là phủ nhận những khả năng ấy, tức là tự
mình không nhìn nhận địa vị con người (nhân vị) của mình
vậy.
Trong
kinh Pháp Hoa, đức Phật có kể câu chuyện "cùng tử lý bảo
châu" như sau:
Một
người kia mất đi, để lại trong chiếc áo rách của đứa
con một viên ngọc quý. Ðứa con không biết, cứ đi lần hồi
nhờ vả bà con quen thuộc, nhưng rồi chẳng ai giúp đỡ. Sau
nhờ biết được mình có viên ngọc trong áo, đứa con ấy
trở nên giàu có sung sướng, không cần nhờ vả ai nữa.
Ví
dụ đó cho ta thấy rằng con người phải tự khai thác những
khả năng sẵn có chứ không thể đi tìm giải pháp bên ngoài.
Phật dạy rằng con người vốn là đấng tạo hóa đã tạo
ra mình, mình gây nghiệp nhân, mình lãnh thọ nghiệp quả,
quyền năng sáng tạo và thay đổi hoàn toàn nơi mình. Quan
niệm ấy xác nhận giá trị tuyệt đối của muôn loài và
nhất là của con người: vì ở con người, khả năng sáng
tạo và chuyển dịch biến cải có phần mạnh mẽ hơn.
Con
người phải hoàn toàn căn cứ vào tự lực để tự giải
thoát. Tự mình, con người phải hoạt động để biến đổi
"biệt nghiệp" và cùng với bao nhiêu "con người" khác, con
người phải hoạt động cọng đồng để biến đổi "cọng
nghiệp". Nên, hư, thành, bại đều do ở con người. Thành
Phật hay lui về địa vị cầm thú cũng do ở con người. Xã
hội tốt đẹp hay xấu xa đều do con người. Vận mạng con
người và vận mạng xã hội con người đều do những "con
người" nắm giữ.
Con
người phải tự tin rằng chính ý nghĩ, hành động và ngôn
ngữ của mình mới có thể xây dựng được hạnh phúc và
giải thoát.
Ðừng
tin tưởng ở những danh từ tốt đẹp thường hay lừa gạt
con người. Ðộc lập, tự do, hòa bình, nâng đỡ nhược tiểu,
cứu vớt nhân loại! những danh từ ấy có giá trị là bao,
đừng vội tin tưởng ở chúng, con người chỉ cần tin tưởng
ở hành động của chính mình.
Ðừng
tin tưởng ở khoa học. Khoa học là một lưỡi dao quá sắc
bén mà hiện giờ con người không đủ sức sử dụng. Con
người đừng tưởng rằng khoa học sẽ giải phóng cho mình.
Không, con người phải tự giải phóng lấy mình bằng cách
cầm vững được hướng đi của khoa học, lợi dụng được
khoa học.
Ðừng
tin tưởng ở chủ nghĩa và đảng phái, là những thứ con
người đặt ra rồi bị mắc kẹt vào tất khó gỡ. Chủ nghĩa
và đảng phái không giải phóng được cho con người, nếu
con người không hoạt động xứng đáng cho sự giải phóng
của chính mình.
Ðừng
tin tưởng ở những nguyên tắc tổ chức tốt đẹp. Nguyên
tắc tổ chức tốt đẹp không thể thực hiện được nếu
không có sự cố gắng của con người. Một bản hiến pháp,
một chánh thể dân chủ không bảo đảm được hạnh phúc
của một dân tộc. Chính sự cố gắng của toàn dân để
thực hiện hiến pháp ấy, thực hiện chính thể ấy mới
đem lại sự lợi ích thiết thật cho mọi người.
Và
cuối cùng, đừng tin tưởng ở những lực lượng siêu nhiên.
Theo luật nhân quả xác thực, con người tự tác tự thọ.
Lực lượng siêu nhiên chỉ có thể là một thứ thuốc để
an ủi con người. Không có một vị thần linh nào giữ quyền
thưởng phạt cả. Có nhân thì có quả. Con người không thể
trông cậy một lực lượng siêu nhiên nào giải thoát cho mình.
Con người không phải là bọt bèo, là vô năng, là thụ động.
Con người có trách nhiệm tự giải phóng; trốn tránh trách
nhiệm đó, quy trách nhiệm đó về cho một lực lượng siêu
nhiên, tức là con người đã phủ nhận giá trị và năng lực
mình, và như thế là đã phủ nhận "nhân vị" của mình vậy.
Tóm
lại con người phải tin ở mình mới có thể không làm tổn
thương đến nhân vị.
4.-
Sử dụng những khả năng tốt đẹp ấy để tiến mạnh trên
bước đường giải phóng.-- Tin tưởng là để hành động.
Con người tuy đã tin tưởng ở khả năng của mình rồi, nhưng
còn phải sử dụng những khả năng ấy để tiến trên đường
giải phóng cho mình và cho nhân loại. Hành động mới là động
lực đưa con người đi tới.
Tóm
lại, địa vị con người trong đạo Phật nâng cao. Và hơn
ai hết, người Phật tử ý thức được vai trò, khả năng
và nhiệm vụ của mình. Không mê tín vu vơ ở những lực
lượng bên ngoài, cũng không tự mãn với những điều kiện
ít ỏi, người Phật tử luôn luôn tìm cách bảo vệ và phát
triển những khả năng tốt đẹp của con người và cố quyết
đi tới, bằng tin tưởng và bằng hành động.
10-24-1998
11:23:56