Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH
- VIETNAMESE ANH VIỆT
Thiện
Phúc
W
Wailing
hells: Khiếu Hoán Địa Ngục—Khiếu Hoán Địa ngục: Lâm
Cát—Đề Khốc Khiếu Hoán—The wailing hells, the fourth and the
fifth of the eight hot hells, where the inmates cry aloud on account of
pain—Địa ngục thứ tư và thứ năm (đại khiếu hoán) trong
bát nhiệt địa ngục, nơi tội nhơn bị cực khổ không chịu
được nên kêu gào khóc lóc.
Wailing
wall: Bức tường than khóc
Wait
on someone: Serve someone—Phục vụ ai.
Wait
upon someone: Hầu chuyện cùng ai.
Wait
until after retirement to cultivate: Đợi đến hưu trí rồi hẳn
tu—Some people believe that they should wait until after their retirement
to cultivate because after retirement they will have more free time. Those
people may not understand the real meaning of the word “cultivation”,
that is the reason why they want to wait until after retirement to cultivate.
According to Buddhism, cultivation means to turn bad things into good things,
or to improve your body and mind. So, when can we turn bad things into
good things, or when can we improve our body and mind? Ancient virtues
taught: “Do not wait until your are thirsty to dig a well, or don’t
wait until the horse is on the edge of the cliff to draw in the reins for
it’s too late; or don’t wait until the boat is in the middle of the
river to patch the leaks for it’s too late, and so on”. Most of us
have the same problem of waiting and delaying of doing things. If we wait
until the water reaches our navel to jump, it’s too late, no way we can
escape the drown if we don’t know how to swim. In the same way, at ordinary
times, we don’t care about proper or improper acts, but wait until after
retirement or near death to start caring about our actions, we may never
have that chance. Sincere Buddhists should always remember that impermanence
and death never wait for anybody. So, take advantage of whatever time we
have at the present time to cultivate, to plant good roots and to accumulate
merits and virtues—Có người tin rằng họ nên đợi đến sau
khi hưu trí rồi hẳn tu vì sau khi hưu trí họ sẽ có nhiều
thì giờ trống trải hơn. Những người này có lẽ không hiểu
thật nghĩa của chữ “tu” nên họ mới chủ trương đợi
đến sau khi hưu trí rồi hẳn tu. Theo đạo Phật, tu là sửa
cho cái xấu thành cái tốt, hay là cải thiện thân tâm. Vậy
thì khi nào chúng ta có thể đổi cái xấu thành cái tốt hay
khi nào chúng ta có thể cải thiện thân tâm chúng ta? Cổ đức
có dạy: “Đừng đợi đến lúc khát nước mới đào giếng;
đừng đợi ngựa đến vực thẳm mới thâu cương thì quá
trễ; hay đừng đợi thuyền đến giữa dòng sông mới trét
lỗ rỉ thì đã quá chậm, vân vân.” Đa số phàm nhân chúng
ta đều có trở ngại trong vấn đề trù trừ hay trì hoản
trong công việc. Nếu chúng ta đợi đến khi nước tới trôn
mới chịu nhảy thì đã quá muộn màng. Như thế ấy, lúc
bình thời chúng ta chẳng đếm xỉa gì đến hành động của
chính mình xem coi chúng đúng hay sai, mà đợi đến sau khi hưu
trí rồi mới đếm xỉa thì e rằng chúng ta chẳng bao giờ
có cơ hội đó đâu. Phật tử thuần thành phải nên luôn
nhớ rằng vô thường và cái chết chẳng đợi một ai. Chính
vì vậy mà chúng ta nên lợi dụng bất cứ thời gian nào có
được trong hiện tại để tu tập, vun trồng thiện căn và
tích tập công đức.
Wait
until the time is ripe to develop people’s immature faculties: Đợi
đến khi thế nhơn căn tánh được thành thục—To wait until
the time is ripe to develop people’s immature faculties. This is
one of the ten reasons Great Enlightening Beings practice austerities.
Enlightening Beings use these expendient means of austerities to pacify
all sentient beings—Vì muốn chờ đến khi thế nhơn căn tánh
được thành thục, mà thị hiện khổ hạnh. Đây là một
trong mười lý do khiến chư Đại Bồ Tát thị hiện khổ
hạnh. Chư Bồ Tát dùng phương tiện khổ hạnh nầy để điều
phục và làm cho chúng sanh an lạc—See Ten reasons Great Enlightening
Beings practice austerities.
Wake:
Bujjhati (p)—Bodhum (skt)—See Enlightenment in English-Vietnamese Section.
Wake
up (v): See Enlightenment.
Wakeful
(a): Jagarati (p)—Jagaritri (skt)—Tỉnh thức—Waking—To be awake.
Wakefulness
(n): Jagarati (p)—Jagrati (skt)—Awakened—Awakening—Waking.
1)
Tỉnh Thức: Achieving a complete and deep realization of what it means
to be a Buddha and how to reach Buddhahood. It is to see one’s Nature,
comprehend the True Nature of things, the Truth. However, only after becoming
a Buddha can one be said to have truly attained Supreme Enlightenment—Đạt
được sự nhận thức sâu xa về nghĩa của Phật và làm sao
thành Phật. Hiểu biết chơn tánh của vạn hữu. Tuy nhiên,
chỉ sau khi thành Phật mới thật sự đạt được Vô Thượng
Chánh Giác.
2)
Chú Tâm Cảnh Giác: According to the Sekha Sutta in the Middle Length
Discourses of the Buddha, the Buddha confirmed his noble disciples on devotion
to wakefulness as follows—Theo Kinh Hữu trong Trung Bộ Kinh, Đức
Phật đã dạy về ‘Chú tâm cảnh giác’ như sau:
i)
During the day, while walking back and forth and sitting, a noble disciple
purifies his mind of obstructive states: Ban ngày trong khi đi kinh hành
và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng
ngại pháp.
ii)
In the first watch of the night, while back and forth and sitting, he purifies
his mind of obstructive states: Ban đêm trong canh một, trong khi đi
kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các
chướng ngại pháp.
iii)
In the middle watch of the night he lies down on the right side in the
lion’s pose with one foot overlapping the other, mindful and fully aware,
after noting in his mind the time for rising: Ban đêm trong canh giữa,
vị nầy nằm xuống phía hông phải, như dáng nằm con sư tử,
chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng
niệm đến lúc ngồi dậy lại.
iv)
After rising, in the third watch of the night, while walking back and forth
and sitting, he purifies his mind of obstructive states: Ban đêm trong
canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong
khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp.
Waking:
Tỉnh thức—See Wakeful, and Wakefulness.
Walk
for alms food: Go on one’s alms round—Đi khất thực.
Walk
about with a metal staff: Tuần Tích—Tuần Giáo (cầm gậy đi
du hóa hay đi giảng đạo các nơi).
Walk
a path: Follow a path—Pratice a path—Đi theo con đường.
Walk
at a rapid pace: Rảo bước.
Walk,
stand, sit and recline in all worlds, remaining unhindered: Nơi tất
cả thế giới đi, đứng, ngồi, nằm vô chướng ngại trụ—See
Ten ways in which Buddhas remain unhindered.
Walk
up and down: Đi kinh hành—Walk slowly and enjoyably without thinking
or worrying about anything.
Walk
in the way: To follow the Buddha-truth—Hành Đạo.
1)
To follow the Buddha-truth: Đi theo chân lý của Phật.
2)
To make procession round an image, especially of the Buddha, with the right
shoulder toward it: Trịch vai phải, đi nhiễu vòng quanh hình tượng,
đặc biệt là hình tượng Đức Phật.
Walking:
Đi—A Bhiksu or Bhiksuni, while walking—Vị Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo
Ni, vừa đi:
1)
Should not talk, laugh, joke, whistle, sing or shout to someone far off—Không
nên nói chuyện, cười giỡn, huýt sáo, ca hát, hay gọi ai từ
xa.
2)
Should not chew food, use a toothpick, or talk loudly—Không nên nhai
đồ ăn, xỉa răng hay nói chuyện lớn.
3)
Should not join one’s palms in greeting, snap one’s fingers, swing
one’s arms, sway one’s body, move arms and legs as if one were dancing,
or turn one’s face up to the sky—Không nên xá chào, búng tay,
đánh đàng xa, lắc lư, nhảy nhót, hay ngẩng đầu lên trời.
4)
Should not put on clothes or adjusting one’s robe—Không nên mặc
hay chỉnh lại quần áo.
5)
Should not drag or stamp one’s feet, or take very long strides—Không
nên kéo lê dép, nện mạnh xuống đất hay bước chân quá
dài.
**
See Four respect-inspiring forms of demeanor (behavior).
Walking
meditation: Pratice of meditation while walking (pacing up and down in
mindfulness)—Thiền hành (đi tới đi lui trong chánh niệm)—Apart
from formal sitting meditation, one can perform walking meditation. Walking
very slowly, one concentrate on each movement and sensation involved in
lifting, moving, and placing the feet. In fact, in all daily actions sitting,
standing, lying down, talking, eating or whatever, one tries to be aware
of each minute action and event. By focusing the mind on the sensation
of the breath in sitting meditation and on each movement in walking meditation,
one becomes more aware of the richness of the present moment. In addition,
one’s concentration is removed from the daydreams and barrage of thoughts
that feed the disturbing attitudes. The mind remains tranquil, and one
fully experiences every event in life—Ngoài thời khóa thiền tọa
chính thức, hành giả có thể thực hiện thiền hành. Bước
từng bước thật chậm, hành giả tập trung tâm ý vào từng
cử động và cảm thọ trong các động tác nhấc chân lên,
đi tới và đặt chân xuống. Thực ra, trong tất cả các động
tác hằng ngày như ngồi, đứng, nằm, nói chuyện, ăn uống
hay bất cứ thứ gì, hành giả phải cố gắng tỉnh thức
từng hành động và biến cố nhỏ nhặt. Bằng cách tập trung
tâm ý vào các cảm giác của hơi thở trong khi tọa thiền
và vào từng cử động trong khi hành thiền, hành giả sẽ
nhận thức rõ hơn sự phong phú của từng giây từng phút
trong hiện tại. Hơn nữa, sự tập trung của hành giả giúp
hành giả thoát khỏi cảnh “mộng tưởng hảo huyền” và
những niệm tưởng đưa đến tâm thái nhiễu loạn. Tâm thức
ở trạng thái tỉnh lặng, và hành giả hoàn toàn chứng nghiệm
từng giây từng phút của đời sống.
Walking
seven steps: According to legend, the infant Buddha walked seven steps
in each direction upon birth.
Walking,
standing, sitting, lying: Walking, standing still, sitting or reclining—Hành
trụ tọa ngọa (đi, đứng, ngồi, nằm)—Đi Đứng Nằm Ngồi
(bốn uy nghi bao gồm hết mọi động tác của người tu hành
dù xuất gia hay tại gia, lúc thiền định cũng như lúc bình
thường)—See Ten kinds of Buddha-work in all worlds in all times of
the Buddhas (B) (7).
Wall-Contemplation:
Bích quán—Quán vách tường.
Wall-gazer:
Bích Quán.
1)
Name for the meditation of the Ch’an school in China: Tên của một
loại Thiền của Thiền tông Trung Quốc.
2)
The wall-gazer, applied to Bodhidharma, at Tsao-Linn monastery in Tsung
Shan mountain, who is said to have gazed at a wall for nine years. He said:
“When concentration in the ‘Meditating facing the wall,’ one will
see neither selfhood nor otherness, that the masses and the worthies are
of one essence. If one firmly holds on to this belief and never moves away
from it, he will not be depended on any literary instructions, free from
conceptual discrimination.” For nine years he sat in meditation facing
the wall (wall contemplation). He never talked to anyone; he just sat there.
Then one day a Chinese monk named Shen-Kuang approached him and asked for
instruction. Bodhidharma remained silent. A second and third time the monk
asked, a second and third time Bodhidharma remained silent. Again and again
the monk begged to be taught, but still the Master did not budge. Finally,
seeing the sincerity of the monk, Bodhidharma realized that here was a
man capable of receiving the Dharma. He turned to the monk and said: “What
do you want from me?” Shen-Kuang replied: “For a long time I have tried
to keep my mind calm and pure by practicing meditation. But when I meditate,
I become bothered by many thoughts and cannot keep my mind calm. Would
you please tell me how to pacify my mind?” Bodhidharma smiled and answered
:”Bring me that mind, and I will help you pacify it.” Shen-Kuang stopped,
searched within looking for his mind, and after a time he said: “I am
looking for my mind, but I could not find it.” Bodhidharma declared:
“There, I have already pacified it!” With these words, Shen-Kuang’s
obscured mind is suddenly clear. A veil lifted. He was enlightened. When
he took the mind to be real, then the wandering mind disturbed him in his
meditation. But now that he could not find that wandering mind, he realized
the mind is no-mind, that nothing can be disturbed. And from that time
on Shen-Kuang became the disciple of Bodhidharma and received the Buddhist
name Hui-Ke. After Bodhidharma passed away, Hui-Ke inherited the robe and
bowl and became the Second Patriarch of Chinese Zen Buddhism: Ngài Bồ
Đề Đạt Ma ở chùa Thiếu Lâm núi Tung Sơn, quay mặt vào
tường tọa thiền trong suốt chín năm liền. Ngài nói: “Khi
tinh thần ngưng trụ trong cái định của ‘Bích Quán’ thì
không còn thấy có ta có người. Thánh phàm một bực như nhau;
nếu một mực kiên cố không lay chuyển, rốt ráo không lệ
thuộc vào văn giáo và không còn tâm tưởng phân biệt nữa.
Trong 9 năm trường, Ngài ngồi nhập định trước một vách
tường, công phu “bích quán”. Ngài không hề nói với ai;
ngài chỉ ngồi. Đến một hôm, có một vị sư người Hoa
tên Thần Quang đến gần và xin được chỉ giáo, nhưng Bồ
Đề Đạt Ma vẫn im lặng. Vị sư người Hoa lại hỏi xin
chỉ giáo lần thứ nhì và thứ ba, nhưng Bồ Đề Đạt Ma
vẫn tiếp tục im lặng. Vị sư người Hoa tiếp tục nài nỉ
nhiều lần nữa, song Bồ Đề Đạt Ma vẫn không nhúc nhích.
Sau cùng, thấy sự chân thành của nhà sư người Hoa, Bồ Đề
Đạt Ma nhận thấy đây là người có thể nhận được giáo
pháp của Ngài. Ngài quay lại nhìn vị sư và hỏi: “Ông muốn
làm gì?” Thần Quang đáp: “Lâu nay con công phu quán
tưởng để cho tâm con được an tịnh. Nhưng mỗi lúc quán
tưởng, con bị phiền não quấy nhiễu khiến tâm con không
an. Xin thầy từ bi chỉ cho con cách an tâm!” Bồ Đề Đạt
Ma mỉm cười đáp lại: “Đem cái tâm ấy ra đây, ta sẽ
vì ông mà an nó cho.” Thần Quang dừng lại, tìm kiếm tâm
mình một hồi lâu, đoạn nói: “Con tìm tâm con mãi mà không
thấy.” Bồ Đề Đạt Ma tuyên bố: “Đó, vậy thì ta đã
an nó cho ông rồi!” Nghe những lời này, tâm mê mờ của
Thần Quang bỗng sáng ra. Một bức màn được vén lên. Thần
Quang liền giác ngộ. Khi ông cho tâm là có thật, thì cái tâm
vọng động quấy nhiễu ông khi ông quán tưởng. Nhưng nay
ông không tìm thấy cái tâm vọng động đó, ông nhận ra chính
tâm chính là vô tâm, rằng không có cái gì có thể quấy nhiễu.
Và từ cái vô tâm đó ông nhận ra nhất tâm. Kể từ đó
Thần Quang trở thành đệ tử của Bồ Đề Đạt Ma với Pháp
hiệu là Huệ Khả. Sau khi tổ Bồ Đề Đạt Ma thị tịch,
Huệ Khả được truyền y bát và trở thành Nhị Tổ Thiền
Tông Trung Hoa.
Wall-gazing
Brahman: Bích Quán Bà La Môn—Một danh hiệu của Tổ Bồ Đề
Đạt Ma—A title of Bodhidharma—See Wall-gazer and Bồ Đề Đạt
Ma.
Walls
have ears: Bích trung hữu nhĩ (tai vách mạch rừng, hay rừng
có mạch vách có tai)
Walled
city of enlightenment: Into which illusion cannot enter—Giác Thành.
1)
Gaya, where the Buddha attained enlightenment: Bồ Đề Đạo Tràng
nơi Phật thành đạo—See Bodh-Gaya.
2)
The walled city of enlightenment, into which illusion cannot enter: Thành
trì giác ngộ, nơi mà phiền não không thể xâm nhập được.
Wander
(v): Bharamyati (skt)—Float—Flow— Spread—To ramble (roam)—To
saunter idly—To travel—Lang thang—Lưu.
Wander
from place to place: Anupubbena-carikam-caramano (p)—Du phương—Đi
hành cước.
Wander
(v) in birth and death: Lăn trôi trong luân hồi sanh tử—We have
had to wander in the weary round of rebirth for so long—Chúng ta đã
lăn trôi quá lâu trong vòng luân hồi sanh tử.
Wander
from place to place: Du Phương—Đi từ nơi nầy đến nơi khác
(để hoằng hóa), chứ không dừng trụ lại nơi nào—See Anupubbena-carikam-caramano.
Wandering
(n): Sự dong ruỗi.
Wandering
devas of the sky: Du Hư không thiên—See Devas and Five classes of
devas (I) (B).
Wandering
itinerant monk: Hành cước Tăng.
Wandering
mind: Tán tâm (tâm dong ruổi lang thang)—Mental wandering—Scattered
mind—A mind disorganized by distraction or a wandering mind of common
untutored man. The distracted heart may have the following distinctions—Tâm
tán loạn hay tự tánh của những hạng phàm phu.
1)
Good: Thiện.
2)
Bad: Bất Thiện.
3)
Indifferent: Trung Tính.
Wandering
monk:Itinerant monk—Hành cước tăng.
Wandering
religious monk: Vrajaka or Parivrajaka (skt)—Hành cước Tăng hay
hành giả.
Wandering
on the street at the wrong time: Du hành trên đường phố phi thời—According
to the Sigalaka Sutra, there are six dangers when one wanders the streets
at unfitting time—Theo Kinh Thi Ca La Việt, du hành trên đường
phố phi thời có sáu mối nguy hiểm—See Six dangers when one
wanders the streets at unfitting time.
Wang-Jih-Hsiu:
Vương Nhựt Hưu—Wang-Jih-Hsiu, from Lung-Shu, also known as Hsu-Khung,
lived during the Chin Dynasty (265-420 A.D.). He obtained his Doctorate
Degree but chose not to take office as a mandarin. He became a devout and
learned follower of Amitabha and Kuan-Yin. He focused all his time to cultivate
Pureland Buddhism. He wrote the book titled “Pureland Dragon Poetry”
teaching and advising others the cultivated path of Buddha Recitation.
This Buddhist text was one of the most important books in propagating Pureland
Buddhism (Lung-Shu is his hometown, not his Buddha name, nor his name)—Người
Long Thư, còn gọi là Hư Không cư sĩ, người đời nhà Tấn,
đậu Tiến Sĩ nhưng không ra làm quan, chỉ lo chuyên chú tu
Tịnh Độ và trở thành tín đồ mộ đạo và học giả, chuyên
tu tịnh nghiệp Tịnh Độ và phép Quán Âm. Ông viết quyển
“Long Thư Tịnh Độ” khuyên dạy người về phép tu Niệm
Phật. Đây là một trong những quyển sách quan trọng hàng
đầu trong việc hoằng dương Tịnh Độ (Long Thư là tên quê
của ông chứ không phải là Pháp Danh hay tên ông).
Wang-Ku:
Vương Cổ—Name of a president of the board of Rites during the Sung
dynasty, who was also a devout Buddhist, end of eleventh century—Người
Đông Đô đời Tống, làm quan tới chức Lễ Bộ Thị Lang
vào cuối thế kỷ thứ 11.
Wang-Liang
Ghost: Vọng lượng quỷ—It was greed for views that made the person
commit offenses, then, after he has finished paying for his crimes, he
takes shape when he encounters essential energy, and he is called a Wang-Liang
Ghost—Tham trí thông minh gây tội, gặp loài tinh linh thành
hình, làm các loài quỷ Vọng Lượng—See Nine classes of ghosts
(II).
Wangyal,
Geshe Ngawang (1901-1983): Kalmyk Mongolian of the Gelukpa order, whose
main teacher was the Buryat lama Agvan Dorjiev (1854-1938). He fled Tibet
in 1951 following the Chinese invasion. In 1955, he moved to the U.S.A.
to minister to a small Kalmyk community. He subsequently founded the first
Tibetan monastery in North America, called the Lamaist Buddhist Monastery
of North America, in Freewood Acres, NJ. His students included Robert Thurman
and Jeffrey Hopkins—Người Mông Cổ thuộc bộ tộc Kalmyk, theo
trường phái Gelukpa, thầy của ông là ngài Buryat lama Agvan
Dorjiev (1854-1938). Ông đào thoát khỏi Tây Tạng vào năm 1951
ngay sau cuộc xâm lăng của Trung quốc. Vào năm 1955áng dời
sang Mỹ quốc để cai quản một cộng đồng nhỏ Kalmyk. Sau
đó ông sáng lập tu viện Tây tạng đầu tiên trên vùng Bắc
Mỹ, gọi là Tu Viện Phật Giáo Lạt Ma Bắc Mỹ, ở Freewood
Acres, New Jersey. Đệ tử của ông bao gồm Robert Thurman và Jeffrey
Hopkins.
Want
(v) to enjoy good food: Muốn ăn ngon
Want
(v) to have good clothes: Muốn mặc đẹp.
Want
a lot for very little: Người cho ít mà xin nhiều—See Four types
of people who can be seen as foes in disguise.
Want
(n) of tranquility: Asanki (p)—Asanta (skt)—Anxious—Discomfort—Bất
An.
Wanting
to drink: Ham uống.
Wanting
to eat too much: Muốn ăn nhiều.
War:
Chiến Tranh—Buddhists should always follow the teachings of the Buddha,
especially the first precept of “prohibiting killing.” In more than
2,500 years of Buddhist history, there were some cases of fighting between
monks, or fighting with civil authorities in Tibet and Japan However,
invasion in the name of religion is unknown in Buddhism (one country invades
other countries to spread a religion never happens in any Buddhist countries).
In the past, reasons for monks in Tibet fought with other monks and with
civil authorities were mainly concerned with money and power, not with
the propagation of Buddhism. The same reasons for the fighting among monks
and civil authorities in Japan. In Sri Lanka, king Dutthagamani launched
battles to fight against Damilas dynasty of the Tamils who tried to invade
Ceyland at the time, king Dutthagamani never put forward any bettles with
the intention of invasion of the continent of India for the spreading of
Buddhism. The Buddha teaches us not to kill, but he never teaches us not
to fight against enemies to protect our country—Người Phật tử
nên luôn vâng theo lời Phật dạy, nhất là giới thứ nhất
là “cấm sát sanh.” Trong hơn 2.500 năm lịch sử Phật giáo,
có vài cuộc chiến tranh giữa các nhà sư hay giữa các nhà
sư và nhà đương cuộc. Tuy nhiên, sự xâm lăng nhân
danh tôn giáo chưa từng được biết đến trong Phật giáo
(một quốc gia đi xâm lăng quốc gia khác để truyền bá một
tôn giáo chưa từng xảy ra trong các quốc gia theo Phật giáo).
Trong quá khứ, lý do mà các vị sư chiến tranh với nhau hay
chiến tranh với chính quyền chủ yếu vì tiền bạc và quyền
lực chứ không phải để truyền bá Phật giáo. Cũng cùng
những lý do ấy với những cuộc chiến tranh giữa các nhà
sư và chính quyền tại Nhật. Tại Tích Lan, dưới triều vua
Dutthagamani đã đánh lại triều đại Damilas của Tamils vì
họ là những kẻ xâm lăng Tích Lan thời đó, chứ vua Dutthagamani
chưa bao giờ chủ trương chiến tranh xâm chiếm lục địa
Ấn Độ để truyền bá Phật giáo. Đức Phật dạy chúng
ta không sát sanh, chứ Đức Phật chưa từng bảo chúng ta đừng
đánh lại kẻ thù để bảo vệ tổ quốc.
War
gods: Asura (skt)—A-Tu-La—See Asura.
War
park: Parusakavana (skt)—Thô Ác Uyển—The war park, in the South,
one of the four pleasure grounds outside of Sudarsana, the heavenly city
of Indra—Thô Ác Uyển ở về phương Nam, một trong bốn nơi
vui thú bên ngoài Thiện Kiến Thành, thành phố của cõi trời
Đế Thích—See Four pleasure grounds.
Warden
of the monasterial abodes: Tri Liêu—Người trông nom phòng ốc
trong tự viện.
Warden
monk: Giám Tự—A warden monk in a monastery—The warden or superintendent
of a monastery, especially the one who controls its material affairs—Sư
Tri Sự hay vị sư trông coi mọi việc trong tự viện.
Warden
of a temple: Abbot—Điện Chủû—Điện Ti—Viện chủ—Another
name for the abbot of a temple—Tên gọi khác của chức Tri Điện
trong chùa.
Warm
(a): Ấm áp.
Warm
heart cherished towards all sentient beings: Trái tím ấm áp hằng
hướng tới tất cả các loại hữu tình—As long as we tarry
on the plane of intellection, such Buddhist doctrines as Emptiness (sunyata),
Egolessness (anatmya), etc., may sound so abstract and devoid of spiritual
force as not to excite anyone to fanatic enthusiasm. Thus main point is
to remember that all the Buddhist teachings are the outcome of a warm heart
cherished towards all sentient beings and not of a cold intellect which
tries to unveil the secrets of existence by logic. That is to say, Buddhism
is personal experience and not impersonal philosophy—Nếu chúng ta
vẫn còn dây dưa trên bình diện trí năng, những giáo thuyết
của Phật như Tánh Không (Sunyata),Vô Ngã (Anatmya), vân vân,
dễ trở thành quá trừu tượng và mất hết sinh lực tâm
linh vì không kích thích nổi ai cái cảm tình cuồng nhiệt.
Điểm chính cần phải nhớ là, tất cả giáo thuyết của
Phật đều là kết quả của một trái tím ấm áp hằng hướng
tới tất cả các loại hữu tình; chứ không là một khối
óc lạnh lùng muốn phủ kín những bí mật của đời sống
bằng lý luận. Tức là, Phật pháp là kinh nghiệm cá nhân,
không phải là triết học phi nhân—See Ten characters of Bodhicitta.
Warm-hearted
(a): Có nhiệt tình.
Warn
and punish: Giới Phạt—To warn and punish; to punish for breach of
the commandments or rules—Cảnh cáo và răn phạt.
Warning:
Cảnh cáo.
Warren,
Henry Clarke (1854-1899): American scholar who studied Sanskrit with Charles
Lanman at Johns Hopkins University, and with Lanman at the Harvard
Oriental Series. He published a number of influential translation of Sanskrit
and Pali texts, including “Buddhism in Translation.”—Học giả
người Mỹ, học Phạn ngữ với Charles Lanman tại trường
Đại Học Johns Hopkins, và với Lanman tại Harvard Oriental. Ông
xuất bản một số kinh điển rất có ảnh hưởng dịch từ
tiếng Pali, bao gồm bộ Phật Giáo Phiên Dịch.
Warrior
and ruling caste: Ksatriya (skt)—Dòng Sát đế lợi.
Wash
(v): Gột rửa.
Wash
(v) a Buddha’s statue: Tắm Phật—To wash a Buddha’s statue in
the ceremony of Buddha’s Birthday. To wash the image of the Buddha on
the 15th of the fourth month—Lễ Mộc Dục trong ngày kỷ niệm
Phật Đản Sanh. Lễ tắm Phật vào ngày rằm tháng tư.
Wash
the image of the Buddha: Dục Phật and Tắm Phật—This is a ceremony
on his birthday, 15th of the fourth month—Lễ tắm Phật vào ngày
Phật Đản, rằm tháng tư.
Wash
out blood with blood: Dĩ Huyết Tẩy Huyết—To wash out blood with
blood, from one sin to fall into another—Lấy máu rửa máu, máu
càng lan rộng (lấy máu rửa máu hay lấy oán báo oán, chúng
ta sẽ rơi hết từ tội lỗi nầy sang tội lỗi khác).
Wash
a Buddha’s image: Quán Tẩy—Usually done during the Buddha’s Birthday—Tắm
rửa tượng Phật, thường được tổ chức trong ngày Khánh
Đản.
Washing
(n): Sự gột rửa.
Waste
(a): Phí phạm—Xa Hoa—To spend—To profligate.
Waste
land: Đất hoang.
Waste
of money: Tài sản hiện tại bị tổn thất—See Six dangers when
one attaches to addiction of alcoholic drinks and drugs.
Waste
of time and energy: Phí phạm thì giờ và năng lực
Waste
one’s wealth: Tài sản hiện tại bị tổn thất—See Six dangers
when one attaches to gambling.
Wasting
one property: Phung Phí Tài Sản—According to the Sigalaka Sutra,
there are six ways of wasting one’s property—Theo Kinh Thi Ca La Việt,
có sáu cách phung phí tài sản—See Six ways of wasting one’s
property.
Wasteland
of Birth and Death: Samsara—Cõi Ta Bà.
Wat
(p): A Pali term used in Theravada countries for a Buddhist monastery or
temple—Từ Nam Phạn dùng trong các xứ theo Phật giáo Nguyên
Thủy để chỉ tự viện Phật giáo hay chùa.
Watch
(n & v): Canh (trong đêm)—Tỉnh thức.
Watch
animals copulating: Nhìn súc vật giao hợp—A Bhiksu or Bhiksuni
who intentionally watches animals copulating, commits an Expression of
Regret Offense—Vị Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni nào cố tình nhìn
súc vật đang giao hợp là phạm giới Ba Dật Đề hay giới
Đọa (phải phát lồ sám hối).
Watch
animal fighting: Coi đấu vật—A Bhiksu or Bhiksuni who watches animal
fighting or provokes animals to fight with each other, commits an Expression
of Regret Offense—Vị Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni nào coi đấu vật
hay thúc giục cho loài vật đánh đấu với nhau là phạm giới
Ba Dật Đề, phải phát lồ sám hối.
Watch
a magic show: Xem ảo thuật—See Watch military drills.
Watch
martial art performance: Xem đấu võ—See Watch military drills.
Watch
military drills: Xem tập trận—A Bhiksu or Bhiksuni who watches military
drills, commits an Expression of Regret Offense—Vị Tỳ Kheo hay Tỳ
Kheo Ni nào xem tập trận là phạm giới Ba Dật Đề.
Watch
one's opportunity: Resign oneself—Lie in wait for—Ẩn nhẫn chờ
thời.
Watch
people fighting or arguing with each other: Coi người ta đánh lộn
hay chưởi lộn—See Watch military drills.
Watch
preparation for battle: Xem dàn trận đánh—See Watch military drills.
Wat
Dhammakaya (p): A very popular Thai Buddhist movement, founded in the 1970s
by Chaiyaboon Sitthiphon (Phra Dhammajayo) and Phadet Phongaswad (Phra
Dattajivo). At first, they established a Buddhist center at Pathum Thani,
near Bangkok, later it has grown into a huge complex. The movement has
become the controlling force in the Buddhist Association of most major
Thai universities and has attracted even the support of the royal family
and powerful segments of the military. Its main stated goal is to
restore Thai Buddhist civil religion, but its critics contend that it is
mainly interested only in amassing money and attracting members—Phong
trào Phật giáo Thái Lan rất phổ biến do Chaiyaboon Sitthiphon
(Phra Dhammajayo) và Phadet Phongaswad (Phra Dattajivo) sáng lập vào
khoảng thập niên 1970s. Tiên khởi họ thiết lập một trung
tâm Phật giáo ở Pathum Thani, gần Bangkok, về sau này cơ sở
ấy phát triển lớn. Phong trào trở nên lực lượng kiểm
soát hầu hết các trường đại học Thái trong giáo hội Phật
giáo và thu hút ngay cả sự hỗ trợ của hoàng gia và những
phần tử có thế lực trong quân đội. Mục đích chính của
phong trào là phục hưng tôn giáo dân sự Phật giáo, nhưng
những người chỉ trích tranh luận rằng phong trào chỉ nhắm
vào việc gom thật nhiều tiền và thu hút hội viên mà thôi.
Water
(n): Apas or Jala (skt)—Apo (p)—Nước—Thủy Đại (Thấp)
1)
Water, fluidity, or liquid. Unlike the earth element it is intangible.
It is the element which enables the scattered atoms of matter to cohere
together. After death, these water-based substances will dry up. In other
words, they have returned to water—Nước (đàm, mủ, máu, mồ hôi,
nước tiểu, nước mắt, nước trong máu, mũi dãi, tất cả
các chất nước trong người nói chung). Không giống như địa
đại, nó không thể nắm được. Thủy đại giúp cho các nguyên
tử vật chất kết hợp lại với nhau. Sau khi ta chết đi rồi
thì những chất nước nầy thảy đều cạn khô không
còn nữa, nói cách khác chúng hoàn trả về cho nước—See
Four great elements.
2)
Water is considered as one of the four poisonous snakes in a basket which
imply the four elements in a body (of which a man is formed)—Nước
được coi như là một trong bốn con rắn độc trong giỏ ám
chỉ tứ đại trong thân thể (tạo nên thân thể con người)—See
Four poisonous snakes.
3)
Water is also one of the seven great calamities: Nước cũng là một
trong bảy nạn lớn—See Seven calamities (B).
4)
One of the nine elements: Một trong cửu đại—See Nine elements
or nine substances (A).
Water
altar: Thủy Đàn—The round altar of water in the Homa, or Fire ceremonial
of the esoterics—Nước (bàn nước tròn) vòng theo hỏa lò, dành
cho các nghi lễ về lửa trong Mật Tông.
Water-born
asuras: Thủy Sanh A Tu La—One of the four kinds of Asura. The others
are womb-born, transformation-born, and egg-born asuras. There is another
baser category of asura. They have thoughts of the great seas and live
submerged in underwater caves. During the day they roam in emptiness; at
night they return to their watery realm. These Asuras come into being because
of moisture and belong to the destiny of animals—Một trong bốn loại
A Tu La. Những loại A Tu La khác là thai sanh, hóa sanh và noản
sanh. Thủy sanh A Tu La là thứ A Tu La ở đáy biển, dưới hang
nước. A Tu La đó do thấp khí sinh, thuộc về súc sanh thú—See
Asura and Four kinds of Asura.
Water
bubble: Bong bóng nước.
Water
burial: Thủy Táng—Casting a corpse into the water, one of the four
form of burial (Hỏa táng: Fire, Thủy táng: Water, Thổ táng: Ground,
and Lâm táng: Buried in the forest)—Ném xác xuống nước, một
trong bốn loại mai táng—See Four kinds of burial.
Water
crystal: Thủy ngọc.
Water
of delusion: Turbid waters of ignorance—Si thủy—See Water of ignorance.
Water
deva: Varuna (skt)—Thủy Thiên—Dragon-king, one of the great spirits
in the esoteric mandalas, who rules the clouds, rains and water—Thủy
thiên, một trong những vị thần lớn của Mật Giáo Mạn Đà
La, vị nầy cai trị mây, mưa và nước.
Water-Deva
Buddha: Phật Thủy Thiên.
Water
of the dharma-nature: Pháp Tánh Thủy—The “sweet-dew” water of
the dharma-nature (pure)—Nước pháp cam lồ của Pháp Tánh (thanh
tịnh).
Water
dhyana: Thủy Định—Thủy Quán—Thủy Tướng Quán—Thủy
Tưởng—In which one becomes identified with water (calm, pure, fresh,
etc)—Thiền định được tự tại về nước (làm cho thân
mát tâm tịnh như nước).
Water
of eight qualities: Bát Công đức thủy—The ideal water of pure
lands, which is cool, clear, sweet, soft, lustrous, settled, nourishing,
and able to allay hunger and thirst—See eight virtues.
Water
of eight virtues: Bát công đức thủy (see Eight Virtues).
Water
element: Apo-dhatu (skt)—Thủy đại—See Four great elements.
Water-filter:
Đồ lọc nước.
Water
furnace: Round in shape—Thủy Lô, lò nước hình tròn—See Four
furnaces.
Water
globule: Thủy Viên—A term used for fire-pearl or ruby, also altered
to Pearl-ball; it is the ball on top of a pagoda—Danh từ dùng để
gọi “hỏa châu,” còn gọi là “châu viên,” là viên ngọc
báu trên tháp các tự viện.
Water
of ignorance: Si Thủy.
1)
The turbid waters of ignorance: Nước uế trược của sự si muội.
2)
To drink the water of delusion: Uống nước uế trược.
Water
in a jar: Nước lóng trong chum—When we pour water into a jar, though
the impurities are deposited at the very bottom, they are not yet filtered
out. If conditions change and the water is stirred up, the impurities will
rise—Như nước lóng trong chum, bùn tuy lắng xuống nằm yên
tận đáy, nhưng khi chưa gạn lọc ra được, gặp duyên khuấy
động, bùn lại nổi lên—See Three analogies concerning retrogression
of practitioners who have experienced awakening.
Water-lantern
festival: Thủy Đăng—Usually in the seventh month—Lễ rước đèn
nước vào tháng bảy.
Waterman
in a monastery: Thủy Đầu—Vị sư chăm lo về nước nôi trong
tự viện.
Water
and milk: Thủy Nhủ—Water and milk which can be intermingled, or the
intermingling of things—Nước và sữa có thể pha trộn được.
Water-moon:
Jalacandra (skt)—Moon’s reflexion in the water—Thủy Trung Nguyệt
(mặt trăng trong nước).
Water
scent: Hương Thủy—Nước thơm cúng Phật—Perfume.
Water
scent money: Hương Thủy Tiền—Money given to monks which in turns
paying in for military expenses during the Sung dynasty when An-Lu-Shan
occupied the capital Ch’ang-An—Dưới thời nhà Tống khi An Lộc
Sơn chiếm cứ kinh thành Trường An, đã ra lệnh thu tiền thuế
Tăng gọi là hương thủy tiền để dùng vào việc quân sự.
Water-Sky
Buddha: Thủy Thiên Phật.
Water
store: Thủy Tạng—Water-treasury, one of the sons of Jalavahana (Lưu
Thủy)—Kho tàng dưới nước, một trong các con trai của Lưu
Thủy.
Water
strainer: Túi lọc nước—See Six things which a monk must have (B).
Water
of truth: Which washes away defilement—Đạo thủy (tẩy sạch mọi
uế nhiễm của trần thế).
Water
vessel: Thủy Khí—A filter used by the esoterics in baptismal and other
rites—Bình chứa nước, được dùng trong lễ quán đảnh và
các nghi thức khác của Mật tông.
Water
of virtue: Công Đức Thủy—The water or eight lakes of meritorious
deeds, or virtue in Paradise—Công đức trì hay tám hồ công đức
nơi cõi Cực Lạc.
Water
and wave of water: Thủy Ba—The water and the wave are two yet one,
an illustration of the identity of differences—Nước và sóng nước,
tuy hai mà một.
Water
wheel: Thủy Luân—The third of the four “wheels” on which the earth
rests. The other wheels are Space, Wind, and Metal—Một trong tứ luân
thành lập nên thế giới. Những luân khác là Hư Không, Phong
và Kim. **See Four wheels and Five wheels.
Waterwheel
at the well: Cấp Tỉnh Luân—The round of reincarnation (cycle) is
like the waterwheel at the well ever revolving up and down—Vòng sanh
tử luân hồi vô cùng vô cực như guồng xe múc nước giếng
lên xuống không ngừng.
Water
of wisdom: Trí Huệ Thủy—The water of wisdom, which washes away the
filth of passion—Trí huệ thủy có công năng gột rửa tất
cả những uế trược của dục vọng.
Wato
(jap): A Japanese term for “the point of koan,” which sums up the intent
of the paradox that it poses—Từ ngữ Nhật Bản chỉ “Điểm
của công án,” tổng kết chủ ý của cái ngược lại với
cái mà công án đề ra.
Watts,
Alan (1915-1971): British popularizer of Buddhism (người phổ truyền
Phật giáo), especially Zen. He lacked an academic background in the
field and had no knowledge of Asian languages, but was able to convey difficult
and abstruse ideas in ways that appealed to a general readership. His first
book was “The Spirit of Zen” (1936). Some of his books were dismissed
by academic specialists as superficial and inaccurate, but his works still
have a wide popular appeal from all over the world—Một nhà truyền
bá Phật giáo người Anh, đặc biệt là truyền bá về Thiền.
Ông không có căn bản học thuật về Phật giáo, lại cũng
không có kiến thức về các ngôn ngữ Á Châu, nhưng ông có
khả năng truyền đạt những ý nghĩa hay tư tưởng sâu sắc
cho độc giả phổ thông. Quyển sách đầu tiên của ông là
quyển “Tinh Thần Thiền” (1936). Một số sách của ông không
được các chuyên viên hàn lâm tán thành vì cho rằng mang tính
mê tín và không chính xác, nhưng các tác phẩm của ông vẫn
được ưa chuộng và được phổ biến rộng rãi khắp nơi
trên thế giới.
Waves:
Taranga (skt)—Làn sóng.
Waves
of consciousness: Thức Lãng—The waves or nodes of particularized discernment,
produced on the bhutatathata considered as the sea of mind—Chân như
của tâm thể ví như biển, duyên động của chư thức ví
như sóng (chỗ dòng nước do tạng thức chuyển động mà sinh
ra thức lãng).
Wave
of thoughts: Mind wave (mental activities)—Tâm ba (những hoạt động
của tâm).
Waver:
Shake—Lay động.
Wavering:
Dao động.
Waves
and wind: Sóng gió—Ups and downs of life.
Way
(n): Upàya (p & skt)—Path—Đạo—Phương cách—Phương thức—Phương
tiện (dùng để đạt đến mục đích như con thuyền đưa
người sang sông)—See Marga and Two ways.
1)
The best way: Cách hay nhứt.
2)
The best way to respect Buddha is following his advice: Cách quý trọng
Đức Phật cao quý nhứt là thực hành những lời Phật dạy.
3)
According to the Sutra In Forty-Two Sections, Chapter 2, the Buddha said:
“Sramanas who have left the home-life renounce love, cut (uproot) desire
and recognize the source of their minds. They penetrate the Buddha’s
Wonderful Dharmas and awaken to unconditioned dharmas. They do not seek
to obtain anything internal; nor do they seek anything external. Their
minds are not bound by the Way nor are they tied up in Karma. They are
without thoughts and without actions; they neither cultivate nor achieve
(certify); they do not need to pass through the various stages and yet
are respected and revered. This is what is meant by the Way.”—Theo
Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Chương 2, Đức Phật dạy: “Người
xuất gia làm sa Môn thì phải từ bỏ ái dục, biết được
nguồn tâm, thấu triệt giáo pháp của Phật, hiểu pháp vô
vi. Bên trong không có cái để được, bên ngoài không có chỗ
để cầu. Tâm không chấp thủ nơi đạo, cũng không hệ lụy
bởi nghiệp, không có suy tưởng, không có tạo tác, không
có tu, không có chứng, chẳng cần trải qua các Thánh vị mà
tự thành cao tột, đó gọi là Đạo.”
Way
of action: Cách hành động.
Way
of affliction: Phiền não đạo—The way of temptation or passion,
in producing bad karma—Con đường của tham dục, đưa đến ác
nghiệp.
Way
of the Arhat: Vô Học Đạo—The way of the Arhat, especially his attainment
to complete truth and freedom from all illusions, with nothing more to
learn. The fourth and last stage in the Four Saints, which is beyond the
need of further teaching or study—Con đường của bậc A La Hán,
đặc biệt khi hành giả đã đạt được chân lý và thoát
khỏi những ảo tưởng, không còn gì nữa để học. Đây
là giai đoạn cuối cùng trong Tứ Thánh.
Way
of beholding the truth: Kiến Đạo—The stage of no reincarnation of
the sravakas and the first stage of the Bodhisattva, one of the three paths
that all have to tread on—Giai đoạn không còn tái sanh của một
vị Thanh Văn hay sơ địa Bồ Tát, một trong tam đạo mà mọi
người rồi sẽ phải giẫm lên—See Three paths all have to tread.
Way
of a Bodhisattva: Discipline of a Bodisattva, to benefit self and benefit
others—Bồ tát hạnh.
Way
of Buddha: Buddhism—The way that leads to Buddhahood—The Buddhist doctrine—
Phật đạo—The way which leads to Buddhahood or enlightenment—Con
đường dẫn tới giác ngộ hay Phật quả.
Way
that can be spoken of is not the real way: Đạo mà có thể nói ra
được thì không phải là chân đạo (Đạo khả đạo phi thường
đạo).
Way
of causation: Nhân đạo (đạo của nhân và quả).
Way
of commandments: Giới Môn—The way or method of the commandments or
rules. Obedience to the commandments as a way of salvation—Tu hành giới
luật là cửa vào giải thoát.
Way
of completely understanding the truth without further study: Vô học
đạo—See Three paths all have to tread.
Way
of conversion: Hóa Đạo—The way of transformation or development.
To instruct and guide. There are three sovereign powers for converting
others—Đạo hay con đường hướng dẫn và giáo hóa. Có ba
lực được dùng để hóa độ người khác (Tam Luân Hóa
Đạo):
1)
Supernatural transformation : Thần biến—Do thân nghiệp của Đức
Phật hiện đủ loại thần biến, khiến chúng sanh khởi chánh
tín (thân: physical).
2)
Memory or knowledge of all the thoughts of all beings: Ký tâm—Dùng
ý nghiệp của Đức Phật phân biệt được tâm hành sai biệt
của kẻ khác (thức biệt tha tâm)—(ý: mental).
3)
Teaching and warning: Giáo giới—Dùng khẩu nghiệp của Đức
Phật để răn dạy chúng sanh khiến họ tu hành.
Way
of cultivating the truth: Tu Đạo—One of the three paths that all have
to tread on—Một trong tam đạo mà mọi người rồi sẽ phải
giẫm lên—See Three paths all have to tread.
Way
of cultivation: Tu Đạo.
1)
To practice the way: To cultivate the way of religion—To be religious—Tu
hành theo pháp môn của tôn giáo.
2)
The way of self-cultivation: Tự tu tập.
3)
The way of practice: Con đường tu tập.
4)
In the Hinayana, the stage from Anagama to Arhat: Ngôi vị Thanh Văn
Thừa từ Nhất Lai đến A La Hán.
5)
In Mahayana, one of the Bodhisattva stages: Một trong thập địa Bồ
Tát—See Ten grounds.
Way
of discipline:
1)
Chế Môn—The way or method of discipline, contrasted with the door
of teaching of enlightenment, both methods used by the Buddha—Đức
Phật chế ra giới luật môn nhằm giúp mọi người tu hành
giải thoát, đối lại với hóa môn.
2)
Giới Môn: The way or method of the commandments or rules. Obedience
to the commandments as a way of salvation—Tu hành giới luật là
cửa vào giải thoát.
Way
of emancipation: Moksa-marga (skt)—Giải Thoát Đạo.
1)
The way of release (the way or path of liberation from) all sufferings
by realization of truth: Con đường giải thoát khỏi mọi khổ
đau phiền não bằng cách chứng ngộ chân lý.
2)
The way or doctrine of liberation (emancipation—Release): Buddhism—Đạo
Phật, đạo xuất ly giải thoát.
Way
of Enlightenment: Giác đạo—Trí Môn—Way to enlightenment—Buddha-wisdom,
or wisdom gate—Giác đạo hay Giác lộ (con Đường Giác Ngộ)—Trí
tuệ Phật dẫn đến giác ngộ Bồ Đề—See Eight Noble Paths,
Seven Bodhyanga, and Two doors (D).
Way
of higher evolution: Con đường thăng tiến (trong tu tập).
Way
of holiness: Thánh Đạo Môn—The ordinary schools of the way of holiness
by the process of devotion, in contrast with immediate salvation by faith
in Amitabha—Con đường của bậc Hiền Thánh đạt đạo qua
quá trình tu tập, đối lại với tịnh độ môn hay sự cứu
độ qua niềm tin nơi Đức Phật A Di Đà. **See Two doors (1).
Way
of the hungry demons: Ngạ Quỷ Đạo—The destiny of the hungry ghosts,
one of the six paths—Con đường của ngạ quỷ hay của những
kẻ có nghiệp nhân ngạ quỷ, một trong lục đạo (địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, nhân và thiên).
Way
of illusion:
1)
Hoặc Thú—The direction of illusion, delusive objective, interpreted
as deluded in fundamental principles—Con đường đi tới mê hoặc
và phiền não hay hướng đi đến phiền não.
2)
Methods of illusion—Methods of Bodhisattva transformation—Ảo môn.
Way
imbued compassion, love and sympathy: Đường lối thấm nhuần từ
bi, trìu mến và lòng cảm thông.
Way
of illusion: Ảo môn.
Way
of instruction: Giáo Đạo—The See Two ways (D).
1)
To instruct and to lead: Chỉ dạy và hướng dẫn.
2)
To teach a way or religion: The way of teaching—Chỉ dạy cho con đường
tu hành.
3)
The way of teaching or to teach a way or religion; a taught way contrasted
with an intuitional way: Con đường được chỉ dạy khác với
con đường đạt được bằng tuệ giác.
Way
of karma: Nghiệp đạo—The way of karma; the path of works, action
or doing, either good or bad, productive of karma, one of the three paths
all have to tread on—Một trong tam đạo mà tất cả chúng sanh
phải dẫm lên, việc xảy ra dù thiện hay dù ác đều dẫn
chúng sanh đi trong ba nẻo sáu đường. **See Three paths all have
to tread.
Way
learner: Người học đạo.
Way
of leaving the world: Xuất thế gian đạo.
Way
of liberation: Giải Thoát Đạo—See Way of emancipation.
Way
of living: Cách sống.
Way
of living of the monk and nun: Way of poverty—Poor religion, i.e. without
the Buddha-truth—Bần đạo.
Way
of mortal samsara: Hữu lậu đạo—Sinh tử đồ (con đường
sanh tử).
Way
of mortality: Way of reincarnation—Hữu lậu đạo—Sinh tử đồ
(con đường sanh tử)—See Two ways (C).
Way
of mystic experience: Witness to the truth—Chứng đạo.
Way
of Nirvana: Vô lậu đạo—Niết Bàn môn.
Way
of pity directed to others: Bi Môn—Buddha-pity—Bi tâm Phật hướng
đến cứu độ tha nhân—See Two doors (D).
Way-place:
Bodhimandala—Bodhi Seat—Bồ đề đạo tràng—Way-place—Truth-plot,
holy site, place of Enlightenment; the place where the Buddha attained
Enlightenment. The original Bodhiamandala was the spot under the Bodhi
tree where the Buddha became fully enlightened. Bodhimandala also means
a place where one cultivates the Way. The term “Bodhimandala” or “Way-place”
also includes monasteries and other auspicious sites where people put the
Buddhadharma into practice—Bồ Đề đạo tràng là nơi thiêng
liêng, nơi Đức Phật thành đạo. Nguyên thủy Bồ Đề Đạo
Tràng là địa điểm nằm ngay dưới gốc cây Bồ Đề nơi
Đức Phật đã đạt đến đại giác. Bồ Đề đạo tràng
cũng là nơi để hành giả tu tập thành đạo. Từ “Bodhimandala”
hay “Way-place” bao gồm cả những tự viện hay những nơi
thiện lành nơi mà người ta đưa Phật pháp vào thực hành—See
Bodh-Gaya and Bodhimanda.
Way
of poverty: The way of living of the monk and nun—Poor religion, i.e.
without the Buddha-truth—Bần đạo.
Way
of reality: Way of Truth—True way—Chân đạo.
Way
of teaching: Teach a way—Teach a religion—Giáo đạo.
Way
of transmigration: Lưu chuyển môn—As contrasted with that of Nirvana—Ngược
lại với Niết Bàn môn.
Way
of Truth: True way—Way of reality—Chân đạo.
Way
of Yaksa: Destiny of Yaksa—Quỹ đạo—See Yaksa.
Wayman,
Alex: American scholar of Buddhism, who spent most of his career at Columbia
University. He has published prolifically (rất nhiều) on a range of
topics, most significantly on Tibetan Buddhism and Yogacara—Học giả
Phật giáo người Mỹ, người đã trải qua hầu hết nghề
nghiệp của mình tại trường Đại Học Columbia. Ông xuất
bản rất nhiều sách với nhiều đề mục, tiêu biểu nhất
là về Phật Giáo Tây Tạng và Du Già.
Way-opener:
The Buddha—Khai đạo giả (người khai mở đạo pháp).
Way
of pity directed to others: Buddha-pity—Bi Môn—Bi tâm Phật hướng
đến cứu độ tha nhân—See Two doors (D).
Way-place:
Đạo tràng—See Bodhimandala.
Way
of purity: Thanh Tịnh Pháp—The way of purity or escape from
the passions and lower transmigration—Phép thanh tịnh xa lìa mọi
phiền não cấu nhiễm để vượt thoát khỏi dục vọng và
luân hồi sanh tử.
Way
of realization: Chứng đạo—Thực chứng con đường của chư
Phật—See Two ways (D).
Way
of rebirth as an animal: Súc sanh đạo.
Way
of realization: Chứng đạo—The See Two ways (D).
Way
of reincarnation: Hữu Lậu Đạo—The way of mortality—Con đường
của luân hồi sanh tử—See Two ways (C).
Way
to relate to others: Cách đối xử (liên hệ) với người khác.
Way
of release by realization of truth: Giải thoát đạo—Con đường
giải thoát bằng thực chứng chân lý—See Two ways (A).
Way
of release all sufferings by ralization of truth: Giải Thoát Đạo—See
Way of emancipation.
Way
of right will prevail over the way of might: Vương đạo ắt thắng
bá đạo (Vương đạo tất thắng bá đạo).
Way
seeker: Người học đạo.
Way
of sins: Misleading path—Mê đồ.
Way
of speaking: Cách ăn nói.
Way
of teaching: Giáo Đạo—See Way of instruction.
Way
of transmigration: Lưu Chuyển Môn—As contrasted with that of nirvana
(Diệt môn)—Từ nầy đối lại với “tịch diệt môn”
hay niết bàn (các nghiệp vô minh phiền não từ vô thủy đến
nay, gây nghiệp thiện ác, khiến cảm thọ quả lạc khổ).
Way
to True Happiness: Con đường đưa đến chân hạnh phúc.
We
are never completely satisfied: Chúng ta chẳng bao giờ toại nguyện.
Weak
(a & n): Yếu đuối—The weak—Kẻ yếu.
Weak
and unlikely to act: Bạc chí nhược hành (chí khí mỏng manh,
hành động yếu ớt).
Weaken
(v) sense desires and ill-will: Làm suy yếu tham và sân.
Weakening
of the intellect; Trí lực tổn hại—See Six dangers when one attaches
to addiction of alcoholic drinks and drugs.
Weakness
(n): Sự yếu đuối.
Wealth
(n): Artha or Vasu (skt)—Rich—Sự giàu sang—Tài lực—See Three
unstable things, and Sixteen great powers obtainable by a bodhisattva.
Wealth-Merit-Virtue
Buddha: Tài Công Đức Phật.
Wealthy
ghosts: Đa tài quỷ.
Wealthy
man: Tài chủ.
Wealthy
In Merit And Virtue Buddha: Phật Tài Công Đức.
Weapons
of Great Enlightening Beings: Khí giới của chư Đại Bồ Tát—According
to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of weapon
of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can
annihilate the afflictions, bondage, and compulsion accumulated by all
sentient beings in the long night of ignorance—Theo Kinh Hoa Nghiêm,
Phẩm 38, có mười thứ khí giới của chư Đại Bồ Tát. Chư
Bồ Tát an trụ nơi pháp nầy thời có thể diệt trừ những
phiền não, kiết sử đã chứa nhóm từ lâu của tất cả
chúng sanh—See Ten weapons of Great Enlightening Beings.
Wear
lay clothing: Mặc áo quần của người thế tục—A Bhiksu or
Bhiksuni who wears lay clothing or a wig while going around a town,
a village, or a market, commits an Expression of Regret Offense—Vị
Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni nào mặc quần áo của người thế tục,
hay đội tóc giả đi quanh phố, làng hay chợ, là phạm giới
Ba Dật Đề, phải phát lồ sám hối.
Wear
objects of gold, silver or precious stones: Đeo vàng, bạc hay đá
quí—A Bhiksu or Bhiksuni who wears objects of gold, silver or precious
stones, even with implant or crown made of gold or silver for cosmetic
purpose, commits an offense that involves Release and Expression of Regret—Vị
Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni nào đeo vàng, bạc, hay đá quý, dầu
chỉ là chất vàng bạc bịt răng lại, là phạm giới xả
đọa (buông bỏ và phát lồ sám hối).
Wear
a rosary made of expensive or bright colored gems: Đeo chuỗi hoặc
tràng hạt đắc tiền—A Bhiksu or Bhiksuni who wears a rosary made
of expensive or bright colored gems, commits an offence that involves Release
and Expression of Regret—Vị Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni nào đeo chuỗi
đắc tiền, là phạm giới xả đọa (buông bỏ và phát lồ
sám hối).
Wear
only three garments: Chỉ có tam y hay ba loại áo—See Twelve kinds
of ascetic practices (dhuta).
Wearing
rags from dust-heaps: Bằng lòng mặc đồ bá nạp từ vải rách—See
Four holy ways.
Weary:
Mệt mỏi.
Weary
of the miseries of earth and seeking deliverance: Yếm Cầu—Chán ghét
những khổ sở của thế gian mà tìm cầu giải thoát.
Weary
of the world and abandon it: Yếm Ly—Chán ghét và lìa bỏ thế
sự.
Weathercock
(n): Con gà báo gió trên nóc nhà.
Wedding
(n): Đám cưới.
Wednesday
(n): Thứ Tư.
Weed
(n): Cỏ thấp.
Week
(n): Tuần lễ.
Weekday:
Ngày thường trong tuần.
Ween
(old English): Think—Suppose—Suy nghĩ như vậy.
Weep
(a & v): Khóc lóc.
Wei
Zhao Bao Feng: Duy Chiếu Bảo Phong—Zen master Wei-Zhao-Bao-Feng’s
home town was in ancient Jian-Chou (now is Jian-Yang in Si-Chuan province)—Thiền
Sư Duy Chiếu Bảo Phong quê ở Giản Châu (bây giờ là Giản
Dương thuộc tỉnh Tứ Xuyên).
* One
day while reading a book, he was startled by the phrase, “One’s self-nature
is near, but realizing it is remote.” He then said: “The mundane and
the sacred are of one body, but because of habit and circumstances they
are differentiated. I know this to be true.” He then hastened to the
city of Cheng-Tu and studied under the teacher Shing-T’ai in Lu-Yuan,
receiving full ordaination at the age of nineteen: Một hôm đọc sách,
ông giật mình với câu, “Tánh tương cận dã, tập tương
viễn dã.” Sư nói: “Phàm Thánh vốn một thể, do tập
nên sai khác, tôi biết đó rồi.” Liền đó sư đến Thành
Đô làm đệ tử Sư Thanh Thới ở Lộc Uyển. Sư thọ cụ
túc giới năm mười chín tuổi.
* One
day Bao-feng entered the hall and addressed the monks, saying: "A“ ancient
Buddha said, 'W‘en I first gained complete awakening I personally saw
that all beings of the great earth are each fully endowed with complete
and perfect enlightenment.’ And later he said, ‘It’s a great mystery.
No one can fathom it.’ I don’t see anyone who understands this. Just
some blowhards.” He then got down from the seat: Một hôm sư thượng
đường thuyết pháp: “Phật xưa nói, ‘Khi ta mới thành Chánh
Giác chính thấy chúng sanh trên đại địa thảy đều thành
Chánh Giác.’ Sau Ngài lại nói, ‘Sâu thẳm xa xôi không người
biết nổi.’ Kẻ không kiến thức, khéo đầu rồng đuôi
rắn.” Sư liền xuống tòa.
* Bao-Feng
entered the hall and addressed the monks, saying: “All the Buddhas of
bygone have already entered nirvana. You people! Don’t be nostalgic about
them. The Buddhas of the future have not yet appeared in the world. All
of you, don’t be deluded! On this very day who are you? Study this!:
Sư thượng đường thuyết pháp: “Chư Phật quá khứ đã
nhập Niết Bàn rồi, cả thảy các ngươi không nên quá tưởng
nhớ; chư Phật vị lai chưa ra đời, cả thảy các ngươi không
nên vọng tưởng; chính hiện ngày nay ngươi là người gì?
Hãy tự xét lấy!.”
* Another
time, Bao-Feng entered the hall addressed the monks, saying: “The fundamental
self is unborn, nor is it annihilated in the present. It is undying. But
to be born in a certain place, and to die someplace else, is the rule of
being born in a life. Great persons must position themselves in this flow
of life and death. They must lie down in the thorny forest. They must be
pliable and able to act according to circumstances. If they are thus, then
immeasurable expedients, grand samadhis, and great liberation gates are
instantly opened. But if they are not yet this way, then defilements, all
toilsome dust, and mountains loom before them and block the ancient road.”:
Một lần khác sư thượng đường thuyết pháp: “Xưa tự
chẳng sanh, nay cũng chẳng diệt, là chết chẳng được mẫu
mực. Nơi đây xuất sanh chốn nầy diệt hết, là hàm sanh
chịu quy củ. Bậc đại trượng phu cần phải ở trong dòng
sanh tử, nằm trong rừng gai gốc, cúi ngước co duỗi tùy cơ
lập bày, hay như thế đó là dùng vô lượng phương tiện
trang nghiêm tam muội, cửa đại giải thoát liền mở rộng
thênh thang. Nếu chưa như thế, vô lượng phiền não tất cả
trần lao đứng sựng trước mặt bít lấp đường xưa.”
* Zen
master Wei-Zhao-Bao-Feng died in 1128. His cremated remains were like jewels
and blue pearls. His tongue and teeth were undamaged by the flames. His
stupa was placed on the western peak near the temple: Thiền Sư Duy Chiếu
Bảo Phong thị tịch năm 1128. Xá lợi của sư lóng lánh như
bảo châu ngọc bích. Lưỡi và răng của sư không bị lửa
đốt cháy. Tháp thờ xá lợi của sư hiện vẫn còn, bên đỉnh
phía tây của tự viện.
Weigh
one’s words: Liệu lời.
Weighed
down by mundane preoccupations and have not yet severed worldly thoughts:
Đeo mang việc thế tục—Even when you have not reached old age and
your body is still vigorous, you are still weighed down by mundane preoccupations
and have not yet severed worldly thoughts. You run east and west, worrying
about ten thousand things. With your sea of consciousness so vast, how
can you recite the Budda’s name?—Ví như lúc bạn chưa già, thân
lực đang cường tráng, mà còn đeo việc thế tục, chưa dứt
niệm đời, bôn tẩu đông tây, âu lo đủ việc, biển thức
mênh mông, làm sao có thể niệm Phật được?— See Seven circumstances
that are difficult to practice Buddha Recitation.
Weight
(n): Sức nặng.
Weight
of a mountain: Sơn Cân—The weight of a mountain, or of Sumeru—May
be more readily ascertained than the eternity of the Buddha—Cân dùng
để cân núi Tu Di, dùng để ví với thọ mệnh của Đức
Phật khó thể nghĩ lường (núi Tu Di còn có thể cân lạng,
nhưng thọ mạng của Đức Như Lai không thể nghĩ bàn).
Weighty
(a): Nặng—Heavy.
Weighty
karma: Garuka (skt)—Trọng Nghiệp—According to the Abhidharma, weighty
karma, wholesome or unwholesome, is a weighty or serious action, or karma
of such powerful moral weight that it cannot be replaced by any other karma
as the determinant of rebirth. It is so called because it produces its
effect for certain in this life or in the next life. When there is no weighty
karma to condition the future birth a death-proximate (asanna) karma might
operate—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), trọng nghiệp
có nghĩa là hành động hay nghiệp nặng, nghiệp nghiêm trọng,
có thể thiện hay bất thiện, không thể thay thế được trong
yếu tố tái sanh. Được gọi là trọng nghiệp vì nó chắc
chắn sanh quả trong kiếp hiện tại hay ngay kiếp kế tiếp.
Nếu không có một trọng nghiệp nào làm điều kiện cho sự
tái sanh trong kiếp liền đó, thì “Cận Nghiệp là nghiệp
dẫn dắt thọ sanh.
1)
On the wholesome side, this karma is the attainment of the jhanas, other
than speech and body karmas: Nếu là thiện thì đây là loại nghiệp
có tính cách tinh thần như trường hợp các tầng thiền, ngoài
khẩu và thân nghiệp. Người đắc tứ thiền sắc giới chẳng
hạn thì hưởng quả vị của thiền ấy trong kiếp hiện tại,
hay trong kiếp kế tiếp.
2)
On the unwholesome side, it is the five heinous crimes together with a
fixed wrong view that denies the basis for morality—Nếu là bất thiện
nghiệp có năm loại trọng nghiệp đi cùng với tà kiến chối
bỏ đạo đức luân lý:
i)
Causing the wounding of a Buddha, i.e. Devadatta lost his psychic powers
and was born in a woeful state because he wounded the Buddha: Gây thương
tích cho một vị Phật—Như Đề Bà Đạt Đa phải mất hết
thần lực và tái sanh vào ác đạo vì tội đã làm chảy máu
thân Phật.
ii)
Maliciously creating a schism in the Sangha, i.e Devadatta who was reborn
in a woeful state because he caused a schism in the Sangha: Chia rẽ Tăng
Già—Như Đề Bà Đạt Đa phải đọa vào ác đạo vì đã
gây chia rẽ trong Tăng đoàn.
iii)
Murdering an Arahant: Sát hại một vị A La Hán.
iv)
Parricide (killing one’s own father). As the Buddha remarked, King Ajatasatru
would have attained the first state of sainthood if he had not committed
parricide. In this case, the powerful evil karma obstructed his spiritual
attainment: Giết Cha—Đức Phật đã lưu ý các đệ tử rằng
nếu không phạm tội giết cha thì vua A Xà Thế đã đắc
quả Tu Đà Hườn. Trong trường hợp nầy trọng nghiệp bất
thiện được gây ra trước, và ngăn cản sự tiến bộ tinh
thần về sau nầy.
v)
Matricide (killing one’s own mother): Giết Mẹ.
3)
If someone were to develop the jhanas and later were to commit one
of the heinous crimes, his good karma would be obliterated by the evil
deed, and the latter would generate rebirth into a state of misery. For
example, the Buddha’s ambitious cousin Devadatta lost his psychic powers
and was reborn in hell for wounding the Buddha and causing a schism in
the Sangha: Nếu một người hành và đắc thiền, sau đó phạm
nhằm một trong những trọng tội thì nghiệp đã tạo trước
đó sẽ bị nghiệp bất thiện có năng lực hùng mạnh nầy
ngăn trở. Kiếp sống kế đó sẽ do nghiệp xấu tạo duyên.
Thí dụ như em họ của Phật là Đề Bà Đạt Đa, vì tham
vọng mà tạo nên trọng tội làm đả thương Phật và chia
rẽ Tăng Già, nên phải mất hết thần thông và tái sanh vào
cõi địa ngục.
4)
If someone were first to commit one of the heinous crimes, he could not
later reach a sublime or supermundane attainment, because the evil karma
would create an