THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 

 
 

 

Tự Ðiển Phật Học Việt Anh, Thiện Phúc.
Tự Ðiển Phật Học Anh Việt, Thiện Phúc.
Tự Điển Phật Học Phạn/Pali-Việt, Thiện Phúc.
Tự Điển Phật Học Thiện Phúc-Mục Lục &Phụ Lục.
Tự Ðiển Phật Học Việt Anh, Minh Thông
Tự Ðiển Phật Học Anh Việt, Minh Thông
Từ Ngữ Phật Học Việt Anh, Trần Nguyên Trung
Từ Ngữ Thiền Học Tiếng Việt, Thích Duy Lực
Tổ Đình Minh Đăng Quang 
PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH - VIETNAMESE  ANH VIỆT
Thiện Phúc
A
B
C
D
E
F
G
H
I
J
K
L
M
N
O
P
Q
R
S
T
U
V.
W
X
Y
 Z

V

Vac (skt): Speech—Ngữ—Lời nói.

Vaca (skt): Also Vac (skt)—Speech—Words—Ngữ (lời nói). 

Vaca-karman (skt): Vaca-kamman (p)—Khẩu Nghiệp—An act performed by speech—Karma of the mouth is one of the three karmas. The other two are karma of the body and of the mind—Khẩu nghiệp là một trong tam nghiệp. Hai nghiệp còn lại là thân nghiệp và ý nghiệp.  
(I) The meanings of Karma of the mouth—Nghĩa của khẩu nghiệp: The work of the mouth—Karma of the mouth (talk, speech)—One of the three karma. The others are karma of the body (thân nghiệp) and karma of thought (ý nghiệp). According to the Buddha’s teachings, the karmic consequences of speech karma are much greater than the karmic consequences of the mind and the body karma because when thoughts arise, they are not yet apparent to everyone; however, as soon as words are spoken, they will be heard immediately. Using the body to commit evil can sometimes be impeded. The thing that should be feared  is false words that come out of a mouth. As soon as a wicked thought arises, the body has not supported the evil thought, but the speech had already blurted out vicious slanders. The body hasn’t time to kill, but the mind already made the threats, the mind just wanted to insult, belittle, or ridicule someone, the body has not carried out any drastic actions, but the speech is already rampant in its malicious verbal abuse, etc. The mouth is the gate and door to all hatred and revenge; it is the karmic retribution of of the Avichi Hell; it is also the great burning oven destroying all of one's virtues and merits. Therefore, ancients always reminded people: “Diseases are from the mouth, and calamities are also from the mouth.” If wickedness is spoken, then one will suffer unwholesome karmic retributions; if goodness is spoken, then one will reap the wholesome karmic retributions. If you praise others, you shall be praised. If you insult others, you shall be insulted. It’s natural that what you sow is what you reap.  We should always remember that the “theory of karmic retributions” is flawless, and then courageously take  responsibility by cultivating so karmic transgressions will be eliminated gradually, and never blame Heaven nor blaming others—Nghiệp nơi miệng, một trong ba nghiệp. Hai nghiệp kia là thân nghiệp và ý nghiệp. Theo lời Phật dạy thì cái quả báo của khẩu nghiệp còn nhiều hơn quả báo của thân nghiệp và ý nghiệp, vì ý đã khởi lên nhưng chưa bày ra ngoài, chứ còn lời vừa buông ra thì liền được nghe biết ngay. Dùng thân làm ác còn có khi bị ngăn cản, chỉ sợ cái miệng mở ra buông lời vọng ngữ. Ý vừa khởi ác, thân chưa hành động trợ ác, mà miệng đã thốt ngay ra lời hung ác rồi. Cái thân chưa giết hại người mà miệng đã thốt ra lời hăm dọa. Ý vừa muốn chưởi rủa hay hủy báng, thân chưa lộ bày ra hành động  cử chỉ hung hăng thì cái miệng đã thốt ra lời nguyền rủa, dọa nạt rồi. Miệng chính là cửa ngõ của tất cả oán họa, là tội báo nơi chốn a tỳ địa ngục, là lò thiêu to lớn đốt cháy hết bao nhiêu công đức. Chính vì thế mà cổ nhân thường khuyên đời rằng: “Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất,” hay bệnh cũng từ nơi cửa miệng mà họa cũng từ nơi cửa miệng. Nói lời ác, ắt sẽ bị ác báo; nói lời thiện, ắt sẽ được thiện báo. Nếu bạn nói tốt người,bạn sẽ được người nói tốt; nếu bạn phỉ báng mạ lỵ người, bạn sẽ bị người phỉ báng mạ lỵ, đó là lẽ tất nhiên, nhân nào quả nấy. Chúng ta phải luôn nhớ rằng “nhân quả báo ứng không sai,” mà từ đó can đảm nhận trách nhiệm sửa sai  những việc mình làm bằng cách tu tập hầu từ từ tiêu trừ nghiệp tội, chớ đừng bao giờ trách trời oán người.
(II) Ancients and Saintly beings have taught about  nine kinds of karma of the mouth as follows—Cổ đức và Thánh nhân có dạy về chín loại nghiệp báo của khẩu nghiệp như sau:
1) Mouth chanting Buddha Recitation or any Buddha is like excreting precious jewels and gemstones and will have the consequence of being born in Heaven or the Buddhas’ Purelands: Miệng niệm hồng danh chư Phật cũng như nhả ra châu ngọc, sẽ quả báo sanh về cõi Trời hay cõi Tịnh Độ của chư Phật.
2) Mouth speaking good and wholesomely is like praying exquisite fragrances and one will attain all that was said to people: Miệng nói ra lời lành cũng như phun ra mùi hương thơm, ắt sẽ được quả báo mình cũng được người nói tốt lành như vậy.
3) Mouth encouraging, teaching, and aiding people is like emitting beautiful lights, destroying the false and ignorant speech and dark minds for others and for self: Miệng nói ra lời giáo hóa đúng theo chánh pháp, cũng như phóng ra hào quang ánh sáng phá trừ được cái mê tối cho người và cho mình. 
4) Mouth speaking truths and honesty is like using valuable velvets to give warmth to those who are cold: Miệng nói ra lời thành thật cũng như cấp cho người lạnh lụa tốt cho họ được ấm áp thoải mái.
5) Mouth speaking without benefits for self or others is like chewing on sawdust; it is like so much better to be quiet and save energy. In other words, if you don’t have anything nice to say, it is best not to say anything at all: Miệng nói ra lời vô ích cũng như nhai nhai mạt cưa, phí sức chứ không ích lợi gì cho mình cho người. Nói cách khác, cái gì không hay không tốt cho người, tốt hơn là đừng nói.
6) Mouth lying to ridicule others is like using paper as a cover for a well, killing travelers who fall into the well because they were not aware, or setting traps to hurt and murder others: Miệng nói ra lời dối trá, cũng như lấy giấy che miệng giếng, ắt sẽ làm hại người đi đường, bước lầm mà té xuống.
7) Mouth joking and poking fun is like using words and daggers to wave in the market place, someone is bound to get hurt or die as a result: Miệng nói ra các lời trêu cợt bất nhã, cũng như cầm gươm đao quơ múa loạn xã nơi kẻ chợ, thế nào cũng có người bị quơ trúng.
8) Mouth speaking wickedness, immorality, and evil is like spitting foul odors and must endure evil consequences equal to what was said: Miệng nói ra lời độc ác cũng như phun ra hơi thúi, ắt sẽ bị quả báo mình cũng sẽ bị xấu ác y như các điều mà mình đã thốt ra để làm tổn hại người vậy.
9) Mouth speaking vulgarly, crudely, and uncleanly is like spitting out worms and maggots and will face the consequences of hell and animal life: Miệng nói ra các lời dơ dáy bẩn thỉu cũng như phun ra dòi tửa, ắt sẽ bị quả báo chịu khổ nơi hai đường ác đạo là địa ngục và súc sanh.     
(III) Sincere Buddhists should always remember to develop the mind to be frightened and then try to guard our speech-karma—Phật tử chơn thuần nên luôn nhớ và phát triển tâm biết sợ và gìn giữ khẩu nghiệp của mình:
1) A saying can lead people to love and respect you for the rest of your life; also a saying can lead people to hate, despite, and become an enemy for an entire life: Cùng một lời nói mà khiến cho người trọn đời yêu mến mình; cũng cùng một lời nói mà khiến cho người ghét hận, oán thù mình trọn kiếp. 
2) A saying can lead to a prosperous  and successful life; also a saying can lead to the loss of all wealth and possessions: Cùng một lời nói mà khiến cho nên nhà nên cửa; cũng cùng một lời nói mà khiến cho tán gia bại sản. 
3) A saying can lead to a greatly enduring nation; also a saying can lead to the loss and devastation of a nation: Cùng một lời nói mà khiến cho nên giang sơn sự nghiệp; cũng cùng một lời nói mà khiến cho quốc phá gia vong. 
(IV) According to the Lung-Shu’s Pureland Buddhism Commentary, lay follower Lung Shu said—Theo Long Thơ Tịnh Độ, cư sĩ Long Thơ nói:
(A) Wholesome speech-karma—Thiện khẩu nghiệp:
1) Mouth chanting Buddha Recitation is like excreting precious jewels and gemstones and will have the consequence of being born in Heavens or the Buddhas’ Purelands. The spoken words of saints, sages, and enlightened beings of the past were like gems and jewels, leaving behind much love, esteem, and respect from countless people for thousands of years into the future. As for us nowadays, if we cannot speak words like jewels and gems, then it is best to remain quiet, be determined not to toss out words that are wicked and useless: Miệng niệm Phật, như nhả châu ngọc; sẽ được cái quả báo sanh về cõi trời hay nước Phật (khẩu tụng Phật danh, như thổ châu ngọc; Thiên đường, Phật quốc chi báo). Các bậc Thánh Hiền xưa, lời nói ra như phun châu nhả ngọc, để tiếng thơm muôn đời. Còn chúng ta ngày nay, nếu như không nói ra được các lời tốt đẹp ấy, thà là làm thinh, quyết không nói những lời ác độc và vô bổ.  
2) Mouth speaking good and wholesomely is like spraying exquisite fragrances and one will attain all that was said to people: Miệng nói ra việc lành như phun ra mùi hương thơm; sẽ được cùng tốt y như điều mình khen nói cho người vậy (khẩu thuyết thiện sự, như phún thanh hương; xứng nhơn trường đồng). 
3) Mouth encouraging, teaching, and aiding people is like emitting beautiful lights, destroying the false and ignorant speech and dark minds of the devil and false cultivators: Miệng thốt ra lời giáo hóa, dạy dỗ cho người, như  phóng ra ánh sáng đẹp đẽ, phá trừ hết ngu si, tăm tối của tà ma ngoại đạo (khẩu tuyên lưu giáo hóa, như phóng quang minh, phá nhơn mê ngữ). 
4) Mouth speaking of truths and honesty is like using valuable velvets to give warmth to those who are cold: Miệng thốt ra lời thành thật, như lấy vải lụa quý mà trải ra; bố thí cho người dùng qua cơn lạnh lẽo thiếu thốn (khẩu ngữ thành thật, như thơ bố bạch; thiệt tế nhơn dụng). 
(B) Unwholesome speech-karma—Bất thiện khẩu nghiệp:
1) Mouth speaking without benefits for self or others is like chewing on sawdust; it is so much better to be quiet and save energy. It is to say if you don’t have anything nice to say, it is best not to say anything at all: Miệng nói ra điều không đâu vô ích cho mình và cho người, như nhai mạc cưa, cây gỗ; chi bằng làm thinh để tỉnh dưỡng tinh thần; nghĩa là khi không có điều hay lẽ thật để nói, thì cách tốt nhất là đừng nên nói gì cả (khẩu đàm vô ích, như tước mộc tiết; bất như mặc dỉ dưỡng khí). 
2) Mouth lying to ridicule others is like using paper as a cover for a well, killing travelers who fall into the well because they were not aware. It is similar to setting traps to hurt and murder others: Miệng nói lời dối trá, khinh người, như lấy giấy đậy trên miệng giếng; hại kẻ đi đường không thấy té xuống chết. Điều nầy cũng giống như giăng bẫy giết người vậy (khẩu ngôn khi trá, như mông hảm tỉnh; hành tắc ngộ nhơn). 
3) Mouth joking and poking fun is like using swords and daggers to wave in the market place, someone is bound to get hurt or die as the result: Miệng nói lời trêu ghẹo, trửng giởn, như múa đao kiếm nơi kẻ chợ, thế nào cũng cò người bị thương hay chết (khẩu háo hí ngược, như trạo đao kiếm; hữu thời thương nhơn). 
4) Mouth speaking of wickedness, immorality, and evil is like spitting foul odors and must endure evil consequences equal to what was said: Miệng nói lời ác độc, vô luân, như phun hơi thúi; sẽ chịu quả báo xấu ngang bằng với lời mình đã nói cho người. 
5) Mouth speaking vulgarly, foully, uncleanly is like spitting out worms and maggots and will face the consequences of the three evil paths from hells, hungry ghosts to animals: Miệng nói lời dơ dáy, bẩn thỉu, như phun ra dòi tửa; sẽ bị quả báo nơi tam đồ ác đạo từ địa ngục, ngạ quỷ, đến súc sanh (khẩu đạo uế ngữ, như lưu thơ trùng; địa ngục súc sanh chi đạo).  

Vacancy (n): Chỗ trống. 

Vacant (a): Có chỗ trống.  

Vacasuta (skt): Tổ Bà xá tư Đa—See Vasiasita.

Vacchagotta (p & skt): Du Tăng Vacchagotta—A  wandering ascetic monk, one of the forty-one great monks mentioned in the Anguttara-Nikaya, who were among the direct studens of Buddha. He was the one who questioned the Buddha on certain metaphysical problems, especially those realting to the ego and the state of the arhat after death; however, the Buddha refused to respond to the question. Vacchagotta was famous as a meditation master and is supposed to have had many supernatural powers—Du Tăng Vacchagotta, một trong bốn mươi mốt nhà sư lớn mà tên tuổi được nhắc đến trong Anguttara-Nikaya và là những môn đồ trực tiếp của Phật Thích Ca. Chính ông đã hỏi Phật về một cái ngã tồn tại; tuy nhiên, Phật đã từ chối không trả lời. Vacchagotta nổi tiếng về những phẩm chất thiền định và có nhiều quyền năng thần diệu. 

Vacchagotta-aggi-sutta (p): Kinh Hỏa Dụ—See Vacchagotta. 

Vaci (p): Vaca (skt)—Lời—Ngôn từ—Word—Speech. 

Vaci-duccaritam (p): Wrong conduct in speech—Khẩu ác hạnh—See Three dharmas (IV).

Vaci-moneyyam (p): Qualities of the sage as to speech—Ngữ tịnh mặc—See Three dharmas (XLVI).

Vaci-sankhara (p): Vacika-samskara (skt)—Verbal actions—Ngôn Hành—Saying and doing—Words and deeds—Verbal functions of the mind, one of the three kinds of karma, the karma produced by speech—Lời nói và hành động, một trong tam nghiệp, sự tạo nghiệp bởi lời nói (chia làm hai loại, lời ác độc là ác ngữ nghiệp, lời chân thực là chân ngữ nghiệp)—See Three links with the Buddha resulting from calling upon him. 

Vaci-socceyam (p): Purity of speech—Ngữ thanh tịnh—See Three dharmas (XLV).

Vaci-succaritam (p): Right conduct in speech—Khẩu thiện hạnh—See Three dharmas (V).

Vac-karmas (skt): Khẩu tứ—The four dealing with the mouth: 
1) Not to lie—Không nói dối: We do not speak the truth; but, in contrast, we continue to lie and speak falsely—Chúng ta chẳng những không nói lời ngay thẳng chơn thật, mà ngược lại luôn nói lời dối láo. 
2) Not to exaggerate—Không nói lời đâm thọc: We do not speak soothingly and comfortably; but, in contrast, we continue to speak wickedly and use a double-tongue to cause other harm and disadvantages—Chúng ta không nói lời hòa giải êm ái, mà ngược lại luôn nói lưỡi hai chiều hay nói lời xấu ác làm tổn hại đến người khác.  
3) Not to abuse—Không chửi rũa: We do not speak kind and wholesome words; but, in contrast, we continue to speak wicked and unwholesome words, i.e., insulting or cursing others—Chúng ta chẳng những không nói lời ôn hòa hiền dịu, mà ngược lại luôn nói lời hung ác như chửi rủa hay sỉ vả.
4) Not to have ambiguous talk—Không nói lời vô tích sự: We do not speak words that are in accordance with the dharma; but, in contrast, we continue to speak ambiguous talks—Chúng ta không nói lời chánh lý đúng đắn, mà ngược lại luôn nói lời vô tích sự.

Vacuum Polarization: Chân Không Sinh Diệt—Trùng trùng duyên khởi—Cái nầy có thì cái kia có, cái nầy diệt thì cái kia diệt. 

Vada (p): Expression or speech—The teaching of the Elders (Theravada).

Vadha-himsa (skt): Killing—Sát—Giết hại chúng sanh—See Parajika (A1).

Vadisa (skt): Vakri, or Valisa (skt)—Bà Lợi—Móc câu—A hook.

Vagga (p): A section or chapter in a lager work (Trường Bộ Kinh).

Vaguely: Một cách mơ hồ.

Vaha (skt): Bà Ha.
1) Carying: Mang—Bearing. 
2) A supernatural life: Cuộc sống siêu nhiên.
3) A large grain-container of twenty bushels: Đấu (đong lường). 

Vahana (skt): Yana (skt)—Vehicle. 

Vaibhara (skt): Tân Ba La Quật—The Vaibhara cavern. A “rock-cut” temple on a mountain near Radjagrha, now called Baibhargiri. Sakyamuni Buddha used to resort there for meditation—Hang Tân Ba La, một loại chùa xây bằng đá đẻo, gần thành Vương Xá, bây giờ là Baibhargiri. Nơi mà Đức Phật rất thích về tỉnh tọa. 

Vaibhasika (skt): Tỳ Bà Sa Luận Sư—The Vaibhasikas were the followers of the Realistic school which based on the Vibhasa-sastra. These are names of two works (Mahavibhasha and Vibhasha) considered as fundamental by the school of Sarvastivada. They are two important commentaries on the Abhidharma of the Sarvastivada school. However, it is classified by Tibetan Buddhism as one of the two “Hinayana” schools, the other being “Sautrantika”—Những vị luận sư đệ tử của trường phái trung thực, mà giáo thuyết dựa vào bộ luận Tỳ Ba Sa. Đây là tên của hai tác phẩm Đại Tỳ Bà Sa hay Đại Sớ Phân Biệt Thuyết (Mahavibhasha) và Tỳ Bà Sa (Vibhasha), được coi như là căn bản cho trường phái Đại Chúng hay Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada). Đây là những bình giải quan trọng về Luận Tạng của trường phái Sarvastivada. Tuy nhiên, theo Phật giáo Tây Tạng thì đây là một trong hai tông phái Tiểu thừa, tông kia là Tăng Ca Lan Đa Bộ hay Thành Thật tông. 

Vaidehi (skt): Vi đề Hy—Wife of king Bimbisara, and mother of Ajatasatru—According to Buddhist legends, Queen Vaidehi was the wife of king Bimbisara, and mother of Ajatasatru. When Ajatasatru imprisoned king Bimbisara, she managed to bypass the guards to visit the King. She also brought some honey and grapes by putting them on her body for the King to eat. She did this every other day so that the King received nutrients and would not starve. However, later, Ajatasatru discovered her plan, so he banned her from visiting the King. Eventually, King Bimbisara died in the prison—Theo truyền thuyết Phật giáo, Hoàng Hậu Vi Đề Hy là vợ của vua Tần Bà Sa La, và là mẹ của A Xà Thế. Khi vua Tần Bà Sa La bị A Xà Thế hạ ngục để soán ngôi, bà đã dùng kế qua mặt lính gác ngục để đến thăm nhà vua, bằng cách bôi mật đường và nước cốt nho lên thân mình để nhà vua ăn, cứ thế hai ngày một lần vào thăm và nuôi nhà vua, nên vua không đến nỗi bị chết đói. Tuy nhiên, về sau này thì A Xà Thế phát giác được kế hoạch của bà nên cấm không cho bà vào ngục thăm vua nữa. Cuối cùng vua Tần Bà Sa La chết trong ngục thất. 

Vaidurya (skt): Tỳ Phệ Lưu Ly—Tỳ Đầu Lợi.
1) Lapis-lazuli: Lưu Ly, một trong thất bảo—One of the seven precious things. **See Seven treasures.
2) Name of a mountain near Varanasi: Tên một ngọn núi gần Varanasi.

Vain (a): Vitatha (p & skt)—Vô ích—Vọng—False—Futile—Unreal—Untrue.

Vain discussion: Hý luận (nhàn đàm hý luận). 

Vain dream: Huyễn mộng.

Vain glory: Danh vọng hão huyền. 

Vain talks: Prapanca (skt)—Diffusive trivial reasoning—Idle chat—Nhàn Đàm Hý Luận. 

Vain thought: Không tưởng—Vainly thinking.

Vaipulya (skt): Broad—Wide—Extensive—Rộng lớn (phương quảng)—Tỳ Phật Lược—Phương Quảng—Extension—Enlargement—Broad—Spacious—Fuller explanation of the doctrine. 
1) The whole of the Mahayana sutras, or Scriptures of measureless meaning (universalistic or infinite). Vaipulya sutra is used to indicate all Mahayana sutras: Tên chỉ chung cho các kinh Đại Thừa—See Mahayana sutras. 
2) Name of the tenth of the twelve Buddhist sutras: Tên của bộ kinh thứ mười trong 12 bộ Kinh Phật.
3) Feng-Kuang, a Chinese Ch’an master of the T’ang period. Precise dates of his life are unknown, probably the middle of the seventh century. He was the abbot of the Kuo-Ch’ing Monastery in the T’ien-T’ai Mountains. The little that is known of him comes for the most part from the foreword to the Han-Shan-Tzih, a collection of the poetry of the hermits of Han-Shan. It also contains several poems attributed to Feng-Kuang: Tên một thiền sư thời nhà Đường. Niên đại về cuộc đời của ông không được biết rõ, có lẽ ông sống giữa thế kỷ thứ bảy. Ông từng trụ trì tu viện Quốc Thanh trên núi Thiên Thai. Người ta biết đôi chút về ông là qua lời tựa quyển Hàn Sơn Tự, một sưu tập thơ do ẩn sĩ Hàn Sơn soạn, trong đó có vài đoạn được coi là của Phương Quảng.  
** See Twelve sutras.

Vaipulya-citta (skt): Tâm Quảng Đại—According to The Avatamsaka Sutra, this is one of the eleven minds that lead to enlightenment. A large heart which fills the whole universe—Theo Kinh Hoa Nghiêm, đây là một trong 11 tâm dẫn đến giác ngộ. Tâm đầy khắp cả vũ trụ—See Eleven minds that lead to enlightenment.

Vaipulya-mahayuha-sutra: Đại Trang Nghiêm Kinh—The sutra in which the Buddha describes his life in the Tushita heaven and his dscent to save the world—Kinh Đại Phương Quảng, trong đó Đức Phật kể về cuộc đời của Ngài trên cung trời Đâu Suất và sự xuống thế cứu độ chúng sanh của Ngài. 

Vaipulya period: Phương Đẳng thời—Thời kỳ Phương Quảng hay thời kỳ phôi thai của Phật giáo Đại Thừa—One of the five periods of the Buddha’s teachings. The period of the Vaipulya-Sutra or the period of the introductory Mahayana. The Time of Development teaches all four doctrines together and therefore is still relative. In this eight-year period, the Buddha taught the first level of the Mahayana. During this phase the Buddha refuted his disciples’ attachment to the Lesser Vehicle and directed them toward provisional Mahayana. He stressed the superiority of a bodhisattva. He clarified the unity of Buddha and sentient beings, of absolute and relative. This was the time when the Hinayanistic people were converted to the Mahayana doctrine and for that purpose the Buddha preached what we call “Vaipulya” or developed texts, Maha-Vairocana and Vimalakirti Sutras. As the Buddha often rebuked the arhats for their wrong or short-sighted views, this period is called the Time of Rebuke. The Hinayanists, after  the Buddha’s reasoning, became aware of the short-sightedness and learned to appreciate Mahayana—Một trong năm thời thuyết giáo của Đức Phật. Thời Phương Đẳng giảng cùng lúc cả bốn giáo thuyết nhưng vẫn còn tương đối. Trong giai đoạn kéo dài tám năm nầy, Đức Phật bác bỏ sự luyến chấp vào Tiểu Thừa và hướng dẫn đệ tử đi vào nẻo Đại Thừa. Đức Phật bắt đầu thuyết giảng về Đại thừa và tính ưu việt của Bồ tát, cũng như làm sáng tỏ sự thống nhất giữa Phật và người, giữa cái tuyệt đối và tương đối. Đây là thời kỳ mà những người Tiểu Thừa quy đầu sang giáo lý Đại Thừa và vì mục đích nầy mà Đức Phật đã giảng các kinh Phương Đẳng, tức triển khai, kinh Đại Nhật Như Lai và kinh Duy Ma Cật. Vì Phật thường hay khiển trách các vị La Hán do tà kiến hay thiên kiến của họ, nên thời kỳ nầy còn được gọi là thời “Đàn Ha.” Các vị Tiểu Thừa, theo giảng luận của Phật, thức tỉnh về những thiên kiến của mình và học hỏi để thấy giá trị Đại Thừa—See Five periods and eight teachings of the T’ien-T’ai, and Five periods of Buddha’s teaching (I). 

Vaipulya Sutra (skt): Phương Quảng Kinh—Extended Sutras—Extensive sutras—Extensive Mahayana sutras—Sutra of Great Extension—A Sanskrit term for “Large Mahayana sutras.” Vaipulya sutra is one of the twelve divisions of the Buddha’s teachings. A Mahayana form of scripture. A collection of expanded texts. There are three different Vaipulya-sutras: Prajnaparamita-sutra, Avatamsaka-sutra, and Ratnakuta-sutra—Từ Phạn ngữ chỉ “những kinh dài trong Phật giáo Đại Thừa. Phương Quảng là một trong 12 bộ kinh của Phật giáo. Kinh Phương Quảng gồm các kinh dài trong trường phái Đại thừa. Phương quảng kinh gồm ba bộ: Bát Nhã tâm Kinh, Hoa Nghiêm Kinh và Đại Bảo Tích Kinh.  

Vairam (skt): Phệ Lam—Một loại gió—A kind of wind. 

Vairambha (skt): Vairambhavata (skt)—Phệ Lam Bà—Tỳ Lam Phong. 
1) A kind of fierce wind: Một loại mãnh phong
2) The great wind which finally scatters the universe: Một loại gió lan khắp vũ trụ, khi thổi đến đâu thì nơi đó phải tan hoại.
3) The circle of wind under the circle of water on which the world rests: Địa luân nằm bên trên phong luân hay vòng xoắn của gió, phong luân nầy lại nằm bên dưới thủy luân. 

Vairambhaka (skt): Gió hoại diệt—An all-destroying wind occuring between kalpas. 

Vairambhavata (skt): Lam Phong—Cơn bão dữ—A hostile or fierce storm—See Vairambha (2) and (3). 

Vairocana Buddha (skt): Phật Tỳ Lô Giá Na—Great Sun Tathagata (coming from or belonging to the sun), name of a Dhyani Buddha (a son of the sun or the Dhyani Buddha of the centre). The central Sun, personifying the Dharma-Dhatu or Supreme Wisdom. In East Asian traditions, this Buddha is often referred to as the “Original Buddha” (Adi-Buddha), meaning that he has always been awakened. He represents the “truth body” (Dharmakaya), and he is said to preside over the “Flower Treasury World.” Vairocana or the All-Illuminating One (of the non-historical Buddha), is one of the five transcendent buddhas. He is associated with the transcendent Bodhisattva Samantabhadra and the earthly Buddha Krakuchchanda. Vairocana a symbol of supreme wisdom, or cosmic consciousness, that is, transcendental Buddha-knowledge, and one of his symbols is the “wheel of doctrine” (Dharmacakra). His Pure Land is the entire cosmos. He is often depicted with white skin and making the Mudra of “supreme wisdom.”—Phật Tỳ Lô Giá Na, tên của Phật Dhyani. Trong các trường phái tại các nước Đông Á, Đức Đại Nhật Như Lai thường được xem như là vị “Bổn Phật,” có nghĩa là vị Phật luôn ở trạng thái giác ngộ. Ngài tiêu biểu cho “Pháp thân,” và người ta nói Ngài đang ngự trên “Hoa Tạng Thế Giới.” Đại Nhật Như Lai hay Quang Minh Biến Chiếu (vị Phật phi lịch sử), một trong năm vị Phật siêu việt trong trường phái Đại Thừa. Bên cạnh Ngài còn một vị Bồ Tát siêu việt tên là Phổ Hiền và Cổ Phật Câu Lưu Tôn. Phật Tỳ Lô Giá Na là biểu tượng của cử chỉ sáng suốt cao tuyệt, hay tâm thức vũ trụ, tức là Phật trí thức siêu việt, và một trong những biểu tượng của Ngài là “Pháp Luân.” Tịnh Độ của Ngài là toàn thể vũ trụ. Người ta thường họa Ngài với nước da trắng và tay đang bắt ấn “đại trí.”
(I) Tỳ Lô Giá Na nghĩa là thuộc về mặt trời hay đến từ mặt trời—Vairocana, belonging or coming from the sun, the true or real Buddha-body: 
1) Vairocana is also called the Great Sun Tathagata: Tỳ Lô Giá Na còn được gọi là Đại Nhật Như Lai.   
2) The esoteric school interprets Vairocana by the sun, or its light, which eliminates the darkness of ignorance: Mật giáo cho rằng Phật Tỳ Lô Giá Na tiêu biểu cho mặt trời hay ánh sáng mặt trời, xua tan bóng tối vô minh.
3) Vairocana is also recognized as the spiritual or essential body of Buddha-truth, and like light pervading everywhere: Phật Tỳ Lô Giá Na còn được dịch như là “Biến Nhất Thiết Xứ” hay Biến Chiếu Vương Như Lai.
(II) Vairocana Buddha according to the Avatamsaka Schools—Phật Tỳ Lô Giá Na theo Tông Hoa Nghiêm:
1) The main Buddha in the Avatamsaka Sutra (Kinh Hoa Nghiêm), represents the Dharma body of Buddha Sakyamuni and all Buddhas—Vị Phật chính trong Kinh Hoa Nghiêm, tiêu biểu cho Pháp thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và tất cả chư Phật—See Vairocana.
2) The Vairocana Buddha, representing the realization of the world of Emptiness, of Buddha-nature, of unconditioned Equality—Phật Tỳ Lô Giá Na—Sự biểu thị sự thể hiện của thế giới Tánh Không, của Phật tánh, của tánh Bình Đẳng Vô Ngại—See Triratna (IV) (A).
3) The Buddha whose body fills space: Quảng Bác Thân Như Lai.
4) Hua-Yen says the three bodies of the Buddhas represented by—Hoa Nghiêm tông cho rằng tam thân Phật được tiêu biểu bởi:
i) Vairocana represents the Dharmakaya: Phật Tỳ Lô Giá Na tiêu biểu cho Thụ Dụng Pháp thân.
ii) Rocana or Locana represents the Sambhogakaya: Phật Lư Xá Na tiêu biểu cho Báo Thân.
iii) Sakyamuni represents the Nirmakaya: Phật Thích Ca Mâu Ni là Hóa Thân. 
(III) Vairocana Buddha in T’ien-T’ai Sect—Phật Tỳ Lô Giá Na trong tông Thiên Thai: T’ien-T’ai says the three bodies of the Buddhas (kaya) represented by—Thiên Thai tông cho rằng tam thân Phật được tiêu biểu bởi:
i) Vairocana represents the dharmakaya or the Dharma Body of Buddha Sakyamuni and all Buddhas: Phật Tỳ Lô Giá tiêu biểu cho Pháp Thân Phật Thích Ca hay tất cả chư Phật.
ii) Rocana or Locana represents the sambhogakaya: Phật Lư Xá Na tiêu biểu cho Báo Thân Phật.
iii) Sakyamuni represents the nirmanakaya: Phật Thích Ca Mâu Ni tiêu biểu cho Ứng Thân Phật. 
(IV) Vairocana Buddha according to the Esoteric Schools—Phật Tỳ Lô Giá Na theo Mật Giáo:
1) The Mahavairocana, as the Great Sun Buddha is called in Sanskrit, is apparently different from the Sakyamuni Buddha, but if mystically considered, the latter himself will be the former, and Samantabhadra Bodhisattva who is attending Sakyamuni Buddha will be Vajrapani under the mystical Buddha. Even the mystical Buddha is of two aspects, generally represented as two separate Buddhas. In Buddhism, a Buddha, however remote in age or however great in origin, will be individual, for the perfection of knowledge and wisdom is the perfection of personality and that is a Buddha. A personal perfection embellished by the three mysteries is the spiritual body of knowledge and wisdom. The static nature of the Buddha is potentially perfected like the great luminary (Diamond Element), and is the Mahavairocana (Great Sun) of the Diamond Element. To us it is not clear that all-illumining  dynamic force, like warmth or mercy, is to enfold all beings which are in the realm of natural principle (Matrix Repository). Therefore, the spiritual body of principle is depicted as if the world of nature, i.e., universe itself, should become illumined and assume a splendor  of perfect wisdom. This Buddha is possessed of the perfect harmony of the sixfold greatness, i.e., earth, water, fire, air, space, and consciousness and is the Buddha Mahavairocana of the Matrix Repository. These curious names of the worlds of “Diamond Element” and “Matrix Repository” indicate the indestructible character of personal wisdom, otherwise called the realm of effect and the natural source of beings, sometimes called the realm of cause: Đại Tỳ Lô Giá Na là danh hiệu Đức Phật Đại Nhật theo Phạn văn, có vẻ như khác biệt với  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng theo Mật giáo, nếu nghiệm theo mật nghĩa, thì Thích Ca cũng chính là Đại Nhật; còn Bồ Tát Phổ Hiền, thị giả của Phật Thích Ca  thì trở thành Kim Cang Thủ (Vajrapani) thị giả của Đức Đại Nhật. Và ngay cả Đức Phật nhập huyền mật kia cũng có hai thân, thường được tượng trưng bằng hai vị Phật riêng biệt. Trong Phật giáo, một vị Phật lâu đời đến đâu vẫn là một cá thể, bởi vì trí tuệ viên mãn  là sự viên mãn của nhân cách, và nhân cách đó là Phật. Sự viên mãn nhân cách được trang nghiêm bởi ba mật là Pháp Trí Thân. Phật tính về mặt tĩnh vốn có sẵn đầy đủ như nguồn sáng vĩ đại (kim cang giới) và Đại Nhật của Kim Cang giới. Chúng ta vẫn chưa nhận thức rõ ràng là năng lực sinh động  tỏa sáng khắp nơi, như hơi ấm hay tình thương, bao giờ cũng ấp ủ tất cả chúng sanh hiện hữu trong thế giới thai tạng. Do đó, lý pháp thân, được mô tả như là tánh giới, tức là vũ trụ tự thân, phải được thắp sáng và đón nguồn sáng của trí tuệ viên mãn. Đức Phật đã thành tựu đến chỗ  ‘lục đại vô ngại’ (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức), và là Đức Phật Đại Nhật của Thai Tạng giới. Những danh hiệu kỳ dị như Kim Cang giới và Thai Tạng giới  chỉ cho đặc tính bất diệt của trí tuệ cá thể, hoặc cũng gọi là cảnh giới của quả và căn nguyên bản hữu của mọi loài. 
2) These two aspects ‘static’ and ‘dynamic’ of the Buddha are strictly distinguished. The words ‘static’ and ‘dynamic’ with regard to the person of the Buddha on the basis of the manifestation of his enfolding power. Seen from the attainment of his perfect wisdom, the Buddha of the realm of nature is static and therefore has the sign (mudra) of meditation, while the Buddha of the realm of wisdom is dynamic owing to the vivid realization of his ideals and has the sign of ‘wisdom-fist: Hai hình thái ‘tĩnh’ và ‘động’ của Phật hoàn toàn khác nhau. Tĩnh và động dành cho nhân cách của Phật dựa trên sự biểu hiện năng lực gia trì của Ngài. Nhìn từ cương vị chứng ngộ trí tuệ viên mãn của Ngài, thì Đức Phật của cảnh giới bản hữu là ‘tĩnh’ và do đó có ‘định ấn’ trong lúc Đức Phật của cảnh giới trí tuệ là động do thực chứng lý tưởng  và có ‘trí ấn’.
3) Suppose an individual develops himself and attains enlightenment and advances so far as to conform to the universal principle; he will then be Mahavairocana Buddha of the individual realm or Diamond Element. In sculpture, he is represented with the left hand grasping the index finger of the right hand, the sign of ‘wisdom-fist.’: Thí dụ có một cá thể tự phát triển và chứng ngộ và tiến xa đến chỗ nhập thể vào lý tánh vũ trụ, cá thể đó sẽ là Phật Đại Nhật của Kim Cang giới. Trong điêu khắc, vị đó sẽ được trình bày bằng bàn tay trái nắm lấy ngón trỏ của bàn tay phải, dấu hiệu của ‘trí ấn’’. 
4) On the other hand, when the universe itself becomes illumined and assumes a splendor of wisdom, he then will be Mahavairocana Buddha of the natural realm or Matrix Repository. In sculpture he is represented as having the sign of meditation on the universe, with the right hand on the left, the thumbs touching each other: Lại nữa, khi vũ trụ tự nó được rọi sáng và tiếp nhận nguồn sáng của trí tuệ, thì người đó sẽ là Đức Đại Nhật Như Lai của Thai Tạng giới. Trong điêu khắc, được diễn tả  bằng ‘định ấn’ về vũ trụ, với bàn tay mặt trên bàn tay trái, hai ngón cái giao nhau.    
5) Thus there are two Buddhas with one and the same name and identical in quality, but different in manifestation. They are two and yet not two. Mystically speaking, the two persons of ultimate perfection  would be one and the same width and heigth: Như thế chúng ta có đến hai Đức Phật cùng đồng danh hiệu, giống nhau qua bản chất nhưng khác nhau qua biểu hiện. Hai mà không hai (nhị nhi bất nhị). Nói theo Mật giáo, hai nhân cách viên mãn cứu cánh phải là một, cùng có chiều rộng và chiều cao như nhau. 
i) When the six great elements  (earth, water, fire, air, space and consciousness) are coordinated  crosswide, or according to space, we get the universe, i.e., the universal body of the Buddha of the Matrix Realm: Khi lục đại giao tréo nhau theo không gian, chúng tạo thành vũ trụ, tức là Pháp thân của Thai Tạng giới. 
ii) When the six elements are arranged lengthwise or vertically, according to time, we get the individual of five aggregates, i.e., the personal body of the Buddha of the Diamond Realm: Khi lục đại được sắp xếp theo chiều dọc (theo thời gian), chúng ta có năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) tạo thành một cá thể, tức Phật thân của Kim Cang giới.  

Vairocana Buddha of Great Vows of the Illuminator: Phật Tỳ Lô Giá Na Đại Quang Minh. 

Vairocana in the Garbhadhatu: Thai Đại Nhật—Thai Tạng Giới—See Garbhadhatu. 

Vairocana’s Hall: Điện Thờ Phật Tỳ Lô Giá Na. 

Vairocana-rasmi-pratimandita-dhvaja (skt): Quang Chiếu Như Lai Tướng—A Bodhisattva, disciple of Sakyamuni, who was in a former life Vimaladatta—Một vị Bồ Tát đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà tiền thân là Tịnh Đức Phu Nhân. 

Vairocana Sutra (skt): Đại Nhựt Kinh—Vairocana Sutra, name of one of the three major sutras of the Mantrayana, translated into Chinese by Subhakarasimha in the T’ang dynasty. The sutra teaches that Vairocana is the whole world, which is divided into Garbhadhatu (material) and Vajradhatu (indestructible), the two together forming Dharmadhatu. The manifestations of Vairocana’s body to himself, that is, Buddhas and Bodhisattvas, are represented symbolically by diagrams of several circles.  In the Vajradhatu mandala, he is the centre of the five groups. In the Garbhadhatu, he is the centre of the eight-leaved Lotus court. He is generally considered as an embodiment of the Truth, both in the sense of Dharmakaya and Dharmaratna. Some schols hold Vairocana to be the dharmakaya of sakyamuni, but the esoteric school denies this identity—Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh, một trong ba bộ kinh chính của Phật giáo Mật Tông, được Thiện Vô Úy dịch sang Hoa ngữ vào thời đại nhà Đường. Kinh dạy về Đại Nhựt Như Lai là hiện thân của Pháp Giới, chia ra làm Thai Tạng Giới hay thế giới hiện tượng và Kim Cang Bất Hoại Giới, cả hai hợp thành Pháp Giới. Hiện thân của Phật Tỳ Lô Giá Na là chư Phật hay chư Bồ Tát, được tiêu biểu bởi những hình vòng (hay mặt trời và các hành tinh quay quanh nó). Trong Kim Cang Giới Mạn Đồ La thì Đại Nhựt Như Lai là trung tâm của năm nhóm. Trong Thai Tạng Giới thì Đại Nhựt Như Lai là trung tòa của bông sen tám cánh. Ngài được coi như là hiện thân của chân pháp, trong hai nghĩa Pháp Thân và Pháp Bảo. Một số trường phái cho rằng Đại Nhựt Như Lai là pháp thân của Phật Thích Ca, nhưng Mật giáo lại phủ nhận điều nầy. 

Vairocana Buddha on the 28th day: Tỳ Lô Giá Na Phật ngày 28—See Ten Buddhas or Bodhisattvas connected with the ten fast days.

Vaisakha (skt): Phệ Xá Già—Wesak—Buddha’s Birth, Enlightenment and Death celebrated on Full Moon day of month Vaisakha (between the months of April and May)—Tháng rơi vào giữa tháng Tư âm lịch, vào khoảng tháng Năm dương Lịch—See Twelve Months of a Year in India. 

Vaisali (skt) Vesali (p): Tỳ Da Ly—Bề Xá Ly—Bề Xá Lệ Dạ—Duy Da—Duy Da Ly—Phệ Xá Ly—Tùy Xá Lợi—Tỳ Xá Ly (Quảng Nghiêm Thành).

An important city in the early phase of Buddhism, which is now Basarh, about more than 20 miles northwest of modern Patna in the Indian state of Bihar, between Ganges and the Himalayas. During Sakyamuni Buddha’s lifetime, it was the capital of the Licchavis, who belonged to the Vrji Republic. This was one of the rainy-season retreats of the early Samgha. In 386 the second Buddhist Council was held in Vaisali. According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Licchavis were the people of the ancient republic of Vaisali who were among the earliest followers of sakyamuni. According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vaisali, an ancient kingdom and city and the capital the powerful Licchavis, where the second synod was held with 700 famous learned monks, near Basarh (Bassahar), in Bihar, north of Patna. The city of Vaisali was a stronghold Buddhism in early days. The Chinese pilgrims, i.e., Fa-Hsien and Hsuan-Tsang, visited Vaisali in the course of their travels. Hsuan-Tsang described the city as covering an area of 10 to 12 square miles. He wrote that, within and without  and all around the town of Vaisali, the sacred monuments were so numerous that it was difficult to mention them all. Unfortunately, the area is now practically denuded of any visible remains of religious edifices. At Kolhua, two miles to the north-west of Raja Bisal ka Gadh, there stands a monolithic, locally known as Bhimsen’s Lath of highly sandstone surmounted by a bell-shaped capital that supported by a bell-shaped capital and supports on the sedent figure of a lion on a square abacus. It is about 22 feet above represent ground level, a considerable portion having sunk underground in the course of time. In Style it resembles the edict pillars of Asoka, but diggings round the shaft have failed to reveal any Asokan inscription. Nevertheless, it can be identified with one of the Asoka pillars mentioned by Hsuan-Tsang at the site of ancient Vaisali. The line of pillars in the Champaran and Muzaffarpur district, at Ramapurva, Lauriya Araraj, Lauriya Nandagadh, and Kolhua, is believed to have marked the stages of a royal journey from Pataliputra to Lumbini which Asoka undertook in the 20th year of his consecration. Nearby to the south, there is a small tank, called Rama-kunda, identified by Cunningham with the ancient Markata-hara or monkey’s tank, believed to have been dug by a colony of monkeys for the use of the Buddha. To the northwest there is a ruined mound, at present only 15 feet high and with a diameter of about 65 feet at the base, which has been identified with the remains of the Asoka stupa mentioned by Hsuan-Tsang. On the summit of this mound stands a modern brick temple enshrining a medieval image of Buddha. The Buddha is said to have visited in three times during his life-time. In once of these visits,  several monkeys are said to have offered the Buddha a bowl of honey, an incident mentioned among the eight great events in the life of the Buddha. It was here again that the Buddha announced his approaching nirvana, and after the nirvana the Licchavis are said to have errected a stupa over their share of the remains of the Buddha. A little over a hundred years after the nirvana, the Second Buddhist Council was held here. To Jaina also, Vaisali was equally sacred, being the birth-place of Mahavira, the twenty-fourth Jaina Tirthankara. The site of Raja Bisal ka Gadh is believed to represent the citadel of Vaisali. It consists of large brick covered mound, about eight feet above the surrounding level and slightly less than a mile in circumference. Originally surrounded by a ditch, it was approached by a broad embanked causeway from the south. Excavations have exposed the foundations of old buildings of irregular plan which may date back to the Gupta period. Besides, the most interesting finds consist of a large number of clay seals. The official seals indicate the Vaisali was an important administrative headquarters in the Gupta period, and an interesting seal, engraved in characters of the Maurya period, refers to the patrol outpost at Vaisali—Xá Vệ, một thành phố quan trọng vào buổi đầu Phật giáo, hiện là Basarh cách nơi mà bây giờ là Patna (thuộc bang Bihar của Ấn Độ) khoảng hơn 20 dặm về phía tây bắc, giữa sông Hằng và rặng Tuyết sơn. Vào thời Đức Phật còn tại thế thì Tỳ Xá Ly hay Xá Vệ là kinh đô của dân Licchavis, thuộc xứ Cộng Hòa Vrji. Đây là một trong những địa điểm an cư kiết hạ của giáo đoàn buổi ban đầu. Vào năm 386 B.C., nghị hội thứ hai Phật giáo đã diễn ra tại đây. Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, dân tộc Tùy Xá Lợi là dân tộc của một nước cộng hòa cổ Vaisali, trong số những đệ tử Phật đầu tiên. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tỳ Xá Ly là tên của kinh đô nước Quảng Nghiêm hùng mạnh, một vương quốc cổ ở Trung Ấn, nơi 700 vị Hiền Thánh đã kết tập kinh điển lần thứ hai, bây giờ gần Bassahar, thuộc Bihar, phía bắc Patna. 

Thành Tỳ Xá Ly từng là thành trì Phật giáo trong những ngày đầu. Các nhà hành hương Trung Hoa như Pháp Hiển và Huyền Trang, trên đường đi qua Ấn Độ đã ghé lại Tỳ Xá Ly. Huyền Trang mô tả thành phố nầy  trải rộng trên một diện tích từ 10 đến 12 dặm vuông. Ông viết rằng bên trong bên ngoài và khắp nơi xung quanh thành phố, số đền chùa nhiều đến nỗi không sao kể hết. Tiếc thay, trên vùng đất nầy hiện nay hầu như không còn nhìn thấy một di tích đền chùa nào cả. Tại Kolhua, cách Raja Bisal ko Gadh hai dặm về phía tây bắc, có một trụ đá nguyên khối, dân địa phương gọi là Bhimsen, bằng sa thạch mài thật láng, bên trên có một đầu trụ hình chuông nâng đỡ một tượng sư tử đứng trên bệ vuông. Trụ nầy cao hơn mặt đất hiện nay khoảng 7 mét, một đoạn trụ dài bị chôn vùi dưới đất qua dòng thời gian. Nhìn kiểu dáng thì giống các trụ đá của vua A Dục, nhưng đào xới xung quanh thân trụ thì chẳng thấy một dòng chữ nào của vua A Dục cả. Tuy nhiên, có thể xác định đây là một trong các trụ đá của vua A Dục mà Huyền Trang đã nói đến tại Tỳ Xá Ly ngày xưa. Dãy dài các cây trụ thuộc quận Champaran và quận Muzaffarpur tại Ramapurva, Lauriya Araraj, Lauriya Nandagadh và Kolhua, được xem là đã đánh dấu các chặng đường trên con đường vua A Dục đi từ thành Hoa Thị (Pataliputra) đến Lâm Tỳ Ni khi ông lên ngôi được 20 năm. Cách một quảng ngắn về phía nam có một hồ nước nhỏ, có tên là Rama-kunda, đã được Cunningham xác định là Hồ Khỉ (Markata-hrada) ngày xưa, và người ta cho rằng hồ nầy do một bầy khỉ đào để lấy nước cho Đức Phật dùng. Về phía tây bắc có một gò đống đổ nát, nay chỉ còn cao độ 5 mét và dưới đáy có đường kính độ 20 mét, được xác định là những gì còn lại của ngôi tháp A Dục mà Huyền Trang đã nói đến. Trên đỉnh gò nầy có một ngôi đền bằng gạch kiểu mới bên trong có một tượng Phật thời Trung cổ. Theo lời kể lại thì Đức Phật đã đến viếng nơi nầy ba lần khi ngài còn tại thế. Cũng theo lời kể thì trong một lần đến đây, ngài đã được bầy khỉ dâng một chén mật, sự kiện được cho là một trong tám sự kiện lớn trong đời Đức Phật. Cũng tại nơi nầy, Đức Phật đã loan báo ngày sắp nhập diệt của mình, và sau khi ngài nhập Niết Bàn, người xứ Quảng Nghiêm đã dựng một bảo tháp trên phần chia xá lợi của Ngài. Hơn một trăm năm sau ngày diệt độ của Đức Phật, Nghị Hội Kết Tập lần hai đã diễn ra tại đây. Đối với Kỳ Na giáo thì Tỳ Xá Ly là nơi sinh ra của Mahavira, vị Tirthankara Kỳ Na giáo thứ hai mươi bốn. Raja Bisal Ka Gadh được xem là thành lũy của Tỳ Xá Ly. Đây là một gò đất lớn được lót gạch, cao khoảng hai mét rưỡi trên mặt bằng, có chu vi gần một dặm. Lúc đầu được bao bọc bởi một con mương, thành nầy có lối ra vào ở phía nam bằng con đường đất cao. Các cuộc khai quật đã làm lộ ra phần nền của những tòa nhà nằm trên một mặt bằng không đều, có thể có niên đại từ thời Gupta. Các phát hiện đáng kể là những con dấu chứng tỏ thành Tỳ Xá Ly đã từng là một đầu não hành chánh quan trọng trong thời  kỳ Gupta, và một con dấu đáng chú ý, khắc chữ Maurya, thuộc về một tiền đồn tuần tra ở Tỳ Xá Ly. ** See Buddhist Councils (II).   

Vaisali stupa: Tháp Tỳ Xá Ly—Vaisali, where the Buddha announced his speedy nirvana. This is one of the eight Great Spiritual or Sacred Stupas of Buddhism—Tại thành Tỳ Xá Ly, nơi Phật tuyên bố là Ngài sẽ mau nhập Niết Bàn. Đây là một trong tám ngôi tháp thiêng lớn của Phật giáo—See Eight great spiritual or sacred stupas.

Vaisesika (skt): Phệ Thế Sư—Phế Thế Sư Ca—Phệ Thế Sử Ca Xa Tát Đát La—Paramartha-satya-sastra, a philosophical work by Vasubandhu—Phái Thắng Luận dựa theo trước tác của Ngài Thế Thân.  

Vaisesika (skt): Vệ Thế Sư—Thắng Luận Tông—Vệ Thế Sư Ca—See Vaisesika-school. 

Vaisesika-sastra (skt): Thắng Luận—See Vaisesika School.

Vaisesika-school: Thắng Luận Tông.
(I) An overview of “Vaisesika-school”—Tổng quan về “Thắng Luận Tông”: The Vaisesika-sastra sect of Indian philosophy, whose foundation is ascribed  to Kanada (Uluka); he and his successors are respectfully styled sastra-writers (philosophers) or slightingly styled heretical philosophers; the school when combined with the Nyaya, is also known as Nyaya-Vaisesika—Còn dịch là Tông của Vệ Thế Sư. Thắng Luận là một trong sáu phái triết học ở Ấn Độ do Âu Lộ Ca Tiên (Uluka), còn có tên là Ca Na Đà,  sáng lập. Người ta đã đặt cho ông và hàng đệ tử nối tiếp ông danh hiệu luận sư hay luận sư ngoại đạo. Về sau phái nầy họp lại với phái Nyaya thành phái Nyaya-Vaisesika (trường phái nầy là luận phái duy vật chuyên phân tích vũ trụ vạn hữu thành không gian). 
(II) Philosophy of Vaisesika-school—Triết lý Thắng Luận Tông: One of the six Indian schools of philosophy. An atomistic school founded by Kanada. Like the sankhya philosophy it taught a dualism and endless number of souls, also by its doctrine of particularity or individual essence. They distinguished in six categories of cognition—Một trong sáu phái triết học ở Ấn Độ, do Ca-Na-Đà sáng lập. Giống như phái Triết Học Tăng Kỳ, đây là phái đa nguyên luận duy vật và linh hồn không đứt đoạn. Họ phân biệt thành sáu thức:
1) Dravya (skt)—Thực: Bản thể—Substance. 
2) Guna (skt)—Đức: Phẩm chất—Quality. 
3) Karma (skt)—Nghiệp: Tác dụng—Activity. 
4) Samanya (skt)—Đồng: Tính cộng thông hay cùng loại—Species.
5) Visesa (skt)—Dị: Sự khác biệt—Distinction. 
6) Samavaya (skt)—Hợp: Tính cố hữu giữa các sự vật—Correlation. 

Vaisharadya: See Four certainties. 

Vaisramana (skt): Pluto heaven—Tỳ sa môn Thiên vương—North with the Vaisramana or Pluto heaven—Bắc phương với trời Tỳ Sa Môn—See Eight heavens and devas at the eight points of the compass.

Vaisramana or Pluto heaven in the North: Bắc phương với trời Tỳ Sa Môn—This is one of the eight heavens and devas at the eight points of the compass—Đây là một trong tám cõi Trời và chư Thiên ở tám hướng—See Eight heavens and devas at the eight points of the compass.

Vaisravana (sk): Dhanada (skt)—Vessavana (p)—Phệ Thất La Mạt Nã—Đa Văn Thiên Vương (Bắc thiên vương)—Tỳ Sa Môn Thiên Vương—Tỳ Thất La Mãn Nang—Tỳ Xá La Bà Nô—A form of Kuvera, a god of wealth. A deva who hears much and is well-versed. The god of riches, Vaisravana, regent of the north; having three legs and eight teeth. Vaisravana was son of Visravas, which is from Visru, to be heard of far and wide, celebrated, and should be understood in this sense. One of the four Maharajas, guardian of the north, king of Yaksas, has the title “universal or much hearing or learning, said to be so called because he heard the Buddha’s preaching. His body colour  is yellow. He resided in the north of the Garbhadhatu Mandala. He resided in the west of the Vajradhatu Mandala. Vaisravana is Kuvera, or Kubera, the Indian Pluto; originally a chief of evil spirit, afterwards the god of riches, and ruler of the northern quarter. Hsuan-Tsang built a temple to him in 753 A.D., since which he has been the god of wealth in China and guardian at the entrance of Buddhist temples. In his right hand he often holds a banner or a lance, in his left a pearl or shrine, or a mongoose out of whose mouth jewels are pouring; under his feet are two demons—Một hình thức của Tài thiên vương, một vị trời đa văn, trị vì phương Bắc, có ba chân và tám răng. Tỳ Sa Môn Thiên Vương là con trai nổi tiếng của Visravas. Còn gọi là Đa Văn Thiên Vương, là một trong bốn vị Thiên Vương hộ thế. Vị trời này có tên “Đa Văn” là vì ngài thường hay bảo hộ đạo tràng của Như Lai và ưa nghe Phật thuyết pháp. Ngài có thân tướng màu vàng. Đối với Thai Tạng Mạn Đồ La thì vị nầy ở bên cửa Bắc. Đối với Kim Cang Tạng Mạn Đồ La thì vị nầy ở phương Tây. Theo truyền thuyết của Ấn Độ, Tỳ Sa Môn là vị Diêm Vương, là vua của loài quỷ; về sau nầy là thần tài, ngự trị phương Bắc. Huyền Trang đã xây một ngôi đền cho ngài vào năm 753 sau Tây Lịch, từ đó ngài trở thành ông Thần Tài của dân Trung Quốc và hộ pháp tại cổng vào các tự viện. Tay phải cầm phướn, tay trái cầm một viên bảo châu, dưới chân ngài có hai con quỷ. **See Four Heavenly (Guardian) Kings, and Twenty devas.

Vaisya (skt): Phệ Xá—Phệ Xa—Tỳ Xá—The third of the four Indian castes, traders and landlords—Giai cấp buôn bán, giai cấp thứ ba trong bốn giai cấp Ấn Độ (họ chuyên buôn bán và làm chủ các sở đất)—See Four classes or castes in India at the time of the Buddha.

Vaivarti (skt): Tỳ bạt trí—Thối chuyển—To fall back.

Vaivartika (skt): Bệ Bạt Trí—Thối chuyển—To recede—To backslide. 

Vajirasattva (skt): King of Yaksas and guardian of the secrets of Buddha—Bí mật chủ. 

Vajjà (skt): Tội Thập ác hay Ngũ nghịch—See Five betrayals.

Vajra (skt): Phạt chiết la—Kim Cang—See Eight patriarchs of the True Word sect.
1) A  diamond, a symbol of undestructible nature of Buddha’s wisdom—Kim Cang bất hoại—“Vajra” is a Sanskrit term which is difficult to find an equivalent in English; however, we temporarily translate it as “diamond,” or “adamantine,” a symbol of indestructible. The symbol of the highest spiritual power, which is compared with the gem of supreme value, the diamond, in whose purity and radiance other hues are reflected while it remains colorless, and which can cut every other material, itself is being cut by nothing. Vajra is an important symbol in tantric Buddhism: a five-pronged scepter, the two ends of which are said to represent wisdom and compassion, the two primary special qualities in Buddhism. The “vajra” as a whole represents an indissoluble and indestructible union of wisdom and compassion—“Vajra” là từ Bắc Phạn mà thật khó tìm kiếm một từ tương đương trong Anh ngữ; tuy nhiên, chúng ta tạm thời dịch là Kim Cang. Kim cang, tượng trưng cho những gì không thể phá hủy được. Biểu tượng năng lực tâm linh vô thượng được so sánh với viên ngọc quý nhất, kim cương với sự trong suốt và sáng ngời của nó, các màu khác được phản chiếu trong ấy, mà nó vẫn giữ được tính không màu sắc của nó. Nó có thể cắt đứt được mọi vật rắn khác, trong khi một một thứ gì có thể cắt đứt được nó. Kim cang là một biểu tượng quan trọng trong Mật giáo: đó là một cây quyền trượng năm ngạnh có hai đầu, người ta nói hai đầu ấy tượng trưng cho trí và bi, hai phẩm chất đặc thù chính trong Phật giáo. Tổng thể của kim cang tiêu biểu cho sự hợp nhất không thể tách rời hay không thể phá hủy được giữa trí và bi.
2) Vajra General: Ba Di La—Phạt Chiết La Đại Tướng—One of the twelve generals of Bhaisajya (Yao-Shih), the Buddha of Healing—Kim Cang Thần, một trong mười hai vị thần tướng của Phật Dược Sư—See Twelve spirits connected with the Master of Healing.

Vajra against the evil: Kim Cang thần trừ ác. 

Vajra-bell: Kim Cang Linh—The diamond or vajra bell for attracting the attention of the objects of worship, and stimulating all who hear it—Chuông Kim Cang có công dụng làm tăng sự chú tâm và phấn chấn người nghe.

Vajrabodhi (663-723): Bạt Viết La Bồ Đề—Kim Cang Trí Tam Tạng—Vajrabodhi came from South India, became a novice at Nalanda. At the age of fifteen he went to West India and studied logic for four years under Dharmakirti, but came again to Nalanda where he received full ordination at twenty. For six years he devoted himself to the study of  Discipline (Vinaya) text and the Middle Doctrine (Madhyamika) under Santabodhi; for three years he studied the Yogacara by Asanga, the Vijnaptimatra by Vasubandhu and the Madhyanta-vibhanga by Sthiramati under Jinabhadra, at Kapilavastu, North India; and for seven years he studied the Diamond Head (Vajra-sekhara) and other mystical texts under Nagabodhi, in South India. At last, he sailed to the southern sea and reached Lo-Yang, China, in 720. He translated several important mystical texts, such as the Vajra-sekhara. In 741, while in Ch’ang-An, he obtained  permission to return to India, but on his way he died in Lo-Yang—Ông là người Nam Ấn, học đạo tại Na Lan Đà. Năm 15 tuổi ông sang Tây Ấn và học tập Nhân Minh Luận trong bốn năm với Pháp Xứng (Dharmakirti), nhưng trở về Na Lan Đà để thọ đại giới. Trong sáu năm, ông chuyên học Luật (Vinaya) và trung Quán Luận (Madhyamika) với Santabodhi, ba năm kế đó ông nghiên cứu Du Già Luận (Yogacara) của Vô Trước, Duy Thức Luận (Vijnaptimatra) của Thế Thân và Biện Trung Biên Luận (Madhyanta-vibhanga) của An Huệ (Sthiramati) với Jinabhadra tati Ca Tỳ La Vệ, vùng Bắc Ấn. Rồi bảy năm sau nghiên cứu Kim Cang Đảnh (Vajra-sekhara) và các kinh Mật giáo khác với Long Trí (Nagabodhi) ở Nam Ấn. Sau cùng, ông đáp thuyền theo đường Nam Hải đến Lạc Dương vào năm 720. Ông dịch thuật nhiều kinh điển quan trọng  của Mật giáo, như Kim Cang Đảnh, vân vân. Năm 741, trong lúc ở Trường An, ông được phép trở về Ấn Độ nhưng mất trên đường về Lạc Dương. 

Vajra-bodhi Dharma master: Kim Cang Trí Pháp Sư—Name of an Indian monk who came to China around 619 A.D., during the T’ang dynasty; he is said to have introduced the Yogacara system and founded the esoteric school, but this is attributed to Amoghavajra—Tên của một vị sư người Tây Ấn, đến         Trung Quốc vào khoảng năm 619 sau Tây Lịch, dưới thời nhà Đường; người ta nói ông chính là người đầu tiên giới thiệu Du Già Luận và là sơ tổ của Mật Tông tại Trung Quốc, nhưng có thuyết lại cho rằng chính A Mục Khư Bạt Triết La mới chính là Sơ Tổ Mật Tông Trung Quốc.

Vajra Bodhisattva (skt): Kim Cang Bồ Tát. 
1) Vajrahetu bodhisattva: Kim Cang Nhân Bồ Tát.
2) Vajrapani bodhisattva: Kim Cang Thủ Bồ Tát.
3) Vajraratna bodhisattva: Kim Cang Bảo Bồ Tát.
4) Vajragarbha bodhisattva: Kim Cang Tạng Bồ Tát.
5) Vajrasuci bodhisattva: Kim Cang Châm Bồ Tát.
6) Vajrasena bodhisattva: Kim Cang Tướng Bồ Tát.
7) Vajrapasa bodhisattva: Kim Cang Tác Bồ Tát.
8) Vajrankusa bodhisattva: Kim Cang Câu Bồ Tát.
9) Vajradhupa bohisattva: Kim Cang Hương Bồ Tát.
10) Vajratejah bodhisattva: Kim Cang Quang Bồ Tát.
11) Vajradharma bodhisattva: Kim Cang Pháp Bồ Tát.
12) Vajratiksna bodhisattva: Kim Cang Lợi Bồ Tát. 

Vajra-body: Kim Cang Thân—The body of the Buddha and his merits. Golden body, the diamond body, the indestructible body of Buddha—Kim cang thể, ý nói thân Phật và những công đức của Ngài. Kiên thân (thân kiên cố), chân thân (thân chân thật), hay thân kim cang bất hoại của Phật. 

Vajra-Buddha: Vairocana (skt)—Kim Cang Phật—Sun-Buddha—Đại Nhật Như Lai—Tỳ Lô Giá Na Phật—Vairocana, the Sun-Buddha; sometimes applied to Sakyamuni as embodiment of the Truth, of Wisdom, and of Purity—Đức Đại Nhật Như Lai, có lúc chỉ Đức Thích Ca Mâu Ni như là hóa thân của chân lý, trí tuệ và thanh tịnh.

Vajracandratilaka (p): Kim Cang Nguyệt yểm. 

Vajracchedika (skt): Kim Cang Đoạn—Diamond cutter, a short paragraph in the Perfection of Wisdom Sutra (Prajnaparamita Sutra)—Cắt đứt Kim Cang, một đoạn văn ngắn trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa—See Vajracchedika-prajna-paramita-sutra. 

Vajracchedika-prajna-paramita-sutra (skt): Kim Cang Kinh—A Sanskrit term for “the Text of Cutting Diamond of the Perfection of Wisdom.”  Sutra of the Diamond-Cutter of Supreme Wisdom is one of the most profound and influential sutras in the Mahayana, an independent part of The Vairacchedika Prajanparamita Sutra. The Diamond Sutra, a condensation of the Prajnaparamita; first translated into Chinese Kumarjiva, later by others. The sutra consists of thirty-two chapters, it is purportedly a dialogue between Sakyamuni Buddha and his disciple Subhuti, focusing on emptiness (sunyata), which also emphasized that emptiness is the final nature of all phanomena. It shows that all phenomenal appearances are not ultimate reality but rather illusions or projections of one’s mind (all mundane conditioned dharmas are like dreams, illusions, shadow and bubbles). Every cultivator (practitioner) should regard all phenomena and actions in this way, seeing them as empty, devoid of self, and tranquil. The work is called Diamond Sutra because it  is sharp like  a diamond that cuts  away all necessary conceptualization  and brings one to the further shore of enlightenment. The perfection of wisdom which cuts like a diamond. The Buddha wanted to remind all his disciples on the main idea that all reality is a projection of mind, and nothing else. The sutra ends with the following statement: “This profound explanation is called Vajracchedika-Prajna-Sutra, for the diamond is the gem of supreme value, it can cut every other material (thought) and lead to the other Shore.” The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva. A gatha of the Diamond Sutra states, “All phenomena in this world are like a dream, fantasy, bubbles, shadows; they are also like dew, thunder, and lightening; one must understand life like that.”—Phạn ngữ chỉ “Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa.” Kinh Kim Cang là một trong những kinh thâm áo và có ảnh hưởng lớn nhứt của kinh điển Đại Thừa. Kim cang Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Kinh, tóm lược cô đọng của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, trước tiên được dịch sang Hoa ngữ bởi ngài Cưu Ma La Thập, sau đó có nhiều bản dịch khác. Kinh nầy là một phần độc lập của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa. Kinh gồm 32 chương, chữ đích là cuộc nói chuyện giữa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và đệ tử của Ngài là ông Tu Bồ Đề, tập trung vào tánh không, kinh cũng nhấn mạnh rằng tánh không là thực tánh hay tánh rốt ráo của vạn hữu. Kinh Kim Cang giải thích hiện tượng không phải là hiện thực, mà chỉ là những ảo giác hay phóng chiếu tinh thần riêng của chúng ta  (Bất cứ hiện tượng và sự vật nào tồn hữu trong thế gian nầy đều không có thực thể, do đó không hề có cái gọi là “ngã”). Chính vì thế mà người tu tập phải xem xét những hoạt động tinh thần của hiện tượng sao cho tinh thần được trống rỗng, cởi bỏ và lắng đọng. Nó có tên Kim cương vì nhờ nó mà chúng sanh có thể cắt bỏ mọi phiền não uế trược để đáo bỉ ngạn. Đức Phật muốn nhắc nhở chúng đệ tử của Ngài về ý tưởng chính rằng vạn hữu đều do tâm tạo, chứ không phải bất cứ thứ gì khác. Kinh được kết thúc bằng những lời sau: “Sự giải bày thâm mật này sẽ gọi là Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa. Vì nó cứng và sắt bén như Kim Cương, cắt đứt mọi tư niệm tùy tiện và dẫn đến bờ Giác bên kia.” Kinh đã được Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hán tự, “Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ, diệc như điện, ưng tác như thị quán.” 

Vajra crown: Kim Cang Đảnh—See Diamond crown and Diamond crown Sutra. 

Vajra-crown sutra: Kim cang đảnh kinh—See Diamond crown sutra. 

Vajra cultivation: Tu tập Kim Cang Thừa—Followers of the Vajrayana usually practice prostrating, visualzing, reciting mantras, and meditation. They also emphasize cultivating Bodhicitta and of course take refuge in the Triple Gem—Phật tử tu theo Kim Cang Thừa thường tu tập lễ lạy, quán chiếu, đọc mật chú và hành thiền. Họ nhấn mạnh vào sự tu tập phát triển Bồ đề tâm và dĩ nhiên là phải quy-y Tam Bảo.  

Vajradevas (skt): Devas in the Vajradhatu group—Kim cang thiên trong nhóm Kim cang giới.  

Vajradhara (skt): Vajrapani (skt)—Deva holder of the vajra—Protector of the Law—Chấp kim cang thần—Phạt Xa La Đà La—Trì hay Chấp Kim Cang—A Sanskrit term for “Vajra Holder,”  the bearer of the vajra, the guardian spirit of the Buddhist order; the large idols at the entrance of Buddhist monastery. According to East Asian Mahayana Buddhism, this is one of the five Dhyani-Bodhisattvas, the All-Compassionate One of perfect Activity. “He Who Is All-pervadingly Good” or “He Whose Beneficence Is Everywhere.” One of the most important bodhisattvas of Mahayana Buddhism. He also embodies calm action, compassion, and deep-seated wisdom. He is venerated as the protector of all those who teach the dharma and is regarded as an embodiment of the wisdom of essential sameness and difference. He often appears riding a white six-tusked elephant  (the elephant being noted for its tranquility and wisdom) with Manjusri on the (right) side of Sakyamuni. He is also called Universal sagacity, or lord of the fundamental law, the dhyana, and the practice of all Buddhas. He represents the fundamental law, and is the patron of the Lotus Sutra and its devotees, and has close connection with the Hua-Yen Sutra. His region is in the east. According to Tibetan Buddhism, this is one of the most important buddhas in Tibetan tantric tradition, in which he is commonly conceived as the Adi-Buddha. He is generally depicted with dark blue skin, his arms crossed on his chst, holding a vajra and bell—Phạn ngữ chỉ “Kim Cang Chấp,” tên chung của thần bộ tay cầm chày Kim Cang, vị thần bảo hộ Phật giáo; những tượng lớn đặt tại cổng ra vào của các tự viện. Theo truyền thống Đại Thừa ở các nước Đông Á, đây là vị Bồ Tát Toàn Thiện hay Toàn Phúc, một trong những bồ tát chính của trường phái Phật giáo Đại thừa. Ngài còn là hiện thân của đức trầm tĩnh, lòng thương xót và trí huệ sâu xa. Ngài được sùng kính như người bảo hộ cho tất cả những ai truyền bá Phật pháp và được coi như là hiện thân của trí năng đồng nhất, tức là hiểu được sự đồng nhất giữa cái giống nhau và cái khác nhau.  Ngài thường cỡi voi trắng sáu ngà (voi tượng trưng cho sức mạnh của trí tuệ), xuất hiện cùng lúc với Bồ Tát Văn Thù bên cạnh (phải) Phật Thích Ca. Ngài cũng còn được gọi là Tam Mạn Bạt Đà La, tiêu biểu cho “Lý,” ngài cũng là vị bảo hộ Kinh Pháp Hoa và những người hành trì kinh nầy; đồng thời ngài cũng có liên hệ mật thiết với Kinh Hoa Nghiêm. Ngài ngự tại phía đông vũ trụ. Theo Phật giáo Tây Tạng, đây là một trong những vị Phật quan trọng trong Mật giáo, Ngài thường được hiểu như là Phật A Đề—See Adi-Buddha, and Vajrapani.   

Vajra-dharmadhatu (p): Kim cang pháp giới—The Diamond Element or positive pole in the manifested universe, of which the negative pole is Garbhadhatu. 

Vajradhatri (skt): Phì Giả Da—Nữ lực của Đức Tỳ Lô Giá Na—The wife or female energy of Vairocana. 

Vajradhatu (skt): Kim Cang Giới.
1) The Diamond or Vajra realm, element of the universe; it is the wisdom of Vairocana in its indestructibility and activity; it arises from the Garbhadhatu (the womb of all things): Kim Cang giới là một phần tử của vũ trụ; nó là TRÍ ĐỨC bất hoại của Đức Tỳ Lô Giá Na; nó khởi lên từ trong Thai Tạng Giới. 
2) Vajradhatu is interpreted as the realm of intellection: Kim Cang Giới được diễn dịch là “Trí” giới.  
3) The Vajradhatu represents the spiritual world of complete enlightenment: Kim cang giới tiêu biểu cho thế giới tâm linh của sự toàn giác.
4) The esoteric Dharmakaya doctrine as contrasted with the exoteric Nirnamakaya: Mật Giáo coi Kim Cang Giới là Pháp Thân, trong khi Hiển Giáo thì coi nó như là Hóa Thân. 
5) It is the sixth element of “Conscious mind,” and is symbolized by a triangle with the point downwards and by the full moon, which represents “wisdom” or “understanding”: Kim Cang Giới là yếu tố thứ sáu của tâm, nó biểu hiệu bằng một hình tam giác mũi chúi xuống và mặt trăng tròn tượng trưng cho trí tuệ hay sự hiểu biết. 
6) Vajradhatu corresponds to fruit or effect: Kim Cang Giới tương ứng với “quả.”
7) Vajradhatu is the universe viewed as the manifestation of Vairocana Buddha whose image is reflected in the heart of every being: Kim Cang giới là vũ trụ được nhìn như là sự thể hiện của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na mà hình ảnh của Ngài được phản chiếu trong tâm của mọi chúng sanh.  

Vajradhatu Foundation: Hội Kim Cang Giới—Tibetan Buddhist organization founded in 1973 by Chogyam Trungpa, the headquarters of which is in Halifax, Nova Scotia. It has more than one hundred local centers and claims 5,500 members worldwide, making it one of the largest Buddhist organization in the West—Tổ chức Phật giáo Tây Tạng được ngài Chogyam Trungpa sáng lập vào năm 1973, trụ sở đặt tại Halifax, thuộc Nova Scotia. Tổ chức này có trên 100 trung tâm và hơn 5.500 hội viên trên toàn thế giới, làm cho nó trở thành một trong những tổ chức Phật giáo lớn nhất ở Tây phương. 

Vajradhatu and Garbhadhatu (skt): Kim Cang Giới Thai Tạng Giới.
1) Vajradhatu (skt): Kim Cang Giới—See Vajradhatu.
2) Garbhadhatu (skt): Thai Tạng Giới—See Garbhadhatu. 
a) Garbhadhatu is the womb or store of the Vairocana reason or principles of the wisdom: Thai Tạng Giới là kho chứa mọi lý luận của trí. 
b) The womb or store of the Vairocana reason or principles of the Vairocana’s indestructible wisdom—The womb or store of all things: Nơi tồn chứa tất cả mọi LÝ LUẬN của Tỳ Lô Giá Na bất hoại trí.
c) Garbhadhatu is interpreted as the substance underlying the Vajradhatu (realm of intellection): Thai Tạng Giới được diễn dịch như là chất liệu căn bản của Kim Cang Giới.
d) Garbhadhatu corresponds to the cause: Thai Tạng Giới tương ứng với nhân.  

Vajradhatu mandala: Quả Mạn Đà La—Kim Cang Mạn Đà La, đối lại với Thai Tạng Giới Mạn Đà La—In contrast with Garbhadhatu mandala (nhân mạn đà la). 

Vajradhatu-palace: Kim Cang Pháp Giới Cung—The palace or shrine of Vairocana in the Garbhadhatu—Cung điện của Thai Tạng Giới, nơi trụ của Đức Đại Nhật Như Lai (kim cương là thực tướng của Như Lai, pháp giới là trí thể của thực tướng. Pháp thân của Đức Đại Nhật Như Lai trụ ở trí thể của thực tướng). 

Vajra-Diamond-Prajna-Paramita Sutra: Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh—One of the most popular Buddhist sutras. The Vajra Sutra explains how the Bodhisattva relies on the perfection of wisdom to teach and transform beings—Một trong những kinh điển phổ thông nhất của Phật giáo. Kinh Kim Cang giải thích làm cách nào để một vị Bồ Tát có thể dựa theo trí tuệ ba la mật mà giáo hóa chúng sanh—See Prajnaparamita sutra.

Vajra-door: Kim Cang Môn—The diamond door of the Garbhadhatu mandala—Cổng Kim Cang trong Thai Tạng Mạn Đồ La. 

Vajra-Firm And Shedding Golden Light Everywhere Buddha: Phật Kim Quang.  

Vajra-fist: Kim Cang Quyền—Diamond-fist, with the hands doubled on the breast—Kim cang quyền (với hai bàn tay chắp lại trên ngực)—Nắm tay Kim Cang hay hai tay nắm lại và để ngay trước ngực (có bốn loại quyền: nắm tay thông thường, để ngón cái nằm thẳng, đặt ngón cái vào lòng bàn tay, nắm tay lại với nhau).

Vajra-fist Bodhisattva: Kim Cang Quyền Bồ Tát—One of the Bodhisattvas in the Diamond group—Một trong những vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang. 

Vajra for the good: Kim Cang thần khuyến thiện. 

Vajragarbha (skt): Kim Cang Tạng. 
1) The Diamond treasury: Kho Tạng Kim Cang. 
2) The Bodhisattva in the Lankavatara sutra: Vị Bồ Tát trong Kinh Lăng Già.

Vajragarbha-Bodhisattva: The Bodhisattva in the Lankavatara Sutra—Kim cang tạng Bồ Tát, vị Bồ Tát trong kinh Lăng Già—See Twenty five Bodhisattvas who protect all who call Amitabha. 

Vajra-ghanta (skt): Kim Cang Linh Bồ Tát—A Bodhisattva holding a bell in the Vajradhatu mandala—Vị Bồ Tát tay cầm chuông trong Kim Cang Mạn Đồ La.

Vajra god: Kim Cang thần. 

Vajra guardian spirit: Kim Cang Dạ Xoa. 
1) A Bodhisattva with the fangs: Vị Bồ Tát có răng nanh. 
2) The guardian spirits represented on the temple gates. One of the five kings of hells or messengers and manifestation of Vairocana. The fierce maharaja as an opponent of evil, he is one of the guardians of  Buddhism. He has either three faces and six arms, or one face and four arms. He is a fierce guardian of the north in the region of Amoghasiddhi in the Vajradhatu: Vị Thần Hộ Pháp thường được đặt ngay cổng của các chùa. Kim Cang Dạ Xoa hay Phẫn nộ Minh Vương, là một trong năm vị Minh Vương, người hộ trì Phật pháp, nhưng lại là kẻ thù của ma quỷ. Vị nầy có ba mặt sáu tay hay một mặt bốn tay, trụ tại phương Bắc, là vị Phẫn Nộ Tôn Bất Không Thành Tựu Như Lai ở phương Bắc trong ngũ trí Như Lai (ngũ Phật) của Kim Cang Giới.

Vajrahasa (skt): Đại Tiếu Minh Vương—The great laughing king (Ming-Wang). 

Vajra-heart: Diamond-heart—The heart of the Bodhisattva, i.e. infrangible, and unmoved by illusion—Tâm của Bồ Tát, cái tâm không lay chuyển được.  

Vajra-Indestructible Buddha: Phật Kim Cang Bất Hoại. 

Vajra-insight: Kim cang quán. 

Vajrajvala (skt): Phạt Xa La Phược La—Kim Cang Quang—The scintillation of the diamond—The lightning. 

Vajraketu Bodhisattva (skt): Kim Cang Phan Bồ Tát—The flag-bearer, one of the sixteen in the Vajradhatu group—Vị Bồ Tát cầm cờ, một trong 16 vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang Giới. 

Vajra-king: The Diamond-king, the strongest, or finest vajra, the strongest and finest bull (powerful bull)—Kim cang vương, Cái thù thắng (mạnh nhất và tốt nhất) của kim cang, một loại bò mạnh nhất và tốt nhất.  

Vajraksetra (skt): Kim Cang Sát—Buddhist monastery or building—Tên gọi các chùa hay tự viện. 

Vajrakumara (skt): A vajra messenger of the Buddhas or Bodhisattvas; also an incarnation of Amitabha in the form of a youth with fierce looks holding a vajra—Kim cang đồng tử, sứ giả của chư  Phật hay chư Bồ Tát; cũng là hiện thân của Đức A Di Đà dưới hình thức một đồng tử với vẻ dữ dằn tay cầm chùy kim cang. 

Vajramaharaja (skt): Đại Lực Kim Cang—The mighty “diamond” in the Garbhadhatu group, a fierce guardian and servant of Buddhism—Đại Lực Kim Cang trong nhóm “Pháp Giới,” một vị hộ pháp đắc lực. 

Vajramati (skt):  Pratyatmaryajnana (skt)—Tự Giác Thánh Trí—See Pratyatmaryajnana.

Vajra meditation: Kim Cang Định—See Vajrasamadhi. 

Vajra messenger: See Kim Cang Đồng Tử. 

Vajra-mother: Mamaki (skt): Ma Ma Kê—See Mamaki.  

Vajranana-dhara (p): Kim Cang Huệ—The Supreme Buddhahood. 

Vajranana-mudra (p): Huệ-Ấn Kim-Cang. 

Vajra-Nisprapan-caviharin (p): Chấp Kim Cang Trụ Vô hý luận. 

Vajrapani (skt): Vajradhara (skt)—Kim Cang Thần (Thủ Kim Cương Chử)—Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ—Any deva holder of the vajra—Protector of the Law—A Sanskrit term for “Vajra Hand,” Thunderbolt-handed, a Buddhist god who accompanies the Buddha and protects him all the time, one of the Dhyani-Bodhisattvas. He is a guardian of Buddhas, driving away all yaksa disturbers. According to Tibetan Buddhism, this is a wrathful tantric Buddha, classified as a “knowledge-holder.” He is often depicted wearing a tiger skin around his waist and with long hair. He generally has blue skin and either two or four arms. In the four-armed picture, we can see that two of his hands make a threatening mudra (gesture) implies overcoming obstacles, and the other two hold a vajra. Also according to Tibetan Buddhism, he is said to possess the power of all Buddhas to overcome obstacles. In some traditions, it is said that he will become the final Buddha of the present era—Phạn ngữ chỉ “Kim cang thủ,” vị cầm lưỡi tầm sét, một vị thần trong Phật giáo, người theo Đức Phật và hộ trì Ngài trong mọi lúc. Ngài là vị lực sĩ hộ trì Đức Phật, đánh đuổi tà ma khuấy rối. Theo Phật giáo Tây Tạng, Kim Cang Thủ là vị Phật có gương mặt giận dữ, được phân loại như là vị “trì giữ trí tuệ.” Người ta thường vẽ hình Ngài mang một tấm da cọp quanh thắt lưng, có tóc dài. Ngài thường có da xanh, có khi người ta vẽ hai tay, có khi người ta vẽ bốn tay. Trong hình Ngài có bốn tay, chúng ta thấy hai tay Ngài làm dấu ấn dọa ma (ý nói vượt qua những ma chướng), và hai tay khác  Ngài cầm kim cang. Cũng theo Phật giáo Tây Tạng, người ta nói Ngài có tất cả các lực của chư Phật để vượt qua mọi chướng ngại. Trong một vài truyền thống khác, người ta tin rằng Ngài là vị Phật cuối cùng trong hiền kiếp (kiếp hiện tại).  

Vajrapani-Bodhisattva (skt): especially Saman