THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 

 
 

 

Tự Ðiển Phật Học Việt Anh, Thiện Phúc.
Tự Ðiển Phật Học Anh Việt, Thiện Phúc.
Tự Điển Phật Học Phạn/Pali-Việt, Thiện Phúc.
Tự Điển Phật Học Thiện Phúc-Mục Lục &Phụ Lục.
Tự Ðiển Phật Học Việt Anh, Minh Thông
Tự Ðiển Phật Học Anh Việt, Minh Thông
Từ Ngữ Phật Học Việt Anh, Trần Nguyên Trung
Từ Ngữ Thiền Học Tiếng Việt, Thích Duy Lực
Tổ Đình Minh Đăng Quang 
PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH - VIETNAMESE  ANH VIỆT
Thiện Phúc
A
B
C
D
E
F
G
H
I
J
K
L
M
N
O
P
Q
R
S.
T
U
V
W
X
Y
 Z
S1.
S2.
S3.
S4.

S

 
Sabala (p): Strong (a)—Mạnh mẽ. 

Sabari (skt): Người đàn bà của những rặng núi—A Sanskrit term for “Woman of the Mountain Ranges.” Wrathful tantric deity who is particularly associated with healing. In Tibet, she is generally depicted wearing a skirt made of leaves and shows a wrathful expression on her face—Từ Bắc Phạn chỉ “Người đàn bà của những rặng núi.” Một vị thần Mật tông có vẻ mặt giận dữ, đặc biệt liên hệ tới sự cứu chữa. Ở Tây Tạng thì bà thường được họa mặc váy làm bằng những lá cây kết lại với nét phẫn nộ trên mặt.   

abba (p): Entire (a)—Toàn thể. 

Sabbada (p): Everyday (adv)—Mỗi ngày. 

Sabbaso (p): Altogether (adv)—In every respect—Toàn thể. 

Sabbato (p): From every side—In every respect—Từ mọi phía. 

Sabbatha (p): Everyway (adv)—Bằng mọi cách. 

Sabbattha (p): Everywhere (adv)—Khắp mọi nơi. 

Sabda (skt): Thanh—Âm thanh—Sound—Voice—Tone, one of the five physical senses or sensations—
Một trong ngũ căn—See Seventy-five dharmas of the Abhidharma Kosa.

Sabdavidya-sastra (skt): Thanh Minh Luận—A treatise on the words and meanings—Bộ luận về chữ và nghĩa. 

Sabha (p): An assembly—Hội chúng. 

Sabhaga (p): 
1) Being in the same division—Bỉ đồng phận.
2) Common—Chung. 

Sabhaga-hetu (skt): Đồng Loại Nhân—See Similar-species cause and Six chief causes in the Theory of Causal Relation.

Sabhaga-nimitta (p): Tư duy—See Contemplation.

Sabhagata (skt): Communionship—Đồng phần—See Seventy-five dharmas of the Abhidharma Kosa.

Sabhava (p): Nature—Bản chất. 

Sabrahmacari (p): A fellow monk—Tăng lữ.

Sacca (p): Tri kiến—Truth.

Saccanama (p): Người Ngay Thẳng và Chánh Trực—According to the Metta Sutta, Saccanam is a person who is straight. He is sincere, upright and dependable. He does not stray from the truth to win fame, or to please another. He may seem strict, but truth is one, for there is no second. The Buddha did not say one thing one day and the contrary the next. According to the Digha-Nikayatthakatha, the Buddha speaks as he acts and acts as he speaks, he is called Tathagata.” The Master is also known as Saccanama, he whose names is Truth—Theo Kinh Từ Bi, người ngay thẳng và chánh trực là người sống chân thật, liêm khiết và đáng tin cậy. Người ấy không vì danh, vì lợi hoặc vì muốn làm vui lòng người khác mà chối bỏ sự thật. Có thể người ấy bị xem là nghiêm khắc, nhưng sự thật chỉ có một chứ không có hai. Đức Phật chưa bao giờ tuyên bố một điều gì hôm nay, rồi ngày mai lại nói ngược lại. Theo Chú Giải Trung Bộ Kinh, Đức Phật nói như thế nào thì Ngài làm như thế ấy, và Ngài làm như thế nào thì Ngài nói như thế ấy, nên Ngài được gọi là Như Lai. Bậc Đạo Sư cũng được gọi là Saccanama hay người mệnh danh là chân lý.  

Sacca nana (p): Tri kiến về Tứ Đế—Knowledge of the Truth:
1) Anubodha-nana: Knowledge consisting in understanding.
2) Pativedha-nana: Knowledge consisting in penetration (realization).  

Saccani (p): Thánh đế—The sacred principles or dogmas, or those of the saints, or sages; especially the Four Noble Truths—Đế lý mà các bậc Thánh thấy được; đặc biệt là Tứ Thánh Đế (Thánh đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo, chân thực không hư vọng, không điên đảo)—See Four noble truths.

Saccavibhangacitta-sutta (p): Phân Biệt Thánh Đế Kinh—See Four noble truths. 

Sacchikatabba (p): Thấu triệt—Must be realized—Phải được chứng ngộ—Bằng nhãn quan tinh thần. 

Sacchikatam (p): Already realized—Đã được chứng ngộ. 

Sacerdotal  age: Age of monks and nuns—Age in the order—Monastic age—Precept Age—Hạ lạp—Tăng Lạp (tuổi đạo)—The precedence of monks and nuns in the Order is determined by the number of rain retreats they have attended—See Summer retreat.

Sacerdotalism (n): Chủ nghĩa xem trọng chức vụ trong giáo đoàn. 

Sacipati (skt): Xá Chi Bát Đê—Thiên Đế Thích—Sakra, king of the devaloka—Trời Đế Thích, vị chúa tể của cung trời Đao Lợi cùng họ với Phật Thích Ca. 

Sacrament of Baptism: Phép Rửa Tội—Externalists believe that the Sacrament of Baptism or Christianity case wash away all their sins. 

Sacred (a): Arya or Sadhu (skt)—Holy—Saintly—Thánh—Thuộc về thần thánh. 

Sacred assembly: Thánh Chúng—Tất cả các bậc Thánh—The holy multitude—All the saints—To all the saints, or the wise, what is to be ordinarily regarded as an error, that is, this world of particulars, appears neither perverted nor unperverted. In Buddhism, sacred assembly implies the Bodhisattva saints who have overcome illusion, from the first stage upwards. The special community established by the Buddha was called “The Assembly of the Noble” (Arya-sangha), intended to be the cradle of noble persons. Since the Brahmanical tradition had been firmly established, the race distinction was strictly felt. On that account the Buddha often asserted that in his own community there would be no distinction between Brahmans (priests) and warriors or between masters and slaves. Anyone who joined the Brotherhood would have an equal opportunity for leading and training. The Buddha often argued that the word Arya meant ‘noble’ and we ought not call a race noble or ignoble for there will be some ignoble persons among the so-called Aray and at the same time there will be some noble persons among the so-called Anarya. When we say noble or ignoble we should be speaking of an individual and not of a race as a whole. It is a question of knowledge or wisdom but not of birth or caste. Thus the object of the Buddha was to create a noble personage (arya-pudgala) in the sense of a noble life. The noble community (Arya-sangha) was founded for that very purpose. The noble ideal (Arya-dharma) and the noble discipline (Arya-vinaya) were set forth for the aspiring candidates. The path to be pursued by the noble aspirant is the Noble Eightfold Path (Arya-astangika-marga) and the truth to be believed by the noble is the Noble Fourfold Truth (Catvariarya-satyani). The perfections attained by the noble were the four noble fruitions (Arya-phala) and the wealth to be possessed by the noble was the noble sevenfold wealth (sapta-arya-dhana), all being spiritual qualifications. The careful application of the word Arya to each of the important points of his institution must not be overlooked by a student of Buddhism. The Buddha thus seemed to have endeavored to revive the original meaning of Arya in personality and the daily life of his religious community—Đối với Thánh chúng hay bậc trí, những gì thường phải được xem là một sự lầm lẫn, tức là cái thế giới của các đặc thù nầy, vẫn không biểu hiện là điên đảo hay phi điên đảo.  Trong đạo Phật, từ Thánh chúng được dùng để chỉ những vị Bồ Tát Thánh đã vượt thoát phiền não từ sơ địa trở lên. Đoàn thể do Đức Phật lập nên gọi là “Thánh Chúng” (Aryan sangha), đó là môi trường tu tập của những người cao quý. Vì truyền thống Bà La Môn đã được thiết lập kiên cố nên giai cấp bấy giờ đã được phân chia thật là rõ rệt. Bởi lẽ đó, Đức Phật luôn xác nhận rằng trong hàng Tăng chúng của Ngài không có phân biệt giữa Bà La Môn và Võ tướng, hay giữa chủ và tớ. Ai đã được nhìn nhận vào hàng Tăng chúng đều được quyền học tập như nhau. Đức Phật dạy rằng không thể gọi một giai cấp nào là cao quý hay không cao quý được bởi vì vẫn có những người đê tiện trong cái giai cấp gọi là cao quý và đồng thời cũng có những người cao quý trong giai cấp đê tiện. Khi chúng ta gọi cao quý hay đê tiện là chúng ta nói về một người nào đó chứ không thể cả toàn thể một giai cấp. Đây là vấn đề của tri thức hay trí tuệ chứ không phải là vấn đề sinh ra ở trong dòng họ hay giai cấp nào. Do đó, vấn đề của Đức Phật là tạo nên một người cao quý hay Thánh giả (Arya pudgala) trong ý nghĩa một cuộc sống cao quý. Thánh chúng đã được thiết lập theo nghĩa đó. Theo đó thì Thánh Pháp (Arya dharma) và Thánh luật (Arya vinaya) được hình thành để cho Thánh chúng tu tập. Con đường mà Thánh giả phải theo là con đường Bát Thánh Đạo (Arya-astangika-marga) và cái sự thật mà Thánh giả tin theo là Tứ Diệu Đế. Sự viên mãn mà Thánh giả phải đạt tới là Tứ Thánh quả (Arya-phala) và cái toàn bị mà Thánh giả phải có là Thất Thánh Giác Chi (sapta-arya-dharma). Đó là những đức tính tinh thần cả. Người học Phật không nên đánh mất ý nghĩa của từ ngữ “Thánh” nầy vốn được áp dụng cẩn thận vào mỗi điểm quan trọng trong giáo pháp của Đức Phật. Đức Phật, như vậy, đã cố gắng làm sống lại ý nghĩa nguyên thủy của chữ “Thánh” nơi cá tính con người trong cuọäc sống thường nhật. **See Four kinds of holy men. 

Sacred body: Linh thể.

Sacred books: Thánh thư.

Sacred books of a religion: Giáo điển. 

Sacred image: Tượng Thánh. 

Sacred canon: Holy canon—Holy scriptures—Thánh Điển. 
1) The holy canon, or holy classics: Điển tịch của Thánh nhân.
2) The Tripitaka: Thánh điển Phật Giáo hay Tam tạng Kinh Điển. 

Sacred dogma: Thánh Đế—See Saccani.

Sacred formulae: True words—Words of Truth—Words of Tathagata—Buddha-truth—Buddha mantra—Dharani—Spells—Esoteric words—Chân ngôn.

Sacred graces: See Seven sacred graces. 

Sacred image: Thánh Tượng—See Sacred statue. 

Sacred history: Thánh sử. 

Sacred land: Holy land—Thánh địa. 

Sacred lion: Con đế thính—Sư tử thiêng. 

Sacred principles: Holy principles—Thánh Đế—See Saccani.

Sacred Scriptures: Holy canon—Sacred canon—Thánh Điển. 
1) The sacred canon, or holy classics: Điển tịch của Thánh nhân.
2) The Tripitaka: Thánh điển Phật Giáo hay Tam tạng Kinh Điển. 

Sacred speech: Aryabhasa (skt)—Holy speech—Thánh Ngữ—Sacred language, words, or sayings—Thánh ngôn hay những lời nói của các bậc Thánh.

Sacred statue: Thánh tượng.
1) According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, none of the earlier sculptures of sanchi and Barhut represent the Buddha in human figure. It is remarkable to us that the principle events of the Buddha’s life have been fully given in sculture without a figure of the hero. How was that possible? The Buddha at birth is represented by a full blooming lotus; the Buddha in Enlightenment by the Bodhi tree with a rail around it; the Buddha in his first preaching by a wheel, above which a tri-ratna mark is sometimes added; the Buddha in his begging round, or mendicancy, by a bowl; and the like. If suggestion be a means of true art, the early Buddhist artists understood it perfectly and utilized the idea skilfully for practical purposes: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, tất cả những điêu khắc đầu tiên tại Sanci và Barhut không trình bày Phật trong diện mạo con người. Điều đáng lưu ý chúng ta là, những biến cố chính trong đời sống của Đức Phật đã được đưa ra đầy đủ trong điêu khắc mà không mang diện mạo một anh hùng. Làm sao có thể được? Phật khi giáng sinh được tượng trưng bằng đóa hoa sen nở trọn; khi thành đạo tượng trưng bằng cây Bồ Đề có tường rào chung quanh; lúc Ngài thuyết pháp đầu tiên (chuyển Pháp Luân)  tượng trưng bằng một bánh xe trên đó đôi khi có thêm dấu hiệu Tam Bảo (Tri-ratna); lúc khất thực tượng trưng bằng một cái bình bát, vân vân. Nếu sự gợi hứng là một phương tiện của nghệ thuật đích thực, các nghệ sĩ Phật tử đầu tiên đã hiểu điều đó khá trọn vẹn và đã dùng ý niệm đó một cách khéo léo cho những mục đích thực tiễn.   
2) However, all this does not necessarily mean that the elders did not represent the Buddha at all during his lifetime, for there is a legend which tells of their making an image for the purpose of offering veneration during the Buddha’s absence. They were formalistic and realistic, and so if the Buddha was actually before them, they had a right to depict him in painting or sculpture. Now that he had passed into Nirvana, however, it was improper to represent the one who no longer really lived. It was after a considerable development of the Gandhara art that the southern school of Buddhism began to have images of Buddha. This was believed at about the same time when the Buddha’s teachings were committed to writing, i.e., 80 B.C.: Tuy nhiên, tất cả những điều nầy không nhất thiết có nghĩa rằng các trưởng lão đã tuyệt nhiên  không trình bày Đức Phật suốt thời gian Ngài còn tại thế, vì có truyện kể về việc họ đã tạo một bức tượng để cúng dường trong suốt thời gian Ngài vắng mặt. Họ là những người chủ trương hình thức và duy thực, và như thế nếu Phật đang ở ngay trước mặt, họ có quyền miêu tả Ngài bằng hội họa hay điêu khắc. Nhưng bây giờ Ngài đã đi vào Niết Bàn, mà trình bày một người không còn hiện hữu trong thực tại nữa, đó là điều bất xác. Chính do sau nầy, một phát triển khả quan của các nền nghệ thuật Gandhara mà Nam phương Phật giáo bắt đầu có những tượng Phật. Việc nầy có thể xãy ra cùng lúc với việc ghi chép các giáo thuyết của Phật thành văn tự, tức khoảng năm 80 trước Tây Lịch.  
3) The elders of idealistic and free-thinking tendencies, whom we might regard as the forerunners of the Mahayana, would not hold any meetings for the rehearsal of the Buddha’s sermons, nor would they enlarge  upon their Vinaya rules beyond what was laid down by the Buddha himself. They would commit those sacred words to memory or to writing as they pleased. They did not hesitate in using their talents in painting or sculpture to depict the Buddha’s image according to their own ideal of beauty and perfection, as they did in the Gandhara art: Các trưởng lão có khuynh hướng duy tâm và tự do tư tưởng, mà chúng ta có thể coi như là những nhà tiên phong của Đại Thừa, hình như không có cuộc hội họp để đọc lại các bài pháp của Phật, cũng không mở rộng các luật nghi của họ vượt ngoài những gì Phật đã thiết định. Họ thường ghi lại những Thánh ngôn bằng ký ức hay bằng văn tự tùy theo sở thích. Họ không ngần ngại xử dụng các tài năng của mình trong hội họa hay điêu khắc để miêu tả hình ảnh Phật theo lý tưởng riêng của mình về cái đẹp và cái toàn như họ đã làm ở nghệ thuật Gandhara. 
4) The trend of the free-thinking mind can also be seen in the metaphysical treatises of the Optionalists (Vaibhasikas), in which several  opinions about dharmas or higher dharmas (abhidharmas) are gathered together and some optional ones have been  selected and recommended for study. Though the Vaishasika School belonged to the Hinayana, it already betrayed a tendency toward the free-thinking school. Such free-thinking people would be bold in exegesis, erudition, annotation, or in forming and expressing opinion. This, however, does not mean that they departed from the original teachings of the Buddha: Ngành tự do tư tưởng cũng có thể được thấy trong các luận giải siêu hình của các nhà Phân Biệt Thuyết (Vaibhasika) hay Tý Bà Sa, trong đó nhiều quan niệm về pháp (dharma) hay thắng pháp (abhidharma) được sưu tập và một số quan niệm tự do đã được tuyển và được khuyến cáo học tập. Mặc dù phái Tỳ Bà Sa thuộc hệ Tiểu Thừa, nhưng đã mở ra một khuynh hướng nhắm tới trường phái tự do tư tưởng. Hạng người tự do tư tưởng như thế cố nhiên can đảm trong việc thích nghĩa, bác học, chú giải, hay hình thành và diễn tả bất cứ quan niệm nào. Tuy nhiên, điều nầy không có nghĩa rằng  họ đi xa ngoài các giáo pháp nguyên thủy của Phật.  

Sacred stupa: Linh tháp—There are eight Great Spiritual or Sacred Stupas of Buddhism—Có tám ngôi tháp thiêng lớn của Phật giáo—See Eight great spiritual or sacred stupas. 

Sacredness (n): Sự thiêng liêng. 

Sacrifice (n): Sự hy sinh—Vật cúng tế—Vật tế thần—Killing—Immolation. 

Sacrifice (v): Hy sinh.

Sacrifice to ghosts or spirits: Tế lễ quỷ thần. 

Sacrifice one’s life: Xả Thân—Bodily sacrifice, e.g. by burning or cutting off a limb, etc.—Hoặc như báo ân mà đốt cánh tay, đốt thân thể, hoặc vì bố thí mà cắt thịt xả thân. 

Sacrifice one’s life to uphold righteousness: Hy sinh cả thân mạng để giữ gìn nghĩa cả (xả thân thủ nghĩa). 

Sacrificial grain-vessel: Hô Liên—Described as made from a precious stone—Bình đựng hạt để tế lễ, bình được làm bằng một loại đá quý. 

Sacrilege: Xúc phạm Thánh vật—Such as destroying temples, burning sutras or images of Buddhas, stealing a Buddha’s or monk’s things, inducing others to do so, or taking pleasure therein—Phá hại chùa tháp, thiêu hủy kinh tượng, lấy vật của Phật hay chư Tăng, hoặc khuyến khích người làm, hoặc thấy người làm mà sanh tâm hoan hỷ—See Five betrayals (III).

Sad (a): Buồn. 

Sada (p): Eternal (a)—Vĩnh hằng. 

Sadana (p): A house—Căn nhà. 

Sadaparibhuta (skt): Thường Bất Khinh Bồ Tát—See Never-Despite Bodhisattva.

Sadapralapa (skt): Tát Đà Ba Luân—Thường Đề Phật.
1) Ever chattering or bewailing, name of a Bodhisattva, some say who wept while searching for truth: Tên của một vị Bồ Tát mà người ta nói rằng đã khóc suốt trong thời gian tìm cầu chơn lý.  
2) Ever-wailing Buddha, name of the final Buddha of the present kalpa: Thường Đề Phật: Tên của vị Phật cuối cùng trong Hiền Kiếp. 

Sadara (p): Troublesome (a)—Gây rắc rối. 

Sadasat (skt): Hữu Vô—Being and non-being.  

Sadattha (p): One’s own welfare—Lợi ích của chính mình. 

Sadayatana (skt): Lục nhập—Six entrances—Six external objects—Six faculties—Six sense organs—The fifth in the twelve links of dependent origination—Mắc xích thứ năm trong 12 mắc xích nhân duyên (sáu cơ sở của nhận thức và đối tượng của nó)—See Twelve conditions of cause and effect.

Sadayatana mind: The immediate influence of the six senses—Khởi sự tâm—See Three minds (B). 

Sadda (p): Noise—Tiếng động. 

Saddahana (p): One who believes—Người tin tưởng. 

Saddahati (p): To believe—Tin tưởng. 

Saddavidu (p): One who knows the meaning of various sounds—Người biết ý nghĩa của nhiều loại âm 
thanh. 

Saddayati (p): To make a noise—Làm ra tiếng động. 

Saddha (skt) Saddha (p): Niềm tin—Faith—Confidence—Buddhism faith is not the acceptance of doctrinal beliefs, but confidence in the Buddha as a Teacher  and his Teaching as a way to Enlightenment. Faith should be reasoned and rooted in understanding. There is no reliance on the authority of another’s spiritual powers. Through wisdom and understanding, faith becomes an inner certainty and firm conviction based on one’s own experience. The inner attitude of faith and devotion toward the Buddha and his teaching.  Shraddha is the basis of the first two elements of the eightfold noble path which are right views and right thought. However, belief or faith in Buddhism is totally different from that of a pure faith from some other religions—Trong đạo Phật, niềm tin không phải là sự chấp nhận tín ngưỡng giáo pháp, mà là tin tưởng nơi Đức Phật như một vị Thầy và giáo pháp của Ngài như là con đường dẫn tới sự giác ngộ. Niềm tin phải được lý luận bằng sự hiểu biết. Không có sự ỷ lại vào quyền lực linh thiêng nào cả. Qua trí tuệ và sự hiểu biết niềm tin trở thành sự khẳng quyết từ bên trong nội tâm và là sự xác đoán chắc chắn qua kinh nghiệm của chính mình. Thái độ bên trong thể hiện niềm tin và sự sùng kính đối với Phật và học thuyết của Ngài, bắt đầu là hai bước đầu trong Bát chánh đạo là chánh kiến và chánh tư duy. Tuy nhiên, niềm tin Phật giáo khác hẳn niềm tin của những tôn giáo thần quyền khác—See Fifty-two mental states.

Saddhanusarin (skt): Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Saddharma (skt): The correct doctrine of the Buddha—Chánh Pháp—See Correct dharma. 

Saddharma-pratirupaka (skt): Tượng Pháp—The period of semblance Dharma—Dharma Semblance Age—The Semblance of Law period, or the formal period of Buddhism which lasted 1000 years after the real period. In this period, Monks, Nuns and Lay Buddhists still continue to practice properly the Dharma as the Buddha taught and are still able to penetrate the spiritual realm of samadhi even though fewer will attain enlightenment. However, in this age, the Buddha’s Dharma and precepts left behind are destroyed by Evil-monks and Non-Buddhists who disguise themselves as Buddhist monks and nuns to destroy the teaching by falsely explaining and teaching the Buddha Dharma. Thus, the Dharma still exists and there are still cultivators, but very few attain enlightenment.  Only seven or eight out of one hundred cultivators will attain enlightenment. According to the Mahamaya Sutra, about eight hundred years after the Buddha’s Maha-Nirvana, the majority of ordained Buddhists will be greedy for fame and fortune, will be lazy and not control their minds and consciences, lacking of self-mastery. About nine hundred years after the Buddha’s Maha-Nirvana, in the order of Bhikshus and Bhikshunis, the majority will be servants who abandon the secular life to become ordained Buddhists. One thousand years after the Buddha’s Maha-Nirvana, when Bhikshus hear of the practice of ‘Envisioning Impurity,’ and the dharma of ‘Breathing Meditation,’ they will get depressed and disenchanted having little desire to cultivate.  Therefore, in one hundred thousand cultivators, only few will penetrate the proper Meditation State. From that time, gradually those of religious ranks will destroy the precepts, whether by drinking alcohol, killing, selling possessions and belongings of the Triple Jewels, or practicing impure conducts. If they have a son, they will let him become a Bhikshu, and if they have a daughter they will let her become a Bhikshuni, so they can continue to steal from and destroy Buddhism as well as using the good name of the Triple Jewels to reap self-benefits. These are signs of warning that the Buddha Dharma is nearing extinction. However, there are still some people who know how to uphold the proper precepts and conducts by diligently trying to maintain and propagate the proper doctrine—Thời Tượng Pháp kéo dài 1000 năm sau thời Chánh Pháp. Trong thời kỳ nầy, chư Tăng Ni và Phật tử vẫn tiếp tục tu tập đúng theo chánh pháp mà Đức Phật đã dạy, và vẫn có thể vào định giới mặc dù rất ít người giác ngộ. Tuy nhiên, trong thời gian nầy, pháp nghi giới luật của Phật để lại bị các ma Tăng và ngoại đạo giảng giải sai lầm một cách cố ý. Tuy có giáo lý, có người hành trì, song rất ít có người chứng đạo. Một trăm người tu thì có chừng bảy tám người giác ngộ. Theo Kinh Ma Ha Ma Gia, vào khoảng tám trăm năm sau ngày Đức Phật nhập diệt, hàng xuất gia phần nhiều tham trước danh lợi, giải đãi, buông lung tâm tánh. Đến khoảng chín trăm năm sau ngày Phật nhập diệt, trong giới Tăng Ni, phần nhiều là hạng nô tỳ bỏ tục xuất gia. Một ngàn năm sau khi Phật nhập diệt, các Tỳ Kheo nghe nói ‘Bất Tịnh Quán’ hay phép quán thân thể mình và chúng sanh đều không sạch, pháp “Sổ Tức Quán’ hay pháp quán bằng cách đếm hơi thở, buồn chán không thích tu tập. Vì thế, trong trăm ngàn người tu chỉ có một ít người được vào trong chánh định. Từ đó về sau lần lần hàng xuất gia  hủy phá giới luật, hoặc uống rượu, hoặc sát sanh, hoặc đem bán đồ vật của ngôi Tam Bảo, hoặc làm hạnh bất tịnh. Nếu họ có con trai thì cho làm Tăng, con gái thì cho làm Ni, để tiếp tục mượn danh của Tam Bảo mà ăn xài phung phí và thủ lợi cho riêng mình. Đây là những dấu hiệu báo trước về thời kỳ Mạt Pháp. Tuy vậy, vẫn còn một ít người biết giữ giới hạnh, gắng lo duy trì và hoằng dương chánh giáo. 

Saddharma-pundarika-samadhi (skt): Pháp Hoa Tam Muội—The contemplation of the Lotus, the samadhi which sees  into the three dogmas—Pháp nhất thực của lý tam đế viên dung, ví như một bông sen (thâu hết các phép mà quy về thực tướng).
1) The dogma of unreality or the noumenal: Không Đế—Lý “Không tướng”.
2) The dogma of dependent reality or phenomenal: Giả Đế—Lý “Giả tướng”.
3) The dogma of transcendence or the absolute which unites both noumenal and phenomenal: Trung Đế—Lý “Thực tướng”.
** See Three prongs of “Sunyata-Reality-Middle”.

Saddharma Pundarika Sutra: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh—The Lotus Sutra—The wonderful law of truth.
(A) One of the most widely popular of Indian Buddhist Mahayana texts, which was particularly important in East Asia. It contains a discourse delivered by Sakyamuni Buddha on Vulture Peak (Grdhrakuta) to a huge audience. A central focus is the notion that the many doctrines and practices taught by the Buddha are all really part of a single path (ekayana), which embraces both Hinayana and Mahayana Paths. It further states that when the Buddha teaches different doctrines to many different audiences, he is not being deceptive; rather, this is a skillful method (upaya-kausalya) that adapts the basic message to the proclivities (tendencies) and individual needs of each person and group.  In reality, although the Buddha teaches the three vehicles (triyana) of the Sravakas, Pratyeka-buddhas, and Bodhisattvas, in the end, all are contained within the “buddha-vehicle” (buddhayana), and all lead sentient beings to awakening (Bodhi). This idea is emphasized by the “parable of the burning house,” in which a father, seeing that his three young sons are playing inside a burning house and are too distracted to notice the danger, lures them out by promising each the sort of cart he most desires. When they come out, they are all given only one type of cart. This is said to be skillful rather than deceitful since the subterfuge is used to save their lives. The sutra became the doctrinal basis of the Chinese T’ien T’ai tradition and Japanese schools that trace themselves back to Nichiren—Một trong những kinh điển Đại Thừa phổ thông nhất của Phật giáo Ấn Độ, đặc biệt quan trọng trong vùng Đông Á. Nó chứa đựng bài pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trên núi Linh Thứu cho một số thính giả khổng lồ. Điểm tập trung chủ yếu của kinh là khái niệm về giáo lý và thực hành đã được Đức Phật giảng dạy tất cả thật sự là một phần của một con đường duy nhất (nhất thừa), ôm trọn cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa. Kinh ấy còn nói thêm rằng khi Đức Phật giảng dạy những giáo pháp khác nhau cho nhiều thính chúng khác nhau, không phải ngài dối gạt ai, kỳ thật đây chỉ là phương tiện thiện xảo điều chỉnh bức thông điệp căn bản đến nhiều khuynh hướng và nhu cầu cá nhân khác nhau cho từng người hay từng nhóm. Trên thực tế, mặc dù Đức Phật dạy có ba thừa Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, cuối cùng chỉ gom lại trong Phật thừa, và tất cả đều đưa chúng sanh đền chỗ giác ngộ Bồ Đề. Tư tưởng này được nhấn mạnh bằng “thí dụ ngôi nhà lửa,” trong đó người cha, thấy rằng ba đứa con nhỏ của mình không đếm xỉa gì đến sự hiểm nguy nên dụ dỗ đem họ ra bằng cách hứa cho mỗi người một cỗ xe mà họ thích. Khi họ ra ngoài rồi thì người cha ấy chỉ cho họ một loại xe mà thôi. Điều này phải được nói là thiện xảo chứ không phải là dối gạt, vì luận cứ như vậy được Đức Phật dùng để cứu cuộc đời của họ. Kinh trở thành giáo thuyết căn bản của trường phái Thiên Thai Trung Quốc và các trường phái ở Nhật có nguồn gốc từ ngài Nhật Liên.
(B) Literally, the Lotus of the True Law. This scripture has a great vogue in China, Vietnam and Japan, especially in the T’ien-T’ai and Nichiren sects. It was first translated into Chinese as far back as about 250 A.D. A later translation by Kumarajiva is used all over China, Vietnam and Japan. The Lotus Sutra teaches that the truth can be indicated by means other than words, such as gestures and exclamations and even, by silences—Bản kinh này rất thịnh hành ở các xứ Trung Hoa, Việt Nam và Nhật Bản, đặc biệt là các tông phái Thiên Thai và Nhật Liên. Kinh được dịch sang Hoa ngữ lần đầu tiên vào khoảng năm 250 sau Tây lịch. Bản dịch sau này (cựu dịch) của Cưu Ma La Thập được dùng khắp nơi trong các xứ Trung Hoa, Việt Nam và Nhật Bản. Kinh Pháp Hoa dạy chơn lý có thể được chỉ dạy bằng những phương cách khác ngoài văn tự ngôn ngữ như cử chỉ hay ngay cả bằng sự im lặng.  

Saddharma-vipralopa (skt): Mạt pháp—The age of annihilation of the right dharma. 

Sad-dhatavah (skt): Lục Đại—See Six great elements.

Saddho (p): Religious devotion—Đạo tâm nhiệt thành.

Sadhana (skt): Thành tựu—A Sanskrit term for “accomplishment.” According to Tantric rituals “sadhanas” are central to Vajrayana Buddhism in Tibet. A “Sadhana” is a ritual cycle which is meant to be performed by initiates. In order to begin the practice of a “sadhana,” a ritual empowerment by a qualified preceptor is considered necessary. A typical “sadhana” begins with recitation of a refuge prayer, followed by verses aimed at generation of Bodhicitta, and then, it continues with visualization of the focal deities specific to the ritual cycle. There is generally a central buddha and the “sadhana” commonly also includes a retinue. Ideally, the visualization should be combined with meditation on emptiness (sunyata), which allows the practitioner to generate the visualizations from the wisdom – consciousness – realizing – emptiness, simultaneously perceiving both the deity and himself as being empty of inherent existence. The core of the ritual involves imagining that the deity merges with the meditator and that the two become inseparable, hence, the meditator is manifesting all the qualities of a buddha. After the visualization the images are dissolved into emptiness, and at the conclusion of the “sadhana”, there is a prayer dedicating the merit of the practice to the enlightenment of all sentient beings. The practice of “sadhana” has important sociological dimensions in Tibet, for this is one of the primary religious practices and the identification of different orders is largely determined by the “sadhanas” performed by them—Từ Bắc Phạn để chỉ “sự thành tựu.” Theo nghi thức Mật giáo, sadhana là chủ yếu trong Phật giáo Kim Cang Thừa ở Tây Tạng. “Sadhana” là vòng nghi lễ có nghĩa là thực hành bằng cách khởi đầu. Để bắt đầu thực tập “sadhana” nghi thức cho phép bởi một vị đạo sư đủ phẩm chất được xem như cần thiết. Lễ “Sadhana” tiêu biểu bắt đầu lễ tụng kinh cầu nguyện quy-y, theo sau là những lời kệ hướng về phát Bồ Đề Tâm, rồi tiếp tục với quán tưởng với các vị tiêu điểm thần đặc biệt cho vòng nghi thức này. Thường là có một vị Phật trung tâm, và sadhana cũng thường bao gồm các quyến thuộc của vị Phật ấy. Lý tưởng là sự quán tưởng nên được phối hợp với thiền định về tánh không, cho phép hành giả phát ra quán tưởng từ trí tuệ mà thức chứng nghiệm được từ không tánh, đồng thời nhận thức cả vị tiêu điểm thần và mình đều không thật sự hiện hữu. Cốt lõi của nghi thức này liên hệ đến việc quán tưởng rằng vị tiêu điểm thần hòa nhập vào hành giả và cả hai trở nên không tách rời được, lúc ấy hành giả hiển hiện tất cả những phẩm chất cao đẹp của một vị Phật. Sau khi quán tưởng thì những hình ảnh tan biến trong hư không, và vào cuối lễ “Sadhana” có buổi cầu nguyện hồi hướng công đức tu tập này đến tất cả chúng sanh. Sự tu tập “Sadhana” có những tầm cỡ xã hội quan trọng ở Tây Tạng vì đây là một trong những pháp tu tập tôn giáo quan trọng chính yếu và người ta nhận ra các giáo phái khác nhau bằng cách xem coi họ tu tập “Sadhana” như thế nào.

Sadharana (skt): Cộng Bất Định—Both indetermined, i.e. one of the six indeterminates in Logic, when a thesis and its contradiction are both supported by equally valid reasons, “that sound is not eternal, because it is a product, that it is eternal, because it is audible.” —Một trong sáu điều bất định trong Lý Luận (Lục Bất Định), tức là sai lầm về pháp có quan hệ toàn phần. Nói rằng “thanh” là không trường cửu, vì thanh là một sản phẩm; rằng “thanh” là thường hằng vì thanh đồng phẩm với hư không. Thanh vừa thường lại vừa vô thường tạo nên “bất định.”

Sadhu (skt): Sa Độ—Thiện lành—Good—Virtuous—Perfect—A sage—A saint. 

Sadhu! Sadhu!: Lành thay! Lành thay!—Good Indeed! Good Indeed!

Sadhumati (skt): Ground of good wisdom—Land of good thoughts—Thiện Tuệ Địa—See Ten grounds (II). 

Sadisa (p): Equal (a)—Bằng nhau. 

Sadness (n): Mournfulness—Ai thán (sự buồn thảm). 

Sadness and joy: Buồn vui. 

Sadvahana (skt): Satavahana  (skt)—Sa Đa Bà Na—Name of a royal patron of Nagarjuna—Tên của một vị thí chủ hoàng tộc của ngài Long Thọ. 

Saecular (a): See Secular. 

Safe and sound: Bình an vô sự. 

Safeguard (v): Bảo hộ—To protect—To safeguard one’s exclusive possessions—Bảo vệ tài sản đặc biệt của mình.

Saga (jap): Vùng Ta Nga (Nhật Bản). 

Sagabbha (p): Pregnant (a)—Có bầu (có thai). 

Sagalavada Sutra (skt):  Kinh Thi Ca La Việt—See Sigalaka.

Sagara (skt): Hàm hải. 
1) Sa Kiệt La—Ocean—Ocean of nagas—Biển (hàm hải)—According to the Lotus sutra, the Naga king of the ocean palace, north of Mount Meru, possessed of priceless pearls; the dragon-king of rain; his eight-year-old daughter instantly attained Buddhahood—Theo Kinh Pháp Hoa, đây là biển nơi có cung điện của vua rồng, ở về phương bắc núi Tu Di, nơi có nhiều ngọc quý, có long vương vũ; nơi đây nàng Long Nữ (con của Long Vương) mới tám tuổi đã thành Phật. 
2) Sa cắt Long vương—See Twenty devas. 

Sagarava (p): Respectful (a)—Tôn kính. 

Sagara-varadhara-buddhi-vikridita-bhidjna (skt): Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương—According to the Lotus Sutra (in Anavanamita-vaijayanta), during the kalpa Manojna-sabdabhigarjita, this is the name under which Anada is to reappear as Buddha—Sơn Hải Như Lai—Theo Kinh Pháp Hoa, sau nầy A Nan Đà sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải Như Lai. 

Sage (a): Khôn ngoan. 

Sages (n): Các bậc Hiền Thánh. 
1) Both Hsien (hiền) and Shêng (Thánh) are those who are noted for goodness, and those who are also noted for wisdom, or insight—Hiền và Thánh là những bậc thiện lành trí tuệ. 
a) The “Hsien” are still of the ordinary human standard. They are still in the moral plane and have not eliminated illusion, have not attained the upward attainments, have not yet have insight into absolute reality: Hiền là bậc còn trong hàng phàm phu, chưa đoạn hoặc, chưa chứng lý, cũng như chưa kiến đạo. 
b) The “Shêng” are no longer of ordinary human standard because they transcend in wisdom character and cut off illusion and have insight into absolute reality. They have attained the upward attainments: Thánh là các bậc không còn ở địa vị phàm phu nữa, mà các ngài đã vượt qua mọi phiền não (đoạn hoặc), phát vô lậu trí, và chứng toàn lý. Các ngài đã đạt được trên địa vị thấy đạo. 
2) Muni (skt): Mâu Ni—Bậc thông thái. 

Sages have testified to Buddhism: Bậc Hiền triết thuyết hay tiên nhân thuyết—See Five kinds of people who have testified to Buddhism (A).

Sage-truth: Supreme truth—The reality, in contrast with the seeming; also called Veritable truth, surpassing truth, nirvana; bhutatathata, madhya, sunyata etc.—Đệ nhất nghĩa đế.

Sage-Virtue-Top Buddha: Hiền Thượng Thủ Phật. 

Sagely Way: Thánh Đạo. 

Sagga (p): 
1) Heaven: Cảnh trời—Deva—Heavenly beings.
2) Place of happiness: Hỷ Lạc địa—See Ten grounds (B)(1).  

Saggakaya (p): The heavenly assembly—Thiên chúng. 

Saggaloka (p): The heavenly region—Thiên giới. 

Saggamagga (p): The way to heaven—Đường lên trời (cõi của chư Thiên). 

Sagguna (p): Good quality—Phẩm chất tốt. 

Sagotta (p): Of the same lineage (a kinsman)—Cùng dòng họ. 

Saha (skt): Sa Bà—Thế Giới Ta Bà—Saha World—Universal Monarch—That which bears, the earth, interpreted as bearing, enduring; the place of good and evil; a universe, or great chiliocosm, where all are subject to transmigration and which a Buddha transforms; it is divided into three regions and Mahabrahma Sahampati is its lord. World of endurance refers to our world which is filled with sufferings and affections, yet gladly enjoyed and endured by its inhabitants—Còn gọi là Sa Ha Lâu Đà, hay Sách Ha, nghĩa là chịu đựng hay nhẫn độ; nơi có đầy đủ thiện ác, cũng là nơi mà chúng sanh luôn chịu cảnh luân hồi sanh tử, được chia làm tam giới. Thế giới Ta Bà, thế giới chịu đựng để chỉ thế giới của chúng ta, nơi có đầy những khổ đau phiền não; tuy thế chúng sanh trong đó vẫn hân hoan hưởng thụ và chịu đựng. 

Sahabhuhetu (skt): Simultaneous causes—Câu Hữu Nhân—Mutual causation, one of the six causes. Sahabhu-hetus or  the co-operative causes produce simultaneous effect, as the four elements in nature, not one of which can be omitted (the simultaneous causal interaction of a number of things, e.g. earth, water, fire, and air)—Một trong lục nhân. Câu hữu nhân sanh ra quả đồng thời, có nghĩa là tứ đại đều là nhân câu hữu với nhau, không có cái gì bị loại bỏ (tứ đại cùng thay phiên nhau làm nhân duyên)—See Co-existent cause and Six chief causes in the Theory of Causal Relation.  

Sahadeva (skt): Ta ha đề bà (một vị quan dưới thời vua Tịnh Phạn).

Sahagata (p): Đi kèm với—Phối hợp với.

Sahaja (tib): Bẩm sinh—A Tibetan term for “Innate.” This is an Indian tantric movement whose main exponents (sự giải thích) were iconoclastic (bài trừ hay đập phá Thánh tượng) lay adepts (siddha) who functioned outside the monastic establishment, and whose lifestyles and practices challenged it. Although the movement claimed great antiquity for the tradition, its literature indicates that it was in fact a relatively late phenomenon, which probably originated some time between the eighth and tenth centuries. Many of its central texts were written in Apabhramsa, for example the Dokakosa, or in other northern Indian languages, such as Bengali. The emphasis of Sahaja on spontaneous understanding and manifestation of awakening, which is said to be innate (sahaja) in all beings. The structures and rules of the monastic life are thought to be hindrances, rather than aids, to meditative progress—Từ ngữ Tây Tạng có nghĩa là “bẩm sinh.” Đây là một phong trào Mật giáo Ấn Độ với những luận điểm chính là những Phật tử tại gia sống và hoạt động bên ngoài khuôn khổ các tự viện phát khởi thách thức trong chuyện bài trừ hay đập phá Thánh tượng. Mặc dù phong trào tự cho rằng truyền thống của mình đã có từ xa xưa, nhưng giáo điển của họ cho thấy thật sự đây là hiện tượng mới nảy sanh ra về sau này mà thôi, có lẽ phát sanh vào giữa những thế kỷ từ thứ tám đến thứ mười. Nhiều giáo điển chính được viết bằng tiếng Apabhramsa, thí dụ như tiếng Dokakosa, hay những ngôn ngữ khác của vùng Bắc Ấn, chẳng hạn như ngôn ngữ Bengali. Sự nhấn mạnh của phong trào “Sahaja” về cái hiểu đồng thời với sự hiển hiện của sự giác ngộ Bồ Đề là bẩm sanh trong mọi loài. Cấu trúc luật lệ và đời sống tự viện được coi như là những chướng ngại hơn là trợ giúp trong việc tiến tu thiền định.  

Sahajayana (skt): Câu Sinh Khởi Thừa.  
(I) An overview of Sahajayana: Tổng quan về Câu Sinh Khởi Thừa—Sahajayana is closely related to Mantrayana. These two yanas have had the greatest influence on Tibetan Buddhism. According to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, there is sufficient evidence to show that it is also the basis of Zen Buddhism. Their influence has been all the more marked, because they refer to the whole of human nature. Man is not only an intellectual being, but also an emotional one, and it is well known that the emotive meaning of anything whatsoever is of greater importance for shaping the life of an individual than the mere intellectual connotation. Thus, while all the brilliant systems of Buddhist thought, the systematized works of the Madhyamikas, Vijnanavadins, Vaibhasikas, Sautrantikas, and so on, are more or less of academic interest only, Mantrayana and Sahajayana have remained a living force to this day. The living Buddhism of Tibet, the Himalayan countries, China, and Japan has been deeply influenced by the practices of Mantrayana and Sahajayana, and cannot be conceived without them. The very fact that what Sahajayana teaches is no intellectual system but a strict discipline that has to be practiced in order to be known makes it difficult to comprehend and to define. Moreover, Sahajayana emphasizes the intuitive approach to Reality, and it is a fact that the function of intuition is not the same as that of the intellect and that their modes of operation are completely different. This accounts for the fact that Sahajayana and Mantrayana successfully evaded the fate of turning into dead systems: Câu Sinh Khởi Thừa liên hệ mật thiết với Chân Ngôn Thừa. Hai thừa này đã có ảnh hưởng rất lớn trên Phật Giáo Tây Tạng. Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, thì chúng ta có đủ bằng chứng để chứng minh rằng đó cũng là nền tảng của Phật giáo Thiền tông. Ảnh hưởng này rất dễ thấy vì nó liên quan đến toàn bộ bản chất con người. Con người không phải chỉ là một thực thể trí huệ mà còn là một thực thể tình cảm nữa, và chúng ta biết rõ rằng trong bất cứ việc gì, ý nghĩa tình cảm luôn có một tầm quan trọng lớn hơn ý nghĩa trí tuệ thuần túy. Do đó, trong khi tất cả các hệ tư tưởng Phật giáo nổi bật, các tác phẩm được hệ thống hóa của Trung Quán tông, Duy Thức tông, Hậu Hữu Bộ tông (Vaibhasika), Kinh Lượng bộ, vân vân đều chỉ còn ít nhiều giá trị học thuật mà thôi thì Chân Ngôn Thừa và Câu Sinh Khởi Thừa vẫn còn được sức sống cho đến ngày nay. Phật giáo đang tồn tại ở Tây Tạng, các nước vùng Hy Mã Lạp Sơn, Trung Hoa và Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng sâu xa các phép hành trì của Chân Ngôn thừa và Câu Sinh Khởi thừa, và ta không thể hình dung ra Phật giáo ở các nước trên mà không có được phép hành trì này. Chính vì những điều mà Câu Sinh Khởi Thừa dạy không phải là một hệ thống thuộc về trí tuệ, mà là một sự rèn luyện khắt khe chỉ có thực hành thì mới biết được, cho nên giáo lý này trở nên khó hiểu và khó định nghĩa (see Câu Sinh Khởi). Hơn thế nữa, Câu Sinh Khởi Thừa chú trọng vào việc tiếp cận thực tế bằng trực giác, mà ta cần biết là chức năng của trực giác không giống với chức năng của trí tuệ, và cách hoạt động của hai thứ nầy hoàn toàn khác nhau. Điều nầy giải thích cho sự kiện là Câu Sinh Khởi Thừa và Chân Ngôn Thừa đã thoát khỏi số phận phải trở thành những tông phái chết. 
(II) Characteristics of Sahajayana: Những điểm đặc biệt của Câu Sinh Khởi Thừa—Although Mantrayana and Sahajayana are not schools clinging to rigidly defined doctrines, as do, for instance, the Vaibhasikas and Vinanavadins, they are of the greatest importance for the living force of Buddhism. Mantrayana with its emotionally moving and aesthetically appealing ritual, and Sahajayana with its profound meditative practices. Both Mantrayana and Sahajayana are concerned with the practical aspect of Buddhism which culminates in the four peaks of view—Dù rằng Chân Ngôn thừa và Câu Sinh Khởi Thừa không phải là những trường phái bám víu vào những giáo lý được xác định một cách chặt chẽ như các giáo phái khác, như Vaibhasika, Duy Thức, nhưng các trường phái trên có tầm quan trọng đối với sức sống của Phật giáo. Chân Ngôn Thừa với những nghi thức kích động tình cảm và lạ mắt, Câu Sinh Khởi Thừa với phép hành thiền sâu lắng. Cả Chân Ngôn Thừa và Câu Sinh Khởi Thừa đều quan tâm tới khía cạnh thực hành của Phật giáo mà bốn đỉnh cao là:    
1) View based on experience: Kiến—Cái nhìn dựa trên kinh nghiệm thực tế. 
2) Cultivation: Tu—Khai triển những gì  mà cái nhìn đó cho thấy—Development of what this view offers.  
3) Practice: Hành—Sống và làm phù hợp theo đó—To live and act accordingly. 
4) The integration of the individual (enlightenment, Buddhahood, or spiritual maturity): Quả—Sự hợp nhất của cá thể (giác ngộ, Phật quả, hay sự thành thục về tâm linh). 

Sahaloka (skt): See Sahlokadhatu. 

Saha-loka-dhatu (skt): Ta Bà thế giới (thế giới của sự kham nhẫn hay thế giới nầy)—The human world—The world of endurance—This world, the world of human beings—See Saha world. 

Sahana (p): Endurance—Sự kham nhẫn (chịu đựng). 

Sahasa (p): Suddenly (adv)—Bỗng nhiên. 

Sahasra (skt): Nhất Thiên—One thousand—Một ngàn. 

Sahasrara (skt): Vô kiến đỉnh tướng.

Sahasrara-chakra (skt): Bách Hội—It lies above the crown of the head, above the upper end of the sushumna nadi. This is the abode of god Shiva. One who concentrates on this experiences supreme bliss, superconsciousness and supreme knowledge—Điểm nằm ngay trên đỉnh đầu. Đây là nơi trú ngụ của chư Thiên. Hành giả nào tập trung được ở đây sẽ chứng được cực lạc, siêu thức và siêu trí—See Chakra.

Sahassa (p): One thousand—Một ngàn. 

Sahati (p): To bear—To endure—Chịu đựng hay kham nhẫn. 

Sahattha (p): One’s own hand—Chính tay của mình. 

Saha world: Saha-loka-dhatu (skt)—Jambudvida—Kham nhẫn thế giới—The world of human beings which is subject to suffering, affliction and transmigration—The world of endurance—The world full of sufferings—Endurance world—The world around us or the present world. People in this world endure many sufferings stemming from three poisons of greed, anger and ignorance as well as earthly desires—Thế giới chung quanh chúng ta hay thế giới hiện tại. Thế giới của chúng sanh loài người, nơi chịu nhiều khổ đau phiền não và luân hồi sanh tử—See Saha. 

Saha world of endurance: Kham nhẫn thế giới. 

Sahneti (p): To grind—To powder—Nghiền nát. 

Saicho (767-822):  Thiền Sư Tối Trừng (Tối Trường)—Founder of the T’ien T’ai tradition of Japanese Buddhism, who traveled to China in 804 by imperial order. While there, he studied T’ien T’ai, as well as Ch’an and Mi-Tsung. Upon his return to Japan, he founded a small monastery on Mount Hiei, which later grew to be the headquarters of the school. He also tried to obtain government recognition of the Tendai Sect. In 806, he was given the honorary title Dengyò Daishi by the emperor. This was the first instance of the use of the title “Daishi” or “Great Teacher” in Japan. His version of the tradition was more electic than Chinese T’ien T’ai, and he combined elements from a number of Buddhist traditions. Like T’ien T’ai, the Tendai tradition in Japan stresses the centrality of the Lotus Sutra (Saddharma-Pundarika-Sutra), but Saicho also promoted the performance of trantric rituals and the practice of meditation. He played a significant role in the history of Japanese Buddhism when he instituted the practice of conferring “bodhisattva vows” to novices, which he said superseded the Hinayana vows of the Pratimoksa that had traditionally been the primary ordination for monks and nuns. In order to counteract the potential for novices to lapse (nhớ lầm, rơi vào) into immorality, he also required a twelve-year training regimen on Mount Hiei. Saichô was the founder of the T’ien-T’ai School in Japan. He was a pupil of Tao-Sui (Tao-Sui was a pupil of Chan-Jan. See Trạm Nhiên, and Thiên Thai Cửu Tổ). When he was twenty, Saichô went to Nara and studied the T’ien-T’ai doctrine under some scholars who came to Japan with the vinaya master Kanjin, and read the three great works of Chih-I. When he was halfway through in his second perusal of those works, he received an Imperial order to go to China for Buddhist study. He received the T’ien-T’ai doctrine and the Bodhisattva ordination from Tao-Sui, the mystic doctrine (mantra) from Shun-Chiao, and the Zen meditation from Hsiu-Jan. On his return after one year’s sojourn in China, he founded the T’ien-T’ai School and taught the Lotus doctrine, the Shingon mysticism, the Zen meditation and Vinaya practices. The educational headquarters on the Mount Hiei was established by Saicho and became the greatest center of Buddhist learning in Japan. Once there were some 3,000 monasteries to house the students thronging there from all branches of Buddhism, exoteric and esoteric. At present there are three branches of the T’ien-T’ai School; namely, Sammon, Jimon and Shinsei, the last being an Amita-peitism. The monasteries belonging to the three branches number more than 4,000 at the present time—Người sáng lập ra tông phái Thiên Thai của Nhật Bản, sang Trung Hoa vào khoảng năm 804 theo lệnh của Hoàng gia Nhật Bản. Trong thời gian lưu lại Trung Hoa ông đã học đạo với tông Thiên Thai, Thiền tông và Mật tông. Khi trở về Nhật Bản, ông đã thành lập một tự viện trên núi Hiei, sau này trở thành trung tâm điều hành của tông phái Thiên Thai. Ông củng cố gắng xin chánh quyền Nhật công nhận tông Thiên Thai Nhật Bản. Năm 806, ông được Hoàng gia ban cho danh hiệu Truyền Giáo Đại Sư (Dengyò Daishi). Đây là lần đầu tiên danh hiệu “Đại Sư” được sử dụng tại Nhật Bản.  Kinh điển theo truyền thống Thiên Thai Nhật Bản được lựa chọn nhiều hơn là Thiên Thai bên Trung Hoa, vì ông đã phối hợp nhiều yếu tố khác nhau của các tông phái khác. Cũng như Thiên Thai Trung Hoa, Thiên Thai Nhật Bản nhấn mạnh điểm chủ yếu trong Kinh Pháp Hoa, nhưng Saicho cũng đưa vào những nghi thức Mật giáo và một số thực tập theo Thiền Tông. Ông giữ một vai trò rất quan trọng trong lịch sử Phật giáo Nhật Bản khi ông thiết lập sự tu tập “Bồ Tát Nguyện” cho các Tăng sĩ mới, như vậy là tông phái của ông vượt hẳn “Nguyện Nguyên Thủy” trong Ba La Đề Mộc Xoa, theo truyền thống chỉ dành cho chư Tăng Ni mà thôi. Để tránh cho Tăng sinh mới không bị rơi vào “phá giới” ông còn bắt buộc Tăng sinh phái Thiên Thai phải trải qua qui chế tu tập 12 năm trên núi Hiei.  Ngài là Sơ Tổ của tông Thiên Thai ở Nhật Bản, là đệ tử của Đạo Toại (Đạo Toại là đệ tử của Trạm Nhiên. Tối Trừng còn được gọi là Truyền Giáo Đại Sư. Vào tuổi 20, Tối Trừng đến Nara để học về giáo lý Thiên Thai với một vài học giả cùng đến Nhật với luật sư Chân Giám và học tập ba tác phẩm của Trí Khải. Khi ông đang đọc nửa chừng những tác phẩm nầy lần thứ hai, ông nhận được lệnh của Nhật Hoàng sang Trung Quốc để học Phật. Tại Trung Quốc, ông được Đạo Toại truyền thọ học thuyết Thiên Thai và Bồ Tát giới, được Thuận Giáo truyền thọ học thuyết Chân Ngôn, và Tu Nhiên truyền cho Thiền Tông. Sau một năm lưu trú ở Trung Hoa, ông về nước thiết lập tông Thiên Thai Nhật Bản và giảng Kinh Pháp Hoa, lập Chân Ngôn Mật Giáo, Thiền Tông và Luật Tông. Trung tâm giảng huấn trên núi Tỉ Duệ do Tối Trừng thiết lập và trở thành trung tâm lớn của ngành giáo học Phật giáo Nhật Bản. Một thời đã có đến 3.000 tự viện làm túc xá cho học chúng, quy tụ tất cả mọi ngành Phật học Hiển và Mật. Hiện tại có ba chi phái của Tông Thiên Thai. Đó là Sơn Môn, Tự Môn, và Chân Thạnh. Chi phái sau cùng là Tịnh Độ. Những tự viện thuộc ba chi phái nầy hiện thời tính khoảng trên 4.000. 

Sail across the sea: Dong buồm vượt biển (ý nói hành giả Phật Giáo). 

Saidaiji (jap): Phái Tây Đại Tự (Nhật Bản). 

Saihoji (jap): Chùa Tây Phương (Nhật Bản). 

Saihya (skt): Fraudulence—Cuống—See Seventy-five dharmas of the Abhidharma Kosa.

Saiji (jap): Chùa Tây (Nhật Bản). 

Saiksa (skt): Hữu Học.
1) One who is still learning: Học—One who is still studying religion in order to get rid of illusion—Nghiên cứu chân lý để dứt được vọng hoặc.
2) Learning refers to the stage in which one must still undergo religious exercises to reach the level of Arhat: Hữu học chỉ giai đoạn mà hành giả vẫn còn phải học hỏi và thực tập để tiến đến Thánh quả A La Hán.
3) In Hinayana those in the first three stages of training as Arhats, the fourth and last stage being those beyond the need of further teaching or study: Trong Tứ Thánh Tiểu Thừa, ba quả đầu là hữu học (nghĩa là những ai đắc ba quả Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, và A Na Hàm vẫn còn phải học đạo tu hành), còn quả thứ tư là A La Hán, vượt ra ngoài hữu học—See Four kinds of holy men. 
a) Stream-entry: Srota-apanna (skt)—Dự Lưu—Tu Đà Hoàn.
b) Once-Return: Sakradagamin (skt)—Nhất Lai—Tư Đà Hàm.
c) Non-return: Anagamin (skt)—Bất Lai—A Na Hàm. 
4) The ten stages of Bodhisattva in the Mahayana: Thập Trụ Bồ Tát trong Đại Thừa—See Ten grounds.

Sail across the sea: Dong buồm vượt biển. 

Saimei (jap): Hoàng đế Tề Minh (Nhật Bản). 

Saindhava (skt): Tứ Đạt—Tiên Đà Bà—Bốn thứ cần thiết—The four neccesaries:
1) Tiên Đà Bà—A term used for four meanings (a minister of state in personal attendance on the king)—Từ dùng cho bốn nghĩa (chỉ một kẻ bề tôi hiểu được mật ngữ của đại thần; khi vua tắm mà đòi lấy tiên-đà-bà thì liền dâng nước; khi vua ăn mà đòi tiên-đà-bà thì liền dâng muối; khi vua ăn xong mà đòi tiên-đà-bà thì liền dâng tách để uống trà, khi vua muốn đi du ngoạn mà đòi tiên-đà-bà liền dâng ngựa): 
i) Salt for food: Muối cho thức ăn.
ii) Water for washing: Nước để rửa rái.
iii) A utensil or a vessel to contain water: Bình đựng nước.
iv) A horse for progress in spreading the Buddha-truth: Ngựa để làm phương tiện hoằng hóa. 
2) Product of the Indus valley: Sản phẩm của thung lũng Ấn Hà. 

Sainika (skt): Senika (skt)—Tiên Ni—Tây Nhĩ Ca—Tên gọi của một phái ngoại đạo—A class of non-Buddhists.

Saint (n): Arhat (skt)—Arahat (p)—Worthy One—Thánh.
1) The holy multitude: All the saints, or sacred assembly—Tất cả các bậc Thánh.
2) The Bodhisattva saints who have overcome illusion, from the first stage upwards: Những vị Bồ Tát Thánh đã vượt thoát phiền não từ sơ địa trở lên.
3) To all the saints, or the wise, what is to be ordinarily regarded as an error, that is, this world of particulars, appears neither perverted nor unperverted: Đối với Thánh chúng hay bậc trí, những gì thường phải được xem là một sự lầm lẫn, tức là cái thế giới của các đặc thù nầy, vẫn không biểu hiện là điên đảo hay phi điên đảo. 
4) The special community established by the Buddha was called “The Assembly of the Noble” (Arya-sangha), intended to be the cradle of noble persons. Since the Brahmanical tradition had been firmly established, the race distinction was strictly felt. On that account the Buddha often asserted that in his own community there would be no distinction between Brahmans (priests) and warriors or between masters and slaves. Anyone who joined the Brotherhood would have an equal opportunity for leading and training. The Buddha often argued that the word Arya meant ‘noble’ and we ought not call a race noble or ignoble for there will be some ignoble persons among the so-called Aray and at the same time there will be some noble persons among the so-called Anarya. When we say noble or ignoble we should be speaking of an individual and not of a race as a whole. It is a question of knowledge or wisdom but not of birth or caste. Thus the object of the Buddha was to create a noble personage (arya-pudgala) in the sense of a noble life. The noble community (Arya-sangha) was founded for that very purpose. The noble ideal (Arya-dharma) and the noble discipline (Arya-vinaya) were set forth for the aspiring candidates. The path to be pursued by the noble aspirant is the Noble Eightfold Path (Arya-astangika-marga) and the truth to be believed by the noble is the Noble Fourfold Truth (Catvariarya-satyani). The perfections attained by the noble were the four noble fruitions (Arya-phala) and the wealth to be possessed by the noble was the noble sevenfold wealth (sapta-arya-dhana), all being spiritual qualifications. The careful application of the word Arya to each of the important points of his institution must not be overlooked by a student of Buddhism. The Buddha thus seemed to have endeavored to revive the original meaning of Arya in personality and the daily life of his religious community: Đoàn thể do Đức Phật lập nên gọi là “Thánh Chúng” (Aryan sangha), đó là môi trường tu tập của những người cao quý. Vì truyền thống Bà La Môn đã được thiết lập kiên cố nên giai cấp bấy giờ đã được phân chia thật là rõ rệt. Bởi lẽ đó, Đức Phật luôn xác nhận rằng trong hàng Tăng chúng của Ngài không có phân biệt giữa Bà La Môn và Võ tướng, hay giữa chủ và tớ. Ai đã được nhìn nhận vào hàng Tăng Chúng đều được quyền học tập như nhau. Đức Phật dạy rằng không thể gọi một giai cấp nào là cao quý hay không cao quý được bởi vì vẫn có những người đê tiện trong giai cấp gọi là cao quý và đồng thời cũng có những người cao quý trong giai cấp đê tiện. Khi chúng ta gọi cao quý hay đê tiện là chúng ta nói về một người nào đó chứ không thể cả toàn thể một giai cấp. Đây là vấn đề của tri thức hay trí tuệ chứ không phải là vấn đề sinh ra ở trong dòng họ hay giai cấp nào. Do đó, vấn đề của Đức Phật là tạo nên một người cao quý hay Thánh Giả (Arya pudgala) trong ý nghĩa một cuộc sống cao quý. Thánh Chúng đã được thiết lập theo nghĩa đó. Theo đó thì Thánh Pháp (Arya dharma) và Thánh Luật (Arya vinaya) được hình thành để cho Thánh Chúng tu tập. Con đường mà Thánh Giả phải theo là con đường Bát Thánh Đạo (Arya-astangika-marga) và cái sự thật mà Thánh Giả tin theo là Tứ Diệu Đế. Sự viên mãn mà Thánh Giả phải đạt tới là Tứ Thánh Quả (Arya-phala) và cái toàn bị mà Thánh Giả phải có là Thất Thánh Giác Chi (sapta-arya-dharma). Đó là những đức tính tinh thần cả. Người học Phật không nên đánh mất ý nghĩa của từ ngữ “Thánh” nầy vốn được áp dụng cẩn thận vào mỗi điểm quan trọng trong giáo pháp của Đức Phật. Đức Phật, như vậy, đã cố gắng làm sống lại ý nghĩa nguyên thủy của chữ “Thánh” nơi cá tính con người trong cuọäc sống thường nhật. 

Saint germ-nature: Thánh Chủng Tánh—The nature which produces holiness by destroying ignorance. The ten grounds in which the bodhisattva leaves the ranks of the sages and becomes the saints—Ngôi vị thập địa, Bồ Tát phá bỏ vô minh để đi  từ Hiền giả đến Thánh—See Five germ-natures of Bodhisattva development, and Five natures (III).

Saint and gods: Thánh thần.  

Saint preceptors: Sages—Thánh sư—See Two sages (B).

Saints and sages: Thánh hiền. 

Saint of the Sakya tribe: Sakyamuni—Thích Ca Văn—Thích Ca Văn Ni—See Sakyamuni.

Saint of second degree: Á Thánh. 

(Four) Saints: Tứ Thánh (Sotapanna: Tu Đà Hườn/Dự Lưu, Sakadagami: Tư Đà Hàm/Nhứt Lai, Anagami: A Na Hàm/Bất Lai, Arahant: A La Hán).

Saint’s virtue: Thánh đức. 

Sainthood: Arahatta (p)—Quả vị A La Hán. 

Saintliness (n): Thánh Nhân hay Thần Thánh Tính. 

Saintivity (n): Thánh Tính. 
1) Holy nature: Tánh của bậc Thánh. 
2) The holy nature, according to the Abhidharma-kosa of the passionless life: Câu Xá Luận gọi Thánh Tính là Chính Tính hay một đời sống Thánh thiện không còn bị dục vọng lôi cuốn.
3) According to the Vijnanamatrasiddhi of enlightenment and wisdom, the holy nature is the nature that produces the passionless or pure wisdom: Duy Thức Luận gọi Thánh Tính là cái tính sanh ra trí vô lậu mà đoạn trừ phiền não. 

Saintly: Arya or Sadhu (skt)—Holy—Sacred—Thánh—Thuộc về Thần Thánh. 

Saintly appearance: Holy appearance—Thánh nghi. 

Saintly host come to welcome the death: Thánh Chúng Lai Nghênh—Amitabha’s saintly host come to welcome at death those who call upon him—Những ai tinh chuyên tu hành niệm Phật, lúc lâm chung sẽ được Đức Phật A Di Đà cùng chư Thánh Chúng ở cõi Tịnh Độ đến đón về cõi Tịnh Độ. 

Saintly one: Arya (skt)—Holy one—Thánh Giả—See Saint. 

Saintly seed: Holy seed—Thánh Chủng.
1) The holy seed, i.e. the community of monks: Chủng tử của bậc Thánh Hiền—Tăng chúng (sau khi Đức Phật nhập diệt, các đệ tử lần lượt nối pháp, như hạt giống cây truyền đi mãi mãi).
2) One of the six germ-natures or roots of Bodhisattva development: Một trong lục chủng tính. **See Six germ-natures or roots of Bodhisattva development. 

Saintly spirit of the dead: Thánh Linh—Linh hồn hay tâm thức của người quá cố.

Saintrasita (skt): Sợ hãi—Terrified. 

Saiten (jap): India—Thiên Trúc (Tây Thiên). 

Sajatika (p): Of the same race or nation (a)—Cùng chủng loại.  

Saj-jana (p): A virtuous man—Người có đạo đức. 

Sajjana (p): Attachment—Sự bám víu. 

Sajjati (p): To cling to—To be attached to—Bám víu vào cái gì. 

Sajjeti (p): To prepare—Chuẩn bị. 

Sajjhaya (p): Study (n)—Sự nghiên cứu. 

Sajjhayana (p): Recitation—Sự tụng đọc (thuộc lòng). 

Sajjhu (p): Silver—Bạc. 

Sajju (p): Instantly—At the same moment—Ngay lúc ấy.

Saka (p): Vegetable—Thảo mộc. 

Sakabala (p): One’s own strength (a)—Tự lực. 

Sakadagami (p): Nhất Lai—Tư Đà Hàm—Tham ái và sân hận của vị có quả thánh thứ hai đã yếu kém nên chỉ còn tái sinh một lần—See Sakadagamin.

Sakadagamin (p): Sakrdagami (skt)—Tư Đà Hàm—Nhất Lai—Once-Returner—One who has attained the second stage of the Path to be reborn on the earth only once. The state of returning only once again, or once more to arrive, or be born. One who is still subject to “One-return.” The position of the way of cultivation. He still has to undergo “one birth” in the heavens or “once return” among people. The second grade of arahatship involving only one rebirth—Tư đà hàm, người đã đạt nhị quả trong Tứ Thánh Quả, chỉ còn trở lại tái sanh thêm một lần nữa mà thôi. Hành giả đang trong tư thế tu Đạo. Người ấy vẫn còn phải sanh thiên một lần hay một lần nữa trở lại trong cõi người—See Four kinds of holy men (II).

Sakala (skt): Xa Yết La—The ancient capital of Takka and under Mihirakula of the whole Punjab; the Sagala of Ptolemy. According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Sakala may be the place of the present village of Sanga, a few miles south-west of Amritsar, but this is doubtful—Kinh đô cổ của Takka của toàn vùng Punjab. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, thì Xa Yết La là vùng bây giờ gọi là làng Sanga, vài dậm về phía tây nam Amritsar, nhưng điều nầy không chắc. 

(For the) sake of: Vì lợi ích 

Sakalya (p): Totality—Toàn bộ. 

Sakamma (p): One’s own duty (a)—Bổn phận của mình. 

Sakankha (p): Doubtful (a)—Nghi hoặc. 

Sakantaka (p): Thorny (a)—Đầy gai. 

Sakaraniya (p): One who still has something to do—Người vẫn còn công việc để làm (vướng bận trần thế). 

Sakasa (p): Neighborhood—Láng giềng. 

Sakha (p): A friend—Bạn. 

Sakhila (p): Kindly in speech—Lời nói tử tế. 

Sakhita (p): Friendship—Tình bạn. 

Sakhya (p): Friendship—Tình bạn. 

Sakicca (p): One’s own business—Công việc của riêng mình. 

Sakincana (p): Having worldly attachment (a)—Hãy còn luyến ái trần tục.

Sakiya (p): One’s own (a)—Của riêng mình. 

Sakka: Lord of the Four Great Kings—Trời Đế Thích, vua của cõi trời Tứ Thiên Vương.
 

Sakkara (p): Honor—Vinh dự. 

Sakkatta (p): The position as the ruler of devas—Chức vị cai quản chư Thiên. 

Sakkaya (p): The existing body—Thân hiện hữu. 

Sakkaya anto (p): Personality—Hữu thân biên—See Three dharmas (XXI).

Sakkaya-ditthi (p): The fetter of personality belief—Thân kiến kiết sử—See Three dharmas (XV).

Sakkaya-noridho anto (p): Cessation of personality—Hữu thân diệt biên—See Three dharmas (XXI).

Sakkaya-samudayo anto (p): Arising of personality—Hữu thân tập biên—See Three dharmas (XXI).

Sakkhara (p): Crystal (a)—Trong như thủy tinh. 

Sakkhi (p): Face to face—Before one’s eyes—Mặt đối mặt. 

Sakkoti (p): To be able—Có khả năng. 

Sakkunati (p): To be able—Có khả năng. 

Sakkuneyyatta (p): Ability—Khả năng. 

Sakra (skt):  Sakro-devanamindra or Indra (skt)—Thích Ca Bà—Thích Đế—Thích Đề Hoàn Nhơn—Lord of the thrity three Heavens. Sakra the Indra of the devas, the sky-god. The god of the nature-gods, ruler of the thirty-three heavens, considered by Buddhists as inferior to the Buddhist saint, but as a deva-protector of Buddhism—Thiên vương. Đế vương của ba mươi ba tầng trời. Trời Đế Thích, cai trị cõi trời ba mươi ba tầ
Sakra Brahma: Phạm Thiên Vương.