Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH
- VIETNAMESE ANH VIỆT
Thiện
Phúc
R
Rabbi
(n): Thầy Do Thái.
Rabbinate
(n): Địa vị tôn sư.
Rabbit’s
horns: Sasa-visana or sasa-srnga (skt)—Thố Giác—Rabbit’s horns,
i.e. non-existent; all phenomena are as unreal as rabbit’s horns—Sừng
thỏ (người ngu nhận lầm đôi tai thỏ là sừng, kỳ thật
thỏ không có sừng). Từ nầy dùng để chỉ những cái không
thể có được (mọi hiện tượng đều không thực).
Racism
(n): Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
Racist
(n): Người theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
Rack
something: Decay or ruin something—Hủy hoại điều gì.
Racmicatasahasraparipurnadhvadja
(skt): Cụ túc thiên vạn Quang Minh Như Lai.
Radiance
(n): Light—Ánh sáng chói.
Radiant
(a): Sán lạn—Bright—Shining.
Radiant
devas: Abhasara (skt)—Quang Âm Thiên—There are beings who are overflowing
with happiness, drenched with it, full of it, immersed in it, so that they
occasionally exclaim: “Oh what bliss!” such as the Radiant devas (abhasara)—Hữu
tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc.
Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu cảm hứng: “Ôi an lạc
thay! Ôi an lạc thay!” như chư Quang Âm Thiên—See Three dharmas
(XXXVI).
Radiant
halo: Rực rỡ hào quang. Đây là một trong sáu ý nghĩa của
chữ Thế Tôn—The six meanings of the Honoured One or Bhagava—See
Six meanings of the Honoured One.
Radiate
(v): To send forth light—Phát quang (gửi ánh sáng đi muôn hướng).
Radical
(a): Cấp tiến—Căn bản—Cực đoan—Quá khích—Fundamental.
Radical
element: Fundamental element—Original element—Căn bản.
Radical
Ignorance: Original darkness or ignorance—Căn Bản Vô Minh—See Original
darkness, and Ignorance.
Radicalism
(n): Chủ nghĩa cấp tiến.
Raft
(n): Kaula (skt)—A ferryboat—Chiếc bè—A man who was escaping from
a group of bandits came to a vast stretch of water that was in his way.
He knew that this side of the shore was dangerous and the other side was
safe. However, there was no boat going to the other shore, nor was there
any bridge for crossing over. So he quickly gather wood, branches and leaves
to make a raft, and with the help of the raft, he crossed over safely to
the other shore. The Noble Eightfold Path taught by the Buddha is like
the raft. It would take us from the suffering of this shore to the other
shore of no suffering. In Mahayana Buddhism, the teaching is likened a
raft; when the goal, the other shore, is reached, then the raft is left
behind. The form of teaching is not final dogma but an expedient method.
According to the Discourse on the Water Snake’s Parable, the Buddha taught:
“My teaching is like a raft for crossing over, not for carrying.”—Một
người đang trốn chạy khỏi tay bọn cướp đi đến gặp
phải một khoảng nước bao la trước mặt. Người ấy biết
rằng bờ bên này nguy hiểm và bờ bên kia an toàn. Tuy nhiên,
không có tàu thuyền gì để đi đến bờ bên kia. Nên người
ấy nhanh nhẹn gom góp nhánh lá làm một chiếc bè, và với
chiếc bè, người ấy đã qua bờ bên kia một cách an toàn.
Chánh Đạo được dạy bởi Đức Phật cũng giống như chiếc
bè. Nó có công năng đưa chúng ta từ bến bờ khổ đau phiền
não đến bỉ ngạn vô ưu. Trong Phật giáo Đại Thừa, giáo
pháp giống như chiếc bè; khi cứu cánh bỉ ngạn đã đến,
thì bè cũng phải bỏ lại sau lưng. Giáo pháp không phải là
cứu cánh mà chỉ là phương tiện thôi. Theo Kinh Ẩn dụ Con
Rắn, Đức Phật dạy: “Giáo pháp của ta như chiếc bè để
vượt qua chứ không phải để nắm giữ.”
Raft
parable: Phiệt Dụ—Raft parable. Buddha’s teaching is like a raft,
a means of crossing the river, the raft being left when the crossing has
been made—Thí dụ về chiếc bè. Pháp của Phật như chiếc
bè, sang sông rồi thì bè nên bỏ, đến bờ của Niết Bàn
thì chánh pháp còn nên bỏ hà huống phi pháp. Cho nên nói tất
cả các pháp được nói ra đều gọi là phiệt dụ, chỉ là
phương tiện giúp đáo bỉ ngạn mà thôi.
Raft
of Dharma: Chiếc bè Pháp—In Buddhism, dharma refers to all the methods
of cultivation taught by the Buddha which lead to ultimate enlightenment.
They are means that lead to an end, not an end themselves. The Buddha’s
teaching is likened a raft for going the other shore. All of us depend
on the raft of Dharma to cross the river of birth and death. We strive
with our hands, feet, and wisdom to reach the other shore. When the goal,
the other shore, is reached, then the raft is left behind. The form of
teaching is not final dogma but an expedient method. According to the Discourse
on the Water Snake’s Parable, the Buddha taught: “My teaching is like
a raft for crossing over, not for carrying.” Also according to the Middle
Length Saying, the Buddha taught: “The dharma that I teach is like a
raft. Even Dharma should be relinquished, how much the more that which
is not Dharma? The Raft of Dharma is for crossing over, not for retaining.”—Trong
Phật giáo, Pháp chỉ tất cả mọi phương cách tu hành được
dạy bởi Đức Phật mà cuối cùng đưa đến cứu cánh giác
ngộ. Chư pháp là phương tiện đưa đến cứu cánh, chứ tự
chúng không phải là cứu cánh. Giáo pháp của Đức Phật cũng
giống như chiếc bè, được dùng để đi qua bên kia bờ. Tất
cả chúng ta đều phải lệ thuộc vào chiếc bè Phật pháp
này để vượt thoát dòng sông sanh tử. Chúng ta gắng sức
bằng tay chân, bằng trí tuệ để đạt đến bỉ ngạn. Khi
cứu cánh bỉ ngạn đã đến, thì bè cũng phải bỏ lại sau
lưng. Giáo pháp không phải là cứu cánh mà chỉ là phương
tiện thôi. Theo Kinh Ẩn dụ Con Rắn, Đức Phật dạy: “Giáo
pháp của ta như chiếc bè để vượt qua chứ không phải để
nắm giữ.” Cũng theo Kinh Trung Bộ, Đức Phật dạy: “Pháp
mà ta giảng dạy chỉ là chiếc bè. Ngay cả Pháp ấy còn phải
xả bỏ, huống là phi pháp. Chiếc bè Pháp ấy chỉ nên được
dùng để đáo bỉ ngạn, chứ không nên giữ lại.”
Rag-robe:
Hoại Sắc Y—Hoại nạp—Hoại Sắc Nạp—Robe for monks and
nuns—Áo dành cho chư Tăng Ni.
Raga
(skt & p): A La Già—La Ngạ.
1)
Anger: Giận dữ.
2)
Covetousness: Tham—Concupiscience—Greed—Lust—Wrong desire—Tham—See
Three poisons, and Seventy-five dharmas of the Abhidharma Kosa.
3)
Desire: Tham muốn—Covetousness—Desire to have—Greed—Uncontrolled
lust of every kind—Tham.
4)
Feeling: Cảm thọ.
5)
Greed: Xan tham.
6)
(p): Color—Màu sắc.
Ragadveshamoha
(skt): Tham sân si—Greed, anger, ignorance—See Three poisons.
Ragaggi
(p): Fire of lust—Lửa tham—See Three dharmas (XXVIII) (A).
Ragaraja
(skt): Ái Nhiễm Minh Vương—The King with the affection of love—King
of Love.
Rage:
Pradasa (skt)—Não—Sân hận—Rage, of which the emotional reaction
is much more severe than hatred—Não là phản ứng tình cảm nặng
nề hơn “hận”—See Fifty-one Dharmas interactive with the Mind.
Ragi
(p): Lustful (a)—Dâm đãng.
Rago-kincanam
(p): Obstacles of Lust—Tham chướng—See Three dharmas (XXVII).
Rags:
Rách rưới.
Rahassa
(p): Secret—Bí mật.
Rahaseyyaka
(p): Secret—Bí mật.
Rahu
(skt): La Hầu (sao)—La Hộ—La Hỗ—Name of a star, or a spirit
(demon) that is supposed to seize the sun and moon and thus causes eclipses—Tên
của một ngôi sao che lấp mặt trời mặt trăng gây nên nhật
thực và nguyệt thực.
Rahu-asura
(skt): La Hầu A Tu La—La Hầu La A Tu La—The asura who in fighting
with Indra can seize sun an moon, i.e. cause eclipses—Một loại A
Tu La Vương hay đánh nhau với Trời Đế Thích để tranh giành
và che lấp ánh sáng của mặt trời và mặt trăng, gây ra cảnh
nhật thực và nguyệt thực.
Rahula
(skt): La Hầu La—According to Professor Soothill in The Dictionary
of Chinese-English Buddhist Terms, he is supposed to have been in the womb
for six years and born when his father attained Buddhahood; also said to
have been born during an eclipse, and thus acquired his name, though it
is defined in other ways; his father did not see him till he was six years
old. He became a disciple of the Hinayana, but is said to have become a
Mahayanist when his father preached this final perfect doctrine, a statement
gainsaid by his being recognized as founder of the Vaibhasika school. He
is to be reborn as the eldest son of every Buddha, hence is sometimes called
the son of Ananda. Another source from Mahayana Buddhism said that Rahula
was the only son of Sakyamuni and Yasodhara and was born before the Buddha’s
renunciation of the world. He was the only child of Siddhartha Gautama,
one of the Buddha’s ten major disciples, respected as the foremost in
inconspicuous practice (mật hạnh). According to Buddhist tradition,
he was born on the day his father decided to leave the household life,
and when his wife Yasodhara asked him what the boy should be named, he
replied, “Rahula” (Fetter), indicating that he perceived the child
as a potential source of mundane attachment. After his awakening (Bodhi),
the Buddha returned to his family, and Yasodhara sent the boy to confront
him. He demanded that he be given his inheritance. The Buddha made no response,
but Rahula followed him to leave the palace, and he was soon ordained as
a monk. When the Buddha’s father Suddhodana protested, the Buddha responded
by promulgating a rule that henceforth no one could be ordained without
parental permission. After hearing the Smaller Discourse Spoken to Rahula,
he became an Arhat. He was said by the Buddha to be the foremost among
his disciples in eagerness to learn—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung
Anh Phật Học Từ Điển, La Hầu La là đứa con duy nhất của
Đức Phật và công chúa Da Du Đà La. Người ta nói La Hầu
La ở trong thai mẹ đến 6 năm, và được hạ sanh trong đêm
Đức Phật thành đạo (ngày 8 tháng chạp âm lịch). Cha của
ngài không thấy mặt ngài cho đến khi ngài được 6 tuổi.
Lúc mới xuất gia ngài theo Tiểu Thừa, nhưng sau khi nghe Đức
Phật thuyết tối thượng thừa pháp trong pháp hội Pháp Hoa,
ngài đã theo Đại Thừa. Ngài luôn tái sanh làm con lớn của
các vị Phật. Có chỗ cho rằng La Hầu La sanh ra trước khi
Đức Phật xuất gia. Theo truyền thống Phật giáo Đại Thừa
thì ông là con trai duy nhứt của Thái tử Tất Đạt Đa, cũng
là một trong mười đệ tử lớn của Phật, được tôn kính
do công phu mật hạnh của Ngài. Ngài được sanh ra vào ngày
mà cha của ngài quyết định từ bỏ đời sống gia đình,
và khi công chúa Gia Du Đà La hỏi thái từ Tất Đạt Đa phải
đặt tên đứa bé là gì, thì Thái tử trả lời: “La Hầu
La” có nghĩa là sự ràng buộc, cho thấy rằng Thái tử đã
thấy đứa nhỏ như là căn nguyên của sự luyến chấp vào
thế gian. Sau khi giác ngộ Bồ Đề, Đức Phật trở về nhà,
và công chúa Gia Du Đà La đã đưa đứa bé đến đối mặt
với ngài và đòi hỏi ngài phải cho đứa bé ấy gia sản.
Đức Phật không trả lời, nhưng La Hầu La lại theo ngài rời
bỏ cung điện, và chẳng bao lâu sau đó cũng được thọ giới
làm Tăng. Khi cha của Đức Phật là vua Tịnh Phạn chống đối
việc này thì Đức Phật trả lời bằng cách công bố luật
mà kể từ đó không ai có thể xuất gia nếu không có sự
đồng ý của cha mẹ. Sau khi nghe một bài pháp ngắn, La Hầu
La chứng quả A La Hán. Người ta nói ngài là vị đệ tử
hăng hái tu học nhất trong số các đệ tử của Phật—See
Ten chief disciples of the Buddha.
Rahulabhadra
(skt): Arya Rahulata (skt)—La Hầu La Da—A native of Kapilavastu,
in present day Nepal—Vốn là một cư dân của thành Ca Tỳ La
Vệ, mà bây giờ là Nepal—See Twenty eight Indian Patriarchs.
Rahulata
(skt): La Hầu La Đa—Rahulata of Kapila, the sixteenth patriarch, who
miraculously transported himself to the kingdom of Sravasti, where he saw
on the Hiranyavati the shadow of five Buddhas—La Hầu La Đa của thành
Kapila, là vị tổ thứ 16, người đã tự di chuyển một cách
kỳ diệu đến vương quốc Sravasti, nơi đó ngài đã thấy
bóng năm vị Phật trên đỉnh Hiranyavati.
Rahula,
Walpola (1907-1997): Sri Lankan Theravada monk, renowned as a scholar,
who wrote a number of influential books and articles, including an introduction
to Buddhism from a Theravada perspective, entitled “What the Buddha Taught.”
During the 1950s, he was a research fellow at Sorborne, where he worked
mainly on Mahayana texts, and in 1966 he became vice-chancellor of Vidyodaya
University in Sri Lanka. He later served as chancellor of Kelaniya University.
During the 1980s and 1990s he generated some controversy by urging Buddhist
monks to give back their vows in order to join the government’s war against
Tamil militants—Vị Tăng người Tích Lan, theo hệ phái Theravada,
cũng là một học giả nổi tiếng, người đã viết một số
bài và sách có ảnh hưởng lớn đối với Phật giáo,
kể việc ông đã giới thiệu Phật giáo qua quan điểm của
hệ phái Theravada, qua quyển “Những Lời Phật Dạy.” Trong
thập niên 1950s, ông làm cho viện nghiên cứu tại Đại Học
Sorborne, nơi ông làm việc chủ yếu về kinh điển Đại Thừa,
và vào năm 1966 ông trở thành Phó Viện trưởng viện Đại
Học Vidyodaya ở Sri Lanka. Sau đó ông trở thành Viện trưởng
Viện Đại Học Kelaniya cũng tại Sri Lanka. Trong những thập
niên 1980s và 1990s ông khởi phát những vấn đề tranh cãi
bằng cách hối thúc những Tăng sĩ Phật giáo trả lại thệ
nguyện (không sát sanh) để gia nhập quân đội chống lại
lực lượng quân sự của Hổ Tamil.
Rail
(n): Hàng rào có tay vịn.
Rain-clouds:
Emblematic of desire, one of the four films or things that becloud—Mưa
Mây, biểu tượng của tham dục, một trong bốn màn che phủ—See
Four films or things that becloud.
Rain
down compassion: Từ Lộ—Phật rãi mưa từ bi tưới tẩm con
người—The Buddha makes rain down compassion on men.
Rain
of flowers: Mưa hoa—See Six auspicious indications.
Rain-producer:
Hành Vũ.
1)
To rain, or produce rain: Làm mưa.
2)
Varsakara, name of a minister of king Bimbisara: Hành Vũ, tên của
một vị đại thần của vua Bình Sa Vương.
Rainbow
(n): Vồng cầu.
Rainbow
body: Ja-lus (tib): Thân của ánh sáng vòng cầu—In Tibetan Buddhism,
“Rainbow body” is the final state of attainment in some traditions,
in which a fully awakened master dissolves the physical body into multicolored
light and re-emerges in a new body composed of subtle energy, rather than
coarse matter—Trong Phật giáo Tây Tạng, thân của ánh sáng
vòng cầu là giai đoạn thành đạt cuối cùng trong một vài
truyền thống, trong đó vị thầy đã giác ngộ hòa trộn thân
vật chất với ánh sáng nhiều màu sắc rồi lại hiện
ra một thân mới chỉ toàn những sức mạnh vi tế, chứ không
phải là vật chất thô thiển nữa.
Rainbow
hued: Sắc cầu vồng
Rain
of the Buddha-Truth: Pháp Vũ—The rain of Buddha-truth which fertilizes
all beings—Mưa Pháp làm thấm nhuận chúng sanh.
Rains
Retreat: Vassa (skt)—Monsoon-Season Retreat—Summer retreat—An cư
kiết hạ—The period of three months in the Monsoon season, during
which monks and nuns are expected to reside in one place and devote themselves
to their practice. The end of the Rains Retreat coincides with the Ullambana
Festival. It is an auspicious day for monks and nuns, as on that day those
who attended the Rains Retreat become one year older in the Order. Nowadays,
Rains Retreat is usually conducted in July every year and it lasts only
two weeks instead of three months—Trong ba tháng mùa mưa, chư Tăng
Ni an cư tu tập. Cuối mùa an cư lại trùng với mùa Vu Lan.
Đây là ngày kiết tường cho chư Tăng Ni, vào ngày đó chư
Tăng Ni sẽ được tăng lên một tuổi hạ—See Bốn Mươi
Sáu Mùa An Cư Kiết Hạ Của Đức Phật. Ngày nay an cư kiết
hạ thường được tổ chức vào tháng bảy hằng năm và chỉ
kéo dài có hai tuần lễ thay vì ba tháng.
Rainy
seasons: An Cư Kiết Hạ—See Forty-six Rainy Season Retreats of the
Buddha.
Raise
(v): Nâng cao.
Raise
animals: Nuôi súc vật—A Bhiksu or Bhiksuni who raises animals or
fowl or birds for entertainment or with the intention to sell them and
make money, commits an offence involves Release and Expression of Regret—Vị
Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni nào nuôi súc vật, gia cầm hay chim muông
với mục đích tiêu khiển hay buôn bán để kiếm tiền, là
phạm giới xả đọa (phải buông bỏ và phát lồ sám hối
ngay).
Raise
cattles, birds, or domestic animals: Nuôi gia súc hay gia cầm—See
Eight things which are unclean to a monk or a nun.
Raise
the hands to the head in making obeisance: Mạc Bang—Đưa hai tay lên
khỏi đầu tỏ ý quy phục (đầu hàng).
Raising
of the Bodhicitta is not an event of one day: Phát Bồ Đề tâm không
phải là biến cố trong một ngày—See Ten characters of Bodhicitta.
Raising
cattles, birds, or domestic animals: Nuôi gia súc hay gia cầm, một
trong tám thứ mà chư Tăng Ni không được sở hữu—To raise
cattles, birds, or domestic animals. This is one of the eight things that
monks and nuns are not allowed to possess—See Raise animals and Eight
impure things.
Raiyu
(jap): Sư Cống Du (1226-1304), Phật giáo Nhật Bản.
Raja
(skt): Quốc vương—King—Chief or best of its kind—Sovereign.
Rajabhavana
(p): King’s palace—Cung điện của nhà vua.
Rajadaya
(p): A royal gift—Phẩm vật của triều đình.
Rajagaha
(skt): Rajagrha (skt)—Rajagaha (p)—Thành Vương Xá—City of Royal
Palace of King Bimbisara (Old City of king Bimbisara)—Capital of the
ancient Indian kingdom of Magadha, during Sakyamuni Buddha’s lifetime,
present-day Rajgir city in Bihar state of the northeast India, where the
Buddha first realized the truth, and the site of the first council following
the Buddha’s passing away. Rajagrha at the time of King Bimbisara was
a valley surrounded by five Hills. The Five Hills encircled the city completely
like the walls of town. The old city was about one mile from east to west,
and a mile and a half from south to north. Rajagrha was an important
center for Buddhist monasticism, and the Buddha is reported to have spent
seven rainy season retreats there. It was also the site of a number of
important Buddhist monasteries, including the first reported building for
monks, named Venuvana-arama. According to Buddhist tradition, it was the
site of the “First Buddhist Council,” which was convened shortly after
the Buddha’s death. It was sponsored by King Bimbisara, who nominated
the arhat Kasyapa as president of the council. The main intention of the
gathering of contemporary monks was to settle the Sutra-Pitaka and Vinaya-Pitaka,
and to that end 500 arhats who had been present when the Buddha’s sermons
were delivered convened to recount what they had heard. Upali considered
the learning expert on monastic discipline, recited the Vinaya; and Ananda,
who as the Buddha’s personal attendant had been present at all of his
sermons, recited the sutras. At the conclusion of the council, the canon
was declared to be accomplished. King Bimbisara is said to have removed
his capital here from Kusagrapura a little further eastward, because of
fire and other calamities. Rajagrha was surrounded by five hills, of which
Grdhrakuta (Vulture Peak) became the most famous. It was the royal city
from the time of Bimbisara until the time of Asoka. The remains of the
ancient city are very few. The site appears to have suffered much at the
hand of time. Its ruins are still extant at the village of Rajgir, some
sixteen miles South Southwest of Bihar; they form an object of pilgrimages
for the Jains. The ruins indicate that the followers of different religious
denominations lived here. The Buddhist remains, except for a few isolated
images, it is not impossible that the visible monuments were denuded partly
through religious animosities. Even the identification of the Sattapanni
cave, the site of the First Council, is not beyond doubt. Rajagrha was
sacred to the Buddhists for more than one reason. Not only did the Buddha
go into a retreat several times in this famous city, but it was also the
place where Devadatta, his wicked cousin, made several attempts on his
life. Moreover, in this city, in the Sattapanni cave of the Vaibhara hill,
was held the first Buddhist Council just after the parinirvana. Rajagrha
was also an active center of Jainism in ancient times, as it is now, and
interesting remains of Jaina shrines and sculptures are still extant. A
singular monument may be recognized in the cylindrical brick shrine, almost
at the center of the old city. It is known as Maniyar Matha, and was dedicated,
according to local tradition, to the worship of Mani-naga, the guardian
deity of the city of Rajagrha—Kinh đô của vương quốc Ma Kiệt
Đà, một vương quốc cổ Ấn Độ, trong thời Đức Phật
còn tại thế, bây giờ là thành phố Rajgir trong tiểu bang
Bihar, vùng đông bắc Ấn Độ, nơi Đức Phật thành đạo,
cũng là nơi kết tập kinh điển đầu tiên trong Phật giáo.
Vương Xá là một trung tâm tu viện Phật giáo quan trọng, và
người ta tường thuật Đức Phật đã nhiều lần trải qua
các mùa an cư kiết hạ tại đây. Thành Vương Xá vào thời
của vua Bình Sa Vương là một thung lũng được bao bọc bởi
năm ngọn đồi. Năm ngọn đồi này chạy vòng quanh thành như
những bức tường thành. Cổ thành khoảng một dặm từ Tây
sang Đông và khoảng một dặm rưởi từ Nam lên Bắc. Vương
Xá cũng là địa điểm có một số tự viện Phật giáo quan
trọng, kể cả cơ sở đầu tiên cho chư Tăng là khu Trúc Lâm
Tịnh Xá. Theo truyền thống Phật giáo, đây còn là địa điểm
của Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ nhất, triệu
tập chỉ một thời gian ngắn sau khi Đức Phật nhập diệt.
Nghị hội này được vua Bình Sa Vương bảo trợ, người đã
đề cử A La Hán Ca Diếp chủ trì nghị hội. Chủ đích chính
của đại hội kết tập kinh điển là hội họp chư Tăng
đương thời lại để giải quyết Kinh Tạng và Luật Tạng,
và tới cuối đại hội thì 500 vị A La Hán, những vị có
mặt khi Đức Phật thuyết giảng đã hội họp tại thành
Vương Xá để kể lại những gì mà họ đã nghe. Ưu Ba Li
được xem như là chuyên gia về giới luật tự viện, đã
trùng tuyên Luật Tạng; và A Nan đà, vị thị giả của Đức
Phật đã có mặt trong tất cả những buổi giảng thuyết
của Phật, đã trùng tuyên Kinh Tạng. Vào lúc kết thúc đại
hội, Tạng Kinh và Luật được công bố là hoàn tất. Người
ta kể lại là vua Bình Sa Vương đã di chuyển kinh đô xa về
hướng đông vì hỏa tai cũng như các thiên tai khác. Thành
Vương Xá được bao bọc chung quanh bởi năm ngọn núi, trong
đó núi Linh Thứu là nổi tiếng nhứt. Vương Xá là kinh thành
từ thời Vua Bình Sa Vương đến A Dục. Các di tích của thành
phố cổ không còn nhiều. Nơi nầy có vẻ như đã chịu nhiều
tàn phá của thời gian. Những phế tích của nó vẫn còn rãi
rác tại làng Rajgir, khoảng 16 dậm Nam Tây Nam khu thị trấn
Bihar. Những phế tích nầy cho thấy rằng đã có nhiều tín
đồ của các tôn giáo khác nhau sinh sống tại đây. Các di
tích Phật giáo, ngoại trừ rất ít ỏi tượng còn lại rải
rác,và không phải không thể thấy rằng các công trình kiến
trúc tại đây đã bị cướp phá một phần do bởi sự hận
thù tôn giáo. Thậm chí việc xác định hang Sattapanni , nơi
tổ chức Nghị Hội Phật giáo đầu tiên, cũng không phải
là chắc chắn. Thành Vương Xá có ý nghĩa thiêng liêng đối
với Phật tử vì nhiều lý do. Không những Đức Phật đã
nhiều lần đến an cư tại thành phố danh tiếng nầy, mà
đây còn là nơi mà người anh em họ của Phật là Đề Bà
Đạt Đa đã nhiều lần âm mưu ám hại Ngài. Hơn nữa, tại
thành phố nầy, trong hang Sattapanni đã diễn ra Nghi Hội Kết
Tập Kinh Điển lần thứ nhất của Phật giáo ngay sau khi Đức
Phật nhập diệt. Vương Xá còn là một trung tâm hoạt động
mạnh mẽ của Kỳ Na Giáo, trong thời xưa cũng như hiện nay,
hiện vẫn còn những di tích quan trọng của các điện thờ
và công trình điêu khắc Kỳ Na Giáo. Có thể nhận ra một
đài kỷ niệm kỳ lạ nơi một điện thờ hình lăng trụ
bằng gạch, gần như ở ngay trung tâm thành phố cổ. Ngôi
điện nầy có tên là Maniyar Matha, và theo truyền thuyết địa
phương, nó được dành để thờ cúng Mani-naga, vị thần bảo
hộ của thành Vương Xá.
Rajagrha
(skt): La Duyệt—La Việt—La Duyệt Kỳ Ca La—La Duyệt Yết
Lê Hê—La Nha Ngật Bí Tư—Another name for Rajagaha, the capital
of Magadha, at the foot of the Grdhrakuta mountain, first metropolis of
Buddhism and seat of the first synod—Tên khác của kinh đô Vương
Xá của xứ Ma Kiệt Đà, nơi tổ chức Đại Hội Kết Tập
Kinh Điển đầu tiên—See Rajagaha.
Rajagriha
(skt): Rajagaha (p)—Thành Vương Xá—See Rajagaha.
Raja-hamsa
(skt): Nga Vương—King-goose.
1)
The king-goose, leader of the flight, i.e. Buddha, one of whose thirty-two
marks is webbed hands and feet: Nga vương được so sánh với Đức
Phật, trong 32 tướng tốt của Phật là tay chân mạn võng
tướng hay có tướng lưới đan (giữa các ngón chân và tay
của Đức Phật có màng lưới đan liền giống như chân của
loài ngỗng.
2)
The walk of a Buddha is dignified like that of the goose: Tướng đi
uy nghi của Đức Phật giống như loài ngỗng.
3)
A king-goose is reputed to be able to absorb the milk from a mixture of
milk and water, leaving the water behind, so with a bodhisattva and truth:
Nga Vương Biệt Nhũ—Trong một hợp chất nước và sữa, thì
vua của loài ngỗng có thể chỉ uống chất sữa, còn bỏ
nước lại, dùng hình ảnh nầy đề ví với vị Bồ Tát chỉ
thấm nhuần chơn lý Phật và bỏ đi những thứ tạp nhạp
khác.
4)
The eye of the king-goose, distinguishing milk from water, used for the
eye of the truth-discerner: Nga Vương Nhãn—Dùng hình ảnh vua của
loài ngỗng biết phân biệt sữa và nước, để ví với học
giả có Pháp Nhãn biết chọn lựa sáng suốt.
Rajakamika
(p): A government official—Quan chức của triều đình.
Rajakula
(p): A royal family—Gia đình hoàng tộc.
Rajakumara
(p): A prince—Thái tử.
Rajakumari
(p): A princess—Công chúa.
Rajapura:
Yết Xà Bổ La—Name of an ancient city, situated 67 miles south-east
of Kashmir, now Rajaori. According to Hsuan-Tsang in the Records of the
Western Lands, there were about 10 monasteries in this city, but he did
not mention the tradition of these monasteries—Tên của một thành
phố cổ, tọa lạc khoảng 67 dặm về phía Đông Nam xứ Ca
Thấp Ba (Kashmir), bây giờ là Rajaori nằm về phía đông nam
Kashmir. Theo ngài Huyền Trang trong Tây Vực Ký, có khoảng 10
ngôi tự viện trong thành phố này, nhưng ngài không nói gì
đến trường phái của các ngôi tự viện này.
Rajargrha
stupa: Tháp Vương Xá—Rajargrha, where Dvadatta was destroyed and
the Sangha purified again by the Buddha. . This is one of the eight Great
Spiritual or Sacred Stupas of Buddhism—Tại thành Vương Xá, nơi
Đề Bà Đạt Đa phá hòa hợp Tăng, nhưng chư Tăng đã được
Phật hóa độ khiến họ trở lại hòa hợp thanh tịnh. Đây
là một trong tám ngôi tháp thiêng lớn của Phật giáo—See
Eight great spiritual or sacred stupas.
Rajasamadhi
(skt): Vương Tam Muội—King of samadhis.
Rajayatana
Tree: The tree under which the Buddha spent the seventh week after his
Supreme Enlightenment. The actual site is not known yet. The Buddha is
said to have sat on a stone seat which sprang up there from the ground
and there he made his first converts, Tapussa and Balluka, two merchants
from Utkala, modern Orissa. From the Rajayatana tree, the site of which
has not been identified yet, the Buddha returned to the Bodhi Tree and,
after sometime, thoughtfully proceeded to the Deer Park at Sarnath, modern
Isipatana—Dưới gốc cây này Đức Phật đã trải qua suốt
tuần lễ thứ bảy sau khi Ngài đạt được đại giác. Chưa
ai biết địa điểm chính xác. Người ta nói Đức Phật ngồi
trên một phiến đá trồi lên từ dưới đất, và chính tại
nơi này Ngài đã quy-y cho Tapussa và Balluka, hai thương nhân
từ Utkala, bây giờ là Orissa. Từ cây Rajayatana, mà vị trí
cũng chưa được xác định, Đức Phật đã đi trở lại cây
Bồ Đề và sau đó đi về hướng Vườn Lộc Uyển ở Ba La
Nại, bây giờ là Isipatana.
Rajini
(p): A queen—Hoàng hậu.
Rajorodha
(p): A royal concubine—Thứ thiếp của nhà vua.
Rajupatthana
(p): Attendance on a king—Sự hầu hạ nhà vua.
Rajuyyana
(p): A royal garden—Vườn thượng uyển.
Rakchasas
(skt): See Raksasas.
Raksasas
(skt): La sát—See Rakshas.
Raksasi
(skt): Ái La sát—La Sát Nữ—La Sát Tư—La Xoa Tư—Female demon—Female
demons. Lanka in Ceylon was the abode of 500 female demons—Loại nữ
quỷ. Đảo Tích Lan trước kia là nơi trú ngụ của 500 La Sát
Nữ—See Rakshas.
Rakshas
(skt): Raksasa (skt)—La sát.
1)
Evil demon: Malignant demon—La sát.
2)
Demons who eat humans, but those who take refuge with the Triple Jewels
do not; in contrast, they protect the Dharma: Quỷ La sát ăn thịt
người, nhưng một khi đã quy-y Tam Bảo thì ngược lại, chúng
hộ trì Phật Pháp.
3)
A class of demons living in Lanka: Loài quỷ La Sát sống ở Lăng
Già.
4)
Tiệp Tật Quỷ (La Sát), một trong tám bộ quỷ chúng—Raksasas,
one of the eight groups of demon-followers of the four maharajas—See
Rakshas and Eight groups of demon followers.
5)
A terrifying ghost or demon with black body, red hair, and green eyes.
Rakshas are reputed to be devoured of humans. Demons who are reputed to
be devoured of humans, but those who take refuge with the Triple Jewels
do not; in contrast, they protect the Dharma. A class of demons living
in Lanka—Một loài quỷ ghê tởm có thân hình màu đen, tóc
đỏ và mắt xanh. Quỷ La sát nổi tiếng ăn thịt người và
sát hại sát hại con người, nhưng một khi đã quy-y Tam Bảo
thì ngược lại, chúng hộ trì Phật Pháp. Một loài quỷ La
Sát sống ở Lăng Già.
5)
According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist
Terms—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển:
a)
Raksasa means harm, injury, maglinant spirits, demons; sometimes considered
inferior to Yaksas, sometimes similar: La Sát là tên chỉ chung các
loài ác quỷ hung bạo; có lúc kém hơn Dạ Xoa, có lúc tương
tự.
b)
A barbarian race of ancient India: La Sát là tên của một dân tộc
man rợ thời cổ ở Ấn Độ.
Raksha-deva:
La Sát Thiên—The deva controlling these demons, who has his abode in
the southwest corner of the heaven—Vị Trời kiểm soát hết thảy
các La Sát, trấn giữ góc tây nam.
Rakta
(skt): Aruna (skt)—Red—Màu đỏ.
Raktapadma
(skt): Padma (skt)—Bát Đặc Ma—Ba Đầu Ma—Bát Đàm Ma.
1)
Red Lotus: One of the sign of the foot of a Buddha—Hồng Liên Hoa,
một trong những biểu tượng của chân Phật—See Padma.
2)
The seventh of the eight cold hells: Địa ngục thứ bảy trong Bát
Hàn Địa Ngục—See Hell (III) (A2) (7).
Rakuho
(jap): Le-Pu—Lạc Phố (Nhật Bản).
Ram’s
horn: Dương Giác—A ram’s horn is used for the passions and delusions
of life—Sừng dê được dùng để ám chỉ dục vọng
và phiền não trên đời.
Rama
(skt): Ramagrama (skt).
1)
Lam Ma—An ancient kingdom and city Northern India between Kapilavastu
and Kusinagara—Một vương quốc và thành phố cổ nằm về
phía bắc Ấn Độ, giữa thành Ca Tỳ La Vệ và Câu Thi Na.
2)
La Ma, tên của một vị anh hùng ở Ấn Độ thời cổ—Name
of a hero in old India.
Ramabhar
(skt): Ramabhar, a pagoda at Kusinagara in India, marking the spot where
the Buddha’s body was cremated—Tháp Ramabhar tại Câu Thi Na ở
Ấn Độ, ghi dấu nơi hỏa thiêu nhục thân Đức Phật.
Ramaneyyaka
(p): Pleasant—Thích thú.
Ramanna
Nikaya: One of the three largest monastic orders of Sri Lankan Buddhism,
which was founded in 1865. The others being the Siyam Nikaya and the Amarapura
Nikaya—Một trong ba tông phái lớn nhất trong Phật giáo Sri
Lanka, đã được sáng lập vào năm 1865. Hai phái khác là Siyam
Nikaya và Amarapura Nikaya.
Ramble
about the hills: Du Sơn—To go from monastery to monastery—Du hành
từ tự viện nầy sang tự viện khác, chứ không trụ trì
một chỗ cố định.
Ramiprabhasa
(skt): Quang Minh Như Lai.
Rampa,
T. Lobsang (1910-1981): Son of a British plumber who claimed to have been
possessed by a Tibetan lama and subsequently transformed into a Tibetan.
He is best-known for his book “The Third Eye,” which he claims to be
his autobiography. It has been denounced by Tibetologists as a bizarre
hoax, but continues to be widely popular—Con trai của một thợ ống
nước người Anh người đã tuyên bố là đã bị ám bởi
một vị Lạt Ma Tây tạng và tiếp theo sau đó chuyển hóa
thành một người Tây Tạng. Ông nổi tiếng nhất nhờ quyển
“Con Mắt Thứ Ba,” trong đó ông nói về tiểu sử của chính
mình. Quyển sách bị bác bỏ bởi những nhà Tây Tạng Học
cho rằng đó là một sự lừa gạt kỳ quái, nhưng quyển sách
ấy vẫn tiếp tục lan truyền một cách rộng rải.
Rang’byung
rigs pa’i rdo rje (1924-1981): The sixteenth Gyelwa Karmapa, who was
one of the most influential Tibetan masters in Tibetan Buddhism in the
twentieth century. He was born in the Derge region of Khans and was recognized
as the reincarnation of his successor as a young child on the basis of
a letter that had been written by the fifteenth Gyelwa Karmapa predicting
the circumstances of his rebirth. At the age of seven he received ordination
from Tai Situ Rinpoche and Jamgon Kongtrul, and one year later he was officially
enthroned at Tsurpu Monastery, the seat of Karma Kagyupa order in Tibet.
In 1957, anticipating the future devastation of Tibet by China, he began
sending his followers out of the country. In 1959 he left Tibet and subsequently
settled in Sikkim, where he founded Rumtek Monastery, which has become
the headquarters of the order in exile. In 1974 he made a world tour, which
attracted many followers from all over the world. He helped to found a
number of Buddhist centers in the West and was widely recognized as one
of the most charismatic lamas of his time. He died of cancer in Illinois,
leaving behind a worldwide organization and a charitable trust worth an
estimate $1.5 billion. The question of his successor has led to violence
and acrimony among some of his followers. T’ai Situ Rinpoche and Dalai
Lama have publicly endorsed a candidate named Urgyen Tinley (1958 -), who
in 1992 was enthroned at mTshur phu, but Shamar Rinpoche rejects this enthronement
and contends that the true reicarnation is Tenzin Khyentse (1982 -), who
resides at the Nalanda Institute in New Deli—Vị Gyelwa Karmapa đời
thứ 16, người thầy trong Phật giáo Tây Tạng có ảnh hưởng
lớn nhất vào thế kỷ 20. Ngài sanh ra tại Derge thuộc vùng
Khans và được công nhận là tái sanh của người thừa kế
của ngài khi ngài hãy còn là một đứa bé nhờ vào một bức
thư mà vị Gyelwa Karmapa đời thứ năm đã tiên đoán những
hoàn cảnh tái sanh. Khi lên 7 tuổi thì ngài thọ giới với
Tai Situ Rinpoche và Jamgon Kongtrul, và một năm sau đó ngài chính
thức đăng quang tại Tu Viện Tsurpu, trụ sở của trường
phái Karma Kagyupa ở Tây Tạng. Vào năm 1957, tiên đoán được
tương lai tàn phá Tây Tạng của Trung Quốc nên ngài bắt đầu
cho đồ đệ đi ra nước ngoài. Vào năm 1959 ngài rời Tây
Tạng và định cư tại Sikkim, tại đó ngài sáng lập Tu Viện
Rumtek, trở thành trụ sở chính của trường phái lưu vong.
Năm 1974, ngài làm một cuộc du hành vòng quanh thế giới. Ngài
đã giúp thành lập một số trung tâm Phật giáo ở Tây phương,
và được công nhận một cách rộng rãi là một vị Lạt
Ma có từ tâm rộng nhất trong thời của ngài. Ngài qua đời
vị bệnh ung thư tại bang Illinois, Hoa Kỳ. Ngài để lại một
tổ chức từ thiện trải khắp thế giới với tổng số tiền
quỹ lên đến 1.5 tỷ đô la. Vấn đề người kế vị của
ngài đưa đến bạo động và những giọng điệu gay gắt
giữa các đệ tử của ngài. Rinpoche T’ai Situ và Đức Đạt
Lai Lạt Ma đã chính thức thừa nhận một ứng viên có tên
là Urgyen Tinley, người đã đăng quang vào năm 1992, nhưng Rinpoche
Shamar không chấp nhận việc đăng quang này và tranh luận rằng
vị tái sanh chân chánh phải là Tenzin Khyentse, người đang
trụ tại Viện Nalanda ở Tân Đề Li.
Ranga
(skt): Hí viện—Theater.
Rangdong
(tib): Sự trống không của cái ngã—A Tibetan term for “Self-emptiness.”
The understanding of emptiness (sunyata) that is upheld by the Gelukpa
and Sakyapa orders of Tibetan Buddhism. It follows the Indian Madhyamaka
tradition in interpreting emptiness as a radical denial of any substantial
entity or essence of phenomena or persons which does not imply anything
in its place. Rather, all phenomena are collections of parts that are influenced
by causes and conditions, constantly changing, and thus empty of inherent
existence (svabhava). This notion is opposed to the doctrine of “other-emptiness,”
which is held by other lineages of Tibetan Buddhism, particularly those
associated with Rime (“Non-Sectarian”) movement. The focus of the debate
is whether Tathagata-garbha, “embryo of the Tathagata” should be understood
as a positive reality or a mere absence. The “Rangdong” tradition interprets
it in the second way and holds that it refers to the emptiness of inherent
existence of the psycho-physical continuum, which is constantly changing.
Because there is no fixed essence or entity, beings have the option of
cultivating the qualities of buddhahood and gradually transforming themselves
into buddhas. The “shendong” (Gzhan Stong) position, by contrast, conceives
of “Tathagata-garbha” as a positive, self-existent essence that is
fully manifested through meditative practice—Từ ngữ Tây Tạng dùng
để chỉ “Sự trống không của cái ngã.” Sự hiểu biết
về tánh không đã được duy trì bởi các tông phái Gelukpa
và Sakyapa trong Phật giáo Tây Tạng, theo sau truyền thống Trung
Quán của Ấn Độ trong việc giải thích tánh không như là
sự phủ nhận tận căn cội về thực tánh của vạn hữu.
Kỳ thật vạn hữu chỉ là sự tập hợp của nhiều phần
bị ảnh hưởng bởi nhân duyên, luôn thay đổi, và vì vậy
không có thực tánh hiện hữu. Khái niệm này chống lại với
giáo lý “Tánh Không,” trong các trường phái của phật giáo
Tây Tạng, đặc biệt là những trường phái có liên hệ với
phong trào “Không có Giáo quyền.” Chủ yếu trong luận bàn
là Như Lai Tạng sẽ được hiểu như một thực tại tích
cực hay chỉ là một sự vắng mặt. Trường phái“Rangdong”
giảng giải theo cách thứ hai và trường phái này nhằm chỉ
đến “tánh không” của sự hiện hữu của sự liên tục
của tâm-vật lý, luôn thay đổi chứ không thường hằng.
Bởi vì không có một thực thể cố định, chúng sanh có sự
lựa chọn về việc tu tập những phẩm hạnh của Phật quả
và từ từ tự mình chuyển hóa thành Phật. Vị trí của “shendong”
thì đối nghịch lại, nhận biết rằng “Như Lai Tạng”
là tánh tự hiện hữu tích cực hiển hiện viên mãn qua thực
tập thiền định.
Range
(v): Roam (wander) about—Lang thang đây đó.
Rank
(n): Phẩm trật trong Giáo Hội.
Rankei-Doryu
(jap): Sư Lan Khê Đạo Long (1213-1278)—A Chinese Zen master who
came to Japan to spread Zen in 1246. He got the support from Hojo-Tokiyori—Thiền
sư Trung Hoa, đến Nhật Bản vào năm 1246 để truyền bà Thiền.
Ông được sự yểm trợ của Bắc Triều Thời Lại.
Rape
(n): Sự cưỡng hiếp.
Rapt
(a): Attentive—Chuyên tâm—Nhập định.
Rapten,
Geshe (1920-1986): Tibetan lama who entered Sera Monastic university at
the age of fifteen, fled to India in 1959, and in 1963 was awarded the
degree of “geshe lharampa,” In 1974 he made the first trip to Europe,
and in 1975 became abbot of a Gelukpa monastery at Rikon. In 1974 he also
founded the Tharpa Choeling Center for Higher Tibetan Studies at Mount
Pèlerin, near Lausanne, Switzerland—Vị Lạt Ma Tây Tạng, người
gia nhập Đại Học Tu Viện Sera ở tuổi 15, đào tỵ sang Ấn
Độ vào năm 1959, và năm 1963 được trao bằng “geshe lharampa.”
Năm 1974 ngài du hành sang Âu Châu, và năm 1975 ngài trụ trì
tu viện Gelukpa ở Rikon. Năm 1974 ngài cũng sáng lập Trung
Tâm Cao Học Tây Tạng Tharpa Choeling trong núi Pèlerin, gần Lausanne,
Thụy Sĩ.
Rapture
(skt): Sự sung sướng (thiền định)—Meditation.
Rare
(a): Hiếm (hy hữu).
Rare
cause: Hy hữu nhân.
Rarely:
Năm khi mười họa.
Rasa
(skt): Vị—Taste—Flavour—See Seventy-five dharmas of the Abhidharma
Kosa (I) (A).
Rasi
(p): A heap—Một đống.
Raskapalas
(skt): Lokapalas (skt)—Hộ quốc—See Four lokapalas and Four Heavenly
(Guardian) Kings.
Raskapalapariprccha
Sutra (skt): Hộ Quốc Tôn Giả Sở Vấn Đại Thừa Kinh.
Rasmiprabhasa
(skt): Quang Minh Phật—Mahakasyapa (Ma ha ca diếp) is to be reborn
in the kingdom of light and glorious virtue as a Buddha—Ngài Đại
Ca Diếp sẽ thành Phật vào cõi Phật Quang Minh này.
Rastrapala
(skt): Lại Tra Hòa La.
1)
Protector of a kingdom,a king: Vị vua bảo vệ vương quốc.
2)
Name of a noted monk whom the Buddha mentioned in the Agama Sutra (he left
home to follow the Buddha, then went back to preach to save his parents):
Tên của một vị Tăng nổi tiếng được Phật nói đến trong
Kinh A Hàm (ngài xuất gia theo Phật, sau đó trở về thuyết
pháp cứu độ mẹ cha).
Rat:
Tý (from 11 to 1 midnight)—See Twelve animals.
Ratanagraha
Chaitya (skt): A small roofless shrine, marks the place where the Buddha
spent the fourth week in meditation and recited to himself “Samants Pathana.”
While in contemplation, the blue, yellow, red, white, and orange rays emanated
from his body. The Buddhist Flag of India and Ceylon are designed with
these colors—Tháp Ratanagraha Chaitya là một ngôi tháp thờ không
có nóc, đánh dấu nơi Đức Phật đã trải qua tuần lễ thứ
tư sau khi Ngài đạt được đại giác. Tại đây Ngài đã
thiền định và tụng kinh “Samants Pathana.” Trong khi thiền
định, những ánh sáng sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, cam... từ
kim thân của Ngài chiếu tỏa ra. Lá cờ Phật giáo tại Ấn
Độ và Tích Lan được phác họa ra từ những màu sắc này.
Rat-squeakings
and cuckoo-callings: Thử Tức Điểu Không—Vain discussions, like
rat-squeakings and cuckoo-callings—Nhàn đàm hý luận vô bổ vô
ích, ví như tiếng chuột kêu tức tức và chim hú không không
vậy.
Rational
(a): Có lý trí—Rất hữu lý—Có suy lý—Có biện biệt—Reasonable.
Rational
behaviour: Kiến Hành—Ái Hành—Emotional behavior, or the emotions
of desire, as contrasted with rational behaviour—Ái hành có nghĩa
là tình ái dục vọng, đối lại với “kiến hành” có nghĩa
là suy lý.
Rational
behaviour: Emotions of desire—Emotional behaviour—Ái hành.
Rational
cogitating mind: Duyên Lự Tâm—Lự Trí Tâm—The rational cogitating
mind or eight kinds of consciousness (eye, ear, tongue, body, mind,
mana, alaya, etc)—Duyên lự tâm (tâm hay suy nghĩ mông lung theo
duyên bên ngoài). Tâm dính líu vào cảnh giới, suy nghĩ về
sự vật hay tám loại tâm thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý, ý căn, a lại da).
Rational
faith: Niềm tin có lý tính (thừa nhận sự có mặt của thượng
đế và sự bất tử của linh hồn).
Rational
outlook: Quan điểm thuần lý.
Rational
system of thoughts: Hệ thống tư tưởng hợp lý.
Rationale:
Cơ sở lý luận—Lý do cơ bản—Nguyên lý—Lý luận.
Rationalism
(n): Chủ nghĩa duy lý.
Rationalist
(n): Nhà duy lý luận.
Rationalistical
(a): Thuộc về thuyết duy lý.
Rationality
(n): Sự hợp lý—Tính hợp lý.
Rationalization
(n): Sự hợp lý hóa.
Ratna
(skt): Ratana (p)—La Đà Na—Bảo châu—Bảo vật—Anything precious,
a gem—The jewel in the Lotus—Mani—Pearl—Precious—Treasure.
Ratnacandra
(Ratnachandra) (skt): Bảo Nguyệt Bồ Tát.
Ratnadhvaja
(skt): A banner decorated with gems—Bảo phan (phướn).
Ratnadvipa
(skt): Bảo Chữ.
1)
Precious islet, island of pearls or gems; synonym for perfect nirvana:
Một hòn đảo nhỏ chứa đầy bảo châu, đồng nghĩa với
Niết Bàn.
2)
An old name for Ceylon: Tên cũ của đảo Tích Lan.
Ratna-garbha
(skt):
1)
Bảo Tạng Như Lai—A Buddha to whom Sakyamuni and Amitabha are said
to have owed their awakening—Vị Phật (Bảo Hải là con gái của
Phạm Chí, xuất gia thành đạo hiệu là Bảo tạng Như Lai)
mà Phật A Di Đà và Phật Thích Ca đều y vào để phát tâm
thành đạo.
2)
Jewel Treasury: Pháp Tạng.
3)
Jewel Treasury Buddha: Pháp Tạng Phật.
Ratnagotravibhagamahayanottara
sastra (skt): Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo tánh Luận—The sastra
was composed by Ratnamati on the Tathagatagarbha in Mahayana Buddhism—Bộ
Luận Do Nặc Na Ma Đề soạn về Như Lai tạng trong Phật giáo
Đại Thừa.
Ratnakara
(skt): Thích Na Già La—Bảo Tích.
1)
A jewel mine: Kho báu vật—The jewel heap.
2)
Name of a native of Vaisali, contemporary of Sakyamuni: Tên của một
cư dân cùng thời với Đức Phật trong thành Tỳ Xá Lê.
3)
Name of a Buddha or Bodhisattva: Tên của vị Phật hay Bồ Tát—Bảo
Tích Bồ Tát.
4)
Name of the 112th Buddha of the present kalpa: Tên của vị Phật thứ
112 trong hiền kiếp.
Ratna-kata-sutra
(skt): Jewelled-accumulation sutra—Bảo tích kinh—See Ratnakuta Sutra.
Ratnaketu
(skt): Bảo Thắng Như Lai—Bảo tướng Phật—Ratnaketu Buddha
in the South, one of the seven Tathagatas—Nam Phương Bảo Tướng
Phật, một trong bảy vị Như Lai (hay bố thí cho ngạ quỷ,
ngài trụ tại phương nam).
Ratnaketu
Buddha: See Ratnaketu.
Ratnakousoumasapouchpitagatra
Buddha (skt): Tạp sắc bảo hoa nghiêm thân Phật.
Ratnakusumasanpuchpitagatra-Buddha
(skt): Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật.
Ratna-kuta:
Ratna-rasi (skt)—Kinh Đại Bảo Tích: Gem-heap Sutra—Collection
of gems; accumulated treasures.
Ratnakuta
Sutra (skt): Bảo Tích Kinh—A Sanskrit term for “Pile of Jewels Sutra.”
It is one of the Vaipulya sutras, a voluminous collection of Mahayana texts,
which comprises forty-nine independent sutras, many of which are considered
to belong to the early period of Mahayana literature. The entire corpus
exists only in Chinese and Tibetan translations. One of the oldest sutras
of Mahayana. Ratnakuta developed the Middle Way, which later became the
basis for the Madhyamaka teaching of Nagarjuna. It also contains sutras
on transcendental wisdom (Prajna Paramita Sutra and Longer Amitabha Sutra).
The sutra was translated into Chinese by Bodhiruci, one of the oldest sutras
of Mahayan. In the Ratnakuta, the thought of the Middle Way is developed.
It also contains sutras on transcendental wisdom (Prajan Paramita Sutra
and Longer Amitabha Sutra). A very important sutra (6000 pages in nine
volumes) which contains almost all the most critical teaching of the Mahayana
Tradition (Great Vehicle) to carry sentient beings to the Ultimate Enlightenment
of Buddhahood—Từ Bắc Phạn có nghĩa là “Bảo Tích Kinh.”
Đây là một trong những bộ kinh Phương Quảng, một bộ kinh
nhiều tập sưu tập văn kinh Đại Thừa, gồm 49 quyển kinh
độc lập với nhau, đa phần được xem như văn kinh Đại
Thừa trong thời sơ khai. Toàn bộ kinh văn chỉ còn tồn tại
trong bản dịch Hán văn và Tây tạng mà thôi. Đây là một
trong những bộ kinh tối cổ của Phật Giáo Đại Thừa. Chủ
ý kinh nhằm phát triển Trung Đạo, mà về sau nầy trở thành
học thuyết cho phái Trung Đạo của Ngài Long Thọ. Đại Bảo
Tích cũng chứa đựng những kinh văn nói về Bát Nhã Ba La
Mật. Kinh được ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang Hoa ngữ, là
một trong những kinh điển xưa nhất của Phật Giáo Đại
Thừa. Trong Đại Bảo Tích, tư tưởng Trung Đạo được triển
khai. Kinh cũng nói về trí huệ siêu việt (Bát Nhã Ba La Mật
Đa trong trường Kinh A Di Đà). Tạng kinh điển rất quan trọng
gồm 6000 trang trong chín quyển chứa đựng hầu hết những
giáo điển trọng đại của Đại Thừa nhằm đưa chúng sanh
đến chỗ Giác Ngộ Tối Thượng của Phật quả.
Ratnamati
(skt): Lặc Na Ma Đề—A monk from Central India, around 500 A.D.,
who translated three works—Còn gọi là Lặc Na Bà Đề, dịch
là Bảo Y, một vị Tăng người miền trung nước Thiên Trúc,
vào khoảng năm 500 sau Tây Lịch, người đã dịch ba bộ kinh.
Ratnapani
(skt): Precious race—Bảo chủng—Bảo chưởng (Bảo Thủ) Bồ
Tát.
Ratna-Paramita
Bodhisattva (skt): Bảo Ba La Mật Bồ Tát—One of the four female
attendants on Vairocana in the Vajradhatu, evolved from him, each of them
a mother of one of the four Buddhas of the four quarters—Bảo
Ba La Mật Bồ Tát, một trong bốn vị nữ Bồ Tát thân cận
của Đức Tỳ Lô Giá Na trong Kim Cang Giới, đều do Ngài lưu
xuất, mỗi vị là mẹ của một trong bốn vị Phật trong tứ
phương—See Four female attendants on Vairocana.
Ratna-pitaka
(skt): Ratna-karandaka (skt)—Bảo Khiếp—Rương đựng bảo châu—A
precious box, or box of precious things.
Ratnaprabha
(skt): Bảo Quang thiên tử.
Ratna-rasi
(skt): Accumulated treasures—Collection of gems—Gem-heap—Bảo tích.
Ratnasambhava
(skt): Bảo Sanh—Bảo Thắng.
1)
A Sanskrit term for “Jewel Born.” One of the five buddhas, who presides
over a “pure land” in the south. Iconographically, he is generally
portrayed with golden skin and sitting in the Yogic Padmasana position,
making the “wish-granting” gesture (varada-mudra). In Tibet he is often
portrayed embracing his consort Mamaki. Also known as the Compassionate
Giver. He is associated with the earthly buddha Kashyapa and a transcendent
bodhisattva Ratnapani. Ratna-Sambhava is always riding a lion or a horse,
making the gesture of wish granting—Từ Bắc Phạn có nghĩa là
“Bảo Sanh Phật.” Một trong năm vị Phật siêu việt,, mà
trú xứ của ngài là Nam Phương Tịnh Độ. Về Tiếu Tượng
học, người ta thường phác họa Ngài có da màu vàng kim, ngồi
tọa thiền vị thế kiết già, tay bắt ấn “ban phát ước
nguyện.” Ở Tây Tạng ngài thường được họa đang quấn
lấy Kamaki. Nam Phật còn được biết như người ban bố từ
bi. Phật trần thế Kashyapa và Bồ tát siêu việt Bảo Chưởng
đều phục tùng Nam Phật. Ngài thường ngồi trên lưng sư
tử với cử chỉ chấp thuận những mong ước (See Mudra 6).
**See Five dhyani Buddhas and Five Buddhas that correspond to the five
elements.
2)
The realm of Subhuti on his becoming Buddha: Cõi thành Phật của ngài
Tu Bồ Đề.
**
See Seven Tathagatas.
Ratnatedjobhyyudgataradja
(skt): Bảo Oai đức thượng vương Phật.
Ratna-traya
(skt): Tam Bảo—A Sanskrit term for “Three Jewels.” The three objects
in which Buddhists traditionally “take refuge”: Buddha, Dharma, and
Samgha. These are also referred to as “refuges” (sarana), because they
serve as aids for those who seek release from cyclic existence. The formal
taking of refuge is generally considered to mark a person’s entry into
the community of Buddhists—Từ Bắc Phạn dùng để chỉ “Tam
Bảo.” Ba thứ mà theo truyền thống các Phật tử đều phải
về nương: Phật, Pháp, và Tăng. Những thứ này được gọi
là “về nương” vì chúng giúp cho những ai mong cầu giải
thoát khỏi vòng sanh tử. Lễ Quy-Y chính thức được xem như
đánh dấu sự gia nhập của một người vào trong cộng đồng
Phật tử.
Ratnavabhasa
(p): Bảo Minh Phật.
Ratna-Wheel:
Ratna-Wheel with Ratnasambhava Buddha—Bảo Luân với Bảo Tướng
Phật—See Four wheels (C).
Rattannu
(p): Cao tuổi hạ và nhiều kinh nghiệm.
Rattling
staff: Ô Tích.
1)
A rattling staff shaken to warn the spirits—Cây thiếc trượng khi
lắc dùng để cảnh báo những hương linh.
2)
The sounding or rattling staff, said to have been ordained by the Buddha
to drive away crawling poisonous insects: Cây gậy đã được Đức
Phật cho thọ giới, dùng để đuổi những loại côn trùng
độc.
Raurava
(skt): Hô Hô—Lỗ La Bà—The fourth hot hell, the hell of crying
and wailing—Hiệu Kiếu địa ngục hay hỏa ngục nóng thứ
tư, nơi phạm nhân bị hành hình kêu la thảm thiết—See Eight
great hot hells.
Rava
(p): A cry—Tiếng kêu khóc.
Ravana
(skt): La Bà Na—King of Ceylon and ruler of the Raksasas, overcome by
Ramacandra—Vua của xứ Tích Lan trước đây, cai trị loài la
sát, sau bị Ramacandra chế ngự.
Ravish
(v): Cưỡng hiếp.
Ravivara
(skt): Chủ Nhật—Sunday—See Seven days in a week.
Ray
(n): Prabha (skt)—Beam—Brightness—Light—Splendor—Ánh sáng—Quang
minh—Quang huy—There are three kinds of light—Có ba loại ánh
sáng—See Two kinds of light and Three kinds of light.
Rays:
Những tia hào quang.
Rddhi
(skt): Riddhi (p)—Thần thông—Divine power—Supernatural or magical
powers that are part of Abhijna. It refers to the power to manifest multiple
forms of oneself or to transform oneself into another shape, to become
invisible, to pass through valid things, to walk on water or fire, to touch
the sun and moon, and to scale the highest heaven. These abilities are
by-products of meditation, concentration and contemplation practices. However,
exhibiting or exploiting these powers is a violation of monastic discipline
and pretending to possess such powers is grounds for dismissal from the
sangha—Thần thông biến hóa, những quyền năng thần diệu
siêu nhiên nằm trong lục thông, đặc biệt biến hóa dưới
nhiều dạng, hay qua một dạng khác, tàng hình, xuyên qua các
vật thể rắn, đi trên nước hay lửa, sờ mặt trời hay mặt
trăng, hoặc đi vào các tầng trời cao nhất. Những quyền
năng nầy đạt được do tu tập thiền định, tập trung tư
tưởng hay quán chiếu. Tuy nhiên, khoe khoang những quyền năng
nầy là vi phạm các qui tắc tu hành, sẽ bị loại trừ khỏi
cộng đồng Tăng già.
Rddhi-mantra
(skt): Thần Chú—Dharani—Dharani, or magic or divine incantations—Đà
La Ni hay những lời chú thần bí.
Rddhipada:
Iddhipada (p)—Như ý túc (bốn bước tiến đến thần lực)—Four
bases of miraculous powers—Four properties—Four
roads to power—Four steps towards supernatural power
which bring magical powers or components of miraculous power—Bốn phẩm
chất căn bản tập trung tư tưởng để đạt được những
quyền năng thần diệu:
1)
Chanda (skt)—Dục Như Ý Túc: Concentration of intention or the will
power—Ham muốn hay năng lực của ý.
2)
Virya (skt)—Tinh Tấn Như Ý Túc: Concentration of strenuous efforts—Tinh
tấn hay năng lực của tư tưởng.
3)
Citta (skt)—Thức Như Ý Túc: Tinh thần—Concentration of the mind
or thought power.
4)
Mimamsa (skt)—Quán Như Ý Túc: Concentration of inquisitiveness and
daring, or deep thinking—Nghiên cứu và xét đoán hay suy nghĩ
sâu xa.
**
See Abhijna, Four Sufficiences, and Thirty-seven Aids to Enlightenment.
Rddhisaksakriya
(skt): Supernatural power—Power to be anywhere or do anything at will—Như
ý thông (thần túc thông)—See Abhijna, Four Sufficiences, and Five
supernatural powers.
Rddhividhi-jnana
(skt): The power to transfer oneself to various regions at will (change
the body at will)—Thần túc thông—See Abhijna and Four Sufficiences.
Reach
the bliss of nirvana: Đạt được an vui nơi niết bàn.
Reach
Buddhahood: Become a Buddha—Attain Enlightenment—Đắc quả giác
ngộ—Đắc quả vị Phật.
Reach
enlightenment: Attain (v) nirvana— Obtain the way—Reach perfection—To
enter into Nirvana—Đắc Đạo—To obtain the way, or religion; by
obedience to the commandments, practice of meditation, and knowledge, to
attain enlightenment—Nhập Niết bàn hay đạt đến Niết bàn
nhờ vào giới, định, huệ và đạt được giác ngộ
(trí tuệ đoạn trừ lậu hoặc, chứng được đế lý gọi
là đạo, nhờ thực hành tam học mà phát sinh ra trí tuệ đó
thì gọi là “đắc đạo”).
Reach
the furthest extent of mastery of all the teachings: Đến bỉ ngạn
tất cả pháp tự tại—See Ten kinds of way of adornment of Great
Enlightening Beings (10).
Reach
one’s height: Reach one’s summit—Đạt tới đỉnh.
Reach
the other shore: Paramita (skt)—Đáo bỉ ngạn.
Reach
out everywhere: Hành hoạt khắp nơi.
Reach
perfect supreme bodhi: Thành Phật—Attain perfect supreme bodhi—Become
a Buddha—To become Buddha and obtain deliverance from the round of mortality—To
become Buddha, as a Bodhisattva does on reaching supreme perfect bodhi—Bồ
Tát ở ngôi nhân vị, tu hành vạn hạnh, cuối cùng chứng
đắc A Nậu Đa La Ta Miệu Tam Bồ Đề (Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác) hay Phật giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử.
Reach
all places to expound the sublime Teaching: Tới khắp tất cả chỗ
mà nói rộng diệu pháp—Always in correct concentration, but instantly
reach all places to expound the sublime Teaching for sentient beings everywhere—Hằng
tại chánh định ở trong một niệm khắp tất cả chỗ vì
khắp chúng sanh mà nói rộng diệu pháp—See Ten kinds of immeasurable
inconceivable Buddha-concentrations.
Reach
all places to teach all sentient beings ultimate selflessness: Instantly
reach all places to teach all sentient beings ultimate selflessness—Tất
cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp
tất cả chỗ vì các chúng sanh mà nói vô ngã tế—See Ten
kinds of immeasurable inconceivable Buddha-concentrations.
Reach
any place at will: Prapti (skt)—Năng viễn chí—To be anywhere at
will, either by self-transportation or by bringing the destination to himself
or to reach any place at will. This is one of the eight supernatural
powers of transformation, characteristics of every Buddha—Năng
viễn chí hay có khả năng đến nơi xa được hay như ý thân.
Đây là một trong tám loại biến hóa hay tám thần thông biến
hóa của chư Phật—See Eight supernatural powers of transformation.
Reach
perfection: Attain enlightenment—Obtain the way—Đắc đạo—See
Reach enlightenment.
Reach
the very topmost height: To be in highest condition (attain Arahantship
or Sainthood)—Đạt đến đỉnh cao tối thượng (đạt được
A La Hán quả hay Thánh quả).
Reaching
of knowledge of all Buddhas: Nhập nơi trí của chư Phật đã nhập—There
is a spiritual friend who introduces cultivators to the reaches of knowledge
of all Buddhas. This is one of the ten kinds of spiritual friends who help
them along the path to enlightenment in the Flower Adornment Sutra—Có
một loại thiện tri thức khiến nhập nơi trí của chư Phật
đã nhập. Đây là một trong mười loại thiện hữu tri thức
mà Đức Phật đã dạy trong Kinh Hoa Nghiêm—See Ten kinds of
spiritual friends.
Reaction
of evil karmic seeds: Sức Phản Ứng Của Chủng Tử Nghiệp—See
Three causes of karmic obstructions.
Read
palms: Xem chỉ tay—A Bhiksu or Bhiksuni who reads palms in order to
earn money, or even not to earn money but to mislead people into superstitions,
commits an Expression of Regret Offence—Vị Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo
Ni nào xem chỉ tay để đoán vận mệnh để kiếm tiền, hay
ngay cả không kiếm tiền cũng là hướng dẫn người sai lạc
vào mê tín dị đoan, đều phạm vào giới Ba Dật Đề, phải
phát lồ sám hối.
Read
and repeat few sutras: Quả thiển tỳ kheo—See Two classes of monks.
Read
the scriptures: Trùng tụng kinh điển—See Three flavors (I).
Read
worldly books and magazines: Đọc sách báo thế tục—A Bhiksu or
Bhiksuni who reads worldly books and magazines, including videos, video
discs, television and internet programs, as well as conversations on telephone
and other images or sounds that have toxic effect, watering the seeds of
sexual desire, fear, violence, sentimental weakness, and depression, commits
an Expression of Regret Offence. However, in addition to reading books
on Buddhism, he or she can read books on the history of civilizations of
the world, general history and teachings of other religious faiths, applied
psychology, and most recent scientific discoveries because these areas
of knowledge can help him or her to understand and share the teachings
to people in a way that is appropriate to their situation—Vị Tỳ Kheo
hay Tỳ Kheo Ni nào đọc sách báo thế tục, kể cả băng phim,
đĩa hình, hay chương trình truyền hình và vi tính, cũng như
những cuộc điện đàm và hình ảnh hay âm thanh khác có tác
dụng độc hại, tưới tẩm hạt giống tham dục, sợ hãi,
bạo động và ủy mị đau sầu, là phạm giới Ba Dật Đề,
phải phát lồ sám hối. Tuy nhiên, ngoài giáo lý Phật giáo,
vị Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni có thể đọc thêm những sách về
lịch sử các nền văn minh trên thế giới, về đại cương
giáo lý về niềm tin của các tôn giáo, những áp dụng của
tâm lý học, và những khám phá mới của khoa học, vì những
kiến thức này có thể giúp cho Tăng Ni hiểu và nói giáo lý
cho đời một cách tương hợp hơn với hoàn cảnh (khế cơ).
Reader:
Độc Sư—See Seven monks (B).
Reading:
Bài đọc.
Reading
and reciting sutras: Đọc Tụng kinh—See Two kinds of study.
Reading
the scriptures: Tụng đọc kinh điển—One of the three pleasant
flavors—Một trong tam vị—See Reading of Sutras.
Reading
of sutras: Đọc kinh sách—It is better to read no sutras than to read
a few and then blindly accept everything contained in them. This is one
of the three flavors—Thà là đừng đọc kinh sách còn hơn đọc
là đọc vài quyển mà một mực mù quáng tin vào những điều
được viết trong ấy (Tận tín thư bất như vô thư hay đọc
kinh sách thì phải suy xét cho thật kỹ càng trước khi tín
thọ). Đây là một trong tam vị—See Three flavors (II).
Ready-made:
Làm sẳn—Man is not ready-made.
Ready-made
answers: Những câu trả lời có sẳn.
Real
(a): Chân thực.
1)
Bhutatathata (skt): The universal undifferentiated.
2)
Tattva (skt)—Truth—Reality—True—Real nature—Chân thật.
3)
Universal undifferentiated, or the primary essence out of which the phenomenal
arises: Bình Đẳng Bất Nhị.
3)
Yathàbhutam (p): Yathàbhùta (skt)—Thật sự—Chân chánh—Như
thật—Thực tại—Hiện thực—Trung thực—Evident—Conformed
with truth—In truth—True—True (a)—Real (a)—Reality (n)—According
to reality.
Real
appearance: True aspect—Chân tướng.
Real
body: Dharmakaya (skt)—Thật tướng thân—See Trikaya.
Real
Buddha: Noumenal Buddha—Chân Phật.
1)
The sambhogakaya or reward body (the unreality of the ego or phenomena),
in contrast with the nirmanakaya, or manifested body: Báo thân đối
lại với ứng thân, hóa thân Phật hay hiện thân của Đức
Phật.
2)
The Dharmakaya: Pháp Thân Phật (vô tướng).
3)
The real Buddha in self: Đức Phật tự nhiên chân thực nơi mình
(Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Tâm ta tự có Phật.”).
4)
The natural purity in self: Bản tánh thanh tịnh nơi mình (Kinh Pháp
Bảo Đàn: “Bản tánh tự nơi mình vốn thanh tịnh.”).
Real
Buddha-body: Sambhogakaya (skt)—Thật sắc thân—See Trikaya and
Sambhogakaya.
Real
Buddha son: Chân Phật Tử—According to the Diiferentiated Teaching
of the T’ien-T’ai Sect, a true Buddha son is the one who has attained
the first stage of bodhisattvahood, where he knows thoroughly the unreality
of theego and phenomena—Theo Thiên Thai Biệt Giáo, chân Phật tử
là Bồ Tát sơ địa (đã chứng đắc chân như ngã pháp nhị
không).
Real
and demonic realms: Cảnh thật hay ma cảnh—See Five circumstances
(criteria) that can help us to determine which events are real and which
belong to the demonic realms.
Real
dharma: Chân pháp—Absolute dharma (absolute dharma without attributes),
in contrast to phenomena which are regarded as momentary constructs—Chân
pháp, đối lại với các hiện tượng, những thứ được
xem là những cấu trúc tạm thời.
Real
dharmakaya: Thực tướng pháp thân—Thực thân hay thân vô tướng
của Như Lai—See Five kinds of a Buddha’s dharmakaya and Five attributes
of the dharmakaya.
Real
ego: Nirvana ego—Transcendental ego, as contrasted with the illusory
or temporal ego—Chân ngã.
Real
evidence: Chân chứng—Proof or assurance, or realization of truth.
The knowledge, concept, or idea which corresponds to reality—Bằng chứng
của sự giác ngộ.
Real
friendship is rare: Tình bạn chân thật rất hiếm hoi (Thanh nhãn
nan phùng).
Real
gold stands the test of fire: Vàng thiệt không sợ lửa (thành thật
ngay thẳng thì không sợ gì cả, kể cả những lời hăm dọa)—The
honest man is not afraid of anything, including threads.
Real
harmonized world: Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới—See Perfectly unimpeded
interpenetration.
Real
knowledge free from illusion: Buddha-wisdom—Original mind in all—Unadulterated
mind in all—Innocent mind in all, which is independant of birth and death—Chân
thức.
Real
Mahayana: Thực Đại Thừa Giáo—The Real Mahayana, freed from temporal,
relative, or expedient ideas; the T’ien-T’ai, Hua-Yen, Intuitional,
and Shingon schools claim to be such—Giáo lý Đại Thừa tỏ rõ
chân thực, chứ không mang quyền giả phương tiện (đối lại
với Quyền Đại Thừa Giáo); các tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm
cho rằng mình là Thực Đại Thừa Giáo.
Real
mark Buddha-recitation: Thật tướng niệm Phật—See ‘Self-Nature’
Buddha Recitation and Four methods of Buddha Recitation.
Real
mark prajna: Thực tướng Bát Nhã—Wisdom in regard to reality—Chứng
đắc lý thực tướng hay chân tuệ chứng thực.
Real
Mark’ or ‘Self-Nature’ Buddha Recitation: Thật Tướng Niệm
Phật—See Four methods of Buddha Recitation.
Real
mind: Bhutacitta (skt)—Chân tâm— True mind—Sincere—True character
of man—True disposition of man—True-hearted—True to one’s nature—See
True Mind.
Real
native countries of Great Enlightening Beings: Sinh địa đích thực
của chư Đại Bồ Tát—According to Zen Master D.T. Suzuki in Essays
in Zen Buddhism, Bodhisattvas have ten real native countries—Theo Thiền
Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận Tập III, c