Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH
- VIETNAMESE ANH VIỆT
Thiện
Phúc
H
Habit
(n): Samudaya (skt)—Thói quen.
Habit
of afflictions: Phiền Não Tập—The influence of the passions after
they have been cut off—Tập khí của phiền não, dù đã đoạn
tận phiền não nhưng tập khí của nó vẫn còn.
Habits
of anger: Habits of hatred—Sân Tập Nhân—Hatred results in emasculation
of sex organ. This is one of the ten causes and effects. According to the
Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the habit
of hatred as follows: “Habits of hatred which give rise to
mutual defiance. When the defiance binds one without cease, one’s heart
becomes so hot that it catches fire, and the molten vapor turns into metal.
From it produced the mountain of knives, the iron cudgel, the tree of swords,
the wheel of swords, axes and halberds (cây kích), and spears and saws.
It is like the intent to kill surging forth when a person meets a
mortal enemy, so that he is roused to action. Because these two habits
clash with one another, there come into being castration and hacking, beheading
and mutilation, filing and sticking, flogging and beating, and other such
experiences. Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon
hatred and name it ‘sharp knives and swords.’ Bodhisattvas should avoid
hatred as they would their own execution.”—Nhân sân hận quả báo
là bị thiến, cắt, đẽo. Đây là một trong mười nhân mười
quả. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã
nhắc nhở ngài A Nan về Sân Tập Nhân như sau: “Sân tập
xung đột xen nhau, phát từ nơi giận nhau, kết mãi không thôi.
Tâm nóng nảy phát ra lửa, hun đúc khí kết lại thành loại
kim. Như vậy nên có các việc đao sơn, kiếm thụ, và phủ
việt. Như người bị hàm oan, đằng đằng sát khí. Hai tập
kích thích nhau, nên có các việc bị hình, chém, đâm, đánh,
đập. Vì thế mười phương Phật nói nóng giận tên là đao
kiếm sắc. Bồ Tát tránh sân như tránh sự tàn sát.”—See
Ten causes and ten effects.
Habits
of animosity (resentment): Oan Tập Nhân—See Ten causes and ten effects.
Habits
of arrogance: Mạn Tập Nhân—Habits of arrogance or conceit results
in blood rivers and poisonous seas. This is one of the ten causes and effects.
According to the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda
about the habit of arrogance as follows: “Habits of arrogance and resulting
friction which give rise to mutual intimidation. When it accelerates without
cease, it produces torrents and rapids which create restless waves
of water, just as water is produced when a person continuously works
his tongue in an effort to taste flavors. Because these two habits incite
one another, there come into being the river of blood, the river
of ashes, the burning sand, the poisonous sea, the molten copper which
is poured over one or which must be swallowed, and other such experiences.
Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon self-satisfaction
and name it ‘drinking the water of stupidity.’ Bodhisattvas should
avoid arrogance as they would a huge deluge.”—Nhân ngã mạn quả
báo là bị rơi vào sông máu biển độc. Đây là một trong
mười nhân mười quả. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám,
Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về Mạn Tập Nhân như
sau: “Mạn tập giao lấn, phát ra ỷ nhau, tuôn chảy mãi không
thôi. Như vậy nên có cuồn cuộn chảy, chứa sóng thành nước.
Như lưỡi nếm vị, chảy nước dãi vậy. Hai tập cổ động
nhau, nên có các việc sông huyết, tro cát nóng, biển độc,
nước đồng, vân vân. Vì thế mười phương Phật gọi ngã
mạn là uống nước si. Bồ Tát nên tránh ngạo mạn như tránh
chỗ sa lầy lớn.”—See Ten causes and ten effects.
Habit
as cause: Tập nhân hay Đồng loại nhân—Lust breeding lust—Practice
as cause (desire causing desire)—See Two causes (C), and Three causes.
Habit
of committing adultery: Tà hạnh tập nhân—At the time of the Buddha,
there was a man who had the habit of committing adultery. Even though he
had been arrested a number of times for his misconduct, he did not change
his ways. In desperation, his father brought him to the Buddha for advice.
The Buddha pointed out that a person who indulges in sexual misconduct
creates problems and suffering for himself as well as others. He not only
squanders his money and loses his reputation but also creates enemies for
himself. These are serious consequences often result from sexual misconduct,
but they are usually overlooked at the time when it is being committed—Vào
thời Đức Phật còn tại thế, có một người đàn ông có
thói quen tà dâm. Dù đã bị bắt nhiều lần, nhưng thói cũ
vẫn không chừa. Trong khi tuyệt vọng, người cha bèn đưa
người ấy đến gặp Đức Phật để nghe lời khuyên nhủ.
Đức Phật chỉ ra cho người ấy thấy rằng một kẻ phạm
hạnh tà dâm sẽ tự làm khổ mình cũng như làm khổ người
khác. Người ấy chẳng những phung phí tiền bạc và mất
đi tiếng tăm, mà còn tạo ra nhiều kẻ thù cho chính mình.
Đây chính là những hậu quả nghiêm trọng của sự tà dâm,
mà người ta thường không nhìn thấy khi phạm phải lỗi lầm
này.
Habit
of craving: Habits of greed—Tham Tập Nhân—Habits of greed or covetousness
results in the cold hells. This is one of the ten causes and effects. According
to the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the
habit of greed as follows: “Habits of greed and intermingled scheming
which give rise to a suction. When this suction becomes dominant
and incessant, it produces intense cold and solid ice where freezing occurs,
just as a sensation of cold is experienced when a person draws in a blast
of wind through his mouth. Because these two habits clash together, there
come into being chattering, whimpering, and shuddering; blue, red, and
white lotuses; cold and ice; and other such expeirences.”—Nhân tham
lam quả báo là địa ngục lạnh. Đây là một trong mười
nhân mười quả. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức
Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về Tham Tập Nhân như sau: “Tham
tập giao kết, phát ra thu hút mãi không thôi. Như vậy nên
có chứa cái giá lạnh, trong đó lạnh lẽo. Ví dụ người
lấy miệng hít gió, thấy có hơi lạnh. Hai cái tập xô đẩy
nhau, nên có những việc ba ba, tra tra, la la, như băng lạnh,
hoa sen trắng, đỏ, xanh. Vì thế mười phương các Đức
Phật nói tham cầu như là nước tham. Bồ Tát nên tránh tham
như tránh biển độc.”
Habit
and custom: Tập tục.
Habits
of deceptions: Habits of deceitfulness—Trá Tập Nhân—Habits of deceptions
(deceitfulness) result in yokes and being beaten with rods. This is one
of the ten causes and effects. According to the Surangama Sutra, book Eight,
the Buddha reminded Ananda about the habit of deceitfulness as follows:
“Habits of deception and misleading involments which give rise to mutual
guile. When such maneucering continues without cease, it produces the ropes
and wood of gallows for hanging, like the grass and trees that grow when
water saturates a field. Because these two habits perpetuate one another,
there come into being handcuffs and fetters, cangues and locks, whips and
clubs, sticks and cudgels, and other such experiences. Therefore, the Thus
Come Ones of the ten directions look upon deception and name it a ‘treacherous
crook.’ Bodhisattvas fear deception as they would a savage wolf.”—Gian
trá lừa đảo quả báo là bị gông cùm roi vọt. Đây là một
trong mười nhân mười quả. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển
Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về Trá Tập Nhân
như sau: “Trá tập dụ nhau, phát từ nơi dỗ nhau, dẫn dắt
không thôi. Vì vậy như dây quấn cây để sống, nước tưới
ruộng thì cây cỏ sinh trưởng. Hai tập nhân nhau, nên có các
việc gông, xiềng, cùm, xích, roi, đánh, vân vân. Vì thế mười
phương Phật gọi gian ngụy là giặc hiểm. Bồ Tát nên tránh
gian trá như tránh lang sói.”—See Ten causes and ten effects.
Habit
of desire: Desire becomes habitual—Tham tập (thói quen của lòng
tham, hay tham mãi thành thói quen).
Habits
of disputation: Habits of litigation—Tụng Tập Nhân—This is one
of the ten causes and effects. According to the Surangama Sutra, book Eight,
the Buddha reminded Ananda about the habit of disputation as follows: “Habits
of litigation and the mutual disputations which give rise to covering.
From them there are produced a look in the mirror and illumination by the
lamp. It is like being in direct sunlight. There is no way one can hide
one’s shadow. Because these two habits bicker back and forth, there come
into being evil companions, the mirror of karma, the fiery pearl, exposure
of past karma, inquests, and other such experiences. Therefore, all the
Thus Come Ones of the ten directions look upon covering and name it a ‘yin
villain.’ Bodhisattvas regard covering as they would having to carry
a mountain atop their heads while walking upon the sea.”—Đây là
một trong mười nhân mười quả. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm,
quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về Tụng Tập
Nhân như sau: “Tụng tập giao huyên, phát từ che dấu. Như
vậy nên có những việc gương soi thấy tỏ rõ, ví như giữa
mặt trời không thể dấu hình ảnh. Hai tập bày ra, nên có
các bạn ác tố cáo, nghiệp cảnh hỏa châu, vạch rõ và đối
nghiệm nghiệp đời trước. Vì thế mười phương Phật gọi
che dấu là âm tặc. Bồ Tát tránh che dấu như bị đội núi
cao đi trên biển cả.”
Habit
energy: Vasana (p & skt)—Tập Khí—The accumulation of the past
thoughts, affections, deeds, and passions—Former habit—Old habit.
1)
The accumulation of the past thoughts, affections, deeds, and passions:
Tập Khí (thói quen cũ)—Sự tích lũy ý nghĩ, tình cảm, việc
làm và những dục vọng trong quá khứ).
2)
The impression of any past action or experience remaining unconsciously
in the mind: Những ấn tượng của bất cứ hành động và kinh
nghiệm quá khứ được ghi lại trong tâm chúng ta một cách
vô ý thức.
3)
The present consciousness of past perceptions: Những tri giác quá khứ
mà trong hiện tại chúng ta hồi tưởng lại.
4)
Past knowledge derived from memory: Kiến thức quá khứ được lưu
trữ trong ký ức.
5)
Good or evil karma from habits or practice in a former existence: The force
of habit—The uprising or recurrence of thoughts, passions or delusions
after the passion or delusion has itself been overcome, the remainder or
remaining influence of illusion—Những chất chồng của nghiệp,
thiện và bất thiện từ những thói quen hay thực tập trong
tiền kiếp. Sự khởi dậy của tư tưởng, dục vọng, hay
ảo tưởng sau khi chúng đã được chế ngự.
6)
According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds
of habit energy of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide
by these can forever get rid of all afflictive habit energies and attain
Buddhas’ habit energies of great knowledge, the knowledge that is not
energized by habit—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ
tập khí của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp
nầy thời lìa hẳn tất cả tập khí phiền não, đạt được
trí đại trí tập khí phi tập khí của Như Lai—See Ten kinds
of habit energy of Great Enlightening Beings.
Habit
energy of determination for enlightenment: Tập khí của Bồ Đề
tâm—See Ten kinds of habit energy of Great Enlightening Beings.
Habit
energy of edifying sentient beings: Tập khí giáo hóa chúng sanh—See
Ten kinds of habit energy of Great Enlightening Beings.
Habit
energy of enlightening practice: Tập khí công hạnh—See Ten kinds
of habit energy of Great Enlightening Beings.
Habit
energy of meditation on equality: Tập khí tư duy pháp bình đẳng—See
Ten kinds of habit energy of Great Enlightening Beings.
Habit
energy of roots of goodness: Tập khí của thiện căn—See Ten kinds
of habit energy of Great Enlightening Beings.
Habit
energy of seeing Buddha: Tập khí thấy Phật—See Ten kinds of habit
energy of Great Enlightening Beings.
Habit
energy of transcendence: Tập khí của Ba La Mật—See Ten kinds of
habit energy of Great Enlightening Beings.
Habit
energy of undertaking birth in pure worlds: Tập khí thọ sanh nơi
thế giới thanh tịnh—See Ten kinds of habit energy of Great Enlightening
Beings.
Habit
energy of various differentiations of state: Tập khí của những cảnh
giới sai biệt—See Ten kinds of habit energy of Great Enlightening
Beings.
Habit
energy of vows: Tập khí của thệ nguyện—See Ten kinds of habit
energy of Great Enlightening Beings.
Habits
of greed (craving): Tham Tập Nhân—See Ten causes and ten effects.
Habits
of hatred (anger): Sân Tập Nhân—See Ten causes and ten effects.
Habits
of injustice: Habits of unfairness—Uổng Tập Nhân—This is one of
the ten causes and effects. According to the Surangama Sutra, book Eight,
the Buddha reminded Ananda about the habit of unfairness as follows: “Habits
of injustice and their interconnected support of one another; they result
in instigating false charges and libeling. From them are produced crushing
between mountains, crushing between rocks, stone rollers, stone grinders,
plowing, and pulverizing . It is like a slanderous villain who engages
in persecuting good people unjustly. Because these two habits join ranks,
there come into being pressing and pushing, bludgeons and compulsion, squeezing
and straining, weighing and measuring, and other such experiences. Therefore,
the Thus Come Ones of the ten directions look upon harmful accusations
and name them a ‘treacherous tiger.’ Bodhisattvas regard injustice
as they would a bolt of lightning.”—Đây là một trong mười nhân
mười quả. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật
đã nhắc nhở ngài A Nan về Uổng Tập Nhân như sau: “Uổng
tập xen nhau, phát từ nơi vu báng. Như vậy cho nên có các
việc hai hòn núi đá ép lại, nghiền, xay. Ví dụ đứa giặc
dèm pha, hại người lương thiện. Hai tập xô đẩy nhau, nên
có các việc giằng, ép, đè, nén, lọc, cân. Vì thế mười
phương Phật gọi vu oan là cọp biết dèm nói. Bồ Tát tránh
sự vu oan như tránh sét đánh.”—See Ten causes and ten effects.
Habits
of litigation (disputation): Tụng Tập Nhân—See Ten causes and ten
effects.
Habits
of lust: Habit of sexual desire—Dâm Tập Nhân—This is one of the
ten causes and effects. According to the Surangama Sutra, book Eight, the
Buddha reminded Ananda about the habit of sexual desire as follows—Đây
là một trong mười nhân mười quả. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm,
quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về Dâm Tập
Nhân như sau:
1)
Lust grows into a habit because of sexual intercourse in which two people
caress each other thereby producing heat that in turn stimulates desire.
This is like the heat caused by rubbing the hands together: Dâm dục
phát triển thành thói quen vì sự giao hợp trong đó hai người
âu yếm nhau và phát sanh sức nóng kích thích sự ham muốn.
Chuyện nầy cũng giống như việc chà xát hai tay với nhau.
2)
Adultery results in the iron bed, the copper pillar, and the eight hot
hells (the bed stands for sexual desire and the pillar for the partner
on whom the sinner depends to stimulate his sexual appetite): Nhân dâm
dục có quả báo là giường sắt nóng, cột đồng, tám địa
ngục nóng (giường sắt có nghĩa là sự ham muốn, và cột
đồng có nghĩa là sự thèm muốn tình dục).
3)
The Buddha taught: “Habits of lust and reciprocal interactions which
give rise to mutual rubbing. When this rubbing continues without cease,
it produces a tremendous raging fire within which movement occurs, just
as warmth arises between a person’s hands when he rubs them together.
Because these two habits set each other ablaze, there come into being the
iron bed, the copper pillar, and other such experiences. Therefore, Thus
Come Ones of the ten directions look upon the practice of lust and name
it the ‘fire of desire.’ Bodhisattvas avoid desire as they would a
fiery pit.”—Đức Phật dạy: “Dâm tập giao tiếp, phát ra
từ nơi cọ xát mãi không thôi. Như vậy nên lúc chết thấy
có lửa sáng, trong đó phát động. Ví dụ như người lấy
tay cọ xát nhau thấy có hơi nóng. Hai cái tập nương nhau khởi,
nên có việc giường sắt trụ đồng. Cho nên mười phương
các Đức Phật nói dâm là lửa dục. Bồ Tát thấy sự dâm
dục như tránh hầm lửa.”
**
See Ten causes and ten effects.
Habits
of lying: Cuống Tập Nhân—This is one of the ten causes and effects.
According to the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda
about the habit of lying as follows: “Habits of lying and combined
fraudulence which give rise to mutual cheating. When false accusations
continue without cease, one becomes adept at corruption. From this there
come into being dust and dirt, excrement and urine, filth, stench,
and impurities. It is like the obscuring of everyone’s vision when the
dust is stirred up by the wind. Because these two habits augment one another,
there come into being sinking and drowning, tossing and pitching, flying
anf falling, floating and submerging, and other such experiences. Therefore,
the Thus Come Ones of the ten directions look upon lying and name it ‘robbery
and murder.’ Bodhisattvas regard lying as they would treading on a venomous
snake.”—Đây là một trong mười nhân mười quả. Theo Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài
A Nan về Cuống Tập Nhân như sau: “Cuốn tập dối nhau, phát
từ nơi dối gạt nhau, dối và vu khống mãi không thôi, buông
tâm làm gian. Như vậy nên có đồ bẩn thỉu, bụi bậm ô
uế, như bụi theo gió, đều không thấy. Hai tập giao nhau,
nên có các việc chìm đắm, vụt, bay. Vì thế mười phương
Phật gọi lừa gạt là cướp giết. Bồ Tát tránh dối gạt
như tránh rắn độc.”—See Ten causes and ten effects.
Habit
of the passions: Influence of the passions after they have been cut off—Phiền
não tập (thói quen của tham dục sau khi chúng đã được đoạn
tận).
Habits
of resentment: Habits of animosity—Oan Tập Nhân—This is one of the
ten causes and effects. According to the Surangama Sutra, book Eight, the
Buddha reminded Ananda about the habit of animosity as follows: “Habits
of animosity and interconnected enmity which give rise to grievances.
From this there come into being flying rocks, thrown stones, caskets
and closets, cages on wheels, jars and containers, and bags and rods. It
is like someone harming others secretly. He harbors, cherishes, and nurtures
evil. Because these two habits swallow one another up, there come into
being tossing and pitching, seizing anf apprehending, striking and
shooting, casting away and pinching, and other such experiences. Therefore,
the Thus Come Ones of the ten directions look upon animosity and name it
a ‘disobedient and harmful ghost.’ Bodhisattvas regard animosity as
they would drinking poisonous wine.”—Đây là một trong mười
nhân mười quả. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức
Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về Oan Tập Nhân như sau: “Oan
tập hiềm nhau, phát từ nơi hàm hận. Như vậy nên có những
việc ném đá, ném gạch, nhốt cũi, rọ, như người âm độc,
lòng chất chứa các sự ác. Hai tập lấn át nhau, nên có những
việc ném bắt, đánh, bắn. Vì thế mười phương Phật
gọi oan gia là quỷ phá hoại. Bồ Tát tránh oan gia như rượu
độc.”
Habits
of views: Habits of wrong views—Kiến Tập Nhân—Wrong views result
in torture. This is one of the ten causes and effects. According to the
Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the habit
of wrong views as follows: “Habits of views and the admixture of
understandings, such as Satkayadrishti, views, moral prohibitions,
grasping, and deviant insight into various kinds of karma, which bring
about opposition and produce mutual antagonism. From them there come into
being court officials, deputies, certifiers, and registrars. They are like
people traveling on a road, who meet each other coming and going. Because
these two habits influence one another, there come into being official
inquiries, baited questions, examinations, interrogations, public investigations,
exposure, the youth who record good and evil, carrying the record books
of the offenders’ arguments and retionalizations, and other such experiences.
Therefore, the Thus Come Ones of the ten directions look upon evil views
and name them the ‘pit of views.’ Bodhisattvas regard having false
and one-sided views as they would standing on the edge of a steep ravine
full of poison.”—Quả báo của kiến tập là bị tra tấn khảo
đảo. Đây là một trong mười nhân mười quả. Theo Kinh Thủ
Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan
về Kiến Tập Nhân như sau: “Kiến tập giao minh, như thân
kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà giải, các nghiệp. Phát
từ nơi chống trái, sinh ra trái nhau. Như vậy nên có sứ vua,
chủ lại cầm văn tịch làm chứng. Ví như người đi đường
qua lại gặp nhau. Hai tập giao nhau, nên có các việc tra hỏi,
gian trá, xét gạn, khám tra, vạch cứu, soi rõ, và thiện ác
đồng tử tay cầm quyển sổ để biện bạch. Vì thế mười
phương Phật gọi ác kiến là hầm ái kiến. Bồ Tát tránh
các sự thiên chấp hư vọng như xa vũng nước độc.”
Habits
of views (wrong views): Kiến Tập Nhân—See Ten causes and ten effects.
Habitual
(a): Theo thói quen.
Habitual
cupidity: Tham Tập Nhân—Leading to punishment in the cold hells, one
of the ten causes—Một trong mười nhơn, thói quen của tham dục
khiến người ta bị đọa vào địa ngục lạnh. **See Ten causes
and ten effects (2).
Habitual
greed: Tham Tập Nhân—See Habits of craving.
Habitual
idleness: Quen thói lười biếng—See Six ways of wasting one’s
property.
Habitual
karma: Acinna-kamma (p)—Nghiệp Thường—According to the Abhidharma,
habitual karma is a deed that one habitually or constantly performs either
good or bad. Habits, whether good or bad, become second nature. They more
or less tend to mould the character of a person. In the absence of weighty
karma and a potent-death-proximate karma, this type of karma generally
assumes the rebirth generative function—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận
(Vi Diệu Pháp), nghiệp thường hay thường nghiệp là những
thói quen mà chúng sanh thường làm, dầu tốt hay xấu (có khuynh
hướng tạo nên tâm tánh của chúng sanh). Những thói quen hằng
ngày, dù lành hay dù dữ, dần dần trở thành bản chất
ít nhiều uốn nắn tâm tánh con người. Trong khi nhàn rỗi,
tâm ta thường duyên theo những tư tưởng, những hành vi quen
thuộc một cách tự nhiên lắm khi vô ý thức. Nếu không có
trọng nghiệp hay cận tử nghiệp thì thường nghiệp quyết
định tái sanh—See Four types of kamma (karma) (B).
Habituation
to defilement: Cấu tập (sự kết tập của nhiễm cấu).
Hachiju-Kegongyo
(jap): Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh (Nhật Bản).
Hachimagu
(jap): Nhập Phan Cung (điện thờ thần trong Thần Đạo Nhật
Bản).
Hachiman-Daibosatsu
(jap): Nhập Phan Đại Bồ Tát (Phật giáo Nhật Bản).
Hades
(n): Hell—Địa ngục.
Half
a step at a breathing on arising from meditation: Nhất Tức Bán Bộ—Một
hơi thở đi nửa bước.
Hahava
(skt): Ababa (skt)—Ahaha (skt)—Ẩu Hầu Hầu Địa Ngục—Ha
Bà Bà—Hổ Bà Bà—Hổ hổ bà—Kha Thi Bi Dữ—Hell of the
only sound to frozen throats. The fourth of the eight cold hells, in which
the suferers can only utter these sounds—Địa ngục của những
tiếng kêu rên hừ hừ từ trong cổ họng. Địa ngục
thứ tư trong tám địa ngục lạnh, nơi tội nhân chỉ có thể
rên khẻ những âm thanh nầy (ha bà bà)—See Hell (III) (A2) (4),
and Eight cold hells.
Hai
Binh Bao Tang: Zen Master Hải Bình Bảo Tạng (1818-1862)—A Vietnamese
famous monk from Phú Yên, South Vietnam. He left home and received complete
precepts with Zen Master Tánh Thông Sơn Nhân at Bát Nhã Temple on
Mount Long Sơn in Phú Yên province. When his master passed away, he
became the Dharma heir of the fortieth generation of the Linn-Chih Zen
Sect and spent most of his life to expand the Buddha Dharma in the southern
parts of Central Vietnam. He passed away in 1862—Thiền sư Hải Bình
Bảo Tạng, một thiền sư nổi tiếng của Việt Nam vào tiền
bán thế kỷ thứ 19, quê ở Phú Yên. Ngài xuất gia và thọ
giới cụ túc với Thiền sư Tánh Thông Sơn Nhân tại chùa
Bát Nhã trên núi Long Sơn, tỉnh Phú Yên. Khi Hòa Thượng Sơn
Nhân thị tịch, ngài trở thành Pháp tử đời thứ 40 dòng
Lâm Tế. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng hóa tại miền Nam
Trung Việt. Ngài thị tịch năm 1862.
Haibutsu-kishaku
(jap): Phế Phật Huỷ Thích—A Japanese term for “eradicate the
buddhas and destroy Sakyamuni.” Slogan of an anit-Buddhist campaign sponsored
by the Meiji government of Japan, which began with the promulgation (sự
công bố) of a new constitution in 1889. The anti-Buddhist measures were
part of the government’s program to establish Shinto as the state religion
and to restore the emperor’s place as a semi-divine ruler descended from
Amaterasu Omikami. In Japan there is a great deal of mutual borrowing between
Buddhism and Shinto, and it is common for Shinto shrines to house images
of Buddhas. One goal of the government’s program was to “purify”
the shrines by eliminating all Buddhist sumbols—Từ ngữ Nhật Bản
dùng để chỉ khẩu hiệu “Phế Phật Hủy Thích” (xóa bỏ
chư Phật và hủy diệt Thích Ca Mâu Ni). Khẩu hiệu của chiến
dịch chống đối Phật giáo được chính phủ Minh Trị của
Nhật bảo trợ, bắt đầu với sự công bố một hiến pháp
mới vào năm 1889. Những biện pháp chống đối Phật giáo
là một phần chương trình của chánh phủ Nhật nhằm thiết
lập Thần Đạo làm quốc giáo và khôi phục địa vị con
cháu thần thánh của vua chúa bắt đầu từ thời Amaterasu
Omikami. Tại Nhật Bản có một số lớn giáo lý mượn qua
mượn lại giữa Phật giáo và Thần đạo, chuyện một đền
thờ Thần đạo thờ hình tượng chư Phật là chuyện thường.
Mục đích của chương trình này của chánh phủ Minh Trị là
nhằm thuần hóa các đền thờ Thần đạo bằng cách loại
tất cả những hình tượng Phật giáo.
Haikuyu
(jap): Peihsiu—Bùi Hưu (Phật giáo Nhật Bản).
Haimavatah
(skt): Ê Ma Bộ Đa Bộ—Tuyết Sơn Bộ—According to Eitel in
The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Haimavatah is a school
of the snow mountains, a schismatic philosophical school, one of the five
subdivisions of the Mahasanghikah. The Himalaya School, one of the five
divisions of the Mahasanghikah. The very name suggests that the Haimavatah
school was originally located in the Himalayan regions. Vasumitra, in his
book on the Eighteen Sects, calls the Haimavatas the inheritors of the
Sthaviravadins, but other scholars consider this school as a branch of
the Mahasanghikas. Like the Sarvasivadins, the Haimavatas believed that
the Bodhisattvas had no special eminence, but unlike them, they said that
the gods could not live the holy life of brahmacharya and that heretics
could not have miraculous powers—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học
Từ Điển, Ê Ma Bộ Đa Bộ là một trong năm chi phái của
Đại Chúng Bộ. Trường phái Tuyết Sơn, một trong năm phân
chi của Đại Chúng Bộ. Qua tên gọi chúng ta có thể biết
bộ phái nầy ban đầu hoạt động tại vùng Tuyết Sơn. Trong
cuốn sách nói về mười tám bộ phái, Vasumitra đã gọi Tuyết
Sơn Bộ là thừa kế của Thượng Tọa Bộ, nhưng một số
học giả khác thì lại cho rằng phái nầy là một nhánh của
Đại Chúng Bộ. Cũng giống như Nhất Thiết Hữu Bộ, phái
nầy cho rằng Bồ Tát không có địa vị gì cao trọng đặc
biệt, nhưng khác với Hữu Bộ ở chỗ họ cho rằng chư Thiên
và quỷ thần không thể có cuộc sống phạm hạnh (brahmacharya),
và những người ngoại đạo không thể có được quyền lực
siêu nhiên. **See Mahasamghika.
Hai
Ninh Temple: Chùa Hải Ninh—Name of an ancient temple, located in Vĩnh
Niệm village, An Hải district. The previous temple was built in Kinh
Bắc area during the late Lê dynasty. In 1931, it was moved to Hải
Phòng, and then offered to Đồng Thiện Association, therefore it was
also called Đồng Thiện Temple. In the courtyard of the temple, there
are two stupas with 40 pictures illustrating the history of building of
Hai Phòng City—Tên một ngôi chùa cổ tọa lạc tại làng Vĩnh
Niệm, huyện An Hải, tỉnh Hải Phòng. Chùa trước đây được
xây trên Kinh Bắc vào thời Hậu Lê. Vào năm 1931, chùa được
dời về Hải Phòng, và được nhân dân địa phương cúng
cho hội Đồng Thiện, vì vậy mà chùa còn có tên là chùa
Đồng Thiện. Trong sân chùa có hai ngôi tháp ghi 40 bức ký
họa ghi lại lịch sử xây dựng thành phố Hải Phòng.
Hai
Quynh Tu Phong Zen Master: Thiền Sư Hải Quýnh Từ Phong (1728-1811)—A
Vietnamese monk from Bắc Ninh. At the age of 16, he came to Liên Tông
Temple to pay homage to Zen Master Bảo Sơn Dược Tính and became
the latter’s disciple. He was the 40th generation of the Linn Chih Zen
Sect. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in North Vietnam.
He passed away in 1811, at the age of 84—Vị sư Việt Nam, quê ở
Bắc Ninh. Vào lúc 16 tuơåi, ngài đến chùa Liên Tông, đảnh
lễ Thiền Sư Bảo Sơn Dược Tính. Ngài trở thành đệ tử
của Bảo Sơn và Pháp tử đời thứ 40 dòng Lâm Tế. Hầu
hết cuộc đời ngài hoằng pháp ở miền Bắc Việt Nam. Ngài
thị tịch năm 1811, thọ 84 tuổi.
Hair
(n): Tóc—Our hair falls out: Tóc rụng.
Hair
on the Buddha’s body: Thân Mao Thượng Mi Tướng—The hairs on
Buddha’s body curled upwards, one of the thirty-two marks—Lông trên
thân Phật xoắn ngược lên trên, một trong ba mươi hai tướng
hảo của Phật—See Thirty-two auspicious marks.
Hair-flower
on the head withers: Đầu cổ rối bù như hoa héo—See Five signs
of decay of people when approaching death.
Hair-hole:
Mao Khổng—Lổ chơn lông—Pore.
Hair-rope:
Mao Thằng—A hair rope (tied up by the passions, as with an unbreakable
hair rope.
Hair-sharp
and stinking: Stinking hair ghosts—Xú Mao Quỷ—Quỷ có lông thối—See
Nine classes of ghosts (I).
Hair
of the turtle: Lông rùa (qui mao)—Lông rùa (hay sừng thỏ), được
ví với những chuyện không thể xãy ra được—The hair on
a tortoise, i.e. the non-existent.
Hair
on a tortoise and horn of a rabbit: Quy Mao Thố Giác—Lông rùa sừng
thỏ, ví với những việc không thể xãy ra được—The non-existent.
Hakata
(jap): Vùng Bát Đa (Nhật Bản).
Hakkai
(jap): Bát Giới—A Japanese Buddhist term for “Eight commandments.”
The first eight of the ten commandments which the Buddha set forth for
lay Buddhists to observe 24 hours every fornight—Thuật ngữ Phật
giáo Nhật Bản có nghĩa là “Bát giới.” Tám giới đầu
trong Thập Giới mà Đức Phật chế ra cho Phật tử tại gia
cứ mỗi nửa tháng là phải giữ tám giới nầy trong 24 giờ.
Haklenayasa
(skt): Haklena or Padmaratna (skt)—Hạc Lặc Na—The 23rd Indian patriarch.
He was born into a Brahmin family in a place said to be of king Tokhara.
He spreaded the Buddha’s Teachings in Central India—Vị tổ thứ
23 của Thiền Tông Ấn Độ. Ông sanh ra trong một gia đình
Bà-la-môn, trong xứ của vua Tokhara. Ông đã truyền bá đạo
Phật vào vùng Trung Ấn. **See Twenty eight Indian Patriarchs.
Hakuin
(jap): Thiền sư Bạch Ẩn—See Hakuin Ekaku.
Hakuin
Ekaku (1686-1769): Sư Bạch Ẩn Huệ Hạc—Bai-In was born in 1686.
He was one of the most versatile and brilliant of the Japanese Zen masters.
According to his autobiographical writing, he was first drawn to Buddhism
after hearing a monk describe the tortures of the eight hot hells and resolved
to become a Buddhist monk in order to escape such fates by attaining buddhahood.
He had his first awakening experience at the age of twenty-two after hearing
a passage from a Buddhist scripture, but he realized that he still had
not attained final peace of mind, and subsequently he worked even more
diligently at his practice. During this period, however, his doubt and
mental anguish increased considerably. His great awakening experience occured
at a point at which he felt physically paralized by doubt. He wrote: “It
was as though I was frozen solid in the midst of an ice sheet extending
tens of thousands of miles. To all intents and purposes I was out of of
my mind and the ‘Wu Koan’ alone remained.” After several days in
this state, he heard the sound of a temple bell, and he felt as though
the ice had shattered and he was free. Later, he always confirmed with
his disciples that three things are required for awakening: 1) great faith
(dai-shinkon), 2) great doubt (dai-gidan), and 3) great resolve (dai-funshi).
Hakuin is often called the father of Lin-Chi Sect (Rinzai) at that time
by reason of the fact that he single-handedly revitalized the Lin-Chi’s
teachings, which had been steadily declining, through his systematization
of the koans. and emphasis of meditation practice. Not only was Hakuin
an outstanding master, he was a highly accomplished painter with great
talents, calligrapher, and sculptor. Sekishu, or “What is the sound of
one hand?” which he devised, is one of the best known koans which he
developed by himself. His popular Chant in Praise of Zazen, frequently
recited in Zem temples, begins: “From the beginning all beings are Buddha”
and ends: “This earth where we stand is the pure lotus land, and this
very body, the body of Buddha.”—Bạch Ẩn Huệ Hạc sanh năm 1686.
Ông là một trong những vị thiền sư nhiều tài năng và sáng
chói nhất của Nhật Bản. Theo quyển tự truyện của ông,
lần đầu tiên ông bị thu hút bởi Phật giáo là sau khi ông
nghe một vị sư nói về những khổ nhục trong tám địa ngục
nóng nên ông quyết làm Tăng để thoát những cảnh khổ này
bằng cách đạt thành Phật quả. Kinh nghiệm chứng ngộ đầu
tiên của ông vào lúc ông 22 tuổi sau khi nghe một đoạn kinh
Phật, nhưng ông biết rằng ông chưa đạt được an lạc cứu
cánh, vì thế mà ông quyết tâm tinh chuyên hành trì. Tuy nhiên,
trong giai đoạn này nghi hoặc và lo lắng về tâm thần nơi
ông gia tăng một cách đáng kể. Và đại giác đến với ông
vào thời điểm ông cảm thấy thân thể như bị bại liệt
vì những nghi tình. Sau đó ông viết lại kinh nghiệm đại
giác như sau: “Tôi dường như đông cứng lại giữa một
tảng băng trải dài hằng mười ngàn dặm. Tất cả những
chủ ý và mục đích đều nằm ngoài tâm tôi, và chỉ duy
nhất công án ‘không’ là còn lại mà thôi.” Sau vài ngày
trong trạng thái này, khi nghe tiếng chuông chùa mà ông cảm
như là tảng băng đá vỡ vụn ra và ông được hoàn toàn
tự do. Về sau ông luôn khẳng định với chúng đệ tử là
có ba điều cần có cho sự chứng ngộ: 1) đại tín, 2) đại
nghi, và 3) đại nguyện. Bạch Ẩn thường được gọi là
cha đẻ của phái Lâm Tế thời bấy giờ, lý do chỉ một
tay ông đã làm sống lại giáo lý Lâm Tế đã tàn lụi dần,
qua sự hệ thống hóa các công án của ông và sự nhấn mạnh
đến thiền tập. Bạch Ẩn chẳng những là một thiền sư
xuất chúng, mà ông còn là một nhà họa sĩ đại tài, một
người viết chữ Hán như rồng bay phượng múa, và một nhà
điêu khắc. Sekishu hay “tiếng vỗ của một bàn tay là cái
gì?” Đây là một trong những công án nổi tiếng do chính
ông thiết lập. Bài “Tọa Thiền Ca” (Zazen Wasan) phổ biến
của ông thường được tụng trong các chùa hay thiền viện.
Bài ca bắt đầu: “Tất cả chúng sanh vốn là Phật” và
kết thúc: “Chính chốn nầy là đất sen, chính thân nầy
là Phật.”
*
Bai-In was one of the most versatile and brilliant of the Japanese Zen
masters. Hakuin is often called the father of Linn-Chih Sect (Rinzai) at
that time by reason of the fact that he single-handedly revitalized the
Linn-Chih’s teachings, which had been steadily declining, through his
systematization of the koans. Not only was Hakuin an outstanding master,
he was a highly accomplished painter with great talents, calligrapher,
and sculptor. Sekishu, or “What is the sound of one hand?” which he
devised, is the best known koan by a Japanese master. His popular Chant
in Praise of Zazen, frequently recited in Zem temples, begins: “From
the beginning all beings are Buddha” and ends: “This earth where we
stand is the pure lotus land, and this very body, the body of Buddha.”—Bạch
Ẩn Huệ Hạc sanh năm 1686. Ông là một trong những vị thiền
sư nhiều tài năng và sáng chói nhất của Nhật Bản. Bạch
Ẩn thường được gọi là cha đẻ của phái Lâm Tế thời
bấy giờ, lý do chỉ một tay ông đã làm sống lại giáo lý
Lâm Tế đã tàn lụi dần, qua sự hệ thống hóa các công
án của ông. Bạch Ẩn chẳng những là một thiền sư xuất
chúng, mà ông còn là một nhà họa sĩ đại tài, một người
viết chữ Hán như rồng bay phượng múa, và một nhà điêu
khắc. Sekishu hay “tiếng vỗ của một bàn tay là cái gì?”
Đây là một công án nổi tiếng do ông thiết lập. Bài “Tọa
Thiền Ca” (Zazen Wasan) phổ biến của ông thường được
tụng trong các chùa hay thiền viện. Bài ca bắt đầu: “Tất
cả chúng sanh vốn là Phật” và kết thúc: “Chính chốn
nầy là đất sen, chính thân nầy là Phật.”
*
Yen-T’ou was one of the great Zen teachers in the T’ang dynasty. But
he was murdered by an outlaw, when his death-cry is said to have reached
many miles around. When Pai-In first studied Zen, this tragic incident
in the life of an eminent Zen master who is supposed to be above all human
ailments, troubled him very much, and he wondered if Zen were really the
gospel of salvation: Nham Đầu Toàn Khoát là một cao Tăng đời
Đường, bị bọn cướp giết, khi chết , tiếng rống của
ngài nghe xa đến mấy dậm. Khi Bạch Ẩn mới học Thiền,
bi kịch ấy diễn ra trong đời một cao Tăng Thiền đạo hạnh
vượt ngoài tất cả tội lỗi của thế nhân khiến ngài bị
chấn động cả tâm thần và tự hỏi: ‘Thiền có thật là
bộ kinh cứu khổ không.’
*
His situation was the same as that of Zen master Kao-Fen-Miao-Tsu’s.
He had nothing in his mind but Chao-Chou’s Wu. Until one evening
a temple-bell struck, which upset the whole thing. It was like smashing
an ice-basin, or pulling down a house made of jade. When he suddenly awoke,
he found himself was Yen-T’ou, an old master. Whatever doubts and indecisions
he had before were completely dissolved like a piece of thawing ice. He
called out loudly: “How wondrous! How wondrous! There is no birth and
death from which one has to escape, nor is there any supreme knowledge
(Bodhi) after which one has to strive. All the complications past and present,
numbering one thousand seven hundred are not worth the trouble of even
describing them.”: Cũng như Cao Phong (see Cao Phong Diệu Tổ),
Bạch Ẩn đã ôm chữ ‘Vô’ như một công án, cho đến chiều
kia khi nghe tiếng chuông chùa từ xa vọng lại làm cho tất
cả sụp đổ tan tành. Bạch Ẩn cho rằng đây chẳng khác
nào như đập bể một bồn nước đá, hoặc xô ngã một ngôi
nhà ngọc. Phút chốc ngài thức tỉnh, và thấy mình chính
là Nham Đầu, vị tổ sư thuở trước. Mọi điều ngờ vực
hoang mang từ trước bỗng tiêu tan như băng tuyết gặp vầng
dương. Ngài reo to: “Kỳ thay! Kỳ thay! Không có sanh tử luân
hồi nào phải thoát ra, cũng không có Bồ Đề nào phải
dụng tâm cầu được. Tất cả cát đằng kim cổ một ngàn
bảy trăm câu thật chẳng đáng bỏ công đề xướng.”
*
Hakuin, the great renewer of Linn-Chih Zen in Japan, was in the lineage
of transmission stemming from Yuan-Wu. Yuan-Wu himself is known primarily
as the editor of the Pi-Yen-Lu, together with the Wu-Men-Kuan, one of the
best known koan collections. His instructions, incidental remarks, and
explanations on the hundred koans collected and provided with praises by
Master Ch'ung-Hsien make the Pi-Yen-Lu one of the greatest works of Zen
literature and one of the most helpful for training students: Bạch Ẩn
là một nhà canh tân lớn của Thiền phái Lâm Tế. Ông cũng
tự coi mình thuộc dòng hậu duệ của Thiền sư Viên Ngộ.
Người ta biết đến ông chủ yếu qua việc công bố hai bộ
sưu tập nổi tiếng Bích Nham Lục và Vô Môn Quan. Những chú
giải và nhận xét của ông về khoảng 100 công án thiền do
Thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển thu thập, trong đó mỗi công
án đã có một lời ca ngợi, đã làm cho Bích Nham Lục trở
thành một trong những tác phẩm chính của văn học Thiền
và một trong những phương tiện đào tạo có hiệu quả nhất.
*
He died in 1769 A.D.—Ông thị tịch vào năm 1769
Hakuun-Shutan
(jap): Bai-Yun-Shou-Tuan—Bạch Vân Thủ Đoan (1025-1072)—See Shou
Tuan Bai Yun.
Half
a character: Bán Tự.
1)
Incomplete word: Half a character, a letter of the alphabet—Half a word—Nửa
chữ.
2)
The term is used to indicate those who don’t receive full-ordination,
i.e. lay people or sramaneras, keep only five or eight commandments: Ám
chỉ người chưa thọ giới tròn đầy, như Sa Di hay người
tại gia chỉ giữ năm hay tám giới mà thôi.
3)
Hinayana: Tiểu Thừa.
Half-closed
eyes: Lim dim.
Half
finite and half infinite: Một nửa hữu biên, một nửa vô biên—This
person thoroughly investigates the formations skandha to the point
that it becomes empty. Based on what he sees, in his mind he speculates
that each and every living being , in its given body, is half living and
half dead. From this he concludes that everything in the world is half
finite and half infinite. Because of these speculations about the finite
and the infinite, he will fall into externalism and become confused about
the Bodhi nature—Người đó cùng tột cái hành ấm không, do
cái chỗ sở kiến, tâm lộ tính xem xét, so sánh tất cả chúng
sanh, trong một thân đều có một nửa sinh, một nửa diệt.
Rõ biết mọi vật trong thế giới đều một nửa hữu biên,
một nửa vô biên. Vì so đo chấp trước hữu biên, vô biên,
nên đọa lạc ngoại đạo và mê lầm tính Bồ Đề—See Four
finitenesses.
Half
in jest, half in earnest: Nửa đùa nửa thật.
Half
light: Nửa tối nửa sáng.
Half-lotus
sitting: Bán Già Phu Tọa—Thế ngồi bán già—A Bodhisattva’s
form of sitting, one foot on the thigh of the other or vice versa (left
foot over right thigh and right foot under left thigh, both knees touching
mat, to facilitate the knees resting on the mat, it may be necessary to
use a thin suport cushion under the regular round one), different from
the completely cross-legged form of a Buddha (with right foot over left
thigh and left foot over right thigh)—Kiểu ngồi bán già, kiểu
ngồi của chư Bồ Tát, bàn chân nầy để lên đùi chân kia,
hay ngược lại (chân trái để bên trên đùi phải và chân
phải bên dưới đùi trái, hai đầu gối chạm chiếu dưới
đất, để giúp hai đầu gối chạm đất dễ dàng chúng ta
có thể đặt một cái gối mỏng bên dưới hai đầu gối),
khác với kiểu ngồi kiết già của chư Phật (hai bàn chân
để lên hai bắp đùi).
Half-open
(v): Hé mở.
Half
points (corners) of the compass: There are four half points (corners) of
the compass—Có bốn hướng phụ—See Four half points (corners)
of the compass.
Half
a word: Bán Tự—See Half a character.
Hall
(n): Caitya (skt)—Lecture room—Palace—Temple—Điện—Giảng
đường.
Hall
of blessedness: Court of blessedness—Monastery—Phúc đình.
Hall
chief: Đường Tư—The controller of the business in a monastery—Biệt
hiệu của vị Duy Na trong tự viện, chịu trách nhiệm các
công việc ở Tăng đường.
Hall
of Judgment: Pháp Đình.
Hall
reserved for “dying people” in a temple: Diên Thọ Đường—Niết
Bàn Đường—Tĩnh Hành Đường—Niết Bàn Đường—The hall
or room into which a dying person is taken to enter upon his “long life.”
The nirvana hall—Phòng nơi người sắp chết được đưa vào
để cầu an (người sắp chết lắm khi tâm thần bấn loạn
nên đem lòng tham luyến phòng ở, y bát, đồ dùng hành đạo,
nên đem họ đến đây nghe kinh kệ để thấy rằng mọi sự
vật đều là vô thường, không có gì để cho ta luyến ái
trước khi họ thị tịch).
Hall
of Wonderful Dharma: Diệu Pháp Đường—This hall is situated in
the south-west corner of Trayastrimsas heaven, where the thirty-three devas
discuss whether affairs are according to law or truth or the contrary—Diệu
Thiện Pháp Đường, tọa lạc tại góc tây nam trên cung Trới
Đao Lợi (ba mươi ba tầng Trời), nơi ba mươi ba vị Trời
họp bàn xem việc nào là chánh pháp, việc nào không phải
là chánh pháp.
Hall
for worship: Bắc Đẩu Đường—Sảnh đường nơi thờ phượng
trong tự viện—The hall for worship in a temple.
Hallow
(v): Tôn kính như thần thánh.
Hallucination
(n): Ảo cảnh—Ảo giác—Ảo tưởng tâm linh—Illusive—Illusory—Mirage—Phantasm—Ảo
Giác—See Vipallasa.
Hallucination
of mind: Citta-vipallasa (p)—Tâm ảo giác—Ảo Giác—See Vipallasa.
Hallucination
of perception: Sanna-vipallasa (p)—Tưởng ảo giác—Ảo Giác—See
Vipallasa.
Hallucination
of views: Ditthi-vipallasa (p)—Kiến ảo giác—Ảo Giác—See Vipallasa.
Halo
(n): Jvala (skt)—Hào quang.
1)
The halo behind the throne of an image: Quang minh hay Thân quang (vòng
hào quang). Vòng hào quang phía sau bức tượng.
2)
The halo or nimbus on or round the head of the Buddha and Arhats (of an
image): Đầu Quang—Ánh sáng trên đỉnh đầu Đức Phật và
các vị La Hán (cũa một bức tượng).
3)
The halo round the head of an image of a Buddha or a Bodhisattva: Đỉnh
Quang—Ánh hào quang trên đỉnh đầu của hình tượng Phật
hay Bồ Tát.
4)
The glory or halo shining from the person of a Buddha or Bodhisattva: Thân
Quang—Ánh sáng phát ra từ chính thân Phật hay thân các vị
Bồ Tát.
Halo
from a Buddha’s body: Sắc quang—The halo from a Buddha’s body which
can be seen by flesh eyes—Còn gọi là thân quang hay ánh hào quang
từ thân Phật phát ra mà mắt có thể nhìn thấy được—See
Dual lights (A).
Halo
surrounding the head of a Buddha: Viên Quang (ánh hào quang phóng ra
chung quanh đỉnh đầu của Phật).
Halo
throne: Hào quang—See Halo.
Halt
(v): Dừng—To stop—Stopping—In Buddhist philosophy, the mind must
forever flow and never be “stopped” or “blocked” in a thought.
Let the mind abide nowhere. The ideal is to walk on through all problems
and situations—Trong triết lý nhà Phật, thì dòng tâm thức
tuôn chảy không thể bị ngừng hay bị cản trong dòng suy tưởng.
Hãy để cho tâm không trụ vào đâu. Lý tưởng nhứt là đi
trên mọi chướng ngại.
Halting
place: Nơi dừng chân (túc xá).
Hamartialogy
(n): Tội học (biên khảo về tội).
Hami
(skt): Ha Mật—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English
Buddhist Terms, Hami is an ancient kingdom and city in central Asia, northeast
of lake Lop. From Han to T’ang times known as I-Wu, now called Kumul
by Turki Mohammadans. For more than 1,500 years, owing to its location
and supply of water, Hami was a bridge-head for the expansion and control
of the outposts of the Chinese empire in Central Asia—Theo Eitel trong
Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ha Mật là một vương quốc
và thành phố cổ ở Trung Á, nằm về phía đông bắc hồ
Lop. Từ thời Hán đến Đường được biết đến qua tên
Y-Vũ, bây giờ được dân Turki-Mohammadans gọi là Kumul. Vì
là địa điểm chính yếu cung cấp nước trong vùng trong hơn
1.500 năm, nên Ha Mật là một đầu cầu cho công cuộc bành
trướng về phía Trung Á của các vương triều Trung Quốc.
Hamlet
and village: Lân lý.
Hamsa
(skt): Hạ Nại Sa—Loài ngan hay ngỗng, cùng họ với loài vịt—A
goose.
Hamsa-samgharama
(skt): Hỗ Sa Già Lam—Dã Ngan Già lam—“Wild goose monastery,”
on Mount Indrasailaguha, whose inmates were once saved from starving by
the self-sacrifice of a wild goose—Còn gọi là Tăng Sa Già Lam hay
Ưng sa Già Lam, có nghĩa là Dã Ngan Già lam (chùa ngỗng Hoang)
trên Indrasailaguha, nơi mà chư Tăng Ni đã một lần thoát đói
nhờ sự tự hy sinh thân mạng của một con ngỗng trời.
Hanazono
(jap): Thiên Hoàng Hoa Viên (Nhật Bản).
Hands
always hold jewels of knowledge: TaHeart of diligence, fulfilling all tasks:
Tâm tinh cần, vì tất cả việc làm đều rốt ráo—See Ten
kinds of heart of Great Enlightening Beings (I).
Hand-chime:
Thủ Khánh—A hand-bell struck with a small stick—Chuông cầm tay
hay khánh được thỉnh bằng một cái dùi nhỏ cầm tay.
Hands
of deep faith: Tay thâm tín—See Ten kinds of hand of Great Enlightening
Beings.
Hand
down the garments: Pass down the garments—Truyền y.
Hand
down the tradition: Truyền Thừa—See Take over the patriarch position.
Handed-down
tradition: Truyền Thừa—See Take over the patriarch position.
Handsome
man and woman: Nam thanh nữ tú.
Hand
(n): Bàn tay.
Hand
down: To bequeath something to generations to come—Lưu truyền.
Hands
folded in a lotus fashion: Hoa Thủ—Tay chấp theo kiểu hoa sen.
Hands
of fostering transcendence of the triple world: Tay khiến siêu tam giới—See
Ten kinds of hand of Great Enlightening Beings.
Hands
of generosity with right teaching: Tay chẳng tiếc chánh pháp—See
Ten kinds of hand of Great Enlightening Beings.
Hands
of giving: Tay bố thí—See Ten kinds of hand of Great Enlightening
Beings.
Hand
of Great Enlightening Beings: Bồ Tát Thủ—Tay của chư Đại Bồ
Tát—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten
kinds of hand of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide
by these can acquire the supreme hands of Buddhas covering all worlds in
the ten directions—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười tay
của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy
thời được tay vô thượng của Như Lai, che khắp tất cả
thế giới mười phương—See Ten kinds of hand of Great Enlightening
Beings.
Hands
of honoring Buddhas: Tay cúng dường chư Phật—See Ten kinds of
hand of Great Enlightening Beings.
Hands
of initiating greetings: Tay hỏi thăm trước—See Ten kinds of hand
of Great Enlightening Beings.
Hands
of learning and skillfulness: Tay đa văn thiện xảo—See Ten kinds
of hand of Great Enlightening Beings.
Hands
of settlement on the Other Shore: Tay đặt nơi bỉ ngạn—See Ten
kinds of hand of Great Enlightening Beings.
Hands
of skillful use of philosophies: Tay khéo dùng những luận nghị—See
Ten kinds of hand of Great Enlightening Beings.
Hand
something from generations to generations: Hand something through ages—Lưu
truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Hand
of the “Thousand-Hand” Kuan-Yin: Nguyệt tinh thủ—Nguyệt Tinh—The
pearl or jewel in the fortieth hand of the “thousand hand” Kuan-Yin,
towards which worship is paid in case of fevers—Ngọc bảo châu trong
tay thứ bốn mươi của Đức Thiên Thủ Quán Âm, mà người
bị cảm sốt thường hay cúng vái.
Handbook
(n): Sách chỉ nam.
Hand-writing
(n): Chữ viết tay.
Handed
down from authentic source: Genuine tradition—Chánh truyền.
Handed-down
tradition: Truyền Thừa—To take over the Patriarch position by having
the former Patriarch formally recognize the person as the successor, especially
the Zen tradition. After the Buddha entered Maha-Nirvana, the first Patriarch
of Buddhism was one of the Buddha great disciples, Maha Kasyapa. According
to this Zen tradition, in order to become a Patriarch, the highest virtuous
Buddhist Master must receive the Buddha 'pat‘a bowl,' the bowl which
the Buddha used to receive food offering, and ‘robe’ from the Patriarch
before him. Thus, for over 1,000 years, there were twenty-eight Indian
Patriarchs, each having the responsibility to practice and to uphold the
proper Dharma of Buddha. Eventually the twenty-eighth Patriarch named Bodhidharma
came to China and also became the first of Six Patriarchs of Zen Buddhism
in China. Overall, there were 33 official Patriarchs in Zen Buddhism. After
the Sixth Patriarch, Hui-Neng, this tradition of formally passing on Patriarchy
was discontinued. Thus Hui Neng did not pass down the Buddha’s patra
bowl and robe to his highest and most deserving disciples—Việc thay
thế vị Tổ trước làm Tổ đời sau trong Phật giáo, thường
là được Tổ trước chính thức thừa nhận như người kế
thừa, đặc biệt là Thiền Tông. Sau khi Đức Phật nhập diệt,
ngài Ma Ha Ca Diếp là vị Tổ Thiền Phật Giáo đầu tiên tại
Ấn Độ. Theo truyền thống Thiền Tông được truyền sang
từ Ấn Độ sang Trung Quốc, để trở thành Tổ, vị nầy
phải nhận y bát từ vị Tổ trước. Trong khoảng hơn 1.000
năm, có 28 vị Tổ ở Ấn Độ, mỗi vị có trách nhiêm tu
tập và duy trì Chánh pháp của Phật. Cuối cùng, vị Tổ thứ
28 sang Trung Quốc và trở thành vị Sơ Tổ của dòng Thiền
Trung Hoa. Tổng cộng Thiền Tông có 33 vị Tổ. Sau Lục Tổ
Huệ Năng thì sự truyền thừa nầy chấm dứt. Vì thế Lục
Tổ không truyền y bát cho những vị kế thừa nữa.
Handed-Down
Tradition in the Pureland Buddhism: Truyền Thừa theo Tịnh Độ.
**See Four characteristics used to determine a distinguished master in
the Pure Land Sect.
Hand
reaching below the knees: Long graceful hands of the Buddha which reach
below the knees—Khi đứng hai tay của Đức Phật dài quá đầu
gối—See Thirty-two auspicious marks.
Hang-Chou-T’ien-Lung:
Hàng Châu Tiên Long—A Chinese Zen master of the ninth century; a student
and dharma successor of Zen master T’a-Mei-Fa-Chang and a master of Zen
master Chuchih. We encounter Hang-Chou T’ien-Lung in example 3 of the
Wu-Men-Kuan—Thiền sư Trung Hoa vào thế kỷ thứ 9, đệ tử
và pháp tử của Thiền sư Đại Mai Pháp Thường, và là thầy
của Thiền sư Câu Chi. Chúng ta bắt gặp thiền sư Hàng Châu
Tiên Long trong thí dụ thứ 3 trong Vô Môn Quan—See T’a
Mei Fa Chang and Wu-Men-Kuan.
Hang
upside down: Đảo huyền—See Hanging upside-down.
Hanging
in mid air: Lơ lửng.
Hanging
upside-down: Đảo Huyền—Hanging upside down; the condition of certain
condemned souls, especially for whom the Ullambana or Lambana festival
is held in seventh month—Người chết bị đọa vào địa ngục
và bị treo ngược. Muốn cứu họ thoát khỏi cảnh treo ngược
nầy thân quyến phải cúng giải đảo huyền và trai Tăng (để
nhờ thần lực cầu nguyện của nhiều người nhờ đó mà
vong linh được siêu thoát)—See Ullambana.
Hanker
for something: To desire for something—Ham muốn điều gì.
Hankering:
Desire—Sự ham muốn.
Hankering
and dejection: Tham ái và ưu bi.
Hannaya
(jap): A Japanese translation of the Sanskrit “Prajna,” meaning “wisdom”
or “insight.” In Indian Buddhism it is commonly held that this results
from the attainment of meditative concentration (samadhi), but Hui-Neng
taught that the two are identical and that both are inherent in every moment
of thought. This notion has subsequently been accepted by most Zen traditions—Từ
ngữ Nhật Bản dịch từ chữ “Sanskrit” của Bắc Phạn,
có nghĩa là “trí tuệ” hay “tuệ.” Trong Phật giáo Ấn
Độ người ta thường cho rằng trí tuệ này có được là
do đạt được thiền định, nhưng Lục Tổ Huệ Năng dạy
rằng cả hai thứ này giống nhau và cả hai đều cùng có trong
tư tưởng của chúng ta trong từng giây từng phút. Khái niệm
này về sau được hầu hết các truyền thống Thiền chấp
nhận.
Hannayashingyojutsugi
(jap): Bát Nhã Tâm Kinh Thuật Nghĩa—See Hannaya and Prajna-paramita
Hridaya Sutra.
Hannya-Shingyo
(jap): Prajnaparamita-Sutra—See Prajna-paramita Hridaya Sutra.
Han-Shan:
Hàn Sơn—Chinese Buddhist layman who lived during the T’ang dynasty
on Han-Shan, a peak in the T’ien-T’ai mountain range. His real name
is unknown, but later became a symbol of the enlightened lay Ch’an master,
living entirely on his own devices, owing no allegiance to any particular
school or tradition. He probably lived in the middle of the seventh century
A.D. He lived as a hermit on Mount Han-Shan (Cold Mountain or Cold Peak)
in the T’ien T’ai Mountains. He lived his unfettered lifestyle, bound
to neither worldly nor rigid orthodox religious rules. He was a famous
poet. His poems were later collected in an anthology called “Poems from
Cold Mountain—Một vị cư sĩ người Trung Hoa, sống vào thời
đại nhà Đường, trên đỉnh Hàn Sơn. Tên thật của ông
là gì không ai biết, nhưng sau này ông trở thành một dấu
hiệu tiêu biểu cho thiền sư tại gia chứng ngộ, sống tu
hoàn toàn bằng phương thức của chính mình chứ không lệ
thuộc vào ai cả. Có lẽ ông sống vào giữa thế kỷ thứ
7. Ông sống ẩn dật trên núi Hàn (còn gọi là Núi Lạnh hay
Đỉnh Lạnh) trong vùng núi Thiên Thai. Ông sống theo lối thoát
tục, nhưng cũng không theo giới luật cứng nhắt của tôn
giáo. Ông cũng là một nhà thơ nổi tiếng. Về sau này những
bài thơ của ông được người ta sưu tập thành một thi tuyển
nhan đề “Hàn Sơn Thi Tập.”
Han-Shan
Shih: Hàn Sơn Thi Tập—A collection of Han-Shan’s poems. From these
poems, it is clear that Han-Shan that he was a practicing Zen Buddhist.
It’s also clear that he completely depended on the Buddha’s teachings
and his own resources, without attachment to any particular school, nor
attachment to any strict discipline of a monk—Sưu tập những bài
thơ của Hàn Sơn. Qua những bài thơ này chúng ta thấy Hàn
Sơn là một Phật tử nhà Thiền. Qua những bài thơ này người
ta thấy rõ Hàn Sơn hoàn toàn tuỳ thuộc vào giáo lý của
Đức Phật và chính tự lực của mình, chứ không dính mắc
vào một tông phái nào, hay tuân theo kỷ luật nghiêm khắc
của một vị sư nào.
Hapless
(old English): Unlucky—Không may.
Happen
(v): Xãy ra.
Happen
again: Tái diễn.
Happen
to do something: Do something by chance—Tình cờ làm việc gì.
Happen
by mere chance: Xãy ra vì tình cờ.
Happen
to see someone: Meet (see or find) someone by chance—Tình cờ gặp
ai.
Happiness:
Sukha (skt)—Felicity—To the Buddhist, happiness is a by-product of
right living, and never and end in itself—Hạnh Phúc—For the happiness—Vì
hạnh phúc—See Eight winds.
(I)
The meanings of “Happiness”: Nghĩa của Hạnh Phúc—Happiness
resulting from mental stability is the most important: Hạnh phúc đạt
được từ sự ổn định của tâm thức là quan trọng nhứt.
(II)
Ordinary happiness is the gratification of a desire. However, as soon as
the thing desired is achived the we desire something else or some other
kind of happiness, for our selfish desires are endless. We usually seek
pleasant feelings and avoid unpleasant feelings through our sensory experience
of the eyes, ears, nose, tongue and body. However, there is another level
of experience: mental experience. Ture happiness should also be pursued
on the mental level: Hạnh phúc bình thường là thỏa mãn sự
khao khát. Tuy nhiên, ngay khi điều mong muốn vừa được thực
hiện thì chúng ta lại mong muốn một thứ hạnh phúc khác,
vì lòng thèm muốn ích kỷ của chúng ta không cùng tận. Chúng
ta thường cố gắng theo đuổi những cảm giác dễ chịu và
hài lòng cũng như loại bỏ những khổ đau bất hạnh bằng
những giác quan của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Tuy nhiên,
còn một mức độ cảm nhận khác hơn, đó là sự cảm nhận
bằng tâm. Hạnh phúc thật sự cũng phải được theo đuổi
bằng tâm nữa.
(III)
Many people believe that they can solve all their problems if they have
money, so they’re always busy to exhaust their energy to collect more
and more money. The more money they have, the more they want to collect.
They don’t realize that money cannot buy happiness, or wealth does not
always conduce to happiness. In fact, real happiness is found within,
and is not be defined in terms of wealth, power, honours, or conquests.
If we compare the mental and physical levels of happiness, we’ll find
that mental experiences of pain and pleasure are actually more powerful
than those of physical experiences. Devout Buddhists should always remember
that your property will remain when you die. Your friends and relatives
will follow you up to your grave. But only good or bad actions you have
done will follow you beyond the grave. Thus, wealth can only be used to
decorate your house but not you. Only your own virtue can decorate you.
Your dress can decorate your body, but not you; only your good conduct
can decorate you: Nhiều người cho rằng họ có thể giải quyết
mọi vấn đề của mình khi họ có tiền, nên họ luôn bận
rộn đem hết sức lực của mình ra để kiếm tiền. Càng
kiếm được nhiều tiền họ càng muốn kiếm thêm nữa. Họ
không nhận thức được rằng tiền không mua được hạnh
phúc, hay sự giàu có thường không mang lại hạnh phúc. Kỳ
thật, hạnh phúc thực sự chỉ tìm thấy trong nội tâm chứ
không nơi của cải, quyền thế, danh vọng hay chiến thắng.
Nếu chúng ta so sánh giữa hạnh phúc vật chất và tâm hồn
thì chúng ta sẽ thấy rằng những hạnh phúc và khổ đau diễn
ra trong tâm hồn chúng ta mãnh liệt hơn vật chất rất nhiều.
Phật tử thuần thành nên luôn nhớ rằng tài sản sẽ ở
lại khi bạn ra đi. Bạn bè người thân sẽ đưa tiễn bạn
ra nghĩa trang. Chỉ có nghiệp lành nghiệp dữ mà bạn đã
tạo ra sẽ phải đi theo với bạn vào chung huyệt mộ mà thôi.
Vì thế, tài sản chỉ có thể được dùng để trang hoàng
căn nhà, chứ không thể tô điểm được cho công đức của
mình. Y phục có thể được dùng để trang hoàng thân thể
của bạn, chứ không phải cho chính bạn.
(IV)
The secret of happiness lies in doing what needs be done now and not worrying
about the past and the future. We cannot go back to change things in the
past nor can we anticipate what will happen in the future. There is but
one moment of time over which we have some relatively conscious control
and that is the present—Bí mật của hạnh phúc nằm ở chỗ
chúng ta biết những gì cần làm ngay trong hiện tại, và không
bận tâm đến quá khứ và tương lai. Chúng ta không thể nào
trở về lại để thay đổi những việc đã xảy ra trong quá
khứ, và chúng ta cũng chẳng thể nào biết trước những gì
sẽ xảy ra trong tương lai. Chỉ có khoảnh khắc thời gian
mà chúng ta tương đối kiểm soát được là hiện tại.
(V)
The Buddha’s teachings on “Happiness”—Đức Phật dạy về
Hạnh phúc:
(A)
The Buddha enumerates some kinds of happiness for a layman. They are the
happiness of possession, health, wealth, longevity, beauty, joy, strength,
property, children, etc. The Buddha does not advise all of us to renounce
our worldly lives and pleasures and retire to solitude. However, he advised
lay disciples to share the enjoyment of wealth with others. We should use
wealth for ourselves, but we should also use wealth for the welfare of
others. What we have is only temporary; what we preserve we leave and go.
Only karmas will have to go with us along the endless cycle of births
and deaths. Thus we must try to recognize and eliminate the powerful emotions
we possess such as desire, hatred, anger, ignorance, pride, doubt, wrong
views, etc., for they tend not to bring us long happiness. A fulfilled
desire may provide us a sense of temporary satisfaction, but it will not
last long. For example, we are satisfied with a new car we just bought,
but for how long that satisfaction can last? Soon after the car will become
old and broken, and that would cause us disatisfactions and sufferings.
Thus, the Buddha taught about the happiness of lay disciples as follows:
“A poor, but peace life is real happiness. Leading a blameless life is
one of the best sources of happiness, for a blameless person is a blessing
to himself and to others. He is admired by all and feels happier, being
affected by the peaceful vibrations of others. However, it is very difficult
to get a good name from all. The wisemen try to be indifferent to external
approbation, try to obtain the spiritual happiness by transcending of material
pleasures.” Then the Buddha continued to remind monks and nuns: “Nirvana
bliss, which is the bliss of relief from suffering, is the highest form
of happiness.”—Đức Phật đã nêu lên các loại hạnh phúc
cho người cư sĩ tại gia: “Hạnh phúc có sức khỏe, có của
cải, sống lâu, đẹp đẽ, vui vẻ, sức mạnh, tài sản và
con cái, vân vân. Đức Phật không khuyên chúng ta từ bỏ cuộc
sống trần tục và rút lui về sống ẩn dật. Tuy nhiên, Ngài
khuyên Phật tử tại gia, sự vui hưởng của cải không những
nằm trong việc xử dụng cho riêng mình, mà nên đem phúc lợi
cho người khác. Những cái mà chúng ta đang có chỉ là tạm
bợ. Những cái mà chúng ta đang gìn giữ, rốt rồi chúng ta
cũng bỏ chúng mà đi. Chỉ có những nghiệp sẽ phải theo
chúng ta suốt nẻo luân hồi. Vì vậy chúng ta nên nhận chân
và khử trừ những cảm xúc mạnh mẽ về tham, sân, hận,si
mê, ngã mạn, nghi hoặc, và tà kiến, vân vân vì chúng không
mang lại cho chúng ta hạnh phúc trường cửu. Một sự ham muốn
được thỏa mãn có thể mang lại cho chúng ta một cảm giác
hài lòng tạm thời, nhưng sự hài lòng này không tồn tại
lâu dài. Thí dụ như chúng ta hài lòng vì mới vừa mua một
cái xe mới, nhưng sự hài lòng này sẽ tồn tại được bao
lâu? Chẵng bao lâu sau cái xe rồi sẽ cũ sẽ hư và chúng ta
sẽ trở nên buồn bã khổ đau vì sự hư hoại của cái xe
ấy. Chính vì thế mà Đức Phật dạy về hạnh phúc của
người cư sĩ như sau: “Sống nghèo về vật chất mà tinh
thần thoải mái là hạnh phúc. Sống đời không bị chê trách
là hạnh phúc, vì người không bị chê trách là phúc lành
cho chính mình và cho người khác. Người đó được mọi người
ngưỡng mộ và cảm thấy sung sướng hơn khi truyền cảm được
làn sóng hòa bình sang người khác. Tuy nhiên, rất khó mà không
bị mọi người chê trách. Vì thế người trí cao thượng
nên cố sống dửng dưng với sự khen chê bên ngoài, cố đạt
được hạnh phúc tinh thần bằng cách vượt qua lạc thú vật
chất.” Sau đó Đức Phật tiếp tục nhắc nhở chư Tăng
Ni: “Hạnh phúc Niết Bàn là dạng thức hạnh phúc giải thoát
khổ đau cao thượng nhất.”
(B)
The Buddha’s teachings on Happiness in the Dharmapada Sutra—Đức
Phật dạy về Hạnh phúc trong Kinh Pháp Cú:
1)
Oh! Happily do we live without hatred among the hateful! Among hateful
men we dwell unhating!: Hạnh phúc thay chúng ta sống không thù
oán giữa những người thù oán; giữa những người thù oán,
ta sống không thù oán (Dharmapada 197).
2)
Oh! Happily do we live in good health among the ailing! Among the ailing
we dwell in good health!: Hạnh phúc thay chúng ta sống không tật
bệnh giữa những người tật bệnh; giữa những người tật
bệnh chúng ta sống không tật bệnh (Dharmapada 198).
3)
Oh! Happily do we live without greed for sensual pleasures among the greedy!
Among the greedy we dwell free from greed!: Hạnh phúc thay chúng ta
sống không tham dục giữa những người tham dục; giữa những
người tham dục, chúng ta sống không tham dục (Dharmapada 199).
4)
Oh! Happily do we live without any hindrances. We shall always live in
peace and joy as the gods of the Radiant Realm: Hạnh phúc thay chúng
ta sống không bị điều gì chướng ngại. Ta thường sống
với những điều an lạc như các vị thần giữa cõi trời
Quang-âm (Dharmapada 200).
5)
Hunger is the greatest disease, aggregates are the greatest suffering.
Knowing this as it really is, the wise realize Nirvana: supreme happiness:
Đói là chứng bệnh lớn, vô thường là nổi khổ lớn; biết
được đúng đắn như thế, đạt đến Niết bàn là hạnh
phúc tối thượng (Dharmapada 203).
6)
Good health is a great benefit, contentment is the richest, trust is the
best kinsmen, Nirvana is the highest bliss: Vô bệnh là điều rất
lợi, biết đủ là kẻ rất giàu, thành tín là nơi chí thân,
Niết bàn là niềm hạnh phúc tối thượng (Dharmapada 204).
7)
To meet the sage is good, to live with them is ever happy. If a man has
not ever seen the foolish, he may ever be happy: Gặp được bậc Thánh
nhân là rất quý, vì sẽ chung hưởng sự vui lành. Bởi không
gặp kẻ ngu si nên người kia thường cảm thấy hạnh phúc
(Dharmapada 206).
**
See Seven emotions, Eight savours (pleasures) of the Buddha’s nirvana,
and Eight winds.
Happiness
and benefit: Phúc lợi.
Happiness
of blamelessness: Anavajjasukha (p)—Hạnh phúc không bị khiển
trách—Herein the Aryan disciple is blessed with blameless action of
body, blameless action of speech, blameless action of mind. At the thought,
bliss and satisfaction come to him. This is called the bliss of blamelessness—Bậc
Thánh nhân không bị khiển trách về thân khẩu ý. Khi nghĩ
như vậy, người ấy cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện.
Đó là hạnh phúc không bị khiển trách—See Four kinds of bliss
of lay Buddhists.
Happiness
of death:
1)
Hạnh phúc được chết lành.
2)
Minh Phúc: Sự phúc độ của người chết (như bố thí, cúng
dường, hay tụng kinh hộ niệm cho người quá vãng).
Happiness
for goodness is unavoidable: Phước chẳng tránh được—See Seven
unavoidables.
Happiness
of having possessions: Atthisukha (p)—Hạnh phúc có vật sở hữu—Herein
a clansman has wealth acquired by energetic striving, amassed by strength
of arm, won by sweat, and lawfully gotten. At this thought, bliss and satisfaction
come to him. This is call the bliss of ownership—Hạnh phúc của người
có vật sở hữu nhờ sự nỗ lực cố gắng, nhờ sức lực
của chân tay và mồ hôi, sở hữu một cách hợp pháp. Khi
nghĩ như vậy, người kia cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện.
Đó là hạnh phúc có được vật sở hữu—See Four kinds of
bliss of lay Buddhists.
Happiness
of having properties: Bhogasukha (skt)—Hạnh phúc được có tài
sản—Herein a clansman by means of wealth acquired by energetic striving,
both enjoys his wealth and does meritorious deeds. At this thought, bliss
and satisfaction come to him. This is called the bliss of wealth—Người
kia tạo nên tài sản do nơi cố gắng nỗ lực. Bây giờ chính
mình thọ hưởng tài sản ấy, hoặc dùng nó để gieo duyên
tạo phước. Khi nghĩ như vậy, người ấy cảm thấy thỏa
thích và mãn nguyện. Đó là hạnh phúc có được tài sản—See
Four kinds of bliss of lay Buddhists.
Happiness
of oneself: Atmasukha (skt)—Ngã lạc.
Happiness
of owing no debts: Ananasukha (skt)—Hạnh phúc không nợ nần—Herein
a clansman owes no debt, great or small, to anyone. At the thought, bliss
and satisfaction come to him. This is called the bliss of debtlessness—Người
kia không thiếu ai món nợ lớn nhỏ nào. Khi nghĩ như vậy
người kia cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện. Đó là hạnh
phúc không mang nợ—See Four kinds of bliss of lay Buddhists.
Happiness
and sorrow: Vui buồn
Happiness
of tranquility: An Lạc.
1)
Passadhisukham (p): Comfort—Comfortable—Happy (ease of body and joy
of heart)—Peaceful and joyful—Stable and comfortable—An bình và
hạnh phúc (thân dễ chịu và tâm hoan hỷ).
2)
The Buddha comes to the Saha World for the welfare and happiness of sentient
beings: Phật đến với cõi Ta Bà vì an lạc cho chúng sanh.
3)
Samasudha (skt): The joy or happiness of tranquility—Niềm vui hay hạnh
phúc của sự yên tỉnh.
Happiness
and wealth: Phúc lộc.
Happy:
Hạnh phúc.
Happy
is the birth of the Buddhas: Hạnh phúc thay chư Phật giáng sinh.
Happy
conditions: Điều kiện hạnh phúc—There are eight happy conditions
in which one may be reborn so that one can keep the five commandments and
the ten good ways and bestows alms—Có tám điều kiện tái sanh
hạnh phúc khi chúng ta trì giữ ngũ giới thập thiện—See
Eight happy conditions in which one may be reborn.
Happy
contentment: An Lạc—There are four means of happy contentment—See
Four means of attaining a happy contentment.
Happy
day: Hoan Hỷ Nhật.
1)
Every 15th day of the month: Ngày rằm hằng tháng được gọi là
ngày “Hoan Hỷ Nhật”.
2)
The happy day of the Buddha, and of the order, i.e. that ending the “retreat,”
15th day of the seventh or eighth moon: Ngày rằm tháng bảy hay tháng
tám là ngày hoan hỷ, ngày đó Đức Phật và giáo đoàn chấm
dứt lễ an cư kiết hạ.
Happy
day of the Buddha: The ending of the retreat, 15th day of the 7th moon—
Hoan hỷ nhựt.
Happy
day for monks and nuns: Hoan hỷ nhật—The ending of the summer retreat,
on the 15th day of the 7th Lunar month—Ngày ra hạ, 15 tháng 7 âm
lịch.
Happy
fate: Sugati (skt)—Bliss—Blissing world—Cảnh giới hoan lạc.
Happy
karma: Karma of blessedness—Phước nghiệp.
Happy
karma from previous existence: Túc Phúc (phúc đức thiện căn đời
trước hay phúc nghiệp tiền kiếp).
Happy
land: Abhirati (skt)—Lạc thổ—Hoan Hỷ Quốc—Diệu Hỷ Quốc—The
happy land, or paradise of Aksobhya, east of our universe—Tên cõi Tịnh
Độ của Đức A Súc Bệ Phật ở về phương đông của vũ
trụ (Kinh Pháp Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ).
Happy
life: Cuộc sống hạnh phúc.
1)
According to Buddhist theory, a happy life means always to maintain a peaceful
and happy mind. For monks and nuns, they should be always self-co