Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH
- VIETNAMESE ANH VIỆT
Thiện
Phúc
A
A (skt):
Vô—Phi—Không—Chẳng phải—The prefix meaning “not,” the
negative. Before another vowel it may be followed by a supplemental consonant
for euphony, e.g., a(n)atta, not atta. It is said that from it born all
other letters, and it is the first sound uttered by the human mouth. It
has therefore numerous mystical indications—Tiếp đầu ngữ trong
Phạn ngữ có nghĩa là “không” hay phủ định. Khi đứng
trước một nguyên âm khác, nó có thể được theo sau bởi
một phụ âm cho thuận tai, như a(n)atta, chứ không phải atta.
Người ta nói từ mẫu tự này sản sanh ra tất cả những
chữ khác, và nó cũng là tiếng đầu tiên thốt ra từ cửa
miệng của nhân loại. Trong tất cả các nền văn hóa trên
thế giới, nó biểu thị rất nhiều bí ẩn.
Ababa
(skt): Habava (skt)—A Ba Ba—A Bà Bà Địa Ngục—Hoắc
hoắc bà—Hell of the only sound to possible to frozen tongues, the
fourth of the eight cold hells—Tiếng kêu rít lên vì lạnh, địa
ngục thứ tư trong bát hàn địa ngục—See Địa Ngục (b)
(4), and Eight cold hells.
Abandon
(v): Parityajati (skt)—Buông bỏ hay từ bỏ—To desert—To drop—To
foresake—To leave—To part from.
Abandon
cruelty: Đoạn trừ các tâm tư não hại—See Ten Ariyan dispositions
(7).
Abandon
demerit when it arises: Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã
phát sanh—Effort to eliminate sins already arisen—Putting an end to
existing evil—Endeavor to eliminate already-formed evil—To remove any
evil as soon as it starts. Here a monk rouses his will, makes an effort,
stirs up energy, exerts his mind and strives to overcome evil unwholesome
mental states that have arisen—Điều dữ đã sanh, phải tinh cần
dứt trừ đi. Ở đây vị Tỳ Kheo khởi lên ý muốn, cố gắng,
tinh tấn, sách tâm, trì tâm với mục đích khiến cho các ác
pháp đã sanh được diệt trừ—See Four right efforts.
Abandon
the eye of impurity: To leave the eye of contamination, and attain
the eye which beholds truth and reality—Ly cấu nhãn (rời bỏ uế
nhiễm nhãn để đạt được thanh tịnh nhãn nhìn thấu suốt
được chân lý của vạn hữu).
Abandon
ill-will: Đoạn trừ các tâm tư sân hận—See Ten Ariyan dispositions
(7).
Abandon
illusion and turn to enlightenment: Return to the source—Hoàn nguyên.
Abandon
obscurers of hindrances to truth: Ly Cái (từ bỏ được năm thứ
phiền não che mất chân tâm). **See Five kinds of hindrance.
Abandon
negative karma: Từ bỏ ác nghiệp.
Abandon
the old and embrace the new: Cách cố đỉnh tân (Bỏ cũ dựng mới).
Abandon
both pain and pleasure: Xả Thọ—One of the five vedanas or sensations,
the state in which one has abandoned both pain and pleasure—The state
of renunciation or indifference to sensation—Một trong năm trạng
thái cảm thọ, trạng thái trong đó con người đã xả bỏ
sự đớn đau cũng như lạc thú.
Abandon
quests: Đoạn trừ các mong cầu—See Ten Ariyan dispositions (6).
Abandon
the quests for the holy life: Làm an tịnh các mong cầu về phạm
hạnh—See Ten Ariyan dispositions (6).
Abandon
the quests for rebirth: Đoạn trừ các mong cầu về hiện hữu—See
Ten Ariyan dispositions (6).
Abandon
the quests for sense-desires: Đoạn trừ các mong cầu về dục
vọng—See Ten Ariyan dispositions (6).
Abandon
thoughts: Đoạn trừ các tâm tư dục vọng—See Ten Ariyan dispositions
(7).
Abandon
thoughts of sensuality: Đoạn trừ các tâm tư dục vọng—See
Ten Ariyan dispositions (7).
Abandon
vegetarianism: Khai Tố—As is permitted in case of sickness—Ngã mặn,
được cho phép trong trường hợp bệnh hoạn (trong trường
hợp trên, người bệnh được phép dùng gia vị và thịt,
hoặc rượu để chữa bệnh).
Abandoning:
Upeksa (skt)— Upeksendriya (skt)—Buông xả—Xả căn—Abnegationt—Equanimity—Indifference—To
let go—Neglect—Neutral feeling—Relinquish—Renounce—Self-sacrifice—One
of the chief Buddhist virtues, that of renunciation, leading to a state
of indifference without pleasure or pain, or independence of both. It is
defined as the mind in equilibrium, i.e. above the distinction of things
or persons, of self or others; indifferent, having abandoned the world
and all things, and having no affections or desirs. Upeksa is one of the
seven Bodhyangas. The Buddha taught: “If one wishes to penetrate into
the profound realm of liberation of the Maha-Bodhisattvas, Buddhists must
first be able to let go of all of the five desires of ordinary people.”
According
to the Vimalakirti Sutra, when Manjusri Bodhisattva called on to enquire
after Upasaka Vimalakirti’s health, Manjusri asked Vimalakirti about
“Upeksa”. Manjusri asked Vimalakirit: “What should be relinquish
(upeksa) of a Bodhisattva?” Vimalakirti replied: “In his work of salvation,
a Bodhisattva should expect nothing (i.e. no gratitude or reward) in return.”—Còn
gọi là Một Xa, nội tâm bình đẳng và không có chấp trước,
một trong những đức tính chính của Phật giáo, xả bỏ sẽ
đưa đến trạng thái hửng hờ trước những vui khổ hay độc
lập với cả hai thứ nầy. Xả được định nghĩa là tâm
bình đẳng, như không phân biệt trước người vật, kỷ bỉ;
xả bỏ thế giới vạn hữu, không còn bị phiền não và dục
vọng trói buộc. Xả là một trong thất giác phần hay thất
bồ đề phần. Đức Phật dạy: “Muốn được vào trong cảnh
giới giải thoát thậm thâm của các bậc Bồ Tát, Phật tử
trước hết cần phải xả bỏ tất cả dục lạc của ngũ
dục của phàm phu. Theo Kinh Duy Ma Cật, khi ngài Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, ông có hỏi
về lòng “xả”. Văn Thù Sư Lợi hỏi Duy Ma Cật: “Sao gọi
là lòng xả?” Duy Ma Cật đáp: “Những phước báo mà vị
Bồ Tát đã làm, không có lòng hy vọng”—See Twenty two roots.
Abandoning
by cutting off: Đoạn trừ bằng cách cắt đứt—See Three excisions
of beguiling delusion.
Abandoning
by substitution of opposite: It is like the abandning of darkness at night
through the means of a light—Đoạn bằng cách thay vào một pháp
ngược lại, giống như thay thế bóng tối bằng ánh sáng—See
Three excisions of beguiling delusion (C).
Abandoning
by suppressing: Ức đoạn—This is like the pressing down of water-weed
by placing a porous pot on weed-filled water—Đoạn trừ bằng cách
ức chế như đè cây lau bằng cách đặt trên ngọn cây một
cái bình đầy nước có lỗ—See Three excisions of beguiling delusion
(C).
Abandonment
(n): Upeksa-bodhyanga (skt)—Sự buông bỏ hay sự xả bỏ—Detachment—Abandonment
is one of the most important entrances to the great enlightenment; for
with it, we can turn away from the five desires. There are seven abandonments
or riddances—Xả giác phần còn là một trong những cửa ngõ
quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta có thể
từ bỏ ngũ dục. Có bảy loại buông xả. **See Seven Bodhyanga
and Seven riddances.
Abandonment
of desire-realm: Dĩ Ly Dục—Dĩ Ly Dục Giả—Those who have abandoned
the desire-realm, divided into two classes—Người đã từ bỏ dục
giới, có hai loại:
1)
Ordinary people—Dị Sanh: Ordinary people who have left desire, but
will be born into the six gati—Phàm phu đã lìa dục vọng, nhưng
vẫn còn luân hồi trong lục đạo.
2)
Saints or Sages—Thánh Giả: The saints, who will not be reborn into
the desire-realm, for both Non-Buddhists and Buddhists—Những vị Thánh
không còn luân hồi trong dục giới, cho cả Phật tử và không
Phật tử.
Abandonment
of all materialistic desires for palaces and pleasures: All Buddhas have
already abandoned all materialistic desires for palaces and pleasures;
they have no craving or obsession—Chư Phật nơi những sắc dục
cung điện hay kỹ nhạc đều đã xa lìa không tham nhiễm—See
Ten kinds of Buddha-work in all worlds in all times of the Buddhas (B)
(3).
Abbacy
(n): Abbotship—Chức vị hay quyền hạn của vị Tu Viện Trưởng.
Abbess:
Head of a nunnery—Nữ viện chủ.
Abbot:
Đại lão Hòa thượng—Phương Trượng—Trụ Trì—Viện chủ—Head
of a monastery or an abbey. A Chinese term for abbot is “fangzhang,”
or ‘ten feet square,’ is a term used primarily in Zen monasteries and
refers to the ideal size of the abbot’s quarters. Also called master
of a temple, a chairman, president, the head of the monks, an abbot. Abbot
also has another meaning: a “dweller and upholder of Buddhadharma.”
That means a monk who is a resident superintendent of the monastery and
maintains or holds firmly to faith in the Buddha—Từ ngữ chữ Hán
là phương trượng, mười mã vuông, nguyên thủy được dùng
trong các Thiền viện chỉ kích cỡ lý tưởng cho khu vực tọa
chủ. Còn gọi là Thủ Tọa, Thượng Tọa, hay Tọa Nguyên,
là vị chủ một nhóm cử tọa đại chúng hay vị Thượng
Tọa trụ trì tự viện. Từ “Abbot” còn có nghĩa là “Trụ
Trì”. Nghĩa là một vị giám sư trong tự viện luôn
giữ vững niềm tin nơi Đức Phật.
Abbot's
attendant: Thị giả.
Abbot’s
chamber: Phương trượng (phòng của vị sư trụ trì).
Abbreviated
version: Summarized version—Tiểu Phẩm (phẩm kinh tóm tắt).
Abdhuta-dharma
(skt): Wonderful Dhammas—Kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên—Accounts
on miracles performed by the Buddha.
Abdicate:
Renounce the throne—Resign from the throne—Thoái vị (từ bỏ ngai
vàng).
Aberration:
Hallucination—Ảo giác.
Abhabbagamana
(skt): Abhibbagamana (p)—Incapable of progressing—Those beings
who are obstructed by their evil actions, by their defilements, by the
result of their evil actions. Those who are devoid of faith, energy and
knowledge, and unable to enter the right path and reach perfection—Không
còn khả năng chuyển hóa. Những kẻ bị chướng ngại vì
những ác hành và nhiễm ô của họ. Những kẻ không có tín
ngưỡng, nghị lực và sự hiểu biết, không thể nào bước
vào con đường chánh đạo để đi đến toàn giác được.
Abhassara:
Deva—The “Radiant Ones.”—A class of heavenly beings of the fine-material
world (rupa-loka)—Cõi trời sắc giới—See Radiant devas and Three
dharmas (XXXVI).
Abhasvara
(skt): Pure heaven of utmost light and sound—Cực quang âm thiên—Đại
Quang Âm Thiên—Quang Âm Thiên.
(A)
Light and sound or Light-sound heavens, also styled the heaven of utmost
light and purity, the third of the second dhyana heavens, in which inhabitants
converse by light instead of words; they recreate the universe from the
hells up to and including the first dhyana heavens after it has been destroyed
by fire during the final series of cataclysms; but they gradually diminish
in power and are reborn in lower states—Quang Âm Thiên hay Cực Quang
Tịnh Thiên, là cõi trời thứ ba trong đệ nhị thiền thiên
thuộc sắc giới. Tại cõi trời nầy dứt mọi âm thanh, lúc
muốn nói thì dùng tịnh quang làm ngôn ngữ, nên gọi là Quang
Âm. Thời đại hỏa tai hủy diệt cõi sơ thiền thiên của
sắc giới thì chúng sanh ở hạ giới đều tập hợp tất
cả vào cõi trời nầy. Chờ tới sau khi thế giới tái thành,
buổi ban đầu của thành kiếp, từ cõi trời nầy nổi lên
những áng mây vàng, trút mưa lũ xuống để tạo ra thế giới
từ sơ thiền thiên xuống tới địa ngục. Khi thế giới đã
thành rồi thì chúng sanh ở cảnh trời nầy phúc bạc, dần
dần phải đi xuống cõi dưới, thậm chí cho tới địa ngục
đều thấy chúng sanh.
(B)
The three heavens of the second dhyana are—Ba cõi trời trong nhị
thiền thiên gồm có:
1)
Minor-Light Heaven: Thiểu Quang Thiên.
2)
Infinite-Light Heaven: Vô Lượng Quang Thiên.
3)
Light and Sound Heaven: Quang Âm Thiên.
**
See Four dhyana heavens and Four jhanas.
Abhasvara-vimana
(skt): A Ba La—The sixth of the Brahmalokas of light and sound (abhasvara)
and its devas—Cõi trời Quang Âm Thiên—A heaven belonging to the
world of form or rupaloka, where no sounds are heard; when the inhabitants
wish to talk, a ray of pure light comes out of the mouth, which serves
as speech—Quang Âm Cung hay Cực Quang Tịnh Thiên là một cõi
trời thuộc sắc giới, ở đấy không nghe thấy âm thanh nào;
khi các cư dân ở đó muốn nói chuyện, một tia sáng thanh
tịnh thoát ra khỏi miệng được dùng làm ngôn ngữ. **See
Devas.
Abhava
(skt): Phi Hữu—Không hiện hữu, không có thật—Non-existence—Not
real—Non-reality.
Abhasvara
(skt): Cực Quang Tịnh Thiên—Quang Âm Thiên—See Second Dhyana
Heaven (II) (3).
Abhava-sunyata
(skt): Emptiness of non-being—Vô Tánh Không—Không của vô thể—See
Emptiness of non-being.
Abhavasvabhava
(skt): Lack of self-substance or absence of the substance of existence—Không
có tự tính, không có một thuộc tính độc lập.
Abhava-svabhava-sunyata
(skt): Emptiness of the non-being of self-nature—Vô Tánh Tự Tánh
Không—Không của vô thể của tự tánh—See Emptiness of the
non-being of self-nature.
Abhaya
(skt):
1)
Courage—Dauntless—Fearlessness—Vô úy.
2)
Giving of courage or fearlessness—Vô Úy Thí—See Three kinds
of dana.
Abhaya-bhumi:
Fearless bhumi—Vô úy sở địa.
Abhayadana
(skt): Abhayandada (skt)—Bestower of fearlessness—Thí Vô Úy—Còn
gọi là Thí Vô Úy Giả hay Thí Vô Úy Tát Đỏa.
1)
The bestower of fearlessness: When someone encounters disasters or calamities
which terrify him, at that moment the Bodhisattva removes his anxieties
and sufferings through one’s own efforts. Dispelling fear means to give
the gift of fearlessness. The giving of fearlessness is the best way that
can give a genuine peaceful and happy environment for everyone, because
a real state of fearlessness is considered as synonymous with the freedom
and bliss without war, dislike, fighting, killing, etc...—Người bố
thí sự vô úy. Làm cho người khác không còn lo âu sợ hãi.
Khi một người gặp tai họa làm khủng hoảng, chính giây phút
ấy, Bồ Tát bằng phương tiện lời nói hay các phương pháp
khác để người đó dẹp bỏ được sự lo lắng. Dẹp bỏ
được sự sợ hãi cho ai là món quà vô úy thí. Vô úy thí
là cách tốt nhất mang lại hoà bình và an lạc cho mọi người,
bởi vì trạng thái không sợ hãi đồng nghĩa với tự do,
an lạc không có chiến tranh, hận thù, đánh nhau hay chém giết
nhau, vân vân.
2)
A title of Kuan-Yin: Một danh hiệu của Đức Quán Thế Âm (vì
ngài là chỗ nương tựa của chúng sanh, khiến họ không còn
sợ hãi nữa).
3)
A Bodhisattva in the Garbhadhatu: Một vị Bồ Tát trong Thai Tạng
Giới.
Abhayagiri
(skt & p):
1)
A Bạt Da Chỉ Ly: Mount Fearless in Ceylon at Anuradhapura—Núi Vô
Úy ở A Nâu La Đà Bổ La, cố đô (kinh đô cổ) của nước
Tích Lan.
2)
Name of a famous monastery and surviving Stupa at Anuradhapura, once the
capital of Ceylon. This an important early monastery in Sri Lanka, founded
by King Vattagamani in Anuradhapura during the first century B.C. Its monks
formed a separate Nikaya that remained intact until the 12th century, when
it was ordered to amalgamate with the Mahavihara nikaya by King Parakramabahu
I—Tên của một tự viện và phế tháp tại Anuradhapura, một
thời là kinh đô của Tích Lan. Đây là ngôi tịnh xá quan trọng
vào buổi đầu ở Tích Lan, được vua Vattagamani xây dựng
tại thành Anuradhapura vào thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch.
Những vị sư tại đây đã thành hình một bộ kinh điển
riêng biệt tồn tại cho đến thế kỷ thứ 12, khi vua Parakramabahu
I hạ lệnh phải hòa nhập với phe bên Đại Tịnh Xá (Mahavihara)—See
Anuradhapura.
3)
Mount of Fearlessness: Vô Úy Sơn—Mount fearless in Ceylon, with an
ancient monastery where Fa-Hsien found 5,000 monks—Núi Vô Úy ở Tích
Lan, với một tự viện cổ, nơi mà ngài Pháp Hiển đã tìm
thấy 5.000 chư Tăng tòng tu trong đó.
Abhayagiri-vasin:
Vô úy sơn trụ bộ.
Abhaya-mudra
(skt): Mẫu Đà La Pháp Ấn—The gesture of Sakyamuni Buddha right
after he attained enlightenment (the right hand is raised to shoulder level
with fingers extended and palm turned outward)—Cử chỉ của Phật
Sakyamuni ngay sau khi Ngài đạt Đại giác (bàn tay phải đưa
ngang vai, các ngón tay duỗi thẳng, lòng bàn tay hướng về
phía trước).
Abhibhavayatana
(skt): Abhibhayatana (p)—Fields (meditation exercises) of mastery the
sphere of the senses of perception in relation to various objects—Cách
kiểm soát tri giác về những đối tượng khác nhau trong thiền
định:
1)
Perception of forms in relation to one’s own body and of limited forms
in the external world such as beautiful or ugly, which helps the cultivator
to conquer attachment to forms: Luôn biết về những hình thức
của thân thể với những hình thức giới hạn của thế giới
bên ngoài như đẹp xấu giúp cho người tu tập làm chủ được
những ham thích về hình tướng của mình.
2)
Perception of forms in relation to the body and of unlimited external forms
which also helps the cultivator to conquer attachment to forms: Luôn biết
về những hình thức của thân thể với những hình thức
không giới hạn của thế giới bên ngoài, cũng nhằm giúp
cho người tu tập làm chủ được sự ham thích hình tướng
của mình.
3)
Perception of no forms in relation to one’s own body and limited external
forms which help increasing or strengthening the cultivator’s concentration
ability: Luôn biết không có những hình thức của thân thể
với những hình thức giới hạn của thế giới bên ngoài,
điều nầy giúp tăng cường định lực của người tu tập.
4)
Perception of no forms in relation to one’s own body and unlimited external
forms, which also helps strengthening the cultivator’s concentration
ability: Luôn biết không có những hình thức của thân thể
với những hình thức không hạn chế của thế giới bên ngoài,
điều nầy cũng giúp tăng cường định lực của người tu
tập.
5)
From the fifth stage to the eighth stage, the cultivator perceives no forms
in relation to one’s own body, but externally blue, yellow, red, and
white forms are still perceived. These practices will help the cultivator
restraining attachment to beauty: Từ giai đoạn năm đến tám, người
tu tập không không còn lưu ý đến những hình thức của thân
thể, nhưng vẫn còn biết về những hình thức mang những
màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Những thực tập nầy giúp người
tu tập khống chế những ham muốn về cái đẹp bên ngoài.
Abhicaraka
(skt): Subjugator of demons—Hàng phục.
1)
A Tỳ Lỗ Ca: Exorcism—An exorciser—Controller of demons—Người
kiểm soát ma quỷ.
2)
To subdue: Hàng Phục—One of the four kinds of altar-worship of the
Shingon sect, exorciser; magic; subjugator of demons—To tame—Subjugation—Tiếng
Phạn là A Tỳ Giá Lỗ Ca, một trong tứ đàn pháp của tông
Chân Ngôn, nghĩa là hàng phục ma quân sức trí tuệ và lòng
từ bi của mình—See Four kinds of altar-worship.
3)
A Tỳ Già Lỗ Ca: Điều phục hay hàng phục—For suppressing
or exorcising. Một trong năm loại tu pháp—One of the five kinds
of esoteric ceremonial—See Five kinds of esoteric ceremonies.
Abhidharma
(skt)—Abhidhamma (p): A Tỳ Đạt Ma (Vi diệu pháp)—A tỳ đạt
ma Luận (Vi Diệu Pháp; Thắng Pháp; những giáo pháp cao thượng
của Đức Phật; tạng thứ ba trong Tam Tạng Pali; triết học
và tâm lý học Phật giáo; siêu hình học Phật giáo, giải
thích sự vật theo chân đế).
(I)
An overview of “Abhidharma: Tổng quan về “Vi Diệu Pháp”—Higher
Dharma or the analytic doctrine of Buddhist Canon or Basket of the Supreme
Teaching. Abhidharma is the third of the three divisions of the Buddhist
Canon. The study and investigation of the Buddha-dharma. Abhidharma was
translated into Chinese as Great Dharma, or Incomparable Dharma. However,
in many later Mahayana works, the term “Abhidharma” is always referring
to Hinayana teachings. As a matter of fact, Abhidharma consists of books
of psychological analysis and synthesis. Earliest compilation of Buddhist
philosophy and psychology, concerning psychological and spiritual phenomena
contained in the discourses of the Buddha and his principal disciples are
presented in a systematic order—Vi diệu Pháp hay bộ Luận Tạng
Phật giáo hay là cái giỏ của học thuyết cao thượng. Vi
Diệu Pháp là tạng thứ ba trong Tam tạng giáo điển Phật
giáo. Nghiên cứu về Phật pháp. A Tỳ Đạt Ma được dịch
sang tiếng Trung Hoa như là Đại Pháp hay Vô Tỷ Pháp (Vô Đối
Pháp). Tuy nhiên, trong những tác phẩm Phật giáo Đại Thừa
về sau này, người ta thường gán cho từ “A Tỳ Đạt Ma”
là giáo thuyết Tiểu Thừa. Kỳ thật, đây chính là những
lời giảng và phân tích về các hiện tượng tâm thần và
tâm linh chứa đựng trong những thời thuyết pháp của Phật
và các đệ tử của Ngài.
a)
Abhidharma with the prefix “Abhi” gives the sense of either “further”
or “about.” Therefore, Abhidharma would mean “The Higher or Special
Dharma” or “The Discourse of Dharma.” While the Dharma is the general
teaching of the Buddha, the Abhidharma is a special is a special metaphysical
discourse brought forward by certain elders: Abhidharma với tiếp đầu
ngữ “Abhi” có nghĩa là “hơn thế,” hay “nói về.”
Như vậy Abhidharma có nghĩa là “Tối thắng Pháp” hay
“trần thuật về Dharma.” Trong khi Dharma là giáo lý tổng
quát của Phật, thì A Tỳ Đạt Ma là một trần thuật siêu
hình đặc biệt do các bậc trưởng lão mang lại.
b)
Abhidharma contains highly abstract, philosophical elucidations of Buddhist
doctrine; the sastras which discuss Buddhist philosophy or metaphysics;
defined by Buddhaghosa as the law or truth (dharma) which abhi goes beyond
the law: A Tỳ Đạt Ma chứa đựng những minh giải trừu tượng
và triết học siêu hình về Phật giáo; hai tạng kia là Luật
Tạng, gồm những điều luật Phật chế ra cho tứ chúng.
(II)
The meanings of “Abhidharma”—Nghĩa của “Vi Diệu Pháp”:
1)
A Sanskrit term meaning “high doctrine,” referring to the philosophical
and scholastic literature contained in the Abhidharma-Pitakas of Indian
Buddhist schools. The earliest Abhidharma material was composed around
300 B.C. According to the Buddhist legends, Abhidharma was first preached
by the Buddha to his mother during a visit to her in the “Tusita Heaven”
after her death. According to most Eastern and Western philosophers, This
is both a distillation (sự gạn lọc) and elaboration (sự nghiên
cứu kỹ lưỡng) on the doctrines presented in the Sutra literature.
For the discourses reported in the sutras do not present a consistent philosophical
system, and so the main aim of the “Abhidharma” writers was to codify
and systematize their doctrines. Abhidharma texts generally rearrange and
classify the terms and concepts of the sutras, focusing particularly epistemology
(nhận thức luận) and psychology. Other important themes include cosmology
and meditation theory. According to Erich Frauwallner, earliest scholars
brought together concepts from a wide range of texts, but often without
a clear pattern of arrangement. Until several centuries A.D., the
fully developed Abhidharma consists of voluminous scholastic texts in which
doctrines and methods of practices are codified and systematized with great
precision and in elaborate detail. As various scholastic traditions developed
in Indian Buddhism at that time, different schools created their own Abhidharmas.
Nowadays, the only complete abhidharma that survives in an Indian language
is found in the Pali Canon of the Theravada school, but other Indian Abhidharmas
exist in Chinese and Tibetan translations, as well as Sanskrit fragments.
In addition to the Abhidharmas of the schools of Theravada Buddhism, there
were also abhidharma works in Mahayana schools, such as Asanga’s Abhidharma-Samuccaya—Phạn
ngữ có nghĩa là “giáo thuyết cao,” chỉ triết thuyết chứa
đựng trong A Tỳ Đạt Ma Luận Tạng của các trường phái
Phật giáo Ấn Độ. Những tài liệu về A Tỳ Đạt Ma Luận
được biên soạn vào khoảng 300 năm trước Tây lịch. Theo
truyền thuyết, thì A Tỳ Đạt Ma lần đầu tiên được Đức
Phật thuyết giảng cho mẹ Ngài khi Ngài thăm viếng bà trên
cung trời Đâu Suất. Theo các nhà triết học Đông và Tây
phương, thì A Tỳ Đạt Ma Luận là một sự gạn lọc và nghiên
cứu kỷ lưỡng về giáo thuyết được trình bày trong văn
chương kinh điển. Vì giáo thuyết trong kinh điển không trình
bày theo một hệ thống triết học trước sau như một, nên
mục tiêu chính của người viết A Tỳ Đạt Ma là sắp xếp
các giáo thuyết này lại cho có hệ thống. A Tỳ Đạt Ma Luận
sắp xếp lại và phân loại những từ ngữ và khái niệm
trong kinh điển, đặc biệt về nhận thức luận và tâm lý
học. Những chủ đề quan trọng khác bao gồm vũ trụ luận
và học thuyết về thiền định. Theo Erich Frauwallner, những
học giả sớm nhất đã gom góp những khái niệm từ nhiều
kinh điển, nhưng không có sự sắp xếp có chuẩn mực rõ
ràng nào cả. Mãi cho đến vài thế kỷ sau Tây lịch
thì A Tỳ Đạt Ma mới được phát triển toàn vẹn thành nhiều
tập trong đó giáo thuyết và phương pháp thực hành được
sắp xếp và hệ thống hóa với những chi tiết chính xác
và giải thích rõ ràng. Vì có nhiều trường phái phát triển
trong Phật giáo Ấn Độ thời đó, nên những trường phái
khác nhau tự tạo A Tỳ Đạt Ma luận cho riêng mình. Hiện
tại bộ A Tỳ Đạt Ma Hoàn chỉnh còn sót lại trong ngôn ngữ
Ấn Độ được tìm thấy trong kinh tạng Pali của trường
phái Nguyên Thủy, nhưng các bản dịch ra tiếng Trung Hoa và
Tây Tạng, và những phần không đầy đủ bằng tiếng Bắc
Phạn vẫn còn. Bên cạnh bộ A Tỳ Đạt Ma của các trường
phái Phật giáo Nguyên Thủy, cũng còn có các tác phẩm về
A Tỳ Đạt Ma của các trường phái Đại Thừa, như bộ A
Tỳ Đạt Ma Luận của ngài Vô Trước.
2)
Abhidharma means the dharma which is organized logically or a systematic
exposition of Buddhist psychology of mind. The Abhidharma was first taught
by the Buddha and his immediate disciples; however, later, Abhidharma also
includes systematic treatises by enlightened masters. The most well-known
of the Hinayana Abhidharma treatises is the Abhidharmakosa by the
Venerable Vasubandhu. Among the most popular Mahayana Abhidharma treatises
is the Treatise on Consciousness Only by Tripitaka Master Hsuan-Tsang—A
Tỳ Đạt Ma là những pháp được xếp đặt có lý luận.
Người ta có thể coi A Tỳ Đạt Ma như trình bày có hệ thống
về tâm lý học của Tâm. A Tỳ Đạt Ma hay Luận Tạng được
Đức Phật và các đệ tử trực tiếp của Ngài thuyết giáo
đầu tiên, tuy nhiên về sau này Luận Tạng cũng bao gồm những
bài luận của những vị thầy đã giác ngộ. Luận Tạng nổi
tiếng của phái Tiểu Thừa là bộ luận A Tỳ Đạt Ma Câu
Xá được viết bởi ngài Thế Thân. Trong số những bộ luận
phổ thông nhất của Đại Thừa là bộ Luận Thành Duy Thức
của ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang.
3)
The methods by which Wisdom should be developed have been set out in the
Abhidharma books. These books are obviously later than the other parts
of the Canon. Some schools, like the Sautrantikas, insisted that they were
not the authentic Buddha word, and should therefore be rejected. The meaning
of the word “Abhidharma” is not quite certain. Abhidharma may mean
“Further-Dharma,” or “Supreme-Dharma.” It is difficult to know
at what time the Abhidharma books were composed. One does not, perhaps,
go far wrong when assigning them to the first two centuries after the death
of the Buddha—Những phương pháp phát triển Trí Tuệ được
trình bày trong Luận Tạng. Những bộ sách này rõ ràng được
viết sau những phần khác của Kinh Điển. Một vài trường
phái như Kinh Lượng Bộ, chủ trương rằng những tác phẩm
này không phải đích thực lời Phật thuyết, và do đó phải
gạt ra ngoài. Ý nghĩa của chữ A Tỳ Đạt Ma không hoàn toàn
rõ rệt. A Tỳ Đạt Ma có thể có nghĩa là “Pháp Tối Hậu”
hay “Tối Thắng Pháp.” Thật khó mà biết A Tỳ Đạt Ma
được trước tác vào lúc nào. Có lẽ người ta không sai
lầm lắm khi cho rằng bộ luận này được trước tác vào
khoảng hai thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt.
4)
Two recensions of the Abhidharma books have come down to us: a set of seven
in Pali and another set of seven, preserved in Chinese, but originally
composed in Sanskrit. The Pali texts represent the tradition of the Theravadins,
the Sanskrit texts that of the Sarvastivadins. About seven centuries after
the original composition of the Abhidharma books, the teachings of both
Abhidharma traditions were finally codified, probably between 400 and 450
A.D. This work was carried out for the Theravadins in Ceylon by Buddhaghosa,
and for the Sarvastivadins by Vasubandhu in the North of India. After 450
A.D. there has been little, if any, further development in the Abhidharma
doctrines—Ngày nay chúng ta còn có hai bản sao và hiệu đính
của luận tạng A Tỳ Đạt Ma: một bộ 7 cuốn bằng tiếng
Pali , và một bộ 7 cuốn được lưu giữ bằng tiếng Hoa,
nhưng theo nguyên bản tiếng Phạn. Kinh bản tiếng Pali của
truyền thống Thượng Tọa Bộ, kinh bản Sanskrit của Hữu
Bộ. Vào khoảng 7 thế kỷ sau khi nguyên bản A Tỳ Đạt Ma
được trước tác, những giáo lý của cả hai truyền thống
A Tỳ Đàm sau cùng được biên tập thành pháp điển, có lẽ
vào khoảng 400 đến 450 sau Tây lịch. Tác phẩm này được
ngài Phật Âm thực hiện cho Thượng Tọa Bộ ở Tích Lan,
và Thế Thân cho Hữu Bộ ở vùng Bắc Ấn. Sau 450 sau Tây lịch,
có rất ít, nếu không phải là không có, một sự phát triển
nối tiếp những lý thuyết của A Tỳ Đạt Ma.
5)
It must be admitted that the style of the Abhidharma books is extremely
dry and unattractive. The treatment of the various topics resembles that
which one would expect in a treatise on accountancy, or a manual of engineering,
or a handbook of physics. Allurements of style are not altogether absent
from Buddhist literature when it was destined for propaganda and attempted
to win the consent of the unconverted, or to edify the sentiments of the
faithful. The Abhidharma books, however, were meant for the very core of
the Buddhist elite, and it was assumed that the Wisdom acquired from their
perusal would be a sufficient reward and incentive of study—Phải nhận
rằng văn pháp của A Tỳ Đạt Ma rất khô khan và không hấp
dẫn. Cách luận giải những chủ đề khác nhau trong đó giống
như tài liệu mà người ta mong thấy trong một bài khái luận
về kế toán, hay một cuốn sách giáo khoa về cơ học hay vật
lý. Văn pháp bóng bẩy lôi cuốn không thiếu trong văn chương
Phật giáo khi nó được dùng để hoằng hóa đạo pháp, hay
cảm hóa tín đồ. Nhưng A Tỳ Đạt Ma chỉ dành riêng cho thành
phần tinh hoa nhất của Phật giáo, và hình như trí Tuệ thủ
đắc từ việc đọc những cuốn sách đó đủ là một phần
thưởng và khích lệ của việc học hỏi.
(III)
Abhidharma is explained by—Sự giải thích về A Tỳ Đạt Ma:
1)
Surpassing law: Thắng Pháp—Compendium of Philosophy is one of the
chief sastras or commentaries of the Abhidharma-kosa School, which is classified
into two kinds: conditioned and non-conditioned. These are all created
things, 72 in number and with uncreated things, 3 in number, constitute
the five categories and the seventy-five dharmas—Thắng Pháp Yếu
Luận là một trong những bộ luận của Câu Xá Tông, trong
đó tất cả các pháp được chia làm hữu vi và vô vi. Những
pháp nầy đều là hữu vi, tổng cộng có 72, cùng với 3 pháp
vô vi tạo thành 5 bộ loại với 75 pháp—See Seventy-five dharmas
of the Abhidharma Kosa.
a)
The created or unconditioned: Hữu Vi Pháp—See Samskrita.
b)
Asamskrta (skt): Vô Vi Pháp—See Asamskrta.
2)
Incomparable law: Vô Tỷ Pháp—Incomparable truth—Pháp cao tột
không gì có thể so sánh được.
3)
Comparing the law: Đối Pháp—Trí đối cảnh—The corresponding
law, the philosophy in the Buddha’s teaching, the abhidharma; comparison
of cause and effect—Pháp đối quán hay đối hướng, nghĩa là
dùng trí huệ của bậc Thánh đạo vô lậu để đối quán
cái lý của tứ đế Niết Bàn.
4)
Directional law, showing the cause and effect: Hướng Pháp—Nhân hướng
quả.
(IV)
The Abhidharma Literature: Văn học A Tỳ Đàm—According to Prof.
Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, Abhidharma literature
consists of the following works—Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong
Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, văn học A Tỳ Đàm gồm
những tác phẩm sau đây.
1)
Katyayaniputra’s Source of Knowledge (Jnana-prasthana) or Eight Books
(Astha-grantha): Phát Trí Luận hay Bát Kiền Độ Luận của Ca
Đa Diễn Ni Tử.
2)
The Six Legs (wrote about the Jnana-prasthana): Lục Túc Luận (viết
về Bát Kiền Độ Luận)—See Six Legs in the commentary on the
Source of Knowledge.
3)
Parsva’s Great Commentary (Mahavibhasa), translated into Chinese with
200 volumes: Đại Tỳ Bà Sa Luận, được viết bởi Parsva, được
dịch ra Hán văn thành 200 quyển.
4)
Abridged Commentary (Vibhasa), translated into Chinese with 14 volumes:
Bệ Bà Sa Luận, được dịch ra Hán văn thành 14 quyển.
**
In Chinese we have thus two transmissions of the Vibhasa, Large (200 parts)
and Small (14 parts). Whether one was an abridgement of the other we cannot
tell for certain. But from several points of view we can imagine that the
larger one belongs to the Kashmir School and the smaller to the Gandhara
School: Ở Trung Hoa có hai bản lưu truyền của Tỳ Bà Sa. Đại
bộ 200 quyển và tiểu bộ 14 quyển. Tuy nhiên, chúng ta không
thể đoan chắc rằng bộ nào là bản tóm tắc của bộ kia.
Nhưng theo nhiều quan điểm chúng ta có thể tin rằng bộ lớn
thuộc phái Kashmir và bộ nhỏ thuộc phái Kiện Đà La.
5)
Abhidharma-hrdaya, written by Dharmottara, translated into Chinese in 391
A.D.: A Tỳ Đàm Tâm Luận, được viết bởi Pháp Thượng,
dịch ra Hán văn vào năm 391 sau Tây Lịch—See Abhidharma-hrdaya-sastra.
6)
Samyukta-abhidharma-hrdaya, written by Dharmatrata, translated into Chinese
in 426 A.D. From this time, the Chinese Abhidharma School called P’i-T’an
was founded: Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận, được viết bởi ngài
Pháp Cứu, Hán dịch vào năm 426 sau Tây Lịch. Kể từ đó,
học phái A Tỳ Đàm được thành lập ở Trung Quốc.
7)
Vasubandhu’s Abhidharma-kosa—A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, viết
bởi Thế Thân—See Abhidharma-kosa-sastra.
a)
Paramartha’s Chinese Translation (about 563-567 A.D.). From this time,
the Chinese Kosa School called Chu-Shê was founded: Hán dịch của
Chân Đế vào khoảng những năm 563-567 sau Tây Lịch. Kể từ
đó học phái Câu Xá được thành lập ở Trung Hoa.
b)
Hsuan-Tsang’s (Hsuan-Tsang 596-664 A.D.) Chinese Translation (around
651 to 654 A.D.). After this translation the Kosa School was completed
as a philosophical system chiefly by K’uei-Chi (632-682 A.D.),
a pupil of Hsuan-Tsang: Hán dịch của Huyền Trang (596-664 sau Tây
Lịch) vào khoảng những năm 651 đến 654 sau Tây Lịch. Sau
bản Hán dịch nầy, học phái Câu Xá được kiện toàn như
một hệ thống triết học, chính yếu là do Khuy Cơ (632-682),
một đệ tử của Huyền Trang.
Abhidhamma-dharmasangani
(p): Book of the Elements of existence—A Tỳ Đạt Ma Pháp Tụ Luận.
Abhidharma
Dharma Skandha Pada (skt): A Tỳ Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Luận—Composed
by Mahamaudgalyayana—Do Ngài Đại Mục Kiền Liên biên soạn.
Abhidhamma-dhatu-katha
(p): Book of the Origin of things —A Tỳ Đạt Ma Giới Thuyết Luận.
Abhidhamma-dhatu-kaya-pada-sastra
(p): Book of Elements—A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận, do Ngài
Thế Hữu biên soạn.
Abhidharma-hrdaya-sastra
(skt): Heart of the Higher Dharmas—A Tỳ Đạt Ma Tâm Luận—The
Heart of the Higher Dharma was written by Dharmamottara, either before
or after the Buddhist Council of King Kaniska’s reign, by Dharmamottara,
a noted monk, belonged to the Gandhara branch. It was translated into Chinese
in 391 A.D. A commentary on it called Samyukta-abhidharma-hrdaya was written
by Dharmatrata, a pupil of Dharmamottara. This work became the fundamental
text of the Gandhara branch and subsequently of the Chinese Abhidharma
School—A Tỳ Đạt Ma Tâm Luận được viết trước hay sau
cuộc kết tập kinh điển của vua Ca Sắc Nị Ca, bởi Pháp
Thượng (Dharmamottara), một cao Tăng thuộc chi phái ở Kiện
Đà La. Tác phẩm nầy được dịch sang Hán văn vào năm 391
sau Tây Lịch. Một bản chú giải về tác phẩm nầy là Tạp
A Tỳ Đàm Tâm Luận, do Pháp Cứu, một đồ đệ của Pháp
Thượng soạn thảo. Tác phẩm nầy trở thành bản văn căn
bản của chi phái Kiện Đà La và sau cùng là của phái A Tỳ
Đàm Trung Hoa.
Abhidharma
Jnana Prasthana (skt): A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận—Composed in
about 300 years after the Buddha passed away by Katyayanitra, an Indian
monk—Do Tỳ kheo Ấn Độ Cà Đa Diễn Ni Tử soạn vào khoảng
năm 300 sau khi Phật nhập diệt.
Abhidharma-jnana-prasthana-sastra
(p): Book of the Beginning of knowledge, written by Bhiksu Kattyayaniputra
in the first century A.D., (other sources said about 300 years after
the Buddha passed away) and was translated into Chinese by Hsuan-Tsang
around 656 and 659—A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận, được ngài
Cà Đa Diễn Ni Tử biên soạn vào khoảng thế kỷ thứ nhất
sau Tây Lịch (có thuyết nói vaò khoảng năm 300 sau khi Phật
nhập diệt) và được ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ vào
khoảng những năm 656 và 659.
Abhidhamma-katha-vatthu
(p): Book of Controversies—A Tỳ Đạt Ma Thuyết Sự Luận.
Abhidharma-Kosa
(skt): A-Pi-Ta-Mo-Ku-She-Lun—A Tỳ Đạt Ma Câu Xá (Tổng Minh Luận)—Abhidharma
Storehouse Treatise.
(I)
An overview of “Abhidharma-Kosa”—Tổng quan về A Tỳ Đạt Ma
Câu Xá: A Sanskrit term for “Treasury of Higher Doctrine,” one of
the most important works of Buddhist scholasticism prior to his conversion
to Mahayana. Treasure chamber of the Abhidharma which reflects the transition
from the Hinayana to the Mahayana, composed by Vasubandhu in Kashmir in
the fifth century A.D. The root text is commonly believed to have been
written in accordance with the philosophical system of the Vaibhasika school
(based on the philosophical system of the scholastic treatise Mahavibhasa),
but his commentary on the text, the Abhidharma-Kosa-Bhasya, critiques some
key elements of the root text from the perspective of the rival Sautrantika
school. This comprehensive treatise discusses the doctrine of Hinayana.
This texts includes detailed analysis of the action of human consciousness
in its relationship to the environment as well as transformations that
occur in the process of meditation practice. Its doctrines would later
contribute to the development of the theories of the Yogacara School. The
Treatise of Abhidharmakusa was translated into Chinese between 651 and
654 by Hsuan-Tsang—Từ Phạn ngữ có nghĩa là “Tạng Vi Diệu
Pháp,” một trong những tác phẩm Phật giáo quan trọng, được
Ngài Thế Thân viết trước khi Ngài chuyển qua Đại Thừa.
Kho báu A Tỳ Đạt Ma, phản ảnh việc chuyển từ Tiểu Thừa
(Hinayana) sang Đại Thừa (Mahayana). Ngài Thế Thân soạn bộ
luận này tại Kashmir vào khoảng thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch.
Bản gốc thường được tin rằng đã được viết theo hệ
thống triết lý của trường phái Tỳ Bà Sa, nhưng luận luận
tạng của Ngài Thế Thân, những bài phê bình những yếu tố
chính của bản gốc thì từ bối cảnh của trường phái đối
nghịch là Kinh Lượng Bộ. Đây là một bộ luận hàm súc
bàn luận về giáo thuyết Tiểu Thừa. Bộ luận bao gồm những
phân tích chi tiết về nghiệp thức của con người liên hệ
với môi trường chung quanh, cũng như sự chuyển hóa xảy ra
trong tiến trình thiền tập. Học thuyết A Tỳ Đạt Ma Câu
Xá góp phần phát triển giáo thuyết của trường phái Du Già
về sau này. A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận đã được ngài Huyền
Trang dịch sang tiếng Hoa vào khoảng những năm 651 và 654.
(II)
Author and translator: Tác giả và dịch giả—The Abhidharma-kosa-sastra
is a philosophical work by Vasubandhu refuting doctrines of the Vibhasa
school, translated into Chinese by Hsuan-Tsang during the T’ang dynasty—Bộ
A Tỳ Đạt Ma câu Xá Luận được ngài Thế Thân soạn ra để
phản bác lại trường phái Tỳ Bà Sa, được ngài Huyền Trang
dịch ra Hoa ngữ dưới thời nhà Đường—See Vasubandhu.
(III)
The contents of the Abhidharma-kosa, according to Prof. Junjiro Takakusu
in the Essentials of Buddhist Philosophy—Nội dung bộ luận, theo
Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo:
(A)
According to the published text and the Chinese vesion, the contents
of the Abhidharma-kosa are as follows—Theo ấn bản nầy và dịch
bản của Trung Hoa, nội dung của Câu Xá Luận như sau:
1)
On Elements: Phân biệt giới về các pháp.
2)
On Organs: Phân biệt căn về các quan năng.
3)
On Worlds: Phân biệt thế gian về thế giới.
4)
On Actions: Phân biệt nghiệp về các nghiệp.
5)
On Drowsiness or Passion: Phân biệt tùy miên về các phiền não.
6)
On the Noble Personality and the Path: Phân biệt Hiền Thánh về
Thánh giả và đạo.
7)
On Knowledge: Phân biệt trí về trí thức.
8)
On Meditation: Phân biệt định về tư duy.
9)
The Chinese text has a ninth chapter on Refutation of the Idea of the Self:
Hán dịch có một phẩm thứ chín (Phá Ngã Phẩm).
(B)
In writing the Abhidharma-kosa, Vasubandhu seems to have followed the work
of his predecessor, Dharmatrata, called Samyukta-abhidharma-hrdaya, and
this, again, is a commentary on Dharmottara’s Abhidhama-hrdaya. A careful
comparison of the three works will indicate that Vasubandhu had before
him his predecessor’s works, or else such questions as discussed in these
works must have been common topics of the school. The first eight chapters
of the work explain special facts or element of matter and mind,
while the ninth and last chapter elucidates the general basic principle
of selflessness that should be followed by all Buddhist schools. Especially
the ninth chapter seems to originate from Vasubandhu’s own idea, for
there is no trace of this subject in the other books: Khi viết Câu Xá
Luận, Thế Thân hình như đã noi theo tác phẩm của vị tiền
bối là ngài Pháp Cứu, gọi là Tạp A Tỳ Đạt Ma Tâm Luận
(Samyukta-abhidharma-hrdaya); và tác phẩm nầy lại là sớ giải
về A Tỳ Đàm Tâm Luận của ngài Pháp Thượng. So sánh kỹ
cả ba tác phẩm nầy chúng ta sẽ thấy rằng Thế Thân đã
có trước mặt những tác phẩm của các vị tiền bối, nếu
không thì những vấn đề được thảo luận trong các tác
phẩm nầy chắc chắn cũng là chủ trương chung của học phái
nầy. Tám chương đầu của tác phẩm cắt nghĩa những sự
kiện hay những yếu tố đặc thắng là sắc và tâm,
trong khi chương chín là chương cuối cùng minh giải nguyên
lý cơ bản và tổng quát, tức Vô Ngã, một nguyên lý mà hết
thảy các học phái Phật giáo khác đều phải noi theo. Đặc
biệt chương chín hình như xuất phát từ quan điểm riêng
của Thế Thân, vì không có dấu vết gì về chủ đề nầy
trong những sách khác.
(C)
Though the Kosa thus resembles the Hrdaya in subject matter, there is no
indication that the former is indebted to the latter in forming opinions,
for Vasubandhu was very free and thorough in his thinking, and he did not
hesitate to take the tenets of any school other than his own when he found
excellent reasoning in them: Mặc dù Câu Xá Luận giống với Tâm
Luận về chủ đề, nhưng không có chứng cớ nào nói rằng
nó vay mươn Tâm Luận khi thành lập các quan điểm, bởi vì
Thế Thân rất tự do và quán triệt trong tư tưởng của
mình, và ông không ngần ngại lấy những chủ trương
của bất cứ bộ phái nào ngoài chủ trương riêng của mình
khi tìm thấy ở chúng lối lý luận tuyệt hảo.
(IV)
Translations and development of the Abhidharma-kosa in China—Dịch thuật
và sự phát triển của A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận tại Trung
Quốc:
1)
When Vasubandhu’s Abhidharma-kosa was made public in Gandhara, it met
with rigorous opposition from inside and from outside of his school. Yet
the final victory seems to have been on his side, for his work enjoyed
popularity in India; it was taught widely and several annotations
of it were made in Nalanda, Valabhi and elsewhere. It was translated into
Tbetan by Jinamitra and into Chinese first by Paramartha of Valabhi during
563-567 A.D. and later by Hsuan-Tsang who studied at Nalanda University
during 561-564 A.D. In China especially serious studies were made, and
at least seven elaborate commentaries, each amounting to more than twenty
or thirty Chinese volumes, were written on it: Khi Câu Xá Luận của
Thế Thân được truyền bá ở Kiện Đà La, liền gặp phải
sự chống đối nghiêm khắc từ bên trong và bên ngoài bộ
phái của ông (tức Hữu Bộ). Dù vậy, hình như thắng lợi
cuối cùng đã về phía ông, bởi vì tác phẩm của ông phổ
biến khắp xứ Ấn Độ, nó được giảng dạy rộng rãi và
có nhiều chú giải về nó được viết ở Na Lan Đà, Valabhi
và những nơi khác. Nó được dịch sang Tạng ngữ do Jinamittra
và dịch sang Hoa ngữ lần đầu do Chân Đế từ năm 563 đến
năm 567 sau Tây Lịch, và lần sau do Huyền Trang, người đã
từng du học tại Na Lan Đà vào khoảng những năm 651-564 sau
Tây Lịch. Đặc biệt ở Trung Hoa có nhiều khảo cứu
và ít ra có bảy bộ sớ giải được viết căn kẻ về nó,
mỗi bộ có trên hai hay ba mươi quyển.
2)
Before the translation of the Abhidharma-kosa there was in China a school
called P’i-T’an Tsung which is the first one in the list of Chinese
sects given above. P’i T’an being the Chinese abbreviation of Abhidharma.
This Chinese school represents the Gandhara branch of Sarvastivadins. The
principal texts of this school with Vibhasa commentary were translated
into Chinese as early as 383-434 A.D. The larger Vibhasa commentary belonging
to the Kashmir branch was also translated, but there appeared no Chinese
school or sect representing it. When the Kosa text of Vasubandhu was translated
by Paramartha during 563-567 A.D. and again by Hsuan-Tsang during 651-654
A.D., the Kosa School, or Chu-Shê Tsung, came into existence, was seriously
studied, and was made into an indispensable basis of all Buddhist studies.
The P’i T’an School came to be entirely replaced by the new Kosa School:
Trước khi Câu Xá Luận được dịch, ở Trung Hoa đã có một
học phái mệnh danh là Tì Đàm Tông, dứng đầu trong bản
danh sách về các tông phái Trung Hoa ở trên. Tỳ Đàm là tên
gọi tắt của tiếng Trung Hoa về A Tỳ Đạt Ma (Abhidharma).
Tông phái nầy đại diện cho chi phái Hữu Bộ ở Kiện Đà
La. Những tác phẩm chính của phái nầy, cùng với bản sớ
giải Tỳ Bà Sa được dịch sang Hán văn rất sớm, vào khoảng
những năm 383-434 sau Tây Lịch. Bản đại sớ Đại Tỳ Bà
Sa thuộc chi phái Kashmir cũng được phiên dịch, nhưng không
có tông phái Trung Hoa nào đại diện cả. Khi Câu Xá Luận
của Thế Thân được Chân Đế dịch vào khoảng những năm
563-567 sau Tây Lịch, và Huyền Trang dịch vào khoảng những
năm 651-654 sau Tây Lịch, từ đó Câu Xá Tông (Kosa) xuất hiện,
được nghiên cứu tường tận và trở thành một nền tảng
thiết yếu cho tất cả những khảo cứu Phật học. Tỳ Đàm
tông hoàn toàn được thay thế bởi tông phái mới mang
tên là Câu Xá Tông.
Abhidharma-Kosa-samaya-pradipika-sastra
(skt): A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Hiển Tông Luận—Do Ngài Chúng
Hiền biên soạn—See Abhidharma-Kosa.
Abhidharma-Kosa-sastra
(skt): Kusha-ron (jap)—A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (Tổng Minh
Luận)—Treasure chamber of of the Abhidharma which reflects the transition
from the Hinayana to the Mahayana, composed by Vasubandhu in Kashmir in
the fifth century AD—A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, kho báu Vi Diệu
Pháp, phản ảnh việc chuyển từ Tiểu Thừa (Hinayana) sang
Đại Thừa (Mahayana) được Ngài Thế Thân soạn tại Kashmir
vào khoảng thế kỷ thứ 5 sau công nguyên. **See Abhidharma-Kosa.
Abhidharma-Kosa-School:
Abhidharma-kosa or Pitaka school of Vasubandhu—Câu Xá Tông—Name
of the school is an abbreviation of Abhidharma-kosa, which is the title
of Vasubandhu’s work on realism and may be translated “The Story of
the Higher Dharma.” The great philosopher Vasubandhu was born in Purusapura
(Peshawar) in Gandhara and received his ordination in the Sarvastivada
School. He went to Kashmir incognito to learn the Abhidharma philosophy.
On his return home he wrote the Abhidharma-kosa-sastra which is preserved
in sixty volumes of Chinese translation. The Sanskrit text is lost, but
fortunately we have a commentary written by Yasomitra called the Abhidharma-kosa-vyakhya
which has facilitated the restoration of the lost text undertaken by the
late Professor Louis De La Vallée Poussin of belgium and completed by
Rahula Sankrityayana of Ceylon. All elements of the universe were minutely
explained by Vasubandhu in his Abhidharma-kosa. The significant name of
the School ‘all-things-exist-doctrine’ (sarva-asti-vada) affirms all
existences, both material and mental, as well as that which is neither
matter nor mind. This, however, does not mean to admit the existence of
Self (atman), an individual ego or soul or the universal principle or First
Cause. Whether or not he anticipated the danger of being involved in the
admission of Self, Vasubandhu devoted the whole ninth chapter of his Abhidharma-kosa
sastra to the refutation of the atman theory (see Bảy Mươi Lăm Pháp
Câu Xá Tông). The Kosa School, though it states that all things exist,
is quite different from general nạve materialism, because, according
to its theory, all things are elements (dharmas) which include mind as
well as matter, all on an equal footing. It asserts the reality of all
dharmas and yet it admits the theory of no substance, no duration and no
bliss except Nirvana. Most of the Abhidharma schools probably arose after
the Council of Asoka (240 B.C.), because the Abhidharma literature, seven
texts in all, was for the first time recognized as one of the Tripitaka
(three baskets or collections) in this council. At the time of the first
and the second councils there were only two Pitakas (Sutras and Vinaya)—Tông
Câu Xá của Ngài Thế Thân—Tên gọi của tông phái là một
danh từ giản lược của Phạn ngữ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá,
là nhan đề của một tác phẩm của Thế Thân viết về chủ
thuyết duy thực và có thể dịch là “Câu chuyện của Pháp
Tối Thượng.” Đại triết gia Thế Thân sanh tại Bạch Sa
Ngõa, thuộc xứ Kiện Đà La, xuất gia theo Hữu Bộ. Ông âm
thầm đến Ca Thấp Di La để học triết học A Tỳ Đàm. Khi
trở về cố hương, ông viết A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (Abhidharma-kosa-sastra)
hiện vẫn còn 60 quyển Hán dịch. Bản văn Phạn ngữ đã
thất lạc, nhưng may mắn chúng ta vẫn còn một bản chú giải
do Yasomitra viết với nhan đề là A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Thích
Luận. Nhờ bản chú giải này mà cố Giáo Sư Louis De La Vallée-Poussin
ở Bỉ đã dễ dàng trong việc tái lập bản văn thất lạc
và được kiện toàn bởi Rahula Sankrityayana người Tích Lan.
Mỗi yếu tố trong vũ trụ được Thế Thân giải nghĩa chi
li trong Luận Câu Xá của ông. Danh từ quan trọng của tông
này là ‘học thuyết về tất cả đều hiện hữu,’ khẳng
định mọi hiện hữu, cả tâm và vật, cũng như không phải
tâm và không phải vật. Tuy nhiên, điều nầy không phải để
thừa nhận hiện hữu của ngã (atman), một bản ngã cá biệt
hay một linh hồn hay nguyên lý phổ quát hay nguyên nhân đầu
tiên. Chúng ta không biết Thế Thân có tiên đoán mọi nguy
hiểm do sự thừa nhận có ‘Ngã,’ sẽ xãy ra hay không
mà ông đã bỏ ra toàn chương chín để bác bỏ thuyết Hữu
Ngã. Câu Xá tông dù chủ trương rằng tất cả các pháp đều
thực hữu, hoàn toàn khác với duy thực luận ngây thơ thường
tình, bởi vì theo lý thuyết của tông nầy, vạn hữu là những
pháp bao gồm cả tâm và vật, tất cả cùng ở trên cước
địa như nhau. Tông này thừa nhận thực tại tính của mọi
pháp nhưng lại chấp nhận thuyết không có tồn thể, không
có thường hằng, không có phúc lạc ngoại trừ Niết Bàn.
Hầu hết những trường phái A Tỳ Đàm có lẽ đã phát khởi
sau cuộc kết tập của Vua A Dục (khoảng năm 240 trước Tây
Lịch), bởi vì văn học A Tỳ Đàm gồm tất cả 7 bộ luận,
lần đầu tiên được chấp nhận là một trong Tam tạng Kinh
Điển (Tripitaka) trong cuộc kết tập này. Trong cuộc kết tập
lần đầu và lần thứ hai chỉ có hai tạng (Kinh và Luật).
Abhidharma-Kosa
Sect: Câu Xá Tông—Abhidharma-Kosa Sect, based on the Abhidharma-Kosa
Sastra—Giáo thuyết Câu Xá Tông dựa trên bộ Câu Xá Luận—See
Six schools in China, Abhidharma-Kosa Sastra, and Abhidharma-Kosa school.
Abhidharma
Mahavibhasa-sastra (skt): A-Pi-Ta-Mo-Ta-Pi-Po-Sha-Lun—A Tỳ Đạt Ma
Đại Tỳ Bà Sa Luận—Parsva’s Great Commentary (Mahavibhasa),
translated into Chinese with 200 volumes—Đại Tỳ Bà Sa Luận, được
viết bởi Parsva, được dịch ra Hán văn thành 200 quyển. **See
Vibhasa-sastra.
Abhidharma
of the Mahayana: Đại Thừa Luận.
Abhidharma-nyanyanusara-sastra
(skt): A Tỳ Đạt Ma Thuận Chánh Lý Luận—Do Ngài Chúng
Hiền biên soạn.
Abhidharma-Pitaka
(skt): Abhidhamma-Pitaka (p)—Basket of philosophical treatises—Higher
Dharma—Thesaurus of discussions of discourses—A Tỳ Đạt Ma Tạng—A
tỳ đạt ma Luận tạng—Ưu Bà Đề Xá Tạng (Upadesa)—Tạng
Luận, do ngài Ca Chiên Diên (Katyayana) trùng tụng—A Sanskrit
term for “Basket of Higher Doctrine,” or “Basket of Philosophical
treatises of the Doctrine.” This is the third of the three baskets (tripitaka)
of the Buddhist canon, which contains scholastic treatises that discuss
the central doctrines of Buddhism. It comprises the philosophical works.
The first compilation is accredited to Maha-Kasyapa, disciple of Buddha,
but the work is of a later period. The primary focus of Abhidharma Pitaka
is on philosophy and psychology, usually known or called by the short name
Abhidharma. Books of psychological analysis and synthesis. Earliest compilation
of Buddhist philosophy and psychology, concerning psychological and spiritual
phenomena contained in the discourses of the Buddha and his principal disciples
are presented in a systematic order. The Chinese version is in three sections:
the Mahayana Philosophy, the Hinayana Philosophy, and the Sung and Yuan
Addenda (960-1368 AD). The Abhidharma also reflects the views of Hinayana.
The Abhidharma is the third division of the Buddhist Canon of the Theravadan
School. Although most of the early Buddhist schools probably developed
their own Abhidharmas, only two complete versions are extant today: 1)
the Sarvastivada Abhidharma, which exists in Chinese and Tibetan; and 2)
the Theravada Abhidharma, which is preserved in Pali—Phạn ngữ có
nghĩa là “Cái giỏ Vi Diệu Pháp.” Đây là tạng thứ ba
trong tam tạng kinh điển Phật giáo, chứa đựng những bài
luận bàn thảo về những giáo lý chính yếu của đạo Phật.
Luận Tạng bao gồm phần giải thích và biện luận kinh điển
hay những lời Phật dạy. Luận Tạng đầu tiên được mọi
người công nhận là của ngài Đại Ca Diếp, một đệ tử
của Phật biên soạn, nhưng mãi về sau nầy mới hoàn thành.
Luận Tạng tập trung chính yếu vào triết học và tâm lý
học, thường được gọi tắt là Luận. Những lời giảng
và phân tích về các hiện tượng tâm thần và tâm linh chứa
đựng trong những thời thuyết pháp của Phật và các đệ
tử của Ngài. Bộ Luận Tạng đã được dịch sang Hoa ngữ
gồm ba phần: Đại Thừa Luận, Tiểu Thừa Luận, và Tống
Nguyên Tục Nhập Tạng Chư Luận (960-1368 sau Tây Lịch). Đây
cũng là cơ sở giáo lý chủ yếu của phái Nam Tông. Vi Diệu
Pháp là tạng thứ ba trong Tam Tạng Kinh Điển Phật Giáo của
trường phái Phật giáo Nguyên Thủy. Mặc dù hầu hết các
trường phái Phật giáo nguyên thủy đều có bộ luận tạng
riêng của họ, nhưng chỉ có hai bộ còn đến ngày nay: 1)
Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ A Tỳ Đạt Ma, còn bản Hoa ngữ
và Tây Tạng; và 2) A Tỳ Đạt Ma Phật Giáo Nguyên Thủy, bản
chữ Pali—See Five parts of correct doctrines.
Abhidharma-prajnaptipada-sastra
(skt): Book of Descriptions—A Tỳ Đạt Ma Thi Thiết Túc Luận.
Abhidharma
Prikarana Pada (skt): A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc Luận—Book
of Literature—Do Ngài Thế Hữu biên soạn.
Abhidhamma-puggala-pannati
(p): Book of Person—A Tỳ Đạt Ma Nhân Thi Thiết Luận.
Abhidharma-samgiti-Sastra:
A tỳ đạt ma tạp tập luận—Composed by Sariputra—Do Ngài
Xá Lợi Phất biên soạn.
Abhidharma-samuccaya
(skt): A Sanskrit term for “Compendium of Higher Doctrine.” This is
an important Sanskrit scholastic treatise written by Asanga, which attemps
to construct a Mahayana Abhidharma. It focuses particularly on the characteristics
of Dharmas, the basic constituents of reality, at the same time also emphasizing
their emptiness (sunyata) of inherent existence (svabhava)—Phạn ngữ
có nghĩa là “Bản trích yếu Vi Diệu Pháp.” Đây là bản
luận bằng Phạn ngữ quan trọng được viết bởi Ngài Vô
Trước, cố gắng dựng bộ Vi Diệu Pháp cho Phật giáo Đại
Thừa. Bản trích yếu này tập trung vào những đặc tính của
chư Pháp, đồng thời cũng nhấn mạnh đến tánh không và
tự tánh.
Abhidhamma-sangaha
(p): Collection of the Significations of Abhidharma—A Tỳ Đạt Ma
Giáo nghĩa Cương Yếu.
Abhidharma-sangiti-paryaya-pada-sastra
(skt): Book of Recitations—A Tỳ Đạt Ma Thập Nhị Môn Túc Luận.
Abhidharma
school: Luận Tông—Tông phái Tam Luận—The Sastra school—The
Madhyamaka school of the San-Lun (Sanron).
Abhidhamma-skandha-pada-sastra
(p): Book of things—A Tỳ Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Luận.
Abhidhammattha-sangaha
(p): A Tỳ Đạt Ma Giáo Nghĩa Cương Yếu—Composed by Anuruddha,
a native of Ceylon, in about 1100 AD, introduced an overview of Abhidhamma—Do
một luận sư người Tích Lan tên Anuruddha soạn vào khoảng
năm 1100 sau Tây Lịch, giới thiệu tổng quát giáo nghĩa của
phái A Tỳ Đàm.
Abhidhamma-vibhanga
(p): Book of Classifications—A Tỳ Đạt Ma Phân Biệt Luận.
Abhidharma
vibhasa sastra (skt): A-Pi-Ta-Mo-Ta-Pi-Po-Sha-Lun—A Tỳ Đạt Ma Tỳ
Ba Sa Luận—Explained the Abhidharma Jnana Prasthana of Bhikkhu Katyayanitra
(a commentary on the Fa-Chih-Lun) and was translated into Chinese by Hsuan-Tsang
between 656 and 659. It is believed that this treatise was probably composed
in Kashmir around the first century A.D. It is a philosophical treatise
of the Kashmir Sarvastivada School which argues against the theories of
various other schools at the time—Giải thích cuốn Phát Trí Luận
của Cà Đa Diễn Ni Tử và được ngài Huyền Trang dịch sang
Hoa ngữ vào khoảng những năm 656 và 659. Người ta tin rằng
có lẽ bộ luận này được biên soạn tại Kashmir vào khoảng
thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch. Đây là một bộ luận về
triết học của trường phái Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ
biện luận chống lại các trường phái đương thời khác.
Abhidharma
Vijnana Kayapada-sastra (skt): A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận—Book
of knowledge, composed by an Indian Bhikkhu named Devasarman, which denied
the ego—Do Tỳ Kheo Ấn Độ tên Đề Bà Thiết Ma biên soạn,
phủ nhận cái “ngã”.
Abhidhamma-yamaka
(p): Book of Pairs—A Tỳ Đạt Ma Song Đối Luận (Kinh Song Đối).
Abhidharmika
(skt) Abhidhammika (p)—Luận Sư—Phật Thích Ca Mâu Ni là vị
Luận sư đầu tiên của đạo Phật—Sakyamuni Buddha is known
as the first Abhidharmika in Buddhism, even though the Abhidharmika was
compiled long after his death. A Buddhist monk who specializes in the study
of Abhidharma, but also good in Sutra-pitaka and Vinaya-pitaka—Luận
sư Phật giáo nhưng cũng giỏi về Kinh và Luật.
Abhidheya
(skt): Ý nghĩa—Meaning.
Abhidheyavikalpa
(skt): Sở thuyết bất phân—Wrong discrimination regarding what
is described—Sự phân biệt sai lầm về những gì đã được
thuyết giảng hay miêu tả.
Abhijjha
(p): Tham lam—Covetousness—Greed—Miserly—Lust—Synonym of Lobha
and Tanha—According to Most Venerable in The Buddha and His Teachings,
there are two conditions that are necessary to complete the evil of covetousness
and its inevitable consequences—Theo Hòa Thượng Narada trong Đức
Phật và Phật Pháp, những điều kiện cần thiết để thành
lập nghiệp tham lam và hậu quả tất yếu của nó:
1)
Another’s possession: Vật sở hữu của người khác.
2)
Adverting to it, thinking “would this be mine!”: Tâm thèm muốn,
ước mong được làm chủ vật ấy.
3)
The inevitable consequence of covetousness is non-fulfillment of one’s
wishes: Hậu quả tất yếu của tham lam là không bao giờ được
mãn nguyện.
Abhijit
(skt): Ngưu—Name of one of the twenty eight constellations—See Twenty
eight constellations.
Abhijna
(skt): Abhinna (p)—Thần thông-A Sanskrit term for higher knowledge.
Super-knowledge are modes of insight attained by the practice of Dhyana.
Super knowledge or supernatural powers, a high state of consciousness when
six spiritual powers have been developped, abilities possesses by a Buddha,
bodhisattva or arhat. These are six supernatural abilities that are believed
in traditional Buddhist meditation theory to result from the practice of
meditation: 1) magical powers (rddhi), such as levitation, or divine ability
to be at anywhere at anytime; 2) the “devine ear” (divya-srotra), or
clairaudience, which can perceive all human and divine voices; 3) the ability
to know others’ minds (paracitta-jnana); 4) the “devine eye” (divya-caksus),
or clairvoyance, which can see all things in the universe including the
cycles of births and deaths of all beings; 5) the ability to recall the
details of former lives (purvanivasamusmrti), or divine perception of the
thoughts of other beings, recollection of previous existences; 6) knowledge
of the extinction of defilements (asrava-ksaya-vijnana), or knowledge concerning
the extinction of one’s own imputrity and passions. The first five are
classified as mundane abilities, while the sixth is a supramundane ability
that results from completion of training in insight meditation—Từ Phạn
ngữ có nghĩa là “Thần Thông.” Thần thông là những loại
tuệ giác đạt được bằng tu tập thiền định. Những quyền
năng siêu nhiên, trạng thái tâm thức cao khi những năng lực
tâm linh được phát triển, những năng lực phi phàm có được
ở một vị Phật, Bồ Tát hay A la hán. Có sáu loại thần
thông: 1) Thần túc thông là có khả năng biến hiện khắp
mọi nơi trong mọi lúc; tha tâm thông là đoán biết được
tâm hay ý tưởng của người khác; 2) Thiên nhĩ thông là nghe
được mọi tiếng của trời người; 3) Tha tâm thông; 4) Thiên
nhãn thông là thấy mọi vật trong vũ trụ ngay cả những sinh
tử của thế gian; 5) Túc mạng thông là biết chuyện đời
trước, đời nầy và đời sau của mình và người; 6) Lậu
tận thông lậu tận thông là dứt tận mọi ô nhiễm chấp
trước—See Abhinna.
Abhilakshana
(skt): Earnestly desiring. By earnestly seeking for the realization of
the supreme wisdom which is in one’s inmost consciousness—Chuyên cầu
hay mong ước mãnh liệt. Tha thiết mong cầu sự thể chứng
trí tuệ tối thượng vốn ở trong tâm thức sâu kín nhất
của mình.
Abhilapavikalpa
(skt): Wrong discrimination concerning sounds and expressions, i.e., getting
attached to various pleasant sounds and songs, etc.—Ngôn thuyết phân
biệt hay sự phân biệt sai lầm về các biểu thể, như chấp
vào âm thanh, bài hát, vân vân.
Abhimana
(skt): Tăng Thượng Mạn.
1)
One of the seven arrogances. pride (of superior knowledge), haughtiness,
self-conceit, high opinion of one’s self: Một trong thất mạn, nghĩ
rằng ý kiến của mình là trên hết. **See Seven arrogances.
2)
A monk who thinks to have attained more than is the fact. A Supremely (lofty—haughty)
arrogant monk who has high opinion of one’s self (self-conceit—self
pride—haughtiness) and refuses to hear the Buddha’s Teachings—Một
vị Tăng nghĩ rằng mình đã chứng đắc, hoặc một vị Tăng
cao ngạo, tự cho mình là hay giỏi, không chịu tu trì Phật
pháp.
3)
When the Buddha preached about the Lotus Sutra, there were 5,000 disciples
who, in their Hinayana superiority, thought they had gained all wisdom
and refused to hear the Lotus sutra: Trong Pháp Hội Pháp Hoa, trong
khi Đức Phật đang giảng Kinh Pháp Hoa, thì năm ngàn vị Tỳ
Kheo Tiểu Thừa, tưởng rằng mình đã chứng đắc, nên bỏ
ra về, từ chối không nghe Phật giảng kinh.
Abhimukhi
(skt): Hiện Tiền địa—Deliverance from the cycle of birth and death,
which continues only as long as desires are present. The is the stage of
the land in view of wisdom, or the ground of manifestation, the sixth of
the ten stages of Bodhisattvas—Tín giải (tin và hiểu) về sự
giải thoát khỏi chu kỳ luân hồi, chu kỳ ấy chỉ tiếp diễn
khi nào con người vẫn còn những dục vọng. Đây là Hiện
Tiền địa, giai đoạn thứ sáu trong mười giai đoạn của
Bồ Tát. **See Ten grounds (6).
Abhinibbatti
(p) Punabhava (skt): Tái sanh—Rebirth.
Abhinivesa
(skt): Graha (skt)—Attachment—Tendency for settling down in the mind—Chấp
Trước (sự ràng buộc).
1)
Clinging or adhering very closely: Cố chấp chặt.
2)
Cling to things as real. To grasp, hold, or cling to anything. A tendency
for settling down in the mind—Dính mắc vào tư tưởng cho rằng
vạn hữu là thực (dính chắc vào sự vật mà không rời lìa.
Mỗi pháp đều có nhiều nghĩa tương đối, nếu chấp chặt
vào một nghĩa, chẳng biết dung hòa, chẳng biết tùy nghi,
chấp trước như vậy chỉ là tự hạn hẹp lấy mình mà thôi).
3)
In the Lankavatara Sutra, the Buddha reminded Mahamati: “Oh Mahamati,
there are innumerable signs of close attachments to the world by taking
letters as exactly corresponding to meaning.”: Trong Kinh Lăng Già,
Đức Phật dạy Mahamati: “Này Mahamati, có vô số lượng các
hình thức chấp chặt vào thế giới bằng cách coi từng
chữ trong kinh văn tương ứng đúng đắn với ý nghĩa.”
Abhinivesamdhi
(skt): Close attachment—Solid attachment—Chấp Chặt—See Abhinivesa.
Abhinna
(p): Abhijna (skt)—Thần Lực—Thần Thông (thắng trí hay năng
lực siêu nhiên)—Supernatural power(s)—Spiritual power(s)—Awesome
spiritual power(s)—Supernatural science or faculty of a Buddha—Miracle
powers include knowing, skillful, clever, understanding, conversant with,
remembrance, recollection. Miracles mean ubiquitous supernatural power,
psychic power, high powers, supernormal knowledges, or superknowledge.
Miraculous Powers are what the Western religious imagination would regard
as miraculous or supernatural, attainable only through penetrating insight,
as seen in the two Amitabha Sutras as inconceivable—Sức mạnh kỳ
diệu bao gồm sự hiểu biết, kỹ xảo, thông minh, trí nhớ,
vân vân. Thần thông là những thứ mà sự tưởng tượng của
xã hội văn minh trần tục hiện nay cho là phi thường, hay
những thứ mà sự tưởng tượng trong các tôn giáo phương
tây cho là siêu nhiên; thần lực đạt được bằng trí tuệ
sáng suốt, được thấy qua Kinh A Di Đà, và không thể nghĩ
bàn:
1)
Dibba-cakkhu—Thiên nhãn thông: Seeing to any distance—Ability to
see without hindrances. Ability to see beings vanishing and reappearing,
low and noble ones, beautiful and ugly ones, seeing beings are reappearing
according to their deeds (karma)—Khả năng thấy không ngăn ngại,
thấy chúng sanh biến mất rồi xuất hiện, ti tiện và cao
quý, đẹp xấu, tùy theo nghiệp lực của họ.
2)
Thiên nhĩ thông: Dibba-sota—Ability to hear sound both heavenly
and human, far and near—Khả năng nghe được âm thanh của trời
và người, xa hay gần—Hearing to any distance.
3)
Ceto-pariya-nana—Tha tâm thông: Penetrating men’s thoughts—Ability
to know the minds of other beings, by penetrating them with one’s own
mind. This person knows the greedy mind, hate mind and deluded mind, shrunken
and distracted mind, developed mind and free mind of others or vice sersa—Khả
năng xuyên suốt tâm trí của người khác. Người nầy nhìn
biết tâm tham, tâm sân, tâm mê mờ, cũng như tâm đắm nhiễm,
tâm phát triển, tâm tập trung tâm giải thoát của người
khác, hay ngược lại.
4)
Iddhi-vidha—Thần túc thông: Magical powers—Taking any form at will—Ability
to pass through walls and mountains, just as if through the air. Ability
to walk on the water without sinking, just as if on the earth—Khả năng
đi xuyên qua tường vách, núi non, cũng như đi trên không, trên
nước mà không chìm như đi trên đất.
5)
Asavakhaya—Lậu tận thông: Ability to extinct all cankers (afflictions)
in this very life, extinction of cankers through wisdom—Khả năng hủy
diệt phiền não ngay trong đời nầy kiếp nầy bằng trí tuệ.
6)
Pubbe-nivasanus-sati (skt)—Túc mạng thông: Knowing their state and
antecedents—Ability to remember former existences, may be from one to
five or even to hundred or thousand births—Khả năng nhớ lại tiền
kiếp, có thể từ một đến năm hay một trăm, một ngàn đời.
Abhinnalakshana
(skt): Dị tướng hay những trạng thái sai biệt—Differentiating
marks.
Abhinnavosita
(p): One who has attained supernatural knowledge—Người đã đạt
được siêu việt trí—See Abhijna.
Abhinnaya
(p): Trí tuệ cao siêu—Supernormal knowledge—See Abhijna.
Abhirati
(skt): A Duy La Đề—A Tỳ La Đề—Diệu Hỷ Quốc—Hoan Hỷ
Quốc—The eastern Pure Land of Aksobhya. The happy land, or paradise
of Aksobhya located in the east of our universe. Abhirati is a “Realm
of Joy”; the paradise of the Buddha Akshobhya. In Buddhism, realms (paradises,
hells, etc) are considered not geographical locations but rather states
of consciousness—Cõi Tịnh Độ phương Đông (Đông độ Thiên
Đường) của Tu Mật La Thiên hay Đức Phật A Súc (Vô Nộ
hay Diệu Lạc Phật). Hoan Hỷ Quốc nằm về phương đông
của vũ trụ (Kinh Pháp Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ). Đông độ
Thiên Đường của Tu Mật La Thiên hay A Súc Bệ Phật. Trong
đạo Phật, những cảnh giới tiêu biểu cho những hiện tượng
tâm lý hay tâm thức, chứ không phải là những địa danh.
Abhisamacarika-sila
(p): Morality consisting in good behavior relates to the external duties
of a monk, such as toward his superior. The Buddha taught: “If certain
monks and nuns have had no good behavior, in no way they can fulfill the
law of genuine pure conduct.”—Giới hạnh oai nghi. Phật dạy:
“Chư Tăng Ni nào không có giới hạnh uy nghi thì không thể
nào tu hành thanh tịnh được.”
Abhisamacarika-sila
(p): Morality consisting in good behavior relates to the external duties
of a monk, such as toward his superior. The Buddha taught: “If certain
monks and nuns have had no good behavior, in no way they can fulfill the
law of genuine pure conduct.”—Giới hạnh oai nghi. Phật dạy:
“Chư Tăng Ni nào không có giới hạnh uy nghi thì không thể
nào tu hành thanh tịnh được.”
Abhisamaya
(skt): Pratyaksa (skt)—Hiện chứng—Immediate perception, evidence
of the eye or other organ—Immediate realization of enlightenment—Inner
realization—Nirvana—A Sanskrit term for “Clear realization” direct
of key Buddhist doctrines. In the Theravada tradition, it refers to intuitive
understanding of the four noble truths (arya-satya). Inner realization
or truth-realization, or full and direct grasp of the four Noble Truths
by the Stream-Winner (dự lưu). This is more than an intellectual understanding
of the truth, it is spiritual. In Mahayana meditation theory, it is extended
to include a range of non-conceptual (nirvikalpa) states of gnosis. In
texts that use the term, it implies not only correct understanding of particular
concept, but also a progression from accumulation of merit to intuitive
gnosis with respect to core Buddhist doctrines—Từ Phạn ngữ có
nghĩa là “Hiển Chứng” trực tiếp về những giáo pháp
chính yếu của Phật giáo. Trong truyền thống Phật giáo Nguyên
Thủy, nó là sự hiểu biết bằng trực giác về tứ diệu
đế. Hiện chứng hay sự thể chứng nội tại, hay thực chứng
đầy đủ và trực tiếp về Tứ Diệu Đế của hàng Dự
lưu. Sự thể chứng nầy cao hơn sự hiểu biết bằng tri thức
về chân lý, nó thuộc tâm linh. Trong truyền thống Đại Thừa,
nó trải rộng để bao gồm phạm vi vô phân biệt về những
trạng thái chứng ngộ. Trong giáo điển từ hiển chứng ám
chỉ chẳng những sự hiểu biết đúng đắn về một khái
niệm đặc biệt, mà còn là sự tiến triển từ việc tích
tụ công đức đến chứng ngộ trực giác theo cốt lõi của
giáo thuyết nhà Phật.
Abhisamayakara
(skt): A Sanskrit term for “Ornament for Clear Realizations.” A scholastic
treatise attributed to Maitreya, which focuses on key doctrines in the
“Perfection of Wisdom” (Prajna-paramita) literature. It consists of
eight chapters, each of which is referred to as an “Abhisamaya,” which
according to Haribhadra’s commentary indicates a non-conceptual (nirvikalpa)
state of intuitive gnosis—Từ Phạn ngữ chỉ “Luận Hoa Nghiêm
Minh Chứng” người ta nói của ngài Di Lặc, tập trung vào
giáo thuyết văn chương Bát Nhã. Bộ luận gồm tám chương,
mỗi chương, theo lời bình của Haribhadra, nói về trạng thái
‘vô khái niệm’ về thuyết trực quang hay thần bí học.
Abhisambodha
(skt): Chứng hay sự giác ngộ hoàn toàn—Being fully awake.
Abhisambuddha
(skt): Abhisambodha (skt)—A Tỳ Tam Phật Đà—Fully awake—Complete
realization—Realizing or manifesting universal enlightenment—Hiện
Đẳng Giác Phật.
Abhisankhara
(skt): Abhisamkhara (p)—Karma formations, identical with the second link
of the paticcasamuppada—Hành Nghiệp Ma vương, giống như mắc
xích thứ nhì trong 12 nhân duyên.
Abhiseka
(skt & p): Murdhabhisikta (skt)—Điểm đạo—Quán Đảnh—Baptism
or anointment—Consecration or Initiation—Initiation of transmission
of power—Initiation—Head—Superintendent—Empowerment.
(I)
An overview of Abhiseka—Tổng quan về Quán đảnh:
1)
Initiation of Baptism or anointment, or sprinkling, or initiation of transmission
of power, the process used by Vajrayana (Mật Tông), in which the disciple
is empowered by the master to carry out specific meditation practices:
Pháp Quán đảnh hay lễ xức dầu nhập môn của phái Kim Cương
Thừa; trong đó các môn sinh nhận từ thầy mình quyền được
hiến mình cho những luyện tập thiền định đặc biệt.
2)
Abhiseka means “Initiation.” A ceremony that marks a person’s entry
into a Buddhist group. In esoteric Buddhism, initiation is generally considered
to be essential for anyone wishing to engage in ritual or meditation practice.
In tantric practice, initiation often symbolically creates a direct karmic
link between the practitioner and the focal deity (vị thần tiêu điểm).
This is the process used by Vajrayana, in which the disciple is empowered
by the master to carry out specific meditation practices—Abhiseka, theo
cả Nam Phạn lẫn Bắc Phạn có nghĩa là “Lễ Quán Đảnh.”
Quán đảnh là một nghi lễ đánh dấu sự gia nhập của một
người vào một nhóm Phật tử. Trong Mật tông Phật giáo,
lễ quán đảnh thường được coi như thiết yếu cho bất
cứ ai muốn tham dự vào nghi lễ hay thiền tập. Trong tu tập
Mật giáo, quán đảnh thường tạo ra sự nối kết về nghiệp
lực một cách tiêu biểu giữa hành giả và vị thần tiêu
điểm (thường hành giả nào trong Mật tông cũng đều có
một vị thần tiêu điểm). Đây cũng là lễ xức dầu nhập
môn của phái Kim Cương Thừa; trong đó các môn sinh nhận từ
thầy mình quyền được hiến mình cho những luyện tập thiền
định đặc biệt.
3)
Inauguration or consecration by placing the hand on or sprinkling or pouring
water on the head. Every Buddha baptizes a disciple by laying a hand on
his head. An Indian custom on the investiture of a king, whose head was
baptized with water from the four seas and from the rivers in his
domain. In China, it is administered as a Buddhist rite chiefly to high
personages and for ordination purpose. Among the esoterics it is a rite
especially administered to their disciples; and they have several categories
of baptism, e.g. that of ordinary disciples, of teacher or preacher, of
leader, of office-bearer; also for special causes such as relief from calamity,
preparation for the next life, etc.: Quán đảnh đệ tử bằng cách
đặt tay hay rưới nước lên đầu đệ tử. Chư Phật quán
đảnh đệ tử bằng cách đặt tay lên đỉnh đầu của đệ
tử. Tục lệ Ấn Độ nầy thường thấy trong lễ phong vương,
bằng cách rưới lên đầu tân vương nước từ bốn bể,
và nước từ những con sông trong lãnh địa của ông ta. Bên
Trung Quốc, người ta thường dùng nghi thức Phật Giáo cho
các vị đại quan, cũng như lễ thọ cụ túc giới cho chư
Tăng Ni. Các thầy Mật Giáo dùng nghi thức quán đảnh để
điểm đạo cho đệ tử của mình, cho các cấp lãnh đạo,
cũng như trong các buổi đàn tràng siêu độ (cầu nguyện sau
khi xãy ra tai ương hay chuẩn bị cho sự tái sanh).
(II)
There are four different sucessive stages of initiation in Vajrayana—Gồm
có bốn giai đoạn nhập môn kế tiếp nhau trong Kim Cang Thừa:
1)
Vase initiation: Nhập môn bình cúng.
2)
Secret initiation: Nhập môn bí mật.
3)
Wisdom initiation: Nhập môn trí năng.
4)
Fourth initiation: Nhập môn thứ tư—When a Bodhisattva reaches his
last stage of self-discipline, he is anointed by the Buddhas with their
own hands and formally inaugurated as one of them—Khi một vị Bồ
Tát
đạt đến địa cuối cùng hay Pháp Vân Địa (Dharmamegha) của
sự tu tập, ngài được chư Phật quán đảnh bằng những
bàn tay của các Ngài, và vị Bồ Tát ấy được chính thức
khai nhận như là một vị trong chư Phật.
(III)
The ritual of anointment of the Shingon School—Quán Đảnh Chân Ngôn:
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật
Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist
Philosophy:
1)
The Shingon School has the ritual of anointment (Abhikesa) as well as the
ordination ceremony. The area of anointment must be decided with the Circles
of the two realms; all ritual requirements must be fulfilled. Sometimes
the Circles are spread out and thereby the ritual area is formed. So the
area is called “Circle.” Only the adequate performance of the ritual
can make the evoking of any enfolding power of Buddha effective. According
to tradition, Subhakarasimha and his pupil, I-Hsing, transmitted the Matrix
doctrine, while Vajrabodhi and his pupil, Amoghavajra, taught the Diamond
doctrine. Thus we must presume that there were two traditions of transmission,
both being only partial or one-sided: Chân Ngôn tông có nghi quỹ
quán đảnh (Abhiseka) cũng như nghi quỹ đàn tràng. Nơi sửa
soạn lễ quán đảnh phải được trang hoàng bằng mạn đà
la của cả hai giới; và tất cả những nhu cầu lễ tiết
phải được thực hiện đầy đủ. Đôi khi các mạn đà la
được nới rộng ra để thành lập môi trường hành lễ.
Do đó mà nơi đây được gọi là mạn đà la. Chỉ khi nào
nghi thức được triệt để tuân hành mới có thể đạt được
linh nghiệm từ năng lực gia trì của Phật. Theo truyền thuyết,
Thiện Vô Úy và đồ đệ là Nhất Hành, truyền thừa Thai
Tạng giới, trong lúc Kim Cương Trí và đệ tử là Bất Không
giảng thuyết về Kim Cang giới. Thế nên ta phải nhận định
rằng có đến hai dòng truyền thừa, mà mỗi dòng chỉ là
một phần hay phiến diện.
2)
However, the recent discovery of the Tattva-sangraha in Tibet by Professor
Tucci and the Vajra-sekhara in Japan by Professor Ono make the old traditions
entirely untenable, because the Vajra-sekhara represented in the Five Assemblies
was kept in secret in the Mii Monastery in Ômi and Shorenin in Kyoto.
The Five Assemblies are Buddha, Padma, Ratna, Vajra and Karma. These being
originally the divisions of the Diamond Realm, it is clear that we had
from the beginning the text of the ‘Diamond’ doctrine brought by Subhakarasimha.
They were actually the transmission by Subhakarasimha. From this it will
be seen that at the time of Subhakarasimha both the ‘Diamond’ and ‘Matrix’
doctrines were existing in China. Tucci’s text is Sanskrit and Ono’s
is pictorial explanation without which a perusal of Sanskrit original often
becomes impossible. Students of mysticism may expect a real contribution
from the study of these texts: Tuy nhiên, sự khám phá mới đây
của giáo sư Tucci về Tattvasamgraha ở Tây Tạng, và của giáo
sư Ono về cuốn Vajra-Sekhara ở Nhật đã khiến cho những truyền
thuyết cũ không còn đứng vững nữa, bởi vì quyển Vajra-sekhara
trình bày trong Ngũ Bộ Tâm Quán được giữ bí mật tại tự
viện Mii ở Ômi và Shorenin, Kyoto. Ngũ Bộ là Phật, Liên Hoa,
Đa Bảo, Kim Cương, và Kiết Ma. Đây nguyên là các bộ phận
của Kim Cang giới; rõ ràng là ngay từ đầu chúng ta đã có
bản kinh về Kim Cương giáo thuyết do Thiện Vô Úy mang đến.
Thực sự chúng là dòng truyền thừa của Thiện Vô Úy. Từ
đó, chúng ta nhận thấy rằng vào thời của Thiện Vô Úy,
cả hai giáo thuyết về Kim Cương và Thai Tạng đã có mặt
ở Trung Quốc. Bản của Tucci bằng Phạn ngữ và của Ono là
bản giải thích bằng tranh ảnh, nếu không có nó thì khó
mà theo dõi nguyên bản Sanskrit. Những người nghiên cứu Mật
giáo có thể hy vọng được hỗ trợ thực tế nhờ khảo
cứu các bản văn nầy.
Abhutaparikalpa
(skt): A Sanskrit term means “False judgment.” In the Lankavatara Sutra,
the Buddha taught: “As a variety of false judgements is given to objects
conceived in their multiplicity, there takes place a strong clinging to
the external world."—Một thuật ngữ Bắc Phạn có nghĩa là
“hư vọng phân biệt hay sự phán đoán sai lầm.” Trong Kinh
Lăng Già, Đức Phật dạy: “Vì sự phán đoán sai lầm được
nêu ra về các sự vật được quan niệm trong phức tính của
chúng nên xãy ra sự chấp thủ mạnh mẽ vào thế giới bên
ngoài.”
Abhyasa
(p & skt); Tu.
1)
To mend: Tu Sửa.
2)
To enter into religion—To become a Buddhist monk: Gia nhập vào giáo
đoàn để trở thành Tăng sĩ Phật giáo.
3)
To cultivate: Tu Hành—To observe or keep commandments—To practice—“Tu”
means correct our characters and obey the Buddha’s teachings. “Tu”
means to study the law by reciting sutras in the morning and evening, being
on strict vegetarian diet and studying all the scriptures of the Buddha,
keep all the precepts; however, the most important factors in real
“Tu” are to correct your character, to eliminate bad habits, to be
joyful and compassionate, to build virtue. In reciting sutras, one must
thoroughly understand the meaning. Furthermore, one should also
practise meditation on a daily basis to get insight. For laypeople, “Tu”
means to mend your ways, from evil to wholesome (ceasing transgressions
and performing good deeds)—Tu có nghĩa là tu tập hay thực tập
những lời giáo huấn của Đức Phật, bằng cách tụng kinh
sáng chiều, bằng ăn chay học kinh và giữ giới; tuy nhiên
những yếu tố quan trọng nhất trong “thực tu” là sửa
tánh, là loại trừ những thói hư tật xấu, là từ bi hỷ
xả, là xây dựng đạo hạnh. Trong khi tụng kinh ta phải hiểu
lý kinh. Hơn thế nữa, chúng ta nên thực tập thiền quán
mỗi ngày để có được tuệ giác Phật. Với Phật tử tại
gia, tu là sửa đổi tâm tánh, làm lành lành dữ.
Abide
(v): Sthiti (skt).
1)
To tolerate: Chịu đựng—To abide one’s fits of temper—Chịu
đựng sự nóng giận của ai.
2)
Live in a place: Cư trú nơi nào.
Abide
alone in a grove: Ở một mình nơi vườn rừng mà làm Phật sự—See
Ten kinds of Buddha-work in all worlds in all times of the Buddhas (B)
(8).
Abide
in attainment of acceptance, fulfilling the forcast of enlightenment: An
trụ đắc nhẫn, vì viên mãn thọ ký—See Ten kinds of abiding
of Great Enlightening Beings.
Abide
(v) by: Tuân theo—Tôn trọng.
1)
To abide by one’s promise: Giữ lời hứa.
2)
To abide by a contract: Tôn trọng hợp đồng.
3)
To abude by the terms of an agreement: Tôn trọng những điều khoản
trong một thỏa ước.
Abide
in the company of the enlightened, to learn the conduct of Buddhas: An
trụ thân cận các Đức Như Lai, vì học Phật oai nghi—See
Ten kinds of abiding of Great Enlightening Beings.