Hôm
nay chúng ta trao đổi về phương pháp áp dụng Chỉ Quán đối
với các đối tượng của các giác quan. Con người có bao
nhiêu giác quan thì có bấy nhiêu đối tượng. Là Phật tử,
ta ứng xử thế nào khi các giác quan tiếp xúc với cảnh duyên,
với đối tượng của nó mà không bị mất mình.
Muốn
không bị mất mình, không trôi lăn theo trần cảnh, nhất định
chúng ta phải có công phu, có nội lực thâm hậu. Nếu thiếu
đạo lực, khi đối diện với các cảnh duyên ta không làm
chủ được, sẽ bị nó kéo lôi, trôi giạt, như người xưa
nói “bội giác hợp trần”. Ngược lại, ta sống với ông
chủ thì các cảnh duyên không làm gì được mình, gọi là
“bội trần hợp giác”. Áp dụng pháp tu này không phải
đợi thời gian, ngay đây tu liền. Trong mọi tình huống, lúc
nào chúng ta cũng sẵn sàng áp dụng phương thức này.
Chúng
ta có sáu giác quan thì có sáu đối tượng. Thông thường
mình bị những đối tượng đó làm lầm, làm mù mắt do đó
không thấy được lẽ thực của tất cả các pháp. Người
thấy được lẽ thực của tất cả các pháp là thấy được
chân lý, gọi là kiến đế. Chữ “đế” là chân lý, là
lẽ thực. Người tu đối với tất cả cảnh duyên, phải
thấy được thực chất của nó. Một khi thấy được thực
chất của nó là chúng ta đã bước được một bước khá
vững vàng, đã phát sinh trí tuệ của mình. Thật ra các cảnh
duyên không là gì cả. Bởi vì nó là những hiện tượng bên
ngoài, không thật, ví như rơm rác chẳng nên quan trọng nó
làm gì. Nhưng nếu không tỉnh giác, chúng ta chưa có nội tại
vững vàng, chính những rơm rác này sẽ là vấn đề kéo lôi
ta trôi giạt lang thang không bến định, không biết bao giờ
mới dừng.
Con
mắt chúng ta luôn luôn tiếp cận với những hình sắc bên
ngoài. Nhưng đối với cảnh duyên, chúng ta có bị mất mình
hay không lại là một vấn đề. Phật tổ chỉ dạy chúng
ta không nên chạy theo những cảnh duyên này, không lầm nó
và cũng không bao giờ để nó kéo lôi mình đi đâu cả. Mỗi
khi mắt chạm đến hình sắc ta liền biết nó không thực,
là đồ giả, không có gì đáng kể. Do đó ta không lầm chạy
theo, không bị mắc míu với nó. Nhờ thế ta đình chỉ mọi
lăng xăng, dừng được vọng tưởng. Một khi chúng ta dừng
được rồi thì có sự định tỉnh. Một khi được định
rồi, con mắt tuệ sẽ mở dần, sáng ra. Chừng đó ta thấy
tận gốc thực tánh của tất cả cảnh duyên này không thật.
Tu tới đây có thể nói là trí tuệ Bát-nhã hiện tiền, đúng
với tinh thần Lục Tổ Huệ Năng dạy định tuệ đồng đẳng.
Trí
tuệ Bát-nhã đã phát sinh, đã hiện thành thì tất cả cảnh
duyên đều bị phẫu thuật và giải tỏa, không cái nào có
thể kéo lôi chúng ta nổi. Cho nên định của nhà thiền được
gọi là đại định, định trong mọi tình huống, Lục Tổ
gọi là “Na-già thường tại định”. Đó là loại định
tỉnh trong mọi oai nghi, mọi tình huống, lúc nào cũng như
thế. Điều chúng ta cần gầy dựng hôm nay là bắt đầu thực
tập sự định tỉnh này.
Sở
dĩ từ bao nhiêu đời kiếp, chúng ta không dừng được vòng
lẩn quẩn luân hồi sinh tử, cứ như những giòng nước đã
xa nguồn, không biết bến đỗ là đâu là vì ta không định
tâm. Quả thực như thế, vọng tưởng dấy khởi tạo nghiệp.
Từ đó vòng luân hồi cuốn hút khiến ta trôi giạt, loay hoay
lẩn quẩn trong đó mãi. Khi thấm nhuần lời Phật tổ dạy,
mình thấy quả thực từ tâm niệm dấy khởi nên các cảnh
duyên có sức hấp dẫn, có năng lực kéo lôi chúng ta. Bao
giờ năng lực đó còn kéo lôi chúng ta thì vòng luân hồi
loay hoay lẩn quẩn còn mãi không dứt. Vì thế chúng ta áp
dụng lời Phật dạy tu làm sao để dừng được vòng lẩn
quẩn này.
Chúng
ta là tác nhân đã gầy dựng, đã lầm tạo nên vòng lẩn
quẩn đó, bây giờ chính chúng ta là chủ nhân, đủ tư cách
để giải tỏa, cắt đứt nó. Khi nhận được như vậy rồi,
ta không còn đổ thừa và đợi chờ ai giải quyết cho mình
cả. Bởi không ai có quyền cắt đứt hay ban cho cái quả mà
chính ta gây nhân. Nếu có ai vì lòng từ bi ban cho ta quả tốt
đẹp thì chắc hẳn tất cả chúng ta đã lên đỉnh cao hết
rồi. Nhưng hiện tại chúng ta vẫn còn chìm ngập trong vòng
luân hồi khổ đau, còn bị vọng tưởng kéo lôi, chưa làm
chủ được mình.
Nghiệm
lại trong từng phút giây, quả thực sự tỉnh giác của chúng
ta còn yếu, do đó những lăng xăng bên ngoài vẫn là vấn
đề quan trọng đối với mình. Như vậy dù mình có mong cầu,
khấn nguyện phép thánh tiêu trừ hóa giải những lỉnh kỉnh
cho mình cũng không bao giờ được. Bởi vì tất cả những
gì ta có ngày hôm nay là do mình bày đặt ra. Bây giờ chính
ta phải phẫu thuật, giải tỏa những hậu quả đó, chứ
không ai khác hơn ta cả. Phúc duyên thù thắng của mình là
có đức Phật và giáo pháp của ngài, chỉ dạy cho ta cách
thức giải tỏa, tháo gỡ những vướng mắc tồn đọng ấy.
Ngoài ra chúng ta còn có tăng đoàn hỗ trợ, bảo vệ cho đại
nguyện của mình được thực hiện cho tới ngày viên mãn.
Nương vào phúc trí vô song của Tam bảo, của các bậc thầy
tổ, chúng ta phấn chấn gầy dựng sự nghiệp của chính mình.
Thật
ra trần cảnh bên ngoài cũng như các giác quan của chúng ta
không có lỗi chi cả, dính mắc là tại thức tình phân biệt.
Chúng ta không đình chỉ được tâm vọng tưởng vì đạo
lực kém, sức tỉnh giác yếu nên mình thấy cảnh bên ngoài
như vầy như kia, hoặc tốt hoặc xấu, từ đó mà sinh sự
cố. Muốn đình chỉ tâm lăng xăng cho yên ổn, chỉ có điều
duy nhất là kiện toàn nội lực, trí lực luôn sẵn sàng,
ta không bị thức tình phân biệt làm nhiễu loạn. Sự kích
động bên ngoài không thể lay chuyển nổi sự định tỉnh,
sáng suốt của mình. Được thế chúng ta nhìn bất cứ cảnh
duyên nào cũng không có vấn đề. Chừng đó ta thật sự tự
do, có quyền nhìn ngó mà không sợ bị kéo lôi. Đó là kết
quả từ công phu tu hành do chúng ta gầy dựng mà được vậy.
1.
Khi mắt thấy sắc tu chỉ quán
“Chỉ”
là đình chỉ, “Quán” là thấy được thực chất của tất
cả các pháp. Cho thấy, cho nhìn, cho quan sát, nhưng đình chỉ
những vọng tưởng và thấy được thực chất của tất cả
vấn đề thì bình yên. Không có cái gọi là lăng xăng, điên
đảo, lầm mê, chạy theo, mắc míu đối với tất cả các
cảnh duyên. Đó là do dùng trí tuệ chân thật của mình quán
chiếu thực chất của các pháp, biết nó không thật nên không
mắc míu.
2.
Khi tai nghe tiếng tu chỉ quán
Tất
cả chúng ta đều có tánh nghe. Người sống với tánh nghe
là có quyền nghe mà đình chỉ được những phân biệt về
âm thanh bên ngoài. Chúng ta nghe âm thanh nhưng không chạy theo
âm thanh đó, không khen nó hay, không chê nó dở. Nghe cứ nghe,
không để phân biệt lôi dẫn. Từ cái nghe này soi lại, nhận
ra căn gốc của mình, đó là cái thường nghe. Theo tinh thần
kinh Lăng-nghiêm Phật dạy, cái thường nghe bất sinh bất diệt,
luôn hiện hữu nơi mỗi chúng ta. Không luận đại tăng hay
tiểu tăng, người xuất gia hay tại gia, nếu sử dụng được
căn nghe của mình đối với tất cả âm thanh, tự xoay về,
không chạy theo các âm thanh, nhận được tánh nghe thường
hằng bất sinh bất diệt nơi chính mình. Người đó được
nhĩ căn viên thông. Được nhĩ căn viên thông thì có thể
nghe khắp, nghe suốt, nghe hết các loại âm thanh.
Từ
căn nghe, nếu chúng ta biết xoay về, có công phu, có nội lực
đầy đủ, chúng ta sẽ tu tập được nhĩ căn viên thông.
Chỉ có điều mình chịu xoay lại hay không chịu xoay lại
thôi. Nếu nghe mà phân biệt thì mất mình, không nhận ra được
tánh nghe. Như đang ngồi đây nghe pháp, bất thần có tiếng
nhạc ở đâu đó phát ra, nếu chúng ta không định tỉnh,
mình sẽ không nghe pháp nữa mà chú mục vào tiếng nhạc.
Như vậy rõ ràng chúng ta đã bị âm thanh đó kéo lôi, đã
mất mình rồi. Thường con người luôn mất mình trong những
trường hợp như thế, do đó cứ bị mắc míu hoài không có
lối thoát.
Với
người có công phu, có sức tỉnh, biết âm thanh nào cũng giả
huyễn, không thật. Ví dụ nếu người bị cái lưỡi ngắn
không đủ phát động thành âm thanh, hai hàm răng thiếu đi,
không đủ kín để tạo thành âm thanh, hai môi cũng thiếu
mất, không thể tạo âm thanh… thì họ phát âm không được.
Rõ ràng âm thanh do duyên hợp thành, không có thực thể cố
định. Tại sao chúng ta lại kẹt chấp nơi nó? Người tu luôn
quán chiếu như thế. Tất cả mọi hiện tượng giữa đây,
dù đã có nhân tố chánh nhưng thiếu duyên vẫn không thành
tựu. Tóm lại, tất cả các pháp hình thành đều do hội đủ
nhân duyên. Nếu thiếu một nhân, một duyên nào nó sẽ không
thành tựu tốt đẹp được. Nhân duyên thiếu một hoặc hai
thì sự hợp thành chưa hoàn chỉnh. Nếu thiếu nhiều hơn
nữa, dưới trung bình, nghĩa là chỉ được ba bốn mươi phần
trăm thì sự hợp thành hoàn toàn thất bại.
Chúng
ta đã có con mắt tuệ rồi, nhất định không còn lầm, không
chạy theo, không phân biệt, không chấp nhận một cách dễ
dàng các pháp bên ngoài. Ví dụ ta nổi bực lên vì gặp việc
bất như ý, liền quán chiếu sự việc ấy có thực đâu mà
phiền não, nhờ thế buông bỏ xuống được ngay. Đó là một
pháp tu. Mọi đối đãi trên thế gian này cũng đều giả lập,
duyên sinh, có thật đâu mà chấp nó. Thương ghét là giả
tạm, được mất là giả tạm, thành bại là giả tạm…
Nếu mỗi chúng ta nhận được, sống được như vậy thì
đầy đủ định tuệ, nhất định sẽ giác ngộ giải thoát
ngay trong hiện đời, không khó khăn gì cả. Phật nói trong
mỗi chúng ta có cái thực, đó là Phật tánh hay tánh giác.
Chỉ khi nào mình đình chỉ vọng tưởng điên đảo thì mới
nhận và bảo nhậm tánh giác ấy.
3.
Mũi ngửi mùi tu chỉ quán
Ở
đây Tổ dạy chúng ta đừng chạy theo, đừng dính mắc mùi
vị. Chỗ này nói dễ nhưng thực hành khó lắm. Bình thường
quý vị không nghiện ngập hay thâm quen một mùi vị nào thì
không có vấn đề gì, nhưng một khi đã nghiện hoặc thâm
quen rồi thì chuyện không vướng mắc, không chạy theo, không
phải dễ đâu. Ví dụ người nghiện thuốc lá, vừa nghe mùi
thuốc lá là biết thuốc gì, phân biệt tức thì. Bởi bén
nhạy như thế nên sự phân biệt cũng theo đó nhanh nhẹn vô
cùng. Nghe mùi thuốc lá chẳng những phân biệt rành rẽ mà
còn cảm thọ nữa. Nếu không có chỉ quán, không dừng được
sự phân biệt và cảm thọ, nhất định cái mũi sẽ dẫn
quý vị đi tới chỗ có thuốc lá. Thế là đã mắc míu vào
nó rồi. Một gói thuốc lá ngon bằng cả số tiền quý vị
kiếm được trong một ngày hay hơn thế nữa, cũng sẵn sàng
đem nướng sạch vì cơn nghiện sai khiến. Vì vậy nên khổ,
khổ do nghiệp dẫn.
Ngày
xưa, thời chúng tôi còn ở trường nội trú, có những huynh
đệ thiệt là khổ vì sự thâm quen, nghiện ngập của mình.
Tới giờ ngủ rồi, đại chúng đã tắt đèn, người huynh
đệ nghiện thuốc nhè nhẹ bước xuống giường lẻn ra ngoài
mua, rồi tìm chỗ hút. Sau khi hút rồi vô ngủ không được,
khuya thức dậy học bài không nổi. Sáng mai tới trường là
ngà lừ đừ. Ngày nào cũng thế nên sự học hành, tu tập
bị thoái hóa. Đó là chỉ nêu ví dụ thâm quen về những
mùi vị thông thường thôi, còn có những mùi vị khác hiểm
nguy hơn nữa. Một khi đã sa vào bẫy rập của nó rồi, khó
mà thoát ra được. Đã thế thì nói chi đến công phu tu hành
nữa. Thật là khổ.
Đối
với người tu, Phật dạy phải dè dặt từng dấy niệm, cẩn
thận trước tất cả cảnh duyên. Dù cảnh duyên nhỏ thôi,
nó cũng tác động để thành lớn hồi nào mình không hay.
Tốt hơn hết, chúng ta cố gắng tỉnh và làm chủ đối với
mùi vị. Mỗi một tăng sĩ có mặt nơi đây, mai này làm chủ
ở một phương sở nào đó, quý vị đại diện cho tăng-già
tuyên dương chánh pháp “Trụ Như Lai xứ, hành Như Lai sự”,
ở nhà Như Lai và giữ gìn mạng mạch của Như Lai. Trách nhiệm
lớn như vậy, nếu chúng ta sơ suất để cho tì vết dính
vào đời tu của mình, dù tì vết không đáng nhưng cũng làm
tổn giảm công đức và uy tín của một chân tăng, trở ngại
cho cả hai mặt tự lợi và lợi tha của chúng ta.
Trụ
trì nói theo dân gian là “làm dâu bá tánh”. Làm dâu thế
nào? Tôi không làm dâu nên cũng chẳng biết chuyện này, nhưng
thực sự công tác quản lý, tiếp cận, ứng xử và giải
quyết mọi vấn đề trong tinh thần đạo lý, an ổn, hòa giải
đối với bá tánh, là vấn đề không đơn giản chút nào.
Vì vậy đòi hỏi chúng ta phải có sự định tỉnh, sáng suốt,
cương quyết mới có thể đảm đương được trọng trách
này.
4.
Tu chỉ quán khi lưỡi nếm vị
Khi
lưỡi tiếp xúc với các mùi vị, nếu không quán chiếu nó
là không thật, chúng ta rất dễ sinh đắm nhiễm. Tuy biết
vị do nhân duyên giả hợp mà thành, nhưng nếu không làm chủ
được, cái giả này sẽ thành thật cho coi. Nó quấy rầy,
làm xáo trộn việc tu hành của chúng ta. Thành ra pháp tu có
thể thành tựu hay không, tất cả đều từ nơi mình. Nếu
chúng ta làm chủ được cái lưỡi thì không có vấn đề
gì. Trái lại, người mất tự chủ, ăn không được, không
có sức khỏe, sẽ quạu quọ, ứng xử không hay với mọi
người chung quanh… hậu quả dài dài như thế.
Vì
vậy đối với việc ăn uống, người tu phải khéo điều
hòa cái lưỡi của mình. Tiếp cận với chất mặn biết mặn,
tiếp cận với chất ngọt biết ngọt, không sinh tâm đắm
nhiễm tìm cầu hoặc chán ghét chối bỏ. Tu chỉ quán nơi
lưỡi là thế. Mặn ra mặn, ngọt ra ngọt nhưng không đam
mê, mắc míu bởi những vị ấy, chứ không phải mặn ngọt
gì cũng như nhau, lẫn lộn tạp nhạp.
5.
Khi thân xúc chạm tu chỉ quán
Nếu
khi thân xúc chạm nên biết tất cả những cái đó như bóng
trong gương, như huyễn như hóa, không thật. Gặp cái vui thích
ý thì không khởi tham đắm, gặp cái khổ trái ý thì không
khởi tâm ghét giận, hoặc xúc chạm những thứ không khổ
không vui cũng không nhớ tưởng trở lại.
Đó
là đình chỉ một loạt tất cả những mống tâm có khả
năng làm trở ngại việc tu hành của mình. Nếu người có
trí giác, tỉnh táo, thường quán chiếu nhận và thấy được
tất cả xúc chạm của thân không thật, làm chủ hoàn toàn
thì không có vấn đề gì, không khởi lên bất cứ ý niệm
nào, như thế sẽ bình an. Ngược lại, người tham đắm cảm
thọ khoái lạc nơi thân sẽ tạo nghiệp theo sau, chìm sâu
trong đó thì rất trở ngại cho việc tu hành.
Tất
cả những cảm nhận của chúng ta, như cảm nhận vui thích,
cảm nhận không vui thích, cảm nhận trung tính giữa vui thích
và không vui thích. Cảm nhận nào cũng do nhân duyên tựu thành,
thiếu một trong các duyên ấy thì sự cảm thọ không còn,
rõ ràng nó không thật, vô thường. Do đó đối với tất
cả cảm thọ chúng ta bình thường, an nhiên tự tại, không
bị động bởi chúng. Người thông minh bén nhạy với cảm
thọ thường rất khó tu ở thân căn. Vì sự bén nhạy ấy
dẫn họ chạy đi, dễ lầm, dễ mất mình. Từ cảm thọ dẫn
tới tưởng tượng, phân biệt, trải qua một loạt vọng động.
Thân cảm thọ, tâm cảm thọ dẫn theo tưởng. Tới đây thì
sinh chuyện lớn hơn, ngồi đó mà tưởng, nằm cũng tưởng,
đi đứng chi cũng tưởng tượng được hết. Nếu phát huy
hết mức sự tưởng tượng, con kiến người ta có thể tưởng
tượng ra con bò! Nguy hại như thế.
Qua
tưởng tượng rồi suy nghĩ, cứ thế miên man trong đầu. Lúc
nào cũng suy gẫm, cũng bất an, cũng lăng xăng nên không khi
nào sống được với cái chân thật. Một triết gia Tây phương
nói: “Tôi còn suy nghĩ là biết có tôi”, quả là một lầm
lẫn to lớn. Họ chấp nhận suy nghĩ là mình, coi như chấp
nhận cái bóng giả bên ngoài là mình. Như vậy mình là cái
không thật rồi. Cho nên đạo Phật nhìn thấu được thực
tướng của các pháp, biết rõ giòng suy nghĩ chẳng qua là
những dấy động từ bóng dáng các tiền trần. Hợp đủ
điều kiện nó suy nghĩ như thế, thiếu đi thì suy nghĩ khác.
Những tựu thành như vậy làm sao cho là mình thật được.
Phật nói các pháp do nhiều thứ hợp lại nên không thật.
Chủ yếu của lời Phật dạy là làm sao giải tỏa cho chúng
ta đừng mắc míu trong ý tưởng. Do đó cái nhìn của nhà
Phật là cái nhìn giải thoát. Chữ “giải” là cởi ra, chữ
“thoát” là trót lọt. Cho nên cái gì còn mắc míu đều
phải được tháo gỡ hết.
Trở
lại vấn đề tu chỉ quán đối với cảm thọ của thân tâm.
Nếu chúng ta không niệm thân, nhất là các bậc có trách nhiệm
trong tăng đoàn, phải học và áp dụng bài kinh niệm thân
thật kỹ lưỡng. Niệm thân là gì? Nói cho dễ hiểu là biết
thân này không thật. Ví dụ thân này đi được, đứng được,
hoạt động được là do nhiều điều kiện hợp lại. Nếu
các điều kiện ấy không đầy đủ nữa thì thân ngưng hoạt
động thôi. Chúng ta hiểu như vậy nên những nhu cầu của
thân, đều dùng con mắt tuệ làm chủ, không để nó hoàn
toàn kéo lôi. Dứt khoát không để bị lệ thuộc nó, như
vậy mình sẽ là người chủ động và từ đó ta giải thoát.
Có giải thoát chúng ta mới đem đạo lý hướng dẫn cho mọi
người chung quanh cùng được giác ngộ giải thoát như mình.
Đó là toàn bộ ý nghĩa bài kinh Niệm thân.
6.
Khi trong ý biết tu chỉ quán
Tức
là tu chỉ quán khi ý đang hoạt động, đang có những dấy
niệm về các cảnh duyên bên ngoài. Làm sao chúng ta tu chỉ
quán khi ý đang làm việc? Đây là vấn đề gốc. Các giác
quan trước làm việc mà ý không chịu cộng tác thì giòng
nghĩ tưởng và phiền não bị giới hạn, nó có mặt rất
khiêm nhường. Chỉ khi nào ý chịu làm việc thì ảnh hưởng
hoạt động của các giác quan mới rộng lớn. Vì vậy người
biết điều chỉnh và làm chủ được là người biết dừng
cái ý của mình. Đây cũng gọi là người biết tu. Khi quý
vị dạy Phật tử tu tâm chính là bảo họ coi chừng cái ý
đấy. Nếu như làm chủ được cái ý là biết tu tâm.
Tâm
nói đây không phải là tâm thật, nó chỉ là bóng dáng của
tiền trần, tâm này là vọng tưởng. Nó chợt hiện chợt
mất lăng xăng vì chạy theo pháp trần, người đời gọi là
tâm, chẳng qua cũng chỉ là bóng dáng của tiền trần, là
ý thức phân biệt mà thôi. Tâm chân thật theo tinh thần Phật
dạy là cái sáng suốt trùm khắp, lớn lao vô cùng, nó không
có hình thức nào. Thành ra người biết tu là người dừng
được ý, làm chủ được ý nghiệp của mình.
Đọc
chuyện Tề Thiên, quý vị thấy bốn thầy trò Đường Tăng
chung làm một việc mà trở thành công trình vĩ đại, đó
là từ Trung thổ đi Tây phương thỉnh kinh, tức là cầu chánh
pháp. Người dẫn đầu cho sự nghiệp này là Đường Tăng.
Chúng ta cũng thấy rõ với hai con mắt đẹp của Đường Tăng
thì không thấy được đâu là ma, là quỷ, đâu là thực là
giả. Bởi vậy ma biến thành người đẹp, cho nên Đường
Tăng bị bắt. Chỉ có Tề Thiên trợn con mắt lửa tròng vàng
lên thấy rõ đâu là ma, đâu là quỷ, đâu là thực, đâu
là giả… khẳng định rõ ràng như vậy nên ma quái không
làm lầm ông Tề nổi. Một nhân vật lăng xăng, bị rầy bị
quở, có khi bị sư phụ niệm chú “khẩn cô” đau cái đầu
muốn chết, vậy mà là người đóng vai trò chính. Đó chính
là ý thức. Chúng ta muốn tu hành thành Phật chắc rằng phải
điều cái ý. Ý được điều phục theo đúng chánh pháp thì
thanh tịnh, nhất định sẽ thành tựu đạo nghiệp giác ngộ
giải thoát.
Việc
tu hành của chúng ta cũng vậy, nói gì thì nói chứ để ý
buông lung, chắc chắn mất mình. Khi thân tiếp xúc với cảnh,
mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị…
chúng ta không điều được ý là bị mất mình, bị con khỉ
đột dẫn đi. Khi nào mình làm chủ được, tâm thể mới
hiện thành, bấy giờ mọi việc đều là Phật sự. Phật
sự với ma sự không có biên cương cố định, hễ lầm chạy
theo cảnh duyên là ma sự, là Tề Thiên. Đình chỉ được,
làm theo đúng sự hướng dẫn của sư phụ, gầy dựng công
đức để thành tựu Phật vị, đó là Đấu Chiến Thắng
Như Lai.
Tu
là từ bỏ những lăng xăng trong tâm. Thành Phật thành Tổ
cũng chính từ tâm này. Cho nên điều chỉnh ý, làm chủ được
ý tức là biết tu tâm. Nhận được tâm, sống được với
tâm rồi thì tất cả mọi lăng xăng, những giả cảnh giả
duyên, các hình tướng bên ngoài không làm gì được chúng
ta, bấy giờ mình sẽ tự tại giải thoát. Kinh Đại Phẩm
nói: Phật bảo ông Tu Bồ Đề: Nếu Bồ-tát khi đi thì biết
đi, khi ngồi thì biết ngồi, cho đến mặc y tăng-già-lê,
nhìn, chớp mắt v.v... đều nhất tâm. Ra vào đều trong thiền
định thì chính người ấy là Bồ-tát Đại thừa. Như vậy
người nhiếp ý được là Bồ-tát đại thừa, chứ không
phải tìm cầu Bồ-tát đại thừa ở đâu xa. Chúng ta dám
buông bỏ những gì không cần thiết, đó là Bồ-tát đại
thừa. Tuy nhiên, hiểu như thế nhưng khi vào công phu không
phải đơn giản đâu. Phải gan dạ quyết chí lắm mới được.
Có
một vị Phật tử làm nghề thợ rèn đến hỏi thầy mình:
“Thưa thầy, thầy dạy con pháp tu để được an tâm.” Ông
thầy nói: “Có gì lạ đâu, ông làm thợ rèn thì biết rồi,
muốn được những món đồ thuần kim loại, bén tốt thì
phải loại hết những cặn bã trong kim loại ra, từ đó tạo
thành những món đồ tinh ròng tốt đẹp. Tu hành cũng như
thế, lọc bỏ hết cặn bã trong tâm đi thì sẽ được an
tâm thôi”. Ở đây Phật dạy khi ngồi, khi nằm, khi đi, khi
đứng, khi mặc y tăng-già-lê, nhướng mày chớp mắt, lúc
nào cũng nhất tâm ở trong thiền định, như vậy là Bồ-tát
đại thừa.
Đi
đứng nằm ngồi tu chỉ quán, nghĩa là dụng chỉ quán trong
các cảnh duyên, lúc nào cũng tỉnh, cũng định, cũng sáng
suốt thì không bị động, không bị kéo lôi bởi cảnh duyên
bên ngoài. Đó là Bồ-tát đại thừa. Chúng ta không dám khinh
ai, cũng không dám tự hào mình được cái gì, nhưng phút giây
nào ta quay về nhận và sống được với ông chủ của mình
thì biết ta có giòng họ bà con với chư vị Bồ-tát đại
thừa.
Trong
Thích Luận có lời khen ngợi người tu hành theo pháp đại
thừa chỉ quán được an vui lợi lạc thế này: Người xuất
gia tâm hướng về đạo, mặc áo vá ăn cơm hẩm, ở hang núi,
dạo chơi trong rừng vắng, lấy đạo mầu làm vui, lấy trí
tuệ làm mắt, xem thấy thật tướng các pháp, không còn bị
vô minh mờ tối che đậy, giải thoát khỏi phiền não sinh
tử, dùng trí tuệ này quán chiếu, soi sáng thế gian thì tất
cả vạn tượng đều ở trong Như Lai tạng tâm. Ở trong Như
Lai tạng, tâm địa trạm nhiên vắng lặng, không bị tất
cả cảnh giới lay động, người được như vậy thì còn
gì bằng.
Bây
giờ chúng ta điểm lại từng câu. Người xuất gia tâm hướng
về đạo, tức tâm mình luôn luôn rỗng rang sáng suốt hợp
với đạo. Mặc áo vá, ăn cơm hẩm, ở hang núi, dạo chơi
trong rừng vắng. Tùy, chúng ta chạy xe trên đường phố, ở
chỗ ồn náo mà tâm vắng lặng thì cũng có thể gọi là dạo
chơi trong rừng vắng. Chỉ xin con khỉ ý thức dừng lặng
là được, còn nó lăng xăng ngược xuôi không điều phục
được thì dù thân ở chốn rừng vắng vẫn không gọi là
yên ổn nơi chốn tĩnh lặng. Lấy đạo mầu làm vui, lấy
trí tuệ làm mắt, xem thấy thật tướng các pháp. Con mắt
trí tuệ lúc nào cũng mở sáng, thấy được lẽ thực của
tất cả các pháp thì các pháp không làm gì được mình.
Không
còn bị vô minh mờ tối che đậy, giải thoát khỏi phiền
não sinh tử, dùng trí tuệ này quán chiếu soi sáng thế gian
thì tất cả vạn tượng đều ở trong Như Lai tạng, tâm địa
trạm nhiên vắng lặng, không bị tất cả cảnh giới lay động,
đó là người không ai bì được. Người phát huy được con
mắt Bát-nhã rồi, không bị các pháp kéo lôi, người đó
không còn mờ tối bởi sự che đậy của vô minh, giải trừ
mọi bức xúc phiền não trong lòng. Người này vận dụng đạo
lực trí tuệ của mình soi rọi thế gian, dìu dẫn chúng sinh
trên bước đường tu học đến viên mãn.
Người
phát tâm tu tập chỉ quán cần phải xem tâm như đã chết,
buông xuống tất cả, năng sở không hai, không khởi phân biệt,
sau mới có thể biết pháp chỉ quán là chiếc búa bén đốn
phá tất cả pháp, là đao thép cắt đứt mọi tình chấp,
là thềm thang bước lên bờ giác ngộ, là diệu dược trừ
các nghiệp phiền não. Nếu trong tất cả thời siêng tu chỉ
quán, trong tất cả oai nghi niệm niệm sáng tỏ chẳng mờ,
công phu không gián đoạn, không dừng nghỉ thì lo gì Phật
đạo chẳng thành, sinh tử chẳng dứt.
Ở
đây chúng ta đã nắm vững phương thức dừng hết những
lăng xăng khi các giác quan tiếp xúc với cảnh duyên bên ngoài.
Khi làm chủ được là ta đã thể hiện tu tập pháp chỉ quán
thành công. Khi đã làm chủ, người đó đối với tâm năng
duyên và cảnh bị duyên, hai thứ ấy không còn dính dáng nữa.
Bấy giờ tâm và cảnh nhất như. Tâm lúc nào cũng rỗng rang
sáng suốt, cảnh là cảnh giả, những hiện tượng bên ngoài
không làm gì được ta. Người thấy và hằng sống như vậy
là tâm cảnh như như.
Người
tu tập được chỉ quán là người có năng dụng lớn, có
búa bén hay cắt đứt tất cả tình chấp sai lầm. Đó cũng
là thềm thang bước lên bờ giác ngộ, là diệu dược trừ
tất cả các nghiệp phiền não. Cho nên nói chỉ quán cũng
chính là nói đạo lực tròn đầy của một bậc chân tăng,
của một vị trụ pháp vương gia, giữ gìn mạng mạch của
đức Như Lai, trên cầu Phật đạo dưới hóa độ chúng sinh.
Đó cũng chính là vai trò, sứ mệnh, trách nhiệm của chúng
ta.
Thế
nên biết tu chỉ quán trong khi ngồi hay khi trải duyên đối
cảnh đều là những phương pháp thiện xảo đưa hành giả
đến chỗ cứu kính Niết-bàn, an vui vĩnh viễn, không bị
khổ trầm luân trong sinh tử vây bủa nữa. Vì vậy người
sơ phát tâm cần phải dõng mãnh nỗ lực hạ thủ công phu
tu tập chỉ quán. Câu kết ngài Trí Khải động viên phải
có công phu chỉ quán. Chúng ta muốn thành tựu tự lợi tốt
đẹp, muốn dìu dẫn chúng sinh trên bước đường Phật đạo
viên mãn, nhất định không thể thiếu pháp tu chỉ quán. Lúc
nào cũng thể hiện đầy đủ công phu chỉ quán, đó là thể
hiện nội lực thâm hậu của một thiền tăng.
(Thiền
Viện Thường Chiếu)
09-02-2008
11:23:46