|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TƯƠNG
ƯNG BỘ
Samyutta Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2537 - 1993
TẬP I -
THIÊN CÓ KỆ
[01] Chương
I
Tương
Ưng Chư Thiên
I.
Phẩm Cây Lau
I:
Bộc Lưu (S.I,1)
Như
vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại
vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi
một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng
chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị
Thiên ấy bạch Thế Tôn:
--
Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
--
Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt
khỏi bộc lưu.
--
Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới,
Ngài vượt khỏi bộc lưu?
--
Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này
Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này
Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi
bộc lưu.
(Vị
Thiên):
Từ
lâu, tôi mới thấy
Bà-la-môn
tịch tịnh.
Không
đứng, không bước tới,
Vượt
chấp trước ở đời.
Vị Thiên
ấy nói như vậy và bậc Ðạo Sư chấp nhận. Vị Thiên ấy
biết được: "Thế Tôn đã chấp nhận ta". Vị ấy đảnh
lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất
tại chỗ.
II.
Giải Thoát (Si.2)
...
Ở Sàvatthi. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với
nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế
Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một
bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
--
Thưa Tôn giả, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly
cho các chúng sanh không?
--
Này Hiền giả, Ta có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho
các chúng sanh.
--
Thưa Tôn giả, như thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly,
viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ,
tái sanh đoạn tận,
Tưởng,
thức được trừ diệt,
Các
thọ diệt, tịch tịnh,
Như
vậy này Hiền giả,
Ta
biết sự giải thoát,
Thoát
ly và viễn ly,
Cho
các loại chúng sanh.
III.
Ðưa Ðến Ðoạn Tận - (Tạp 36.9. Ðại 2,262b. Biệt Tạp
8.7, Ðại 2,427b). (S.i,2)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Mạng
sống bị dắt dẫn,
Tuổi
thọ chẳng là bao,
Bị
dẫn đến già nua,
Không
có nơi dừng bước.
Ai
đem tâm quán tưởng,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
làm các công đức,
Ðưa
đến chơn an lạc.
(Thế
Tôn):
Mạng
sống bị dắt dẫn,
Tuổi
thọ chẳng là bao,
Bị
dẫn đến già nua,
Không
có nơi dừng bước.
Ai
đem tâm quán tưởng,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
bỏ mọi thế lợi,
Tâm
hướng cầu tịch tịnh.
IV.
Thời Gian Trôi Qua (Biệt Tạp 8.8, Ðại 2,427b) (S.i,3)
...
(Nhân duyên ở (Sàvatthi ), đứng một bên, vị Thiên ấy nói
lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Thời
gian (lặng) trôi qua,
Ðêm
(ngày luôn) di động,
Tuổi
tác buổi thanh xuân,
Tiếp
tục bỏ chúng ta.
Những
ai chịu quán sát,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
làm các công đức,
Ðưa
đến (chơn) an lạc.
(Thế
Tôn):
(Thời
gian lặng) trôi qua,
Ðêm
(ngày luôn) di động,
Tuổi
tác buổi thanh xuân,
Tiếp
tục bỏ chúng ta.
Những
ai chịu quán sát,
Sợ
hãi tử vong này,
Hãy
bỏ mọi thế lợi,
Tâm
hướng cầu tịch tịnh.
V.
Bao Nhiêu Phải Cắt Ðoạn. (S.i,5)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Phải
cắt đoạn bao nhiêu,
Phải
từ bỏ bao nhiêu,
Tu
tập thêm bao nhiêu,
Vượt
qua bao trói buộc,
Ðể
được có danh xưng,
Tỷ-kheo
vượt bộc lưu?
(Thế
Tôn):
Phải
cắt đoạn đến năm,
Phải
từ bỏ đến năm,
Tu
tập thêm năm pháp (lực),
Vượt
qua năm trói buộc,
Ðể
được có danh xưng,
Tỷ-kheo
"vượt bộc lưu".
VI.
Tỉnh Giác (S.i,5)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Có
bao pháp mê ngủ,
Khi
pháp khác tỉnh giác?
Có
bao pháp tỉnh giác,
Khi
pháp khác mê ngủ?
Có
bao nhiêu việc làm
Ðưa
ta đến trần cấu?
Có
bao nhiêu việc làm
Khiến
ta được thanh tịnh?
(Thế
Tôn):
Có
năm pháp mê ngủ,
Khi
pháp khác tỉnh giác,
Có
năm pháp tỉnh giác,
Khi
pháp khác mê ngủ.
Chính
có năm việc làm
Ðưa
ta đến trần cấu,
Chính
có năm việc làm
Khiến
ta được thanh tịnh.
VII.
Không Liễu Tri (S.i,4)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Những
ai với các pháp,
Không
liễu tri thấu suốt,
Bị
hướng dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo.
Họ
mê ngủ triền miên,
Họ
không có tỉnh giác,
Nay
thật đã đến thời,
Họ
cần phải thức tỉnh.
(Thế
Tôn):
Những
ai với các pháp,
Khéo
liễu tri sáng suốt,
Không
bị dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo,
Họ
chứng Chánh đẳng giác.
Họ
liễu tri viên mãn,
Trên
đường không thăng bằng,
Họ
bước thật thăng bằng.
VIII.
Mê Loạn (Tạp 22.5, Ðại 2,154b. Biệt Tạp 9.5, Ðại 2,435c)
(S.i,4)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Những
ai đối các pháp,
Quá
đắm say mê loạn,
Bị
hướng dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo,
Họ
mê ngủ triền miên,
Họ
không có tỉnh giác,
Nay
thật đã đến thời,
Họ
cần phải thức tỉnh.
(Thế
Tôn):
Những
ai đối các pháp,
Không
đắm say mê loạn,
Không
bị dẫn lầm lạc,
Vòng
quanh các dị giáo,
Họ
chứng Chánh đẳng giác.
Họ
liễu tri viên mãn,
Trên
đường không thăng bằng,
Họ
bước thật thăng bằng.
IX.
Mong Muốn Kiêu Mạn (Tạp 36.4, Ðại 2,261a. Biệt Tạp 8.2,
Ðại 2,426a) (S.i,4)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Ðối
vị ưa kiêu mạn,
Ở
đây không điều phục,
Không
trí tuệ sáng suốt,
Không
định tĩnh nhiếp tâm,
Ðộc
thân trú rừng núi,
Sống
với tâm phóng dật,
Vị
ấy không vượt khỏi,
Sự
chi phối ma lực.
(Thế
Tôn):
Từ
bỏ mọi kiêu mạn,
Tâm
tư khéo nhiếp định,
Với
tâm khéo tư sát,
Giải
thoát mọi phiền trược,
Ðộc
thân trú rừng núi (giới),
Với
tâm không phóng dật,
Vị
ấy vượt thoát khỏi,
Sự
chi phối ma lực.
X.
Rừng Núi (Tạp 36.3, Ðại 2,260c. Biệt Tạp 8.1, Ðại 2,426a)
(S.i,5)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Thường
sống trong rừng núi,
Bậc
Thánh sống Phạm hạnh,
Một
ngày ăn một buổi,
Sao
sắc họ thù diệu?
(Thế
Tôn):
Không
than việc đã qua,
Không
mong việc sắp tới,
Sống
ngay với hiện tại,
Do
vậy, sắc thù diệu.
Do
mong việc sắp tới,
Do
than việc đã qua,
Nên
kẻ ngu héo mòn,
Như
lau xanh rời cành.
II.
Phẩm Vườn Hoan Hỷ
I.
Vườn Hoan Hỷ (Tạp 22.1, Ðại 2,153c) (S.i,5) (Tăng 31.9.
Tứ Lạc, Ðại 2,672b) (Biệt Tạp 9.1, Ðại 2,435a)
Như
vậy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm),
tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại đấy, Thế
Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" -- "Thưa vâng, bạch
Thế Tôn".
Các
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
--
Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị Thiên thuộc cõi trời Ba
mươi ba, với chúng Thiên nữ vây quanh, du hí ở vườn Hoan
Hỷ, thọ hưởng năm thiên dục công đức. Bây giờ, vị Thiên
ấy nói lên bài kệ này:
Chúng
không biết đến lạc,
Nếu
không thấy Hoan Hỷ,
Chỗ
trú cả Trời, Người,
Cõi
ba mươi lừng danh.
Ðược
nghe nói vậy, này các Tỷ-kheo, một vị Thiên khác đáp vị
Thiên ấy với bài kệ:
Kẻ
ngu, sao không biết,
Vị
Ứng cúng đã nói:
"Mọi
hành là vô thường,
Tự
tánh phải sanh diệt,
Sau
khi sanh, chúng diệt,
Nhiếp
chúng là an lạc."
II.
Vui Thích (Tạp 36.12,Ðại 2,263a) (S.i,6) (Biệt Tạp 8,11,
Ðại 2,428a)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Cha
đối con vui thích ,
Chủ
với bò vui thích,
Người
sanh y, vui thích ,
Không
sanh y, không vui.
(Thế
Tôn):
Cha
đối con sầu muộn ,
Chủ
với bò sầu muộn,
Người
sanh y, sầu muộn,
Không
sanh y, không sầu.
III.
Không Ai Bằng Con (Tạp 36.14, Ðại 2,263b) (S.1,6) (Biệt Tạp
12.19, Ðại 2,458c)
...
Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Thương
ai bằng thương con,
Của
nào bằng bò nhà,
Sáng
nào bằng mặt trời,
Nước
nào hơn biển cả.
(Thế
Tôn):
Thương
ai bằng thương mình,
Của
nào bằng lúa gạo,
Sáng
nào bằng trí tuệ,
Nước
nào hơn mưa rào.
IV.
Giai Cấp Sát Ðế Lỵ (Tạp 36.15 Sát-lỵ, Ðại 2,263b) (S.i,6)
Giữa
các hàng hai chân,
Sát-lỵ
là tối thắng,
Giữa
các loài bốn chân,
Bò
đực là tối thắng,
Trong
các hàng thê thiếp,
Quý
nữ là tối thắng.
Trong
các hàng con trai,
Trưởng
nam là tối thắng.
(Thế
Tôn):
Giữa
các loài hai chân,
Chánh
giác là tối thắng.
Giữa
các loài bốn chân,
Thuần
chủng là tối thắng.
Trong
các hàng thê thiếp,
Nhu
thuận là tối thắng.
Trong
các hàng con trai,
Trung
thành là tối thắng.
V.
Tiếng Ðộng Rừng Sâu (hay Thân tịch tịnh) (S.i,7) (Tạp
50.II, An trú, Ðại 2,360b) (Biệt Tạp 16.26, Ðại 2,490b)
Nay
là thời giữa trưa,
Loài
chim nghỉ yên lặng,
Vang
động tiếng rừng sâu,
Ta
run, ta khiếp sợ.
(Thế
Tôn):
Nay
là thời giữa trưa,
Loài
chim nghỉ yên lặng,
Vang
động tiếng rừng sâu,
Ta
vui, Ta thích thú.
VI.
Ngủ Gục, Biếng Nhác (Tạp 22.23, Ðại 2,160a) (S.i,7) (Biệt
Tạp 9.15, Ðại 2,437c)
Ngủ
gục, nhác, ngáp dài,
Không
vui, ăn quá độ,
Ở
đây, đối chúng sanh,
Thánh
đạo không hiển lộ.
Ngủ
gục, nhác, ngáp dài,
Không
vui, ăn quá độ,
Với
tinh tấn, đoạn chúng,
Thánh
đạo được thanh tịnh.
VII.
Khó Làm (hay Con rùa) (Tạp 22.25, Ðại 2,169b) (S.i,7) (Biệt
Tạp 9,14, Ðại 2,437b)
Khó
làm, khó kham nhẫn,
Thiếu
trí, hành Sa-môn,
Chỗ
kẻ ngu thối đọa,
Chỗ
ấy đầy chướng ngại.
Bao
ngày hành Sa-môn
Nếu
tâm không chế ngự,
Mỗi
bước, phải sa đọa,
Nô
lệ cho suy tư,
Như
rùa rút chân cẳng,
Trong
mai rùa của mình.
Vị
Tỷ-kheo cũng vậy,
Thâu
nhiếp mọi suy tư,
Không
tham dính vật gì,
Không
làm hại người nào,
Hoàn
toàn thật tịch tịnh,
Không
chỉ trích một ai.
VIII.
Tàm Quý (S.i,7)
Người
được tàm chế ngự,
Tìm
được ai ở đời?
Ai
biết ngăn chỉ trích,
Như
ngựa hiền bóng roi.
Người
được tàm chế ngự,
Sống
thường thường chánh niệm,
Vị
ấy đạt kết quả,
Khổ
đau được đoạn tận,
Bước
những bước thăng bằng,
Trên
đường không thăng bằng.
IX.
Am Tranh (S.i.8)
Ngài
không có am tranh,
Ngài
không có tổ ấm,
Ngài
không có dây giăng,
Ngài
thoát khỏi hệ phược.
(Thế
Tôn):
Ta
không có am tranh,
Ta
không có tổ ấm,
Ta
không có dây giăng,
Ta
thoát khỏi hệ phược.
(Vị
Thiên):
Con
nói am là gì?
Nói
tổ ấm là gì?
Nói
dây giăng là gì?
Nói
hệ phược là gì?
(Thế
Tôn):
Ông
nói am là mẹ,
Nói
tổ ấm là vợ,
Nói
dây giăng là con,
Nói
hệ phược là ái.
(Vị
Thiên):
Lành
thay, Ngài không am!
Lành
thay, không tổ ấm!
Lành
thay, không dây giăng!
Lành
thay, Ngài thoát phược!
X.
Samiddhi (Tạp 38.17, Ðại 2,281c) (S.i,8) (Biệt Tạp I.17) Ðại
2,379a)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Vương Xá tại Tapodàràma (Tịnh xá Suối
nước nóng).
2)
Tôn giả Samiddhi, khi đêm đã gần tàn, thức dậy và đi đến
suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay
chân, ra khỏi suối nước nóng, Tôn giả đứng, đắp một
tấm y để phơi tay chân cho khô.
3)
Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù
thắng, chói sáng toàn vùng suối nước nóng, đi đến Tôn
giả Samiddhi, sau khi đến, đứng giữa hư không, nói lên bài
kệ với Tôn giả Samiddhi:
Không
hưởng, Ông khất thực,
Nay
khất thực, không hưởng,
Hãy
hưởng rồi khất thực,
Chớ
uổng phí thời gian.
(Samiddhi):
Thời
Ông, ta không biết.
Thời
ta, ẩn không hiện.
Không
hưởng, ta khất thực,
Không
uổng thời gian ta.
4) Rồi
vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả Samiddhi:
--
Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu,
tóc còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ
của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo,
hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ có bỏ
hiện tại mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
5)
-- Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những
gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ
những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại.
Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian chi
phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não (Upàyàsà); nguy hiểm
ở đấy càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại,
không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả
năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.
6)
-- Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục
bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não,
nguy hiểm ở đấy càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về
hiện tại là pháp này, không bị thời gian chi phối, đến
để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí
mới tự mình giác hiểu?
7)
-- Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến
đây không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho
Ông pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá) tại tịnh xá Tapoda (Suối
nước nóng) hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế
Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
8)
-- Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp
bậc Thế Tôn ấy, một bậc được chư Thiên khác, có đại
uy lực đoanh vây. Này Tỷ-Kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế
Tôn ấy và hỏi ý nghĩa này, chúng tôi có thể đến để
nghe pháp.
9)
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn
giả Samiddhi vâng đáp vị Thiên ấy, đi đến Thế Tôn, sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi
xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
10)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi đêm đã gần tàn, con thức
dậy và đi đến suối nước nóng để tắm rửa tay chân.
Sau khi tắm rửa tay chân, ra khỏi suối nước nóng, con đứng
đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Bạch Thế Tôn,
rồi một vị Thiên, sau khi đêm vừa mãn, với dung sắc thù
thắng, chói sáng toàn vùng nước nóng, đi đến con, sau khi
đến, đứng giữa hư không và nói lên bài kệ này:
"Không
hưởng, Ông khất thực,
Nay
khất thực, không hưởng,
Hãy
hưởng rồi khất thực,
Chớ
uổng phí thời gian."
11) Khi
nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời với vị Thiên ấy
bằng bài kệ:
"Thời
Ông, ta không biết,
Thời
ta, ẩn không hiện,
Không
hưởng, ta khất thực,
Không
uổng thời gian ta."
12) Bạch
Thế Tôn, rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với
con:
"--
Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu,
tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ của
tuổi đời, Ông không thọ hưởng các dục. Này Tỷ-kheo, hãy
thọ hưởng các dục lạc của người đời. Chớ có bỏ hiện
tại để chạy theo những gì bị thời gian chi phối."
13)
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên
ấy:
"--
Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại để chạy theo những
gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ
những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại.
Những gì thuộc thời gian, này Hiền giả, là các dục, được
nói đến là nhiều khổ đau, nhiều phiền não (upàyàsa), nguy
hiểm ở đấy lại nhiều hơn. Còn pháp này thuộc hiện tại,
không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả
năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu."
14)
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với
con:
"--
Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục
bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não,
nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về
hiện tại là pháp này không bị thời gian chi phối, đến
để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người trí
mới tự mình giác hiểu?"
15)
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với vị Thiên
ấy:
"--
Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây
không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông về
pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác nay ở Ràjagaha (Vương Xá), tại tịnh xá Tapoda (Suối
nước nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế
Tôn trả lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì."
16)
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói với
con:
" --
Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp bậc
Thế Tôn ấy, một bậc được các chư Thiên khác có đại
uy lực đoanh vây. Này Tỷ-kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế
Tôn và hỏi ý nghĩa ấy, chúng tôi cũng sẽ đến và nghe pháp."
--
Bạch Thế Tôn, nếu vị Thiên ấy nói sự thật, thời vị
ấy ở đây, không xa bao nhiêu.
17)
Khi được nói vậy, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Samiddhi
như sau:
--
Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Tôi đã đến
rồi.
18)
Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với vị Thiên ấy:
Chúng
sanh được hiểu biết,
Những
điều được nói lên,
Và
chấp trước thái độ,
Trên
những điều được nói.
Nếu
họ không liễu tri
Những
điều được nói lên,
Họ
đi đến trói buộc.
Do
thần chết chi phối,
Nếu
họ liễu tri được
Những
điều được nói lên,
Họ
không có tưởng tri,
Những
điều được nói ra.
Ðối
với vị như vậy,
Lỗi
lầm nhất định không.
Nếu
các Ông có biết,
Hãy
nói lên Dạ-xoa.
19) --
Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay,
nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách
rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
(Thế
Tôn):
20)
Bằng,
thắng hay thua Ta,
Nghĩ
vậy đấu tranh khởi;
Cả
ba không dao động,
Bằng,
thắng không khởi lên.
Nếu
như Ông có biết,
Hãy
nói lên, Dạ-xoa.
21) --
Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay,
nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách
rộng rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
22)
(Thế Tôn):
Hãy
từ bỏ tính toán,
Không
chạy theo hư tưởng,
Từ
bỏ mọi tham ái,
Ðối
danh sắc ở đời,
Vị
ấy đoạn triền phược,
Không
lo âu, không ái.
Chư
Thiên và loài Người,
Ðời
này hay đời sau,
Ở
cảnh giới chư Thiên,
Hay
tại mọi trú xứ,
Tìm
cầu nhưng không gặp,
Vết
tích của vị ấy.
Nếu
Ông biết người ấy
Hãy
nói lên, Dạ-xoa.
23) --
Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt của Thế Tôn, con hiểu
ý nghĩa rộng rãi như sau:
Khắp
thế giới chớ làm,
Ðiều
ác thân, miệng, ý,
Từ
bỏ mọi ái dục,
Chánh
niệm, tâm tỉnh giác,
Không
khổ hạnh ép xác,
Vô
bổ, không lợi ích.
III.
Phẩm Kiếm (S.I,13)
...
(Nhân duyên ở Sàvatthi). Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói
lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
I.
Kiếm:
Như
kiếm đã chạm da,
Như
lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo
hãy chánh niệm,
Xuất
gia bỏ ái dục.
(Thế
Tôn):
Như
kiếm đã chạm da,
Như
lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo
hãy chánh niệm,
Xuất
gia bỏ thân kiến.
II.
Xúc Chạm
Không
xúc, không có chạm,
Có
xúc, thời có chạm,
Nên
hại người không hại,
Tức
có xúc, có chạm,
Ai
hại người không hại,
Người
tịnh, không ô nhiễm,
Kẻ
ngu hái quả ác,
Như
ngược gió tung bụi.
III.
Triền Phược
Nội
triền và ngoại triền,
Chúng
sanh bị triền phược,
Con
hỏi Gotama,
Ai
thoát khỏi triền này?
(Thế
Tôn):
Người
trú giới có trí,
Tu
tập tâm và tuệ,
Nhiệt
tâm và thận trọng,
Tỷ-kheo
ấy thoát triền.
Với
ai, đã từ bỏ
Tham,
sân và vô minh,
Bậc
Lậu tận, ứng cúng,
Vị
ấy thoát triền phược.
Chỗ
nào danh và sắc,
Ðược
đoạn tận, vô dư,
Ðoạn
chướng ngại, sắc tưởng,
Chỗ
ấy triền phược đoạn.
IV.
Chế Ngự Tâm (S.i,14)
Chỗ
nào ý chế ngự,
Chỗ
ấy đau khổ tận.
Ý
chế ngự hoàn toàn,
Thoát
đau khổ hoàn toàn.
(Thế
Tôn):
Không
nên chế ngự ý,
Hoàn
toàn về mọi mặt,
Chớ
có chế ngự ý,
Nếu
tự chủ đạt được.
Chỗ
nào ác pháp khởi,
Chỗ
ấy chế ngự ý.
V.
Vị A-La-Hán (Tạp 22.6 - 7, La-hán, Ðại 2,154b (S.i,14) ( Biệt
Tạp 9.6, Ðại 2,435c)
Vị
Tỷ-kheo La-hán,
Ðã
làm điều phải làm,
Các
lậu được đoạn tận,
Thân
này, thân tối hậu.
Vị
ấy có thể nói:
"Chính
tôi vừa nói lên"
Vị
ấy có thể nói:
"Họ
nói là của tôi".
(Thế
Tôn):
Vị
Tỷ-kheo La-hán,
Ðã
làm điều phải làm,
Các
lậu được đoạn tận,
Thân
này, thân tối hậu.
Vị
ấy có thể nói:
"Chính
tôi vừa nói lên",
Vị
ấy có thể nói:
"Họ
nói là của tôi".
Vị
ấy khéo biết rõ,
Danh
xưng ở thế gian,
Vì
chỉ là danh xưng,
Vị
ấy cũng danh xưng.
(Vị
Thiên):
Vị
Tỷ-kheo La-hán,
Ðã
làm điều phải làm,
Các
lậu được đoạn tận,
Thân
này, thân tối hậu.
Có
phải Tỷ-kheo ấy,
Ði
gần đến kiêu mạn,
Khi
vị ấy có nói:
"Chính
tôi vừa nói lên".
Khi
vị ấy có nói:
"Họ
nói là của tôi"?
(Thế
Tôn):
Ai
đoạn tận kiêu mạn,
Không
còn những buộc ràng,
Mọi
hệ phược kiêu mạn,
Ðược
hoàn toàn đoạn tận.
Vị
có trí sáng suốt,
Vượt
khỏi mọi hư tưởng,
Vị
ấy có thể nói:
"Chính
tôi vừa nói lên",
Vị
ấy có thể nói:
"Họ
nói là của tôi".
Vị
ấy khéo biết rõ,
Danh
xưng ở thế gian,
Vì
chỉ là danh xưng,
Vị
ấy cũng danh xưng.
VI.
Ánh Sáng (Tạp, Ðại 2,360b) (S.i,15) (Biệt Tạp 15.12, Ðại
2,478c)
Vật
gì chiếu sáng đời,
Do
chúng, đời chói sáng?
Con
đến hỏi Thế Tôn,
Muốn
biết lời giải đáp.
(Thế
Tôn):
Bốn
vật chiếu sáng đời,
Thứ
năm, đây không có.
Ngày,
mặt trời sáng chói,
Ðêm,
mặt trăng tỏ rạng,
Lửa
cháy đỏ đêm ngày,
Chói
sáng khắp mọi nơi.
Chánh
giác sáng tối thắng,
Sáng
này, sáng vô thượng.
VII.
Nước Chảy (S.i,15)
Chỗ
nào nước chảy ngược?
Chỗ
nào nước xoáy dừng?
Chỗ
nào danh và sắc,
Ðược
đoạn diệt, không dư?
Chỗ
nào nước và đất,
Lửa,
gió không vững trú,
Do
vậy nước chảy ngược,
Chỗ
ấy nước xoáy dừng,
Chỗ
ấy danh và sắc,
Ðược
đoạn diệt, không dư.
VIII.
Giàu Lớn (S.i,15)
Sát-đế-lỵ
giàu lớn,
Tài
sản, quốc độ lớn,
Luôn
luôn ganh tị nhau,
Hưởng
dục không biết ngán,
Giữa
người sống dao động,
Trôi
theo dòng tái sanh.
Ai
bỏ tật và ái,
Không
dao động giữa đời.
(Thế
Tôn):
Vị
xuất gia bỏ nhà,
Bỏ
con, gia súc, thân,
Bỏ
tham và bỏ sân,
Và
từ bỏ vô minh,
Bậc
Lậu tận, La-hán,
Không
dao động giữa đời.
IX.
Bốn Bánh Xe (S.i,16)
Bốn
bánh xe, chín cửa,
Ðầy
uế, hệ lụy tham,
Chìm
đắm trong bùn nhơ,
Ôi,
thưa bậc Ðại Hùng,
Sanh
thú người như vậy,
Tương
lai sẽ thế nào?
(Thế
Tôn):
Cắt
hỷ và buộc ràng,
Dục
tham và tà ác,
Ái
căn được đoạn tận,
Sanh
thú sẽ như vậy.
X.
Con Sơn Dương (S.i,16)
Chân
như chân sơn dương,
Vừa
thon lại vừa mạnh,
Ăn
uống có chừng mực,
Không
tham lam, say đắm,
Như
sư tử, voi rừng,
Ðộc
hành, không dục vọng.
Sau
khi đến, con hỏi,
Làm
sao thoát khổ đau?
(Thế
Tôn):
Có
năm dục ở đời,
Ý
căn là thứ sáu,
Ở
đây, từ ước muốn,
Như
vậy thoát khổ đau.
IV.
Phẩm Quần Tiên
I.
Với Người Thiện (S.i 16)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại
vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2)
Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn,
với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một
bên.
3)
Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Ðược
tốt hơn, không xấu.
4) Rồi
một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế
Tôn:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Ðược
tuệ, không gì khác.
5) Rồi
một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế
Tôn:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Không
sầu, giữa sầu muộn.
6) Rồi
một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế
Tôn:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Chúng
sanh sanh thiện thú.
8) Rồi
một vị Thiên khác lại nói lên bài kệ này trước mặt Thế
Tôn:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Chúng
sanh thường hưởng lạc.
9) Rồi
một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, ai đã nói lên một
cách tốt đẹp?
--
Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách
tốt đẹp. Tuy vậy, hãy nghe lời Ta nói:
Hãy
thân với người lành,
Hãy
gần gũi người thiện,
Biết
diệu pháp người hiền,
Giải
thoát mọi khổ đau.
Thế
Tôn thuyết giảng như vậy. Quần Tiên ấy hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
II.
Xan Tham (Tạp, Ðại 2,354c) (Biệt Tạp, Ðại 2,473b) (S.i,18)
1)
Một thời Thế Tôn trú ơ ủ Sà vatthi, Jetavana, tại vườn
ông Anàthapindika.
2)
Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn,
với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một
bên.
3)
Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Vì
xan tham, phóng dật,
Như
vậy không bố thí,
Ai
ước mong công đức,
Có
trí nên bố thí.
4) Rồi
một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðiều
kẻ xan tham sợ,
Nên
không dám bố thí,
Sợ
ấy đến với họ,
Chính
vì không bố thí.
Ðiều
kẻ xan tham sợ,
Chính
là đói và khát,
Kẻ
ngu phải cảm thọ,
Ðời
này và đời sau.
Vậy
hãy chế xan tham,
Bố
thí, nhiếp cấu uế,
Chúng
sanh vững an trú,
Công
đức trong đời sau.
5) Rồi
một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Không
chết giữa người chết,
Như
thiện hữu trên đường,
San
sẻ lương thực hiếm,
Thường
pháp là như vậy.
Kẻ
ít, vui san sẻ,
Kẻ
nhiều khó, đem cho,
Bố
thí từ kẻ khó,
Ðong
được ngàn đồng vàng.
6) Rồi
một vị Thiên khác nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Khó
thay sự đem cho,
Khó
thay làm hạnh ấy.
Kẻ
ác khó tùy thuận,
Khó
thay pháp bậc lành.
Do
vậy kẻ hiền, ác,
Sanh
thú phải sai khác,
Kẻ
ác sanh địa ngục,
Người
lành lên cõi trời.
7) Rồi
một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, trong tất cả vị ấy, vị nào đã nói một
cách tốt đẹp?
--
Về vấn đề này, tất cả các Ông đã nói một cách tốt
đẹp. Tuy vậy hãy nghe Ta:
Sở
hành vẫn chơn chánh,
Dầu
phải sống vụn vặt,
Dầu
phải nuôi vợ con,
Với
đồ ăn lượm lặt,
Nhưng
vẫn bố thí được,
Từ
vật chứa ít ỏi,
Từ
ngàn người bố thí,
Từ
trăm ngàn vật cho,
Trị
giá không ngang bằng,
Kẻ
bố thí như vậy.
8) Rồi
một vị Thiên khác nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Vì
sao họ bố thí,
Rộng
lớn nhiều như vậy,
Trị
giá không ngang bằng,
Kẻ
nghèo, chơn bố thí?
Sao
ngàn người bố thí,
Từ
trăm ngàn vật cho,
Trị
giá không ngang bằng,
Kẻ
bố thí như vậy?
9) Rồi
Thế Tôn nói lên bài kệ này với vị Thiên ấy:
Có
những người bố thí,
Một
cách bất bình thường,
Sau
khi chém và giết,
Mới
làm vơi nỗi sầu.
Sự
bố thí như vậy,
Ðầy
nước mắt đánh đập,
Trị
giá không ngang bằng,
Kẻ
nghèo, chơn bố thí.
Từ
ngàn người bố thí,
Từ
trăm ngàn vật cho,
Trị
giá không ngang bằng,
Kẻ
bố thí như vậy.
III.
Lành Thay (S.i,20)
1)
Ở Sàvatthi.
2)
Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, khi đêm đã gần mãn,
với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một
bên.
3)
Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên lời cảm hứng này
trước mặt Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí!
Kính
thưa bậc Tôn giả.
Vì
xan tham, phóng dật,
Như
vậy không bố thí,
Ai
ước mong công đức,
Có
trí nên bố thí.
4) Rồi
một vị Thiên khác nói lên lời cảm ứng này trước mặt
Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí,
Kính
thưa bậc Tôn giả!
Nhưng
thật tốt lành thay,
Bố
thí trong thiếu thốn!
Kẻ
ít, vui san sẻ,
Kẻ
nhiều khó, đem cho,
Bố
thí từ kẻ khó,
Ðong
được ngàn đồng vàng.
5) Rồi
một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt
Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí,
Kính
thưa bậc Tôn giả!
Nhưng
thật tốt lành thay,
Bố
thí trong thiếu thốn!
Lành
thay sự bố thí,
Phát
xuất từ lòng tin.
Bố
thí và đánh nhau,
Ðược
nói là bằng nhau,
Một
số ít kẻ lành,
Thắng
xa số đông người.
Ví
dầu cho có ít,
Nhưng
cho với lòng tin,
Do
vậy được an lạc,
Vì
lợi ích cho người.
6) Rồi
một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt
Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí,
Kính
thưa bậc Tôn giả!
Nhưng
thật tốt lành thay,
Bố
thí trong thiếu thốn!
Lành
thay sự bố thí,
Phát
xuất từ lòng tin!
Lành
thay sự bố thí,
Với
tài sản hợp pháp!
Ai
là người bố thí,
Với
tàn sản hợp pháp,
Do
nỗ lực tinh tấn,
Nhờ
vậy thâu hoạch được;
Vị
ấy vượt dòng suối,
Thần
chết Dạ-ma giới,
Sau
khi chết được sanh,
Chỗ
trú xứ chư Thiên.
7) Rồi
một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt
Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí,
Kính
thưa bậc Tôn giả!
Nhưng
thật tốt lành thay,
Bố
thí trong thiếu thốn!
Lành
thay sự bố thí,
Phát
xuất từ lòng tin!
Lành
thay sự bố thí,
Với
tài sản hợp pháp!
Lành
thay sự bố thí,
Có
suy tư sáng suốt!
Bố
thí có suy tư,
Bậc
Thiện Thệ tán thán.
Bố
thí cho những vị,
Ðáng
kính trọng ở đời,
Bố
thí những vị ấy,
Ðược
hưởng quả phước lớn,
Như
hạt giống tốt đẹp,
Gieo
vào ruộng tốt lành.
8) Rồi
một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước mặt
Thế Tôn:
Lành
thay sự bố thí,
Kính
thưa bậc Tôn giả!
Nhưng
thật tốt lành thay,
Bố
thí trong thiếu thốn!
Lành
thay sự bố thí,
Phát
xuất từ lòng tin!
Lành
thay sự bố thí,
Với
tài sản hợp pháp!
Lành
thay sự bố thí,
Có
suy tư sáng suốt!
Lành
thay sự tự chế,
Ðối
với các chúng sanh!
Giữa
chúng sanh hữu tình,
Ai
sống không làm hại,
Sợ
người khác chỉ trích,
Không
làm ác, bất thiện,
Họ
khen kẻ nhút nhát,
Nhưng
chỉ trích người hùng,
Chính
sợ bị chỉ trích,
Người
lành không làm ác.
9) Rồi
một vị Thiên khác bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, giữa chúng con, lời nói ai được tốt lành?
--
Về vấn đề này, tất cả các Ông đều nói lên một cách
tốt đẹp. Tuy vậy hãy nghe lời của Ta:
Bố
thí với lòng tin,
Ðược
tán thán nhiều mặt,
Có
pháp hơn bố thí,
Pháp
ấy là Pháp cú.
Từ
xưa, từ xa xưa,
Người
lành, người chơn thiện,
Với
trí tuệ sáng suốt,
Ðạt
đến cảnh Niết-bàn.
IV.
Chúng Không Phải (S.i,22)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng
Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2)
Rồi rất nhiều quần tiên Satullapa, sau khi đêm đã gần mãn,
với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một
bên.
3)
Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Giữa
loài Người chúng ta,
Có
các dục vô thường.
Ai
hưởng chúng ở đời,
Bị
chúng trói, chúng buộc.
Phóng
dật đối với chúng,
Khó
thoát ly với chúng,
Người
nào khó thoát ly,
Bị
thần chết chinh phục.
Họa
từ dục vọng sanh,
Khổ
từ dục vọng khởi,
Dục
vọng được nhiếp phục,
Nhờ
vậy họa nhiếp phục,
Tai
họa được nhiếp phục,
Nhờ
vậy khổ nhiếp phục.
Vật
sai biệt ở đời,
Chúng
không phải các dục,
Chính
tư niệm tham ái,
Là
dục vọng con người.
Vật
sai biệt tồn tại,
Như
vậy ở trên đời,
Do
vậy bậc Hiền trí,
Ðiều
phục các dục vọng.
Hãy
từ bỏ phẫn nộ,
Hãy
nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy
vượt qua tất cả,
Mọi
kiết sử trói buộc.
Chớ
có quá chấp trước,
Ðối
với danh sắc ấy,
Khổ
không thể đến được,
Với
ai không có gì.
Hãy
từ bỏ tính toán,
Không
chạy theo hư tưởng,
Cắt
đứt mọi tham ái,
Với
danh sắc ở đời.
Vị
ấy đoạn phiền trược,
Không
lo âu, không ái;
Chư
Thiên và loài Người,
Ðời
này hay đời sau,
Ở
cảnh giới chư Thiên,
Hay
tại mọi trú xứ,
Tìm
cầu nhưng không gặp,
Vết
tích của vị ấy,
Họ
tìm nhưng không thấy,
Vị
giải thoát như vậy.
(Tôn
giả Mogharàjà nói như vầy)
Chư
Thiên và loài Người,
Ðời
này hay đời sau,
Bậc
tối thượng loài Người,
Lo
hạnh phúc chúng sanh,
Họ
đảnh lễ vị ấy,
Nên
tán thán họ không?
(Bậc
Thế Tôn lên tiếng)
Này
Mogharàjà
Họ
cũng nên tán thán,
Bậc
giải thoát như vậy.
Này
Tỷ-kheo khất sĩ,
Nếu
họ biết Chánh pháp,
Ðoạn
trừ được nghi hoặc,
Họ
trở thành giải thoát.
V.
Hiềm Trách Thiên (S.i,23)
1)
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm),
tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2)
Rồi rất nhiều quần tiên Ujjhànasannà (Hiềm trách thiên),
sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng
toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, các vị
ấy đứng giữa hư không.
3)
Rồi một vị Thiên đứng giữa hư không, nói lên bài kệ
này trước mặt Thế Tôn:
Những
ai nói mình khác
Với
điều họ thực có,
Thời
mọi vật thọ dụng,
Xem
như do trộm cắp,
Chẳng
khác kẻ gian manh,
Dùng
lừa đảo trộm cắp.
Hãy
nói điều có làm,
Không
nói điều không làm,
Không
làm nói có làm,
Kẻ
trí biết rõ họ.
(Thế
Tôn):
Những
ai chỉ biết nói,
Hay
chỉ biết nghe thôi,
Những
hạng người như vậy,
Không
thể nào tiến bộ.
Khó
nhọc thay con đường,
Giúp
kẻ trí giải thoát.
Nhờ
Thiền định thiêu cháy,
Mọi
trói buộc quần ma,
Kẻ
trí không làm vậy,
Sau
khi biết thế tình,
Với
trí, chứng Niết-bàn,
Vượt
chấp trước ở đời.
4) Rồi
các quần tiên ấy đứng xuống đất, cúi đầu đảnh lễ
chân Thế Tôn, và bạch Thế Tôn:
--
Ðây là tội lỗi của chúng con, bạch Thế Tôn. Chúng con đi
đến tội lỗi, vì ngu xuẩn, vì mê mờ, vì bất thiện. Chúng
con nghĩ chúng con có thể công kích Thế Tôn. Bạch Thế Tôn,
mong Thế Tôn chấp nhận cho chúng con, lỗi lầm là lỗi lầm
để gìn giữ trong tương lai.
5)
Rồi Thế Tôn mỉm cười.
6)
Các quần tiên ấy càng tức tối thêm và bay lên hư không.
7)
Một vị Thiên nói bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ai
không chịu chấp nhận,
Tội
lỗi được phát lộ,
Nội
phẫn, ưa sân hận,
Hận
thù càng kiên chặt.
Nếu
không có tội lỗi,
Ở
đây không lầm lạc,
Hận
thù không thể tiêu.
Do
gì xem là thiện?
Với
ai không tội lỗi?
Với
ai không lầm lạc?
Ai
không bị si mê?
Ai
kẻ tri thường niệm?
(Thế
Tôn):
Như
Lai, bậc Giác Ngộ,
Thương
xót mọi hữu tình,
Nơi
Ngài không tội lỗi,
Nơi
Ngài không lầm lạc.
Ngài
không bị si mê,
Ngài
chánh trí thường niệm.
Ai
không chịu chấp nhận,
Tội
lỗi được phát lộ,
Nội
phẫn, ưa sân hận,
Hận
thù càng kiên chặt.
Ta
không thích hận thù,
Ta
nhận tội các Ông.
VI.
Lòng Tin (S.i,25), (Tạp, Ðại 2,354b) - (Biệt Tạp, Ðại
2,473a)
1)
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng
Lâm) tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2)
Rồi rất nhiều quần tiên SatullapaKàyikà, khi đêm đã gần
tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi
đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng
một bên.
3)
Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Tín
là người thứ hai,
Là
bạn của loài Người,
Nếu
không trú bất tín,
Ðược
danh dự, xưng tán,
Sau
khi bỏ thân này,
Ðược
sanh lên Thiên giới.
Hãy
từ bỏ phẫn nộ,
Hãy
nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy
vượt qua tất cả
Mọi
kiết sử trói buộc.
Chớ
có quá chấp trước,
Ðối
với danh sắc ấy.
Tham
không thể đến được,
Với
ai không có gì.
Kẻ
ngu không trí tuệ,
Mới
đam mê, phóng dật,
Kẻ
trí không phóng dật,
Như
giữ tài vật quý.
Chớ
đam mê, phóng dật,
Chớ
đắm say ái dục,
Thiền
tư, không phóng dật,
Ðạt
được tối thắng lạc.
VII.
Tụ Hội (S.i,26) - (Tạp, Ðại 2.323a) (Biệt Tạp, Ðại
2.411a) (S.i,26) (D. 20 Mahàsamaya, Trường, Ðại 1,79b - 81b)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở giữa dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu
(Ca-tỳ-la-vệ), ở rừng Ðại Lâm, cùng với đại chúng Tỷ-kheo
khoảng 500 vị, tất cả là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở
mười phương thế giới phần lớn cũng thường tập hội
để chiêm ngưỡng Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo.
2)
Rồi bốn vị Tịnh cư thiên (Suddàvàsà) suy nghĩ như sau: "Thế
Tôn nay ở giữa dân chúng Sakka, thành Kapilavatthu, rừng Ðại
Lâm, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng 500 vị, tất cả
đều là bậc A-la-hán. Và chư Thiên ở mười phương thế
giới, phần lớn cũng thường tập hội để chiêm ngưỡng
Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo. Vậy chúng ta hãy đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, mỗi chúng ta đọc một bài kệ dâng lên
Thế Tôn."
3)
Rồi chư Thiên ấy nhanh như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đã
co lại, hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ Tịnh cư
thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn.
4)
Chư Thiên ấy đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Sau khi
đứng một bên, một vị Thiên đọc bài kệ trước Thế Tôn:
Ðại
hội tại Ðại Lâm,
Chư
Thiên đồng tụ tập,
Chúng
con đến Pháp hội,
Ðảnh
lễ chúng Bất thắng.
5) Rồi
các vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế
Tôn:
Tại
đây chúng Tỷ-kheo,
Thiền
định, tâm chánh trực,
Như
chủ xe nắm cương,
Bậc
hiền hộ các căn.
6) Lại
một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước Thế
Tôn:
Như
khóa gãy, chốt tháo,
Trụ
bị đào, tham đoạn,
Sống
thanh tịnh, vô cấu,
Có
mắt, voi khéo điều.
7) Lại
một vị Thiên khác cũng đọc lên một bài kệ trước mặt
Thế Tôn:
Những
ai quy y Phật,
Sẽ
không đọa ác thú,
Sau
khi bỏ thân Người,
Sẽ
sanh làm chư Thiên.
VIII.
Miếng Ðá Vụn - (Tạp, Ðại 2,355a) - (Biệt Tạp, Ðại
2,473c) - (S.i,27)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), tại vườn Nai
(Maddakucchi)
2)
Lúc bấy giờ, chân Thế Tôn bị miếng đá bể đâm phải.
Cảm thọ Thế Tôn mãnh liệt. Thân cảm thọ khổ đau, nhói
đau, nhức nhối, khốc liệt, không khoái tâm, không thích thú.
Nhưng Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu, không phiền
não.
3)
Rồi Thế Tôn cho trải áo Sanghàti (Tăng-già-lê) xếp tư lại,
nằm xuống phía hông bên phải như dáng điệu con sư tử,
chân đặt trên chân, chánh niệm tỉnh giác.
4)
Rồi bảy trăm quần tiên Satullapakàyikà, sau khi đêm đã gần
mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Maddakucchi,
đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng
một bên.
5)
Ðứng một bên, một vị Thiên đọc lên lời cảm hứng này
trước mặt Thế Tôn:
--
Sa-môn Gotama thật là bậc Long tượng. Và với tư cách Long
tượng, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, đau khổ, nhói
đau, nhức nhối, khốc liệt, không khoái tâm, không thích thú,
Ngài chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu, không phiền não.
6)
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước
mặt Thế Tôn:
--
Sa-môn Gotama thật là bậc Sư tử. Và với tư cách Sư tử,
Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau... không có phiền
não.
7)
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước
mặt Thế Tôn:
--
Sa-môn Gotama thật là Lương tuấn mã. Và với tư cách Lương
tuấn mã, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau...
không có phiền não.
8)
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước
mặt Thế Tôn:
--
Sa-môn Gotama thật là bậc Ngưu vương. Và với tư cách Ngưu
vương, Ngài nhẫn chịu thân thọ khởi lên, khổ đau... không
có phiền não.
9)
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước
mặt Thế Tôn:
--
Sa-môn Gotama thật là bậc Nhẫn nại Kiên cường. Và với
tư cách bậc Nhẫn nại Kiên cường, Ngài nhẫn chịu thân
thọ khởi lên, khổ đau... không có phiền não.
10)
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước
mặt Thế Tôn:
--
Sa-môn Gotama thật là một bậc Khéo điều phục. Và với tư
cách là một bậc Khéo điều phục, Ngài nhẫn chịu thân thọ
khởi lên, khổ đau... không có phiền não.
11)
Rồi một vị Thiên khác nói lên lời cảm hứng này trước
mặt Thế Tôn:
--
Hãy xem tâm của Ngài khéo được tu tập Thiền định và giải
thoát, không có nổi lên, không có chìm xuống, mọi hành động
được tác thành, không có ai kích thích. Ai có thể nghĩ mình
đi ngược lại một Long tượng như vậy, một bậc Sư tử
như vậy, một bậc Lương tuấn mã như vậy, một bậc Ngưu
vương như vậy, một bậc Nhẫn nại Kiên cường như vậy,
một bậc Nhiếp phục như vậy, trừ phi là một người mù.
Các
vị Bà-la-môn,
Tinh
thông năm Vệ-đà,
Dầu
tu tập khổ hạnh,
Cho
đến hàng trăm năm,
Tâm
họ không có thể,
Chơn
chánh được giải thoát.
Tự
tánh quá hạ liệt,
Không
đến bờ bên kia,
Bị
khát ái chi phối,
Bị
giới cấm trói buộc,
Dầu
tu tập khổ hạnh,
Cho
đến hàng trăm năm,
Tâm
họ không có thể,
Chơn
chánh được giải thoát.
Tự
tánh quá hạ liệt,
Không
đến bờ bên kia.
Ở
đời không nhiếp phục,
Kiêu
mạn cùng các dục,
Tâm
không được an tịnh,
Không
tu tập Thiền định.
Ở
trong rừng cô độc,
Nhưng
tâm tư phóng dật,
Vị
ấy khó vượt khỏi,
Sự
chinh phục tử thần.
Nhiếp
phục được kiêu mạn,
Khéo
tu tập Thiền định,
Tâm
tư khéo an tịnh,
Giải
thoát được viên mãn,
Ở
trong rừng cô độc,
Tâm
tư không phóng dật,
Vị
ấy khéo vượt khỏi,
Sự
chinh phục tử thần.
IX.
Con Gái Của Pajjunna (Tạp, Ðại 2,350a) (Biệt Tạp, 14.4,
Ðại 2,469a) (S.i,29)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
2)
Rồi Kokanadà, con gái của Pajjunna, sau khi đêm vừa mãn, với
dung sắc thù thắng chiếu sáng toàn vùng Ðại Lâm, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một
bên.
3)
Ðứng một bên, Thiên nữ Kokanadà, con gái của Pajjunna, nói
lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Bậc
Chánh Ðẳng Chánh Giác,
Thượng
thủ các chúng sanh,
Nay
an trú Ðại Lâm,
Tại
thành Vesàli,
Hãy
để con đảnh lễ,
Con
gái Pajjunna,
Tên
Kokanadà.
Từ
trước con chỉ nghe,
Bậc
chứng ngộ Chánh Giác.
Bậc
vô thượng Pháp Nhãn,
Bậc
Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Ngày
nay con có thể,
Biết
được Chánh pháp ấy,
Do
Thiện Thệ thuyết giảng,
Bậc
Mâu-ni Chánh Giác.
Những
ai kém trí tuệ,
Khinh
bác chống Thánh pháp,
Sẽ
rơi vào địa ngục,
Mệnh
danh Roruva,
Trải
thời gian lâu dài,
Thọ
lãnh nhiều thống khổ.
Những
ai đối Thánh pháp,
Kham
nhẫn, tâm tịch tịnh,
Từ
bỏ thân làm người,
Viên
mãn thân chư Thiên.
X.
Con Gái Của Pajjunna (Tạp, Ðại 2, 349c) (Biệt Tạp 14.3,
Ðại 2, 469a) (S.i,30)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Vesàli, Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng
đường.
2)
Rồi Cùla - Kokanadà, con gái của Pajjunna, sau khi đêm đã gần
mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Ðại Lâm
đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi
đứng một bên. Ðứng một bên, Cùla-Kokanadà, con gái của
Pajjunna, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Con
gái Pajjunna,
Tên
Kokanadà.
Nhan
sắc như điện quang,
Nàng
đã đến tại đây,
Ðảnh
lễ Phật và Pháp,
Nói
kệ lợi ích này,
Dầu
với nhiều pháp môn,
Con
phân tích pháp này.
Nhưng
lược nghĩa con nói,
Theo
ý con hiểu biết,
Ở
đời, chớ làm ác,
Cả
ba: thân, khẩu, ý,
Từ
bỏ mọi thứ dục,
Chánh
niệm, tâm tỉnh giác,
Không
khổ hạnh ép xác,
Vô
bổ, không lợi ích.
V.
Phẩm Thiêu Cháy
Như
vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại
vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi một vị Thiên,
sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng
toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy
nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
I.
Thiêu Cháy (Biệt Tạp 5.4, Ðại 2,403) (S.i,31)
Trong
ngôi nhà thiêu cháy,
Vật
dụng đem ra ngoài,
Vật
ấy có lợi ích,
Không
phải vật bị thiêu.
Cũng
vậy trong đời này,
Bị
già chết thiêu cháy,
Hãy
đem ra, bằng thí,
Vật
thí, khéo đem ra.
Có
thí, có lạc quả,
Không
thí, không như vậy.
Kẻ
trộm, vua cướp đoạt,
Lửa
thiêu đốt hủy hoại,
Khi
giờ cuối cùng đến,
Bỏ
thân, bỏ sở hữu.
Kẻ
trí, hiểu biết vậy,
Thọ
dụng và bố thí,
Thí
xong, thọ dụng xong,
Theo
lực hành động ấy,
Không
bị ai chỉ trích,
Vị
ấy được sanh Thiên.
II.
Cho Gì? (Tạp 36.6 Vân hà đại đắc, Ðại 2,261b) (Biệt
Tạp 8.4, Ðại 2,526b) (S.i,32)
Cho
gì là cho lực?
Cho
gì là cho sắc?
Cho
gì là cho lạc?
Cho
gì là cho mắt?
Cho
gì cho tất cả?
Xin
đáp điều con hỏi?
(Thế
Tôn):
Cho
ăn là cho lực,
Cho
mặc là cho sắc,
Cho
xe là cho lạc,
Cho
đèn là cho mắt.
Ai
cho chỗ trú xứ,
Vị
ấy cho tất cả,
Ai
giảng dạy Chánh pháp,
Vị
ấy cho bất tử.
III.
Ðồ Ăn (S.i,32)
Trời,
Người, cả hai loài,
Ðều
ưa thích ăn uống,
Vị
Dạ-xoa tên gì,
Lại
không thích ăn uống?
(Thế
Tôn):
Ai
cho với lòng tin,
Với
tâm tư thanh tịnh,
Ðược
phần món ăn ấy,
Ðời
này và đời sau.
Vậy
hãy ngừa xan tham,
Bố
thí, nhiếp cấu uế,
Hữu
tình vững an trú,
Công
đức trong đời sau.
IV.
Một Căn Rễ (S.i,32)
Một
rễ, hai phương diện,
Ba
uế, năm môi trường,
Biển
lớn, mười hai họa,
Vực
xoáy bậc Thánh siêu.
V.
Bậc Hoàn Toàn (S.i,33)
Bậc
viên mãn toàn diện,
Thấy
được nghĩa bí huyền,
Ban
phát chân trí tuệ,
Thoát
ly khỏi dục tạng,
Thấy
được bậc toàn trí,
Bậc
Thiện tuệ trí giác.
Vị
Ðại Thánh dấn bước,
Trên
con đường Thánh đạo.
VI.
Thiên Nữ (S.i,33)
Thiên
nữ đoàn tụ hội,
Ngạ
quỷ chúng tới lui,
Rừng
ấy danh rừng si,
Làm
sao có lối thoát?
(Thế
Tôn):
Ðường
ấy tên chơn trực,
Phương
ấy danh vô úy,
Cỗ
xe gọi vô thanh,
Với
pháp luân khéo ráp,
Tàm
là dàn xe dựa,
Niệm
là trướng màn xe,
Ta
nói vị đánh xe,
Tức
là chơn diệu pháp,
Và
chính chánh tri kiến,
Mau
chóng đi tiền phong.
Không
kể nam hay nữ,
Ðều
dùng cỗ xe ấy.
Chính
nhờ cỗ xe ấy,
Hướng
tiến đến Niết-bàn.
VII.
Trồng Rừng (S.i,33)
Những
ai ngày lẫn đêm,
Công
đức luôn tăng trưởng,
Trú
pháp, cụ túc giới,
Kẻ
nào sanh thiên giới?
Ai
trồng vườn, trồng rừng,
Ai
dựng xây cầu cống,
Ðào
giếng, cho nước uống,
Những
ai cho nhà cửa,
Những
vị ấy ngày đêm,
Công
đức luôn tăng trưởng,
Trú
pháp, cụ túc giới,
Những
vị ấy sanh Thiên.
VIII.
Kỳ Viên (S.i,33)
Ðây
là rừng Kỳ Viên.
Chỗ
trú xứ Thánh chúng,
Chỗ
ở đấng Pháp Vương,
Khiến
tâm con hoan hỷ.
Nghiệp
minh và tâm pháp,
Giới
và tối thắng mạng,
Chính
những diệu pháp ấy,
Khiến
chúng sanh thanh tịnh,
Không
phải vì dòng họ,
Không
phải vì tài sản.
Do
vậy bậc Hiền trí,
Thấy
lợi ích chính mình,
Chánh
giác sát tâm pháp,
Như
vậy được thanh tịnh.
Như
ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ
giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo
đến bờ giác,
Ở
đây là tối thượng.
IX.
Xan Tham (S.i,34)
Ở
đời kẻ xan tham,
Keo
kiết hay khước từ,
Tạo
nên những chướng ngại,
Ngăn
kẻ khác bố thí,
Ðời
này và đời sau,
Quả
báo họ là gì?
Chúng
con đến tại đây,
Chính
muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng
con muốn được biết,
Thế
Tôn đáp thế nào?
(Thế
Tôn):
Ở
đời kẻ xan tham,
Keo
kiết hay khước từ,
Tạo
nên những chướng ngại,
Ngăn
kẻ khác bố thí,
Bị
tái sanh địa ngục,
Bàng
sanh, Dạ-ma giới.
Nếu
được sanh làm người,
Sanh
gia đình nghèo khó,
Y,
thực, dục, hỷ lạc,
Họ
được rất khó khăn.
Ðiều
kẻ ngu ước vọng,
Họ
không thâu hoạch được,
Quả
hiện tại là vậy,
Ðời
sau sanh ác thú.
(Vị
Thiên):
Nhờ
những điều Ngài nói,
Chúng
con được hiểu vậy,
Tôn
giả Gotama,
Con
xin hỏi câu khác.
Ở
đây được thân người,
Từ
tốn không xan tham,
Tin
Phật và Chánh pháp,
Cùng
tôn trọng chúng Tăng,
Ðời
này và đời sau,
Quả
báo họ là gì?
Chúng
con đến tại đây,
Chính
muốn hỏi Thế Tôn,
Chúng
con muốn được biết,
Thế
Tôn đáp thế nào?
(Thế
Tôn):
Ở
đây được thân người,
Từ
tốn không xan tham,
Tin
Phật và Chánh pháp,
Cùng
tôn trọng chúng Tăng,
Họ
chói sáng chư Thiên,
Tại
đấy họ tái sanh.
Nếu
họ sanh làm người,
Họ
sanh nhà phú gia,
Y,
thực, dục, hỷ lạc,
Họ
được không khó khăn,
Như
các Tự tại thiên,
Hân
hoan được thọ hưởng,
Giữa
vật dụng tài sản,
Ðược
người khác quy tụ,
Quả
hiện tại là vậy,
Ðời
sau sanh Thiên giới.
X.
Thợ Ðồ Gốm (S.i,35) (Tạp 22.10 Vô phiền thiên, Ðại
2,159b) (Biệt Tạp, 9.29, Ðại 2,442b)
Ðược
sanh Vô phiền thiên,
Bảy
Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn
tận tham và sân,
Vượt
qua đời triền phược.
Vượt
bùn, họ là ai,
Khéo
vượt lệnh thần chết,
Sau
khi bỏ thân người,
Họ
thoát ách chư Thiên?
Họ
là Upaka,
Với
Pukkusàti,
Hợp
thành là ba vị,
Và
Phalaganda,
Lại
thêm Bhaddiya,
Với
Khandadeva,
Và
Bàhuraggi,
Cùng
với Pingiya,
Sau
khi bỏ thân người,
Họ
thoát ách chư Thiên.
(Thế
Tôn):
Người
nói điều tốt lành,
Về
bảy Tỷ-kheo ấy,
Họ
thoát ly, đoạn trừ,
Các
cạm bẫy Ma vương,
Pháp
họ biết, của ai,
Ðoạn
diệt hữu kiết sử?
(Ghatìkàra):
Không
ai ngoài Thế Tôn,
Chính
thật giáo lý Ngài,
Họ
biết pháp của Ngài,
Ðoạn
được hữu kiết sử.
Chỗ
nào danh và sắc,
Ðược
đoạn diệt, không dư,
Họ
học được pháp ấy,
Ở
đây từ nơi Ngài.
Nhờ
vậy họ đoạn trừ,
Hữu
kiết sử trói buộc.
(Thế
Tôn):
Lời
nói người thâm sâu,
Khó
biết, khó chứng ngộ,
Pháp
Ông biết của ai,
Sao
Ông không nói được?
(Ghatìkàra):
Thuở
xưa, con thợ gốm,
Tại
Vehalinga,
Và
con được tên gọi,
Là
Ghatìkàra.
Chính
con lo nuôi dưỡng,
Cả
mẹ lẫn cả cha,
Ðối
với Phật Ca-diếp,
Con
đệ tử tại gia.
Con
viễn ly dâm dục,
Phạm
hạnh, không thế vật,
Thuở
xưa con đồng hương,
Cũng
là bạn của họ,
Do
vậy con biết họ,
Bảy
Tỷ-kheo giải thoát,
Ðoạn
tận tham và sân,
Vượt
qua đời triền phược.
(Thế
Tôn):
Vậy
này Bhaggava,
Chính
như Ông vừa nói,
Thuở
xưa, Ông thợ gốm,
Tại
Vehalinga,
Và
Ông được tên gọi,
Là
Ghatìkàra.
Chính
Ông lo nuôi dưỡng,
Cả
mẹ lẫn cả cha,
Ðối
với Phật Ca-diếp,
Ông
đệ tử tại gia.
Ông
viễn ly dâm dục,
Phạm
hạnh, không thế vật.
Thuở
xưa Ông đồng hương,
Cũng
là bạn của Ta,
Như
vậy là hội ngộ,
Giữa
những bạn thời xưa,
Cả
hai khéo tu tập,
Mang
thân này tối hậu.
VI.
Phẩm Già
I.
Già (S.i,36)
--
Vật gì tốt đến già?
Vật
gì tốt kiên trú?
Vật
gì vật báu người?
Vật
gì cướp khó đoạt?
--
Giới là tốt đến già,
Tín
là tốt kiên trú,
Tuệ,
vật báu loài Người,
Công
đức, cướp khó đoạt.
II.
Không Già
--
Vật gì tốt không già?
Vật
gì tốt trường cửu?
Vật
gì vật báu người?
Vật
gì cướp không đoạt?
--
Giới là tốt không già,
Tín
là tốt trường cửu,
Tuệ,
vật báu loài Người,
Công
đức, cướp không đoạt.
III.
Bạn
--
Ai bạn kẻ đi đường?
Ai
bạn người ở nhà?
Ai
bạn khi cần thiết?
Ai
bạn cho đời sau?
Bạn
đường, bạn đi đường,
--
Bạn ở nhà là mẹ,
Bạn
bè khi cần thiết,
Mới
là bạn thường xuyên,
Công
đức tự mình làm,
Là
bạn cho đời sau.
IV.
Cơ Sở
--
Vật gì, cơ sở người?
Vật
gì, bạn tối thượng (ở đời)?
Hữu
tình gì trì mạng?
Y
cứ vào địa đại?
--
Con là cơ sở người,
Vợ
là bạn tối thượng,
Thần
mưa là trì mạng,
Y
cứ vào địa đại.
V.
Sanh Nhân
--
Cái gì sanh thành người?
Cái
gì luôn dong ruỗi?
Cái
gì chịu luân hồi?
Cái
gì người sợ hãi?
--
Ái dục sanh thành người,
Chính
tâm luôn dong ruỗi,
Chúng
sanh chịu luân hồi,
Ðau
khổ, người sợ hãi.
VI.
Sanh Nhân
--
Cái gì sanh thành người?
Cái
gì luôn dong ruỗi?
Cái
gì chịu luân hồi?
Vì
đâu, không giải thoát?
--
Ái dục sanh thành người,
Chính
tâm luôn rong ruỗi,
Chúng
sanh chịu luân hồi,
Vì
khổ, không giải thoát.
VII.
Sanh Nhân
--
Cái gì sanh thành người?
Cái
gì luôn dong ruỗi?
Cái
gì chịu luân hồi?
Cái
gì người nương tựa?
--
Ái dục sanh thành người,
Chính
tâm luôn dong ruỗi,
Chúng
sanh chịu luân hồi,
Chính
nghiệp, người nương tựa.
VIII.
Phi Ðạo
--
Cái gì gọi phi đạo?
Cái
gì diệt ngày đêm?
Cái
gì uế Phạm hạnh?
Cái
gì tắm không nước?
--
Tham dục gọi phi đạo,
Tuổi
tác diệt ngày đêm,
Nữ
nhân uế Phạm hạnh,
Khiến
loài Người hệ lụy,
Khổ
hạnh và Phạm hạnh,
Là
tắm không cần nước.
IX.
Người Bạn
--
Cái gì làm người bạn?
Cái
gì giáo hóa người?
Cái
gì người ái lạc?
Giải
thoát mọi khổ đau?
--
Tín thành làm bạn người,
Trí
tuệ giáo hóa người,
Người
ái lạc Niết-bàn,
Giải
thoát mọi khổ đau.
X.
Người Thi Sĩ
--
Vật gì nhân kệ tụng?
Vật
gì làm tự cú?
Vật
gì kệ y cứ?
Vật
gì kệ an trú?
--
Âm vận nhân kệ tụng,
Văn
tự làm tự cú,
Kệ
ý cứ đề danh,
Kệ
an trú thi nhân.
VII.
Phẩm Thắng (S.i,39)
I.
Danh (S.i,39)
--
Vật gì thắng tất cả?
Vật
gì không số hơn?
Và
có một pháp nào,
Mọi
vật đều tùy thuộc?
--
Danh vượt thắng tất cả,
Danh
không số nào hơn,
Chính
danh là một pháp,
Mọi
vật đều tùy thuộc.
II.
Tâm (S.i,39)
--
Vật gì dắt dẫn đời?
Vật
gì tự não hại?
Và
có một pháp nào,
Mọi
vật đều tùy thuộc?
--
Chính tâm dắt dẫn đời,
Chính
tâm tự não hại,
Chính
tâm là một pháp,
Mọi
vật đều tùy thuộc.
III.
Khát Ái (S.i,39)
--
Vật gì dẫn dắt đời?
Vật
gì tự não hại?
Và
có một pháp nào,
Mọi
vật đều tùy thuộc?
--
Chính ái là một đời,
Chính
ái tự não hại,
Chính
ái là một pháp,
Mọi
vật đều tùy thuộc.
IV.
Kiết Sử (S.i,39)
--
Vật gì trói buộc đời?
Vật
gì dẫn hành đời?
Do
đoạn trừ pháp gì,
Mới
được gọi Niết-bàn?
--
Chính hỷ trói buộc đời,
Tầm
cầu dẫn hành đời,
Do
đoạn trừ khát ái,
Mới
được gọi Niết-bàn.
V.
Triền Phược (S.i,39)
--
Vật gì triền phược đời?
Vật
gì dẫn hành đời?
Do
đoạn trừ pháp gì,
Mọi
triền phược đoạn diệt?
--
Chính hỷ triền phược đời,
Tầm
cầu dẫn hành đời,
Do
đoạn trừ khát ái,
Mọi
triền phược đoạn diệt.
VI.
Bị Áp Ðảo (S.i,40)
--
Vật gì áp đảo đời?
Vật
gì bao phủ đời?
Tên
gì bắn trúng đời?
Bởi
gì thường huân tập?
--
Sự chết áp đảo đời,
Già
nua bao phủ đời,
Tên
ái bắn trúng đời,
Bởi
dục, thường huân tập.
VII.
Bị Treo Cột (S.i,40)
--
Vật gì treo cột đời?
Vật
gì bao phủ đời?
Vật
gì đóng kín đời?
Trên
gì đời an trú?
--
Khát ái treo cột đời,
Già
nua bao phủ đời,
Sự
chết đóng kín đời,
Trên
khổ, đời an trú.
VIII.
Bị Ðóng Kín (S.i,40)
--
Vật gì đóng kín đời?
Trên
gì đời an trú?
Vật
gì treo cột đời?
Vật
gì bao phủ đời?
--
Sự chết đóng kín đời,
Trên
khổ, đời an trú,
Khát
ái treo cột đời,
Già
nua bao phủ đời.
IX.
Ước Muốn (S.i,40)
--
Vật gì trói buộc đời?
Ðiều
phục gì được thoát?
Vật
gì được đoạn trừ,
Khiến
mọi phược đoạn tận?
--
Ước muốn trói buộc đời,
Ðiều
phục dục được thoát,
Ước
muốn được đoạn trừ,
Mọi
triền phược đoạn tận.
X.
Ðời (Thế gian) (S.i,41)
--
Trên gì thế gian sanh?
Trên
gì được giao tiếp?
Thế
gian chấp trước gì?
Trên
gì đời khổ não?
--
Trên sáu, thế gian sanh,
Trên
sáu, được giao tiếp,
Thế
gian chấp trước sáu,
Trên
sáu, đời khổ não.
VIII.
Phẩm Ðoạn (S.i,41)
...
Ðứng một bên, vị Thiên nhân ấy nói lên bài kệ với Thế
Tôn:
I.
Ðoạn Sát (S.i,41)
Sát
vật gì được lạc?
Sát
vật gì không sầu?
Có
một pháp loại gì,
Ngài
tán đồng sát hại,
Tôn
giả Gotama?
(Thế
Tôn):
Sát
phẫn nộ được lạc,
Sát
phẫn nộ không sầu,
Phẫn
nộ với độc căn,
Với
vị ngọt tối thượng,
Pháp
ấy, bậc Thánh Hiền,
Tán
đồng sự sát hại.
Sát
pháp ấy không sầu,
Này
(Hiền giả) Thiên nhân.
II.
Cỗ Xe (S.i,41)
--
Cỗ xe hiện tướng gì?
Ngọn
lửa hiện tướng gì?
Vương
quốc hiện tướng gì?
Phụ
nữ hiện tướng gì?
--
Cờ hiện tướng cỗ xe,
Khói
hiện tướng ngọn lửa,
Vua
hiện tướng vương quốc,
Chồng
hiện tướng nữ nhân.
III.
Tài Sản (S.i,42)
--
Tài sản gì ở đời,
Ðối
người là tối thượng?
Sự
gì khéo tu trì,
Ðưa
đến chơn an lạc?
Vật
gì ngọt tối thượng,
Trong
tất cả vị ngọt?
Sống
cuộc sống thế nào,
Ðược
gọi sống tối thượng?
--
Lòng tin ở đời này,
Là
tài sản tối thượng.
Chánh
pháp khéo tu trì,
Ðưa
đến chơn an lạc.
Sự
thật ngọt tối thượng,
Trong
tất cả vị ngọt.
Sống
cuộc sống trí tuệ,
Ðược
gọi sống tối thượng.
IV.
Mưa (S.i,42)
Vật
gì được mọc lên,
Là
mọc lên tối thượng?
Vật
gì được rơi xuống,
Là
rơi xuống tối thượng?
Vật
gì thường bộ hành?
Vật
gì thuyết tối thượng?
(Một
Thiên nhân):
Hột
giống được mọc lên,
Là
mọc lên tối thượng.
Cơn
mưa được rơi xuống,
Là
rơi xuống tối thượng.
Con
bò thường bộ hành,
Con
trai thuyết tối thượng.
(Thế
Tôn):
Huệ
minh được mọc lên,
Là
mọc lên tối thượng.
Vô
minh được rơi xuống,
Là
rơi xuống tối thượng.
Tăng-già
thường bộ hành,
Ðức
Phật thuyết tối thượng.
V.
Khủng Bố (S.i,42)
Vì
sao ở đời này,
Rất
nhiều người sợ hãi,
Dầu
con đường đề cập,
Dưới
hình thức sai biệt?
Con
hỏi Gotama,
Bậc
trí tuệ sáng suốt,
Phải
an trú chỗ nào,
Khỏi
sợ hãi đời sau?
(Thế
Tôn):
Hãy
chánh trú lời, ý,
Thân
nghiệp chớ làm ác.
Nếu
an trú trong nhà,
Với
tài sản dồi dào,
Hãy
tín tâm, nhu hòa,
Chia
tài sản, hòa nhã.
An
trú bốn pháp này,
Không
sợ hãi đời sau.
VI.
Không Già (S.i,43)
--
Ai già, ai không già?
Thế
nào gọi phi đạo?
Vật
gì chướng ngại pháp?
Vật
gì đêm ngày diệt?
Vật
gì uế Phạm hạnh?
Vật
gì tắm không nước?
Ðời
bao nhiêu lỗ trống,
Trên
ấy, tâm không trú?
Con
đến hỏi Thế Tôn,
Mong
biết câu trả lời!
--
Sắc hữu tình bị già,
Danh
tánh lại không già,
Tham
dục gọi phi đạo,
Tham
ái, chướng ngại pháp.
Tuổi
tác đêm, ngày diệt,
Nữ
nhân uế Phạm hạnh,
Ðắm
trước trong uế này,
Là
toàn thể chúng sanh.
Khổ
hạnh và Phạm hạnh,
Là
tắm không cần nước,
Sáu
lỗ trống ở đời,
Trên
ấy, tâm không trú,
Biếng
nhác và phóng dật,
Uể
oải, không tự chế,
Thụy
miên và hôn trầm,
Cả
sáu lỗ trống này,
Cần
ly khai tất cả.
VII.
Tôn Chủ (S.i,43)
--
Vật gì chủ ở đời?
Hàng
hóa gì tối thượng?
Vật
gì làm rỉ sét,
Lưỡi
kiếm ở trên đời?
Vật
gì ở đời này,
Tác
thành cõi địa ngục?
Ai
đem đi, bị chận?
Ai
đem đi, được ưa?
Ai
thường xuyên đi lại,
Ðược
kẻ trí hoan hỷ?
--
Thế lực chủ ở đời,
Nữ
nhân, vật tối thượng.
Phẫn
nộ làm rỉ sét,
Lưỡi
kiếm ở trên đời.
Kẻ
trộm ở đời này,
Tác
thành cõi địa ngục.
Trộm
đem đi, bị chận,
Sa-môn
đem, được ưa,
Sa-môn
thường đi lại,
Ðược
kẻ trí hoan hỷ.
VIII.
Dục (S.i,44)
--
Nghĩ lợi, không cho ai,
Con
người từ bỏ gì?
Thiện
gì nên thốt ra?
Ác
gì nên ngăn chận?
--
Con người không cho mình,
Không
nên từ bỏ mình,
Lời
thiện, nên thốt ra,
Lời
ác, nên ngăn chận.
IX.
Lương Thực (S.i,44)
--
Cái gì cột lương thực?
Cái
gì hút tài sản?
Cái
gì lôi cuốn người?
Ở
đời, khó bỏ gì?
Cái
gì buộc phàm nhân,
Như
chim bị bẫy sập?
--
Lòng tin cột lương thực,
Thần
tài hút tài sản.
Lòng
muốn lôi cuốn người,
Ở
đời, muốn (icchà) khó bỏ.
Ham
muốn buộc phàm nhân,
Như
chim bị bẫy sập.
X.
Chớp (S.i,44)
--
Vật gì chiếu sáng đời?
Vật
gì thức tỉnh đời?
Ai
cọng nghiệp với người?
Cử
chỉ chúng là gì?
Ai
nuôi kẻ nhác, siêng,
Như
mẹ nuôi con cái?
Hữu
tình gì trì mạng,
Y
cứ vào địa đại?
--
Trí tuệ chiếu sáng đời,
Chánh
niệm thức tỉnh đời,
Bò
cọng nghiệp với người,
Ðường
cày là con đường.
Mưa
nuôi kẻ nhác, siêng,
Như
mẹ nuôi con cái.
Mưa
trì mạng chúng sanh,
Y
cứ vào địa đại.
XI.
Không Tranh Luận (S.i,44)
--
Ai không tranh luận đời?
Ai
sống không hoại diệt?
Ai
rõ ham muốn đời?
Ai
thường xuyên tự tại?
Ai
an trú như vậy,
Cha,
mẹ, anh đảnh lễ?
Ai
dầu có hạ sanh,
Ðược
Sát-lỵ tôn kính?
--
Sa-môn không tranh đời,
Sa-môn
sống không diệt,
Sa-môn
rõ dục vọng,
Sa-môn
thường tự tại,
Sa-môn
trú như vậy,
Cha,
mẹ, anh kính lễ.
Sa-môn
dầu hạ sanh,
Ðược
Sát-lỵ tôn kính.

|