TINH
THẦN VÔ NGÃ TRONG ĐẠO PHẬT
Thiện
Nhân
Là
người con Phật ai ai cũng nghe qua hai chữ ‘vô ngã’, nhưng
cái tinh thần vô ngã trong đạo Phật thì hình như ít có người
quan tâm, nhất là về phương diện áp dụng trong đời sống
hàng ngày.
Tôi
tin rằng đề tài ‘vô ngã’ đã có nhiều người viết,
thậm chí còn là một đề tài để giảng dạy trong các khoá
học về Phật Pháp nữa. Tuy nhiên về phương diện thực hành
thì có nhiều vấn đề cần được nêu ra ở đây.
Nghĩa
thông thường của hai chữ vô ngã rất đơn giản, mặc dù
nó là chữ Hán Việt. Trong phạm vi bài viết nầy, chúng ta
có thể bắt đầu với cái nghĩa đơn giản và bình dân là
nó trái ngược với ‘chấp ngã’ và đôi khi người ta còn
đối chiếu với ‘chấp hữu’ nữa.
Theo
lối định nghĩa bình dân thì vộ ngã chắc ai cũng biết vô
là ‘không’ còn ngã là ‘tôi’. Vậy ‘vô ngã’ có nghĩa
‘không có cái tôi’ hay ‘cái tôi’ không có thực’ theo
sự dẫn giải trong đạo Phật, tức là bản sắc của mọi
hình tướng mà chúng ta có thể thấy được bằng mắt thông
thường là do cái duyên kết hợp của nhiều thành phần vật
chất khác nhau. Nếu các thành phần nầy không có mặt thì
cái hình tướng đó sẽ không hiện hữu. Bản thân của mỗi
người chúng ta được kết hợp bằng bốn thứ vật chất
- đất, nước, gió, lửa. Nếu một trong những thứ nầy bị
kém khuyết hay thiếu hụt thì thân thể chúng ta có vấn đề
thường gọi bệnh!
Như
vừa nêu, vô ngã là không có cái tôi; ngược lại, chấp ngã
là có cái tôi. Đây là hai khía cạnh triết lý trái nghịch
nhau rất quan trọng trong đạo Phật, bởi vì nó chi phối mọi
hành vi như lời nói và hành động của con người.
Chúng
ta biết rằng, trong cuộc sống hàng ngày bất cứ cá nhân
nào cũng cần có người khác về hai nhu cầu vật chất và
tinh thần. Dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, không ai có thể
tồn tại được mà không cần phải nhờ vã hay lệ thuộc
vào người khác, ngoại trừ trường hợp người đó chỉ
sống bằng rau quả thiên nhiên và không cần đến bất cứ
một thứ vật chất nào do người khác tạo ra! Trường hợp
nầy hoàn toàn không có trong thế giới loài người!
Như
vậy, khi nhận biết cuộc sống của mình cần có người khác
thì mình phải nghĩ tới người khác; không biết ơn thì cũng
phải tôn trọng hay kính trọng họ như là những ân nhân của
mình, bất kể họ là người trên hay kẻ dưới thấp kém
hơn mình về một khía cạnh nào đó! Như vậy mới gọi là
người biết cách sống một cách hợp lý và công bằng.
Muốn
tỏ ra mình là một người biết cách sống hợp lý và công
bằng thì cần phải quên đi cái tôi của mình, tức là mình
không chấp ngã trong từng lời nói và hành động mỗi ngày.
Người chấp ngã được định nghĩa theo tinh nthần đạo Phật
với từ ngữ ‘cống cao ngã mạng’ còn theo từ ngữ thông
thường ngoài đời là người phách lối.
Tinh
thần vô ngã trong đạo Phật là kim chỉ nam trong cuộc sống
hàng ngày để giúp ta cư xử hài hoà với mọi người, biết
tôn trọng người khác cho dù mình đang đứng ở vị thế
nào trong tập thể loài người. Tinh thần nầy phải được
thể hiện bằng hành động và lời nói. Một ông thầy dạy
cho học trò phải biết khiêm tốn mà chính ông thầy không
có thái độ khiêm tốn là một điều nghịch lý vô cùng.
Hai chữ khiêm tốn phát xuất từ tinh thần vô ngã trong đạo
Phật, tức là phải biết hạn chế thái độ cống cao ngã
mạn và tưởng mình là quan trọng.
Một
giảng sư dạy về thuyết vô ngã mà không thực hành cái thuyết
nầy trong các tình huống sinh hoạt thực tế ngoài đời, thì
đương nhiên sẽ bị các đạo sinh đánh giá thấp. Nhờ được
giảng dạy mà đạo sinh biết được cái thần vô ngã trong
đạo Phật; nếu vị giảng sư không áp dụng tinh thần nầy
trong sinh hoạt hàng ngày thì sẽ bị chính các môn đệ của
mình đặt vấn đề. Đó chính là ‘gậy ông đập lưng ông’
vậy! Tuy nhiên truyền thống của đạo Phật không cho phép
môn đệ phê bình, chỉ trích chư tăng vì họ sợ phạm giới.
Ở
ngoài đời, nhất là trong các xã hội dân chủ, giới lãnh
đạo thu nhận ý kiến của quần chúng để đưa ra các chính
sách ‘hợp lòng dân’. Trong các tổ chức chuyên môn, người
ta cũng thường thu góp ý kiến của nhiều người để có
quyết định về một vấn đề gì đó. Phương thức thu góp
ý kiến chung thường là các buổi họp của tổ chức. Trong
sinh hoạt Phật Giáo cũng vậy, có nhiều buổi họp khác nhau,
thông thường được tổ chức riêng cho giới tì kheo và riêng
cho một số thành viên trong Ban Trị Sự. Mục đích các buổi
họp như vậy là để đúc kết các quyết định chung trước
khi thực hiện các công tác Phật sự bởi một vài thành viên
được phân nhiệm trong phiên họp. Như vậy, khi một thành
viên không được phân nhiệm mà thực hiện một công tác
nào đó thì có thể gây xáo trộn hay bất hoà trong sinh hoạt
của tổ chức. Có nhiều khi một thành viên được phân nhiệm,
khi thừa hành thì lại không theo đúng tinh thần quyết định
chung của tập thể trong phiên họp. Đây là một trường hợp
thiếu tinh thần vô ngã, vì họ tự quyết định trong hành
động của mình, vì họ tự cho rằng mình có thẩm quyền
quyết định, mặc dù nó trái ngược với quyết định của
tập thể trong một phiên họp.
Thái
độ tự quyết định tuỳ hứng như vậy đã gây ra biết
bao khó khăn cho tổ chức. Nó còn là một thái độ coi thường
người khác, kể cả người chỉ huy của mình. Và như vậy
không làm sao tránh được sự bất hoà trong một tổ chức,
không làm sao đạt được hiệu quả tốt trong việc điều
hành tổ chức.
Người
lãnh đạo có nhiều khi cũng bó tay vì không muốn gây thêm
sự xáo trộn hay bất hoà trong tổ chức. Do đó người lãnh
đạo có rất nhiều khó khăn phải đương đầu bằng nhẫn
nhục, kiên trì thật đáng kính.
Một
thành viên cống cao ngã mạn, coi cái tôi của mình lớn quá,
mà không có cơ hội tự nhìn lại chính mình để biết mình
có đi lạc đường hay hay không thì bản thân sẽ không được
tinh tấn trên con đường học đạo đồng thời gây ra nhiều
khó khăn cho tổ chức.
Mỗi
cá nhân thành viên trong một tổ chức Phật Giáo cần phải
có cơ hội thúc đẩy để tự quán chiếu để hy vọng biết
được hành vi, thái độ của mình có theo đúng giáo pháp
hay không. Nếu cứ chủ quan, nghĩ mình am hiểu, cứ bước
đi theo phương cách cá nhân, không có cơ hội tự quán chiếu
trong tinh thần giác ngộ của đạo Phật thì làm sao tránh
khỏi những sai lầm đáng tiếc trong hành vi, lời nói của
mình? Chủ quan chính là chấp ngã, là tự coi mình là hay, là
đúng, hoàn toàn đối nghịch với tinh thần vô ngã trong đạo
Phật.
Một
sư cô đưa ra nhận xét khá chua cay về thái độ của một
số cư sĩ tại một đạo tràng nọ: ‘Sau khi họ tham dự
một vài khoá tu, họ tưởng mình đã thành Phật rồi!’ Dù
đây chỉ là một nhận xét cá nhân, không có gì bảo đảm
trung thực 100%; tuy nhiên nó cũng phản ảnh một hiện tượng
thiếu tinh thần vô ngã trong đạo Phật, nhất là trong giới
cư sĩ có ý chí tu học để biết thêm giáo lý của Đức
Phật; ngặt nỗi cái ‘biết’ thật khó đo lường mà người
ta chỉ có thể tự đánh giá về cái ‘biết’ của mình
mà thôi. Bản chất của sự hiểu biết đã là trừu tượng
rồi, còn lệ thuộc vào sự ‘tự đánh giá’ nữa thì ôi
thôi sự hiểu biết của con người thật là mơ hồ và rất
dễ chủ quan, chưa kể ‘biết’ mà không thực hành thì lại
càng không có nghĩa lý gì! Trên đời nầy, có mấy ai đo lường
được cái mình biết là bao nhiêu? Nói cho cùng, sự hiểu
biết còn gọi là ‘kiến thức’ không phải của riêng ai
hết. Một cá nhân có được một chút hiểu biết về một
vấn đề gì đó cũng chỉ qua là vay mượn của người khác
mà thôi. Vay mượn từ sách vỡ, từ ‘giảng sư’, hay từ
bạn bè thân hữu cũng chỉ là vay mượn! Vậy thì trong tinh
thần đạo Phật, chúng ta không ‘vay mượn’ của người
khác làm của mình, tức là chúng ta không chấp hữu, bởi
vì chấp hữu hay nhận làm của mình những thứ không phải
là của mình, tự nó phản lại tinh thần vô ngã trong đạo
Phật như đã định nghĩa ở trên – đã không có cái ‘tôi’
thì làm gì có những thứ khác, kể cả cái gọi là kiến
thức?
Hiện
tượng bất hoà trong một tổ chức Phật Giáo gây ra do chính
các thành viên không thể hiện tinh thần vô ngã trong đạo
Phật. Trong sinh hoạt Phật Giáo, mục tiêu tối thượng của
mỗi người là muốn tạo cho mình có thêm phước báu, duyên
lành để hy vọng được về một cảnh giới an lạc của
Đức Phật sau khi lìa trần. Nhưng tiếc thay có nhiều người
vì hăng say với công việc hay vì thiếu tinh thần vô ngã trong
đạo Phật, đã đi lạc hướng và quên cái mục tiêu tối
thượng của mình. Bao nhiêu công sức họ bỏ ra trong công
tác Phật sự do đó mà không còn có ý nghĩa theo mục tiêu
ban đầu.
Vấn
đề cốt lỏi là làm sao phổ biến được tinh thần vô ngã
trong đạo Phật để cho mọi người noi theo? Xem chừng như
chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn giữa vô
ngã và chấp ngã, giữa giới lãnh đạo và người thừa hành,
bởi vì chúng ta chưa có giải pháp để làm sao cho mọi người
giác ngộ hay tự quán chiếu để tránh được thái độ ngã
mạn trong từng hành vi và lời nói khi tiếp cận với mọi
người chung quanh. Tự nhận biết được khi nào mình có thái
độ chấp ngã để tránh, chính là một bước tiến thành
công theo tinh thần giác ngộ của đạo Phật vậy.
Thiện
Nhân
Melbourne
tháng 8 năm 2008
08-26-2008
04:23:15