I.
MỞ MÀN ĐẠO PHẬT BẰNG SỰ GIÁC NGỘ
Chúng
ta xét lại cho tột nguồn xem, Đạo Phật có ra từ đâu? Và
Phật pháp còn lưu truyền cho đến ngày nay là bắt đầu từ
đâu mà có? Quả thật là bắt nguồn từ sự giác ngộ của
Đức Phật Thích Ca chứ gì? Tức la sau bao năm đi tìm học
vị thầy này, vị thầy nọ, cuối cùng thái tử Tất Đạt-Đa
không thỏa mãn, Ngài bèn từ giã hết, đến cội Tất-bát-la
ngồi thiền suốt 49 ngày đêm, đến đêm 49 khi sao mai mọc
Ngài bừng dậy Giác ngộ thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, được gọi là Phật và cây Tất-bát-la được
gọi là cây Bồ-đề cũng bắt đầu từ đó.
Chính
từ ÁNH SÁNG GIÁC NGỘ đó, Phật đi thuyết pháp giáo hóa
chúng sanh, rồi thành lập tăng đoàn, có Phật Pháp Tăng đầy
đủ trên thế gian, có tín đồ Phật tử nương về tu học,
tức có đạo Phật.
Sau
này, chư Tổ tiếp nối theo con đường Phật chỉ lại đó
mà tu hành và thực chứng sự giác ngộ ấy ngay chính mình,
rồi truyền tiếp qua cho người cùng cảm nhận được lẽ
thật đó, chứng minh hùng hồn cho ánh sáng chân lý trên là
đúng như thật, không phải điều lý thuyết suông chỉ có
trên ngôn ngữ. Cho nên chúng ta chín chắn nhìn kỹ lại hẳn
thấy rõ, những giáo pháp được Phật nói ra đều từ ánh
sáng giác ngộ đó mà lưu xuất. Thiếu ánh sáng giác ngộ
đó thì Phật pháp có còn là Phật pháp chăng? Hay chỉ là
những trang chữ nghĩa chết?
Ngài
Lâm Tế từng nói: “Thế nào là pháp? Pháp, chính là tâm
pháp, tâm pháp không hình, thông suốt cả mười phương, hiện
dừng ngay trước mắt. Người tin chẳng kịp bèn nhận danh,
nhận cú, nhằm trong văn tự muốn suy lường Phật pháp, thật
cách xa trời đất!”.
Ở
đây Ngài Lâm Tế xác định rõ, pháp thật chính là tâm, rời
ngoài tâm không có pháp thật nào hết. Nếu người cứ bám
vào trong văn tự, chữ nghĩa để tìm Phật pháp, hẳn không
thể thấy Phật pháp thật. Bởi vì giác ngộ là ở nơi tâm,
từ “tâm giác ngộ” mới thấy được Pháp và chính từ
đó mới nói ra pháp, do đó, pháp có nói ra, cốt đều chỉ
cho người trở về bản tâm là gốc. Đây là một lẽ thật
trên hết, người học Phật không thể quên.
II.
NGHĨA PHẬT LÀ GÌ?
Tên
Phật, nói đủ là PHẬT ĐÀ ĐA, Trung Hoa dịch là Giác giả,
tức một người đã giác ngộ. Như vậy rõ ràng ý nghĩa trong
đây vốn chỉ Đức Phật là một con người đã Giác ngộ
hoàn toàn viên mãn chứ không gì lạ. Trước khi thành đạo,
Ngài sanh ra là một con người như bao nhiêu con người khác,
cũng có cha, có mẹ, có vợ, có con, có sanh, có tử, có tìm
thầy học đạo v.v…, nhưng đặc biệt Ngài không giống như
mọi người là, không chấp nhận một dòng đời vô nghĩa
như bao nhiêu người đang sống. Ngài không an phận trong kiếp
người sanh già bệnh chết này, mà quyết tìm cách vươn lên,
quyết tìm con đường để giải quyết cái khổ “truyền
kiếp” này!
Với
con người, ai nấy đều cho đó là một định luật từ ngàn
xưa để lại không thể làm sao hơn, nhưng với Ngài, Ngài
quyết phải thắng được định luật đó. Điều mà bao nhiêu
con người cho là “vốn như thế”, với Ngài thì “Không
phải vốn như thế” mà nó “phải có nguyên nhân của nó”,
tìm được nguyên nhân tưc liền có cách giải quyết xong.
Do đó Ngài sẵn sàng vượt thành xuất gia, bỏ lại đàng
sau mọi sự nghiệp cao sang của thế gian, quyết tìm nguyên
nhân đưa đến cuộc sanh tử luân hồi triền miên này, không
thể cúi đầu chấp nhận như thế được, và quả nhiên Ngài
đã thành công.
Trong
kinh Tương Ưng Bộ, bài kinh Đại Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm, Phật
tự thuật:
- Thưở
xưa, này các Tỳ kheo, trước khi ta giác ngộ, chưa chứng Chánh
Đẳng Giác, còn là Bồ Tát, tư tưởng sau đây được khởi
lên:
“Thật
sự thế giới này bĩ hãm trong khổ não, bị sanh, bị già,
bị chết, bị đoạn diệt và bị tái sanh; và từ nơi đau
khổ này, không biết sự xuất ly, thoát khỏi già chết từ
nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến sự
xuất ly già chết”.
Rồi
này các Tỳ kheo, ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt;
già chết có mặt? Do duyên gì, già chết sanh khởi?” Rồi
này các Tỳ kheo, sau khi như lý tư duy, nhờ trí tuệ, ta phát
sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già chết có mặt.
Do duyên sanh nên già chết sanh khởi”.
Rồi
này các Tỳ kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ
trí tuệ, ta phát sinh minh kiến như sau: “Do vô minh có mặt
nên hành có mặt. Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.
Như
vậy vô minh duyên hành, hành duyên thức… (như trên)… hữu
duyên sanh, sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh
khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
“Tập
khởi, tập khởi”, này các Tỳ kheo, đối với các pháp từ
trước chưa từng được nghe, chính nơi ta, nhãn khởi lên,
trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên”.
Rồi
này các Tỳ kheo, ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì không có
mặt, già chết không có mặt? Do cái gì diệt, nên già chết
diệt? “Rồi này các Tỳ kheo, sau khi như lý tư duy về vấn
đề này, nhờ trí tuệ, ta phát sinh minh kiến như sau: “Do
sanh có mặt nên già chết có mặt. Do sanh diệt nên già chết
diệt”.
Rồi
này các Tỳ kheo, ta lại suy nghĩ như sau: “Cái gì có mặt,
sanh không có mặt… hữu… thủ… ái… thọ… xúc… sáu
xứ… danh sắc… thức… hành… Do cái gì diệt, hành diệt”.
Rồi
này các Tỳ kheo, sau khi như lý tư duy về vấn đề này, nhờ
trí tuệ, ta phát sinh minh kiến như sau: “Do vô minh có mặt
nên hành có mặt> Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.
Như
vậy, vô minh diệt hành diệt; hành diệt, thức diệt… như
vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ Khổ uẩn này.
“Đoạn
diệt, đoạn diệt”, này các Tỳ kheo, đối với các pháp
từ trước chưa từng được nghe, chính nơi ta nhãn khởi lên,
trí khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên”.
(Tương
Ưng Bộ Tập II, trang 24-26)
Tức
là Đức Phật phăng tìm nguyên nhân của lão tử, phăng đến
tột cùng liền khám phá ra chính vô minh là gốc sanh khởi
để tập thành mười hai nhân duyên, đó là sự tập khởi
của toàn bộ khổ uẩn mà tất cả chúng sanh phải mang lấy
trong cuộc luân hồi này.
Dứt
vô minh, theo đó các duyên đều dứt, sanh tử khổ não dừng,
là giải quyết xong vấn đề sanh tử triền miên từ vô thủy
đến nay.
Nghĩa
là, do mê mờ bản thể chân thật, lầm chấp các Ngã giả
dối này, từ đó sanh tâm động niệm, tạo nghiệp dẫn thức
đi thọ sanh dài dài trong sáu nẻo không dứt! Ngay đó, Ngài
giác ngộ phá tan vô minh; không chỗ để sanh tâm động niệm,
cắt đứt dòng sanh tử từ vô thủy, giải quyết xong cái
khổ truyền kiếp của con người nói riêng, của chúng sanh
nói chung, đem lại NIỀM TIN cho tất cả thế gian. VẤN ĐỀ
SANH TỬ ĐÃ CÓ CÁCH GIẢI QUYẾT RỒI!
Từ
đó có câu: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ
thành”, xác định rõ, ai ai cũng đầu có khả năng giải
quyết vấn đề đó cả.
Hoặc
câu: “Kia đã trượng phu, ta đây cũng thế”. Đức Phật
là một con người, Ngài làm được việc đó, ta cũng là một
con người, tại sao không thể làm được? Đâu thể tự khinh
mình!
Trong
Kinh Tạng Nikaya, có bài Kinh kể rằng: Một hôm Phật đi trên
đường để lại những dấu chân in sâu trên đất. Có một
vị Bà la môn tên Dona giỏi về tướng số, thấy dấu chân
có xoáy ốc, biết là tướng phi phàm, ông liền đi theo dấu
chân tìm đến gặp Phật. Ông hỏi:
- Ngài
có phải tiên không?
Phật
bảo:
- Ta
không phải tiên.
- Ngài
có phải A tu la không?
- Ta
không phải A tu la.
- Ngài
có phải Dạ xoa không?
- Ta
không phải Dạ xoa.
- Ngài
có phải người không?
- Ta
không phải người.
- Thế
Ngài là gì?
- Phật
bảo:
- Nếu
Tiên mà sạch hết lậu hoặc thì ta là tiên. Nếu A tu la mà
sạch hết lậu hoặc thì ta là A tu la. Nếu Dạ xoa mà sạch
hết lậu hoặc thì ta người. Còn ta, vì đã qua hết các lậu
hoặc nên ta là Phật, là Thế Tôn.
Như
vậy, Tiên, A tu la, Dạ xoa đều có Phật, nếu sạch lậu hoặc
tức những phiền não mê lầm khiến mình rơi rớt trong sinh
tử luân hồi. Hay nói ngược lại, Phật vốn có đủ trong
tất cả, nếu Tiên, A tu la, Dạ xoa mà sạch hết lậu hoặc,
tức đã chuyển cái tên Tiên, A tu la… thành tên Phật, tên
Thánh rồi. Đây là một ý nghĩa rất quan trọng, từ đó càng
làm sáng tỏ tinh thần vô ngã tuyệt vời trong đạo Giác ngộ;
nghĩa là, chúng sanh không cố định là chúng sanh, Phật không
cố định là Phật, nên mới có chuyển chúng sanh thành Phật.
Mê không cố định mê mãi, mà có thể chuyển “mê” thành
“giác”, không còn phải mặc cảm tội lỗi để chìm sâu
trong đường tối tăm. Đều có thể chuyển hết! Đó là một
niềm tin vững mạnh để vươn lên, một chân lý bình đẳng
cao tuyệt, một ánh sáng hy vọng đềy vui sướng! CHÚNG TA
KHÔNG PHẢI LÀM CHÚNG SANH MÊ MUỘI MÃI MÃI!
Thử
hỏi còn chân lý nào hơn thế nữa?
III.
NÓI ĐẾN ĐẠO PHẬT LÀ NÓI ĐẾN GIÁC NGỘ
Rõ
được ý nghĩa trên, chúng ta thấy chắc chắn không nghi ngờ:
Nói đến đạp Phật là nói đến giác ngộ, đây là điều
không thể thiếu, nhưng giác ngộ có cạn, có sâu tùy trình
độ mỗi người.
Nếu
cạn thì giác ngộ điều dở, điều xấu để bỏ, làm điều
lành, điều tốt để chuyển hóa tâm hồn ngay trong cuộc sống
của mình.
Lên
bậc nữa, là giác ngộ vô thường, vô ngã, giác cái nhân
sanh tử, mê lầm Ái ngã khiến dứt sạch thì đạt vô sanh-Niết
bàn.
Tiến
lên nữa, giác bản tánh chân thật bất sanh bất diệt cùng
Phật không khác, giác Phật tánh sẵn có nơi mỗi chúng sanh.
Mê bản tánh này là căn bản vô minh, là mở đường đi vào
cuộc luân hồi từ vô thỉ! Giác bản tánh này là con đường
thành Phật.
Vậy
có ai không bản tánh này? Không bản tánh sao có mặt trên
đời? Rồi tu hành để làm gì? Sự thật, tu hành cuối cùng
là giác ngộ bản tánh chân thật này và sống trọn vẹn trong
ấy thôi. Chưa giác ngộ bản tánh này là chưa tội con đường
giác ngộ. Kinh Pháp Hoa, Phật đã xác định rõ:
“Chỉ một việc này thật,
Có hai chẳng phải chân”.
- Trong
Huyết Mạch Luận, Tổ Sư bảo: “Phật nói tất cả chúng
sanh trọn là người mê, nhân đây tạo nghiệp, rơi vào sông
sanh tử, muốn ra lại vào, chỉ vì chẳng thấy tánh. Chúng
sanh nếu chẳng mê nhân đâu hỏi đến việc trong ấy, không
có một người lãnh hội được, tự nhà mình giơ tay, động
chân vì sao chẳng biết?”.
Là
việc chúng ta sống hằng ngày đây, giơ tay, động chân đó
nhưng hỏi đến lại lờ mờ không biết, cứ đi nhận những
cái đâu đâu, không mê là gì? Hãy xét kỹ xem: ai xen vào trong
ta để làm những chuyện đó? Quả thật không ai khác xen vào,
vậy tại sao mình không rõ? Cho nên, mỗi người cần giác
ngộ trở lại chỗ này, đó chính là bản hoài Phật ra đời
mà Kinh Pháp Hoa Đức Phật đã thổ lộ rõ ràng: “Các Đức
Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh KHAI TRI KIẾN PHẬT để
được thanh tịnh mà hiện ra đời; vì muốn cho chúng sanh
TỎ NGỘ TRI KIẾN PHẬT mà hiện ra đời”.
Nói
đơn giản là, Chư Phật ra đời chỉ vì một vịêc: “Chỉ
bày” cho chúng sanh “ngộ nhập” TRI KIẾN PHẬT chứ không
có gì khác. Mà TRI KIẾN PHẬT tức cái “thấy biết giác
ngộ” chứ gì!
Rõ
ràng đến với đạo Phật là đến với giác ngộ không còn
nghi ngờ!
IV.
GIÁC NGỘ Ở ĐÂU?
Chính
đây là điểm quan trọng. Không rõ được điểm này, cứ
lo chạy tìm đâu đâu, thì càng tìm càng xa, có khi lầm lẫn
dễ bị gạt!
Chúng
ta hãy nhớ lại, Đức Phật Thích Ca sau bao năm tìm học ở
các vị thầy, cuối cùng Ngài buông hết đến dưới cội
bồ đề ngồi thiền định, rồi Giác ngộ, vậy giác ngộ
đó từ đâu đến? Người học Phật đều biết rằng, khi
thấy sao mai mọc, Ngài giác ngộ ngộ thành đạo Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, vậy trước khi sao mai mọc, đạo Chánh
Đẳng Giác đó ở đâu? Đến khi sao mai mọc, Nó ở đâu chạy
lại khiến Ngài Giác? Rõ ràng Giác đó, chính là tâm Giác
thôi, quyết không thể có gì khác. Giác ngộ vốn ở ngay nơi
tâm, ngoài tâm tìm giác ngộ, đó là giác ngộ trong kinh điển,
trong sách vở ghi chép lại.
Cũng
trong Huyết Mạch Luận, Tổ Sư bảo: “Phật là tự tâm mình
làm thành, nhân đâu lìa ngoài tâm này tìm kiếm Phật? Phật
trước, Phật sau chỉ nói tâm ấy, Tâm tức là Phật, Phật
tức là tâm, ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm. Nếu
nói ngoài tâm có Phật, Phật ở chỗ nào?”
Đây
Tổ xác định rõ, Phật chính tự tâm chúng ta làm thành, không
thể tìm đâu khác. Bởi, ngoài tâm làm sao có giác? Ngoài tâm,
Phật lấy cái gì giác? Cái giác đó ở đâu? Lẽ thật rõ
ràng như thế ! Mà ai không có tâm? Không có tâm hẳn đã thành
người thiên cổ rồi! Vậy ai cũng có tâm, thì quyết đều
có Giác không nghi ngờ.
Chính
đoạn đầu trong Huyết Mạch Luận, Tổ Sư bảo: “Ông hỏi
tôi chính là tâm ông, tôi đáp ông chính là tâm tôi. Nếu
tôi không có tâm, nhân đâu biết đáp ông? Nếu ông không
có tâm, nhân đâu biết hỏi tôi? Hỏi tôi chính là tâm ông,
từ vô thỉ kiếp lâu xa đến nay, cho đến mọi hành động
tạo tác, trong tất cả thời, tất cả chỗ đều là bản
tâm ông, đều là bản Phật của ông. Tức tâm là Phật cũng
lại như thế. Trừ ngoài tâm này, không Phật nào khác có
thể được, lìa ngoài tâm này tìm bồ đề, Niết Bàn không
có lẽ ấy”.
Thử
hỏi, ai không có việc hỏi đáp ấy? Nhưng tại sao không nhận?
Rồi lại đi tìm hỏi nơi người? Đã là tự tâm mình, sao
lại đến người hỏi? Và nên nhớ, ngoài tâm tìm Bồ đề,
Niết Bàn, đó là Bồ đề, Niết Bàn trên sách vở, chữ nghĩa,
không phải Bồ đề , Niết Bàn thật. Tuy nhiên chỗ này phải
chính chắn, nếu hấp tấp cũng dễ lầm. Bảo rằng: “Hỏi
tôi chính là tâm ông, đáp ông chính là tâm tôi”. Quả thật,
nếu không có tâm, làm sao có việc hỏi đáp đó, nhưng nếu
nhận cái hỏi đáp đó làm tâm thì sao? Khi không hỏi đáp,
liền không có tâm! Vậy đó là cái sanh diệt rồi! Vì hỏi
đáp là động, im lặng không hỏi đáp là tịnh, cũng thuộc
hai đầu động tịnh, sao gọi là bản tâm? Cần rõ, đây là
nhân cái “Dụng” nhắc người nhận lại cái “Thể Biết”
chưa từng động tịnh kìa! Tức cái gốc phát ra mọi động
dụng đó. Chỗ này làm sao lý luận đến được.
V.
CẦN CHỨNG NGHIỆM.
Đến
chỗ cứu cánh chân thật là phải tự chứng nghiệm thôi,
ngoài ra không có cách gì khác để biết.Chính Đức Phật
ngay từ buổi đầu mới thành đạo Ngài đã ngầm nói lên
ý đó rồi. Tức là thành đạo xong, Ngài do dự không muốn
đi thuyết pháp, đợi Phạm Thiên thỉnh mấy phen Ngài mới
hứa khả. Trong Kinh Thánh Cầu – Trung Bộ, chính Phật đã
thuật lại: “Này các Tỳ kheo, rồi ra suy nghĩ như sau: Pháp
này do ta chứng được thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng,
tích tĩnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người
trí mới hiểu thấu”.
Và
trong Kinh Tạp A Hàm tập II, bài kinh 404, lúc Phật ở tại
nhà phước đức, nơi Rừng Trúc, thành Vương Xá, cùng chúng
tỳ kheo đi đến rừng Thân Thứ, Ngài nắm một nắm lá trong
tay, hỏi các tỳ kheo: “Lá cây trong tay ta nhiều hay lá cây
trong rừng nhiều?”. Các Tỳ kheo đáp: “Lá cây trong tay Phật
rất ít, còn lá cây trong rừng nhiều không tính kể”. Phật
liền bảo: “Ta thành Đẳng Chánh Giác, những pháp do ta tự
thấy mà vì người giảng nói chỉ ít như lá cây trong tay.
Còn chánh pháp ta tự tri khi thành Đẳng Chánh Giác mà không
nói ra thì nhiều như lá cây trong rừng”.
Tại
sao Phật tu hành giác ngộ, rồi Ngài không muốn nói lại cho
người? Phật nói rõ: “Vì pháp ấy sâu kín, khó thấy, vượt
ngoài mọi lý luận, chỉ người trí mới hiểu thấu”. Tức
ngầm chỉ, chỗ Ngài chứng đó, vốn vượt ngoài ngôn ngữ,
danh tự, bỏ xa lý luận, suy nghĩ hiểu biết, chỉ có người
tự chứng mới cảm thông thôi. Vậy làm sao nói đây? Chính
đó là Phật đã ngầm nhắc cho hàng đệ tử sau này, phải
thấy thấu đến chỗ sâu kín đó, chớ kẹt trên ngôn ngữ
nói năng của Ngài đã nói ra, vậy mà đệ tử về sau cũng
vẫn kẹt!
Rồi
Phật đã xác nhận, những điều Ngài đã nói ra, chỉ là
nắm lá trong tay thôi, còn những điều Ngài chưa nói hết
được như lá cây trong rừng. Như vậy chứng minh rõ ràng,
dù chúng ta học cả Tam tạng kinh điển, cũng chỉ là học
nắm lá trong tay Phật, còn lại vô số lá cây trong rừng kia
làm sao học? Nếu không học thấu được chỗ này, làm sao
thấy được Phật? Điều này chính là Phật ngầm nhắc: chúng
ta phải học thấu qua nắm lá trong tay đó, phải vượt qua
ngôn ngữ văn tự, tự thể nhận, tự chứng nghiệm ngay chính
mình, bằng sức sống giác ngộ chân thật đó, chúng ta mới
cảm thông được Phật! Mới thầm hợp ý Phật!
Tổ
Lâm Tế từng bảo: : Đại đức! ông nhớ nhận chiếc áo,
chiếc áo chẳng biết cử động. Chính người hay mặc áo,
có chiếc áo thanh tịnh, có chiếc áo vô sanh, áo bồ đề,
áo niết bàn, áo Tổ, áo Phật. Đại Đức! Chỉ có tiếng
gọi, lời nói thảy đều là sự biến đổi của chiếc áo.
Do từ huyệt khí hải dưới rốn kích động lên đôi hàm
răng mà phát ra thành câu có ý nghĩa, biết rõ là huyễn hóa”.
Đây Tổ Lâm Tế nói rõ, Phật, Tổ, Bồ đề, Niết bàn cũng
là danh từ, thuộc áo mặc bên ngoài thôi. Người chân thật
học đạo cần thấu rõ, cái gì là bồ đề, Niết bàn? Cái
gì là Phật, Tổ? Đó mới là trọng yếu! Không thể chết
cứng trên những danh từ kia. Vì vậy nhà Thiền có câu: “Hạnh
giải tương ưng, danh vi viết Tổ” tức là hiểu và hành
khế hợp nhau, gọi đó là Tổ. Nếu nói: Tôi giác ngộ! Tôi
thấy tánh! Tôi tự tại! Dễ quá! Nhưng thật có giác ngộ,
thật có thấy tánh, thật có tự tại chăng? Hẳn còn là việc
khác.
Trong
nhà Thiền có đoạn nhân duyên: Một Thiền sư ở trên núi,
nhân có việc xuống núi, lúc trở về gặp một người cư
sĩ cưỡi ngựa chạy ngang qua, ông cư sĩ thấy sư bèn gò cương
ngựa lại hỏi:
- Thầy
đi về đâu?
Thiền
sư đáp:
- Tôi
về đạo tràng.
Cư
sĩ nói:
- Nơi
nơi đều là đạo tràng, vậy thầy về chỗ nào?
Bất
ngờ, Thiền sư thoi vào hông cư sĩ bảo:
- Kẻ
vô lễ! Đã đến đạo tràng mà không xuống ngựa!
Cư
sĩ câm họng.
Cho
thấy, ông cư sĩ học nói đâu đâu cũng là đạo tràng, nhưng
bị Thiền sư gạn lại đành câm họng. Rõ ràng ông chưa có
chỗ sống chân thật, chưa tự mình cảm nghiệm qua. Nếu quả
thật ông cư sĩ có chỗ sống chân thật hẳn hoi, thì tự
có câu trả lời dễ dàng thôi.
Này
nhé! Đã là “đâu đâu cũng là đạo tràng” thì “ngồi
trên lưng ngựa cũng là đạo tràng”! Chỉ có thế thôi mà
đáp không được, mới thấy chỗ thật, hư đâu để lừa
dối.
VI.
TÓM KẾT
Bắt
nguồn của đạo Phật là từ giác ngộ, vậy người học
Phật cũng phải có giác ngộ không thể thiếu. Thực tế giác
ngộ không phải cái gì xa lạ, ở đâu đâu, mà ở chính ngay
Tâm người thôi, thì tại sao chúng ta không chịu khai thác
ra? Điều xác quyết chắc chắn là, Giác ngộ không thể có
trong sách vở chữ nghĩa, sách vở chữ nghĩa hẳn không thể
ghi chép được ánh sáng giác ngộ. Đừng phí công giam mình
trong những cái khuôn chết đó, mà phải tự sống dậy ngay
chính mình.
Ai
ai cũng có tâm thì ai ai cũng có quyền giác, không ai có thể
ngăn cản ai. Đây là một lẽ thật bình đẳng cho tất cả,
và cũng chính là điểm đặc biệt trong nhà Phật. Rất là
nhân bản, rất là con người!
Phật
chỉ là một “Đạo sư” tức là vị thầy dẫn đường,
chỉ lối thôi, còn lại là mỗi người phải tự đi không
thể ỷ lại vào ai khác. Nghĩa là, mỗi người các ông phải
tự giác cũng như Ta đã giác, không có việc chỉ về quỳ
dưới chân ta. Trên thế gian này, thử tìm chân lý nào tốt
đẹp hơn?
Đây
xin kết thúc bằng bài kệ của cổ đức;
Ngã tâm bổn dữ Phật tâm tề
Khoáng kiếp phiêu trầm chỉ vị mê.
Bồ đề phạm ngự, Đường ngôn giác
Tâm tịch nhi tri thị bồ đề.
Nghĩa
Tâm ta tâm Phật vốn không hai,
Nhiều kiếp nổi chìm bởi tại mê.
Tiếng phạn bồ đề, Hán gọi giác,
Tâm “tịch” mà “tri” ấy bồ đề.
Tâm
ta – Tâm Phật cũng một tâm. Nói Bồ đề, nói giác cũng
là danh từ, cần giác ngộ trở lại ngay chỗ tâm “tịch”
mà “tri” ấy! Tức phải nhớ kỹ: tịch mà tri, nghĩa là
“lặng” mà “biết”, “biết” mà “lặng”, phải đủ
hai nghĩa như thế không thể thiếu một. Lặng mà thiếu Biết
là mê mờ, Biết mà thiếu Lặng là động khởi, là sinh diệt
lăng xăng. Còn ngay cái Biết mà lặng lẽ không một đối
tượng gì, không một bạn bè nào, thì Phật, Tổ hiện sáng
ngời trong đó!
Phật
pháp sâu xa mầu nhiệm không thể nghĩ bàn chính ngay đây,
khỏi tìm đâu khác.
Người
thật tâm đến với Phật pháp không thể bỏ qua chỗ này!
Phật
ra đời hay thành đạo là ngay từ đó mà thôi!
Thích
Thông Phương
(Thiền
Viện Thường Chiếu)
07-23-2008
07:34:45