LÊ THỊ Ỷ
LAN
Lê
Thị ỷ Lan, tên thực và năm sinh đều chưa rõ (1), xuất thân
từ trong một gia đình nông dân, người hương Thổ Lỗi, lộ
Bắc Giang (2). Nhân một chuyến tuần du đến Thổ Lỗi, vua
Lý Thánh Tông (1054-1072) bắt gặp bà đang hái dâu. Trong lúc
mọi người đi xem xa giá của vua thì bà vẫn đứng dựa vào
cây lan mà hát. Vua lấy làm lạ, cho vời tới hỏi, sau đó
đón vào cung lập làm phu nhân, đặt hiệu ỷ Lan (dựa gốc
cây lan), rồi lại phong là Linh Nhân.
Với
cương vị Nguyên phi, bà đã thay vua Lý Thánh Tông lo việc
nội trị trong thời gian vua đi đánh Chiêm thành (1069) (3).
Bà còn bỏ tiền trong nội phủ ra chuộc những người con
gái nhà nghèo phải đi ở đợ rồi gả cho những người chưa
vợ. Việc làm đó được nhân dân ghi nhớ, gọi tên là "Quan
âm". Bà cũng là người hâm mộ đạo Phật, từng đi du ngoạn
nhiều nơi để tìm cảnh đẹp rồi cho xây tháp, dựng chùa.
Mặc dầu vậy, vào những năm cuối đời mình, bà vẫn không
quên chú ý đến đời sống của dân chúng. Trước khi mất
vài ba tháng, bà còn khuyên vua ra lệnh cấm tệ giết trâu
bò bừa bãi để dân đủ trâu cày, thoát khỏi tình trạng
mấy nhà cày chung một con trâu. Mất ngày 25 tháng Chín năm
Đinh Dậu, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ tám (tức
ngày 22 tháng Mười năm 1117).
Tác
phẩm: còn một bài kệ.
(1)
Theo Hoàng Xuân Hãn thì một học giả đời Tống là Thẩm
Hoạt đã ghi tên bà là Lê Thị Yến Loan (trong sách Mộng khê
bút đàm). Nhưng Hoàng Xuân Hãn cho rằng đây chỉ là ghi theo
âm, nên có thể chữ Yến Loan là do ỷ Lan ghi chệch, cũng
như mấy chữ Lý Thường Kiệt, chính sách đó ghi thành Lý
Thượng Cát.
(2)
Hương Thổ Lỗi: theo Đại Việt sử ký toàn thư, thì vào
năm thứ nhất, niên hiệu Thiên Huống Bảo Tượng đời Lý
Thánh Tông (1068), hương Thổ Lỗi đổi tên là hương Siêu
Loại. Nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.
(3)
Trong Việt sử thông giam vương mục, Tự Đức tỏ ý nghi ngờ
sự việc này. Có thể đây là việc làm của bà Thái hậu
họ Dương (vợ chính), mà sử nhầm lẫn chăng?
Sắc không
Sắc thị
không, không tức sắc,
Không
thị sắc, sắc tức không.
Sắc,
không câu bất quản,
Phương
đắc khế chân tông.
Dịch nghĩa:
Sắc và
không (1)
Sắc là
không, không tức là sắc,
Không
là sắc, sắc tức là không.
Sắc,
không đều chẳng vấn vương gì,
Thì mới
khế hợp được với chân tông.
Dịch thơ:
Sắc là
không, không tức sắc,
Không
là sắc, sắc tức không.
Sắc không
đều chẳng quản,
Mới khế
hợp chân tông.
Hoa Bằng
(Tạp
chí Tri tân)
Chú thích:
(1) Đầu
đề do chúng tôi thêm. Bài này ỷ Lan làm sau khi đàm đạo
với đại sư Thông Biện về những tôn chỉ của đạo Thiền.
LÝ NGỌC KIỀU
(Diệu Nhân) [1041 - 1113]
Lý
Ngọc Kiều người hương Phù Đổng, huyện Tiên Du, là con
gái đầu của Phụng càn vương (1), được vua Lý Thánh Tông
(1054 - 1072) nuôi dạy ở trong cung từ nhỏ. Khi đến tuổi
trưởng thành, vua đem gả cho người họ Lê làm châu mục
châu Chân Đăng (2). Chồng chết, bà không chịu tái giá, bèn
cắt tóc đi tu, được Thiền sư Chân Không ở hương Phù Đổng
chỉ bảo và đặt pháp danh cho là Ni sư Diệu Nhân, trở thành
người đứng đầu thế hệ thứ mười bảy, dòng thiền Nam
phương. Mất ngày 1 tháng Sáu năm Quý Tî, niên hiệu Hội Tường
Đại Khánh thứ tư (tức ngày 15 tháng Bảy năm 1113), thọ
72 tuổi. Bà và ỷ Lan là hai nữ sĩ đời Lý.
Tác
phẩm: còn một bài kệ nói về bốn nỗi khổ trong một đời
người theo quan niệm nhà Phật.
(1)
Phụng càn vương: tức là Lý Nhật Trung (?-?), con Lý Thái Tông.
(2)
Châu Chân Đăng: tức vùng Tam Nông, Hưng Hóa đời sau. Nay thuộc
tỉnh Phú Thọ.
Sinh lão
bệnh tử
Sinh lão
bệnh tử,
Tự cổ
thường nhiên.
Dục cầu
xuất ly,
Giải
phọc thiêm triền.
Mê chi
cầu Phật,
Hoặc
chi cầu Thiền.
Thiền
Phật bất cầu,
Đỗ khẩu
vô nghiên (ngôn).
Dịch nghĩa:
Sinh lão
bệnh tử (1)
Sinh, lão,
bệnh, tử,
Lẽ thường
xưa nay vẫn thế.
Muốn
cầu siêu thoát,
Nhưng
cởi trói cũng chính là buộc chặt thêm.
Mê muội
thì mới cầu Phật,
Nhầm
lẫn thì mới cầu Thiền.
Chẳng
cầu Thiền, chẳng cầu Phật,
Mím mồm
lại, không nói gì.
Dịch thơ:
Sinh, lão,
bệnh, tử,
Lẽ thường
tự nhiên.
Muốn
cầu siêu thoát,
Càng trói
buộc thêm.
Mê, phải
cầu Phật,
Hoặc,
phải cầu Thiền.
Chẳng
cầu Thiền, Phật,
Mím miệng
ngồi yên.
Nguyễn
đức Vân, Đào phương Bình
Chú
thích:
(1) Đầu
đề do chúng tôi thêm. Sinh, lão, bệnh, tử là bốn nỗi khổ
trong một đời người, theo quan niệm của nhà Phật.
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@e.>
Date:
Wed Jul3, 2002 9:12 pm
Subject:
Thơ Thiền : Diệu Nhân
Chào
quý đạo hữu,
Trong
một mesg trước tôi có nhắc tới câu thơ của bà Diệu Nhân,
đời Lý. Có một đạo hữu muốn tôi nói thêm về nữ thiền
sư nàỵ Tôi tìm lại trong archives của Hoasen-1 bản dịch thơ
dưới đây do đạo hữu Tịnh Thủy posted ngày 3/8/02, nhân
ngày phụ nữ quốc tế. Sau đây là phần tiểu sử do tôi
chép lại. Ðể ý theo tài liệu trong sách nữ thiền sư
Diệu Nhân được gọi là "sư".
Diệu Nhân
(1041- 1113), nữ thiền sư Việt Nam thuộc phái Tì-Ni-Ða-Luư
Chi đời thứ 17. Sư nối pháp thiền sư Chân Không.
Sư tên
Ngọc Kiều là trưởng nữ của Phụng Loát Vương. Thuở nhỏ
sư đã có phong cách thuần hậu, đoan trang, được vua Lý Thánh
Tông nuôi trong cung. Lớn lên vua gả cho một người họ Lệ
Khi chồng sớm qua đời, sư tự thệ thủ tiết không chịu
tái giá.
Một hôm
sư tự than :" Ta tự xem các pháp trong thế gian như giấc mộng,
huyễn ảo, huống là các thứ phù vinh mà đáng trông cậy
sao !". Sau đó, sư đem tất cả tư trang ra bố thí và xuất
gia cầu đạọ Sư đến thiền sư Chân Không tại làng Phù
Ðổng xin xuất gia, thụ giới Bồ Tát. Chân Không ban cho pháp
danh Diệu Nhân và truyền cho yếu chỉ Thiền Tông. Sau đó,
Chân Không khuyên sư đến làng Phù Ðổng, Tiên Du , trụ trì
chùa Hương Hải (cũng được gọi là chùa Linh Ứng).Tại đây
sư thường dạy chúng:" Chỉ Tánh mình trở về nguồn, đốn
tiệm liền tuỳ đó mà vào". Thường ngày, sư chỉ ngồi lặng
lẽ, không thích thanh sắc, ngôn ngữ. Có người thấy vậy
liền hỏi :" Tất cả chúng sinh bệnh, nên ta bệnh. Tại sao
lại kỵ thanh sắc ? ". Sư dùng kệ trong kinh Kim Cang đáp :"
Ðừng dùng sắc thấy ta, âm thanh nhận ra ta ". Lại hỏi :"
Tại sao ngồi yên ?".Sư đáp:" Xưa nay không đi". Hỏi :" Thế
nào chẳng nói ?". Sư đáp :" Ðạo vốn không lời ".
-
Năm Hội
Tường Ðại Khánh thứ tư, ngày mùng một tháng Sáu, sư có
bệnh, gọi chúng lại nói kệ sau đây . Nói kệ xong, sư cạo
tóc, tắm rửa rồi ngồi kiết già viên tịch, thọ 72 tuổị