THIỀN
UYỂN TẬP ANH TỰ
(Bài
Tựa sách Thiền uyển tập anh)
THIỀN
PHÁI VÔ NGÔN THÔNG
Tại
sao lại lấy nghĩa là “Thiền uyển tập anh”? Đáp rằng:
“đó là lấy nghĩa lựa chọn những bậc anh tú trong vườn
Thiền. Tại sao lại như vậy? Bởi vì môn đồ của Thiền
tông thì nhiều mà những bậc thấu hiểu lý huyền vi thì
không có mấy, quả thật như phượng giữa đàn gà, lan trong
bụi cỏ. Nừu không phải là những người có thiên tư lỗi
lạc, hiểu biết hơn người thì làm sao thấu suốt được
những yếu chỉ huyền vi đủ làm kẻ lãnh tụ cho người
học đạo, làm khuôn mẫu cho người đời sau? Đúng là trong
vườn Thiền những người anh kỳ không phải nhiều, do đó
phải chọn lấy những bậc danh cao đức trọng để tiện
cho những người học Phật noi theo. Cái nghĩa của “Tập
anh” là như thế, do đó được dùng để đặt tên cho tập
sách này.
Kể
từ buổi đầu thời hỗn độn(1) có Phật Uy Âm(2) xuất thế
là đấng tị tị tố của Thiền tông. Nhưng thời bấy giờ
phong tục còn thuần hậu, con người chất phác, kinh giáo còn
ở giữa cõi hư không nên chưa cần nói ra để hóa độ chúng
sinh. Nhà nào lấy ma làm Phật thì nhà ấy dối trá ngày sinh,
gian dâm ngày càng nổi lên, nghiệp căn càng kết, tội chướng
càng sâu, không giúp cho họ bằng con thuyền từ bi tế độ
thì không thể được. Cho nên Phật Thích Ca xuất hiện ở
cõi Sa Bà(1) giảng kinh thuyết kệ để giáo hóa chúng sinh,
trải tu chính kiếp, công quả tròn đầy. Thế là Phật giáo
được thi hành rộng khắp, Thiền tông tiếp nối. Gió đưa
hơi thanh mát cho sáu đạo(2), tuyết vùi lửa bỏng cháu ở
ba đường(3). Bí quyết thành Phật, thành Tổ cũng từ đây
mở mối.
Nước
Đại Việt ta được lời Phật thấm nhuần khắp cả, được
mưa pháp gội sóng nhiều nơi, người cạo tóc xuất gia được
ấn chứng ngô đạo có lẽ cũng đã có rồi. Chứng tích để
lại còn cho thấy lòng thiền của họ sáng như mặt trời,
gương đạo của họ trắng ngời như băng tuyết. Có bậc
ra giúp nước yên thân, có người vào đời để cứu vớt
kẻ bị sa ngã, chìm đắm. Có người sớm lĩnh ngộ tâm ấn,
chống gậy Thiền để làm rõ lẽ cơ vi của Tổ Đạt Ma,
cũng có kẻ muộn đến cửa huyền mà làm hiển rạng bí chú
của Đồ Trừng(4). Họ có đức thuần phục chim rừng, khiến
chúng tìm đến cửa nghe kinh, khiến đã thú vây tụ quanh(5),
vào nhà dâng quà. Đó là do lòng thành của các bậc ấy cảm
hóa mà chúng tin theo, do cái học sở đắc mà các bậc ấy
có phép thần thông biến hóa. Há chẳng phải đó là cái huyền
diệu của phép sư đệ truyền tâm ấn(1) đó sao? Thực đủ
để làm những bậc anh tú trong vườn Thiền.
Than
ôi! Đạo Phật rất huyền vi, mà tâm là cái huyền vi trong
huyền vi; đạo Phật rất lớn mà tâm là cái lớn trong cái
lớn. Tâm ơi! Tâm ơi! Tâm là chủ tể của việc tu đạo đấy
chăng?
Tập
Thiền uyển này ghi từ thiền sư Vô Ngôn Thông là người
bắt đầu truyền đạo(2). Ánh đèn truyền đạo tiếp nối,
ngọn ngọn huy hoàng. Nhưng rộng thì làm gọn lại, lớn thì
thu nhỏ lại. Cuối cùng cốt đạt cho được cái tâm Vô thượng
chính giác(3) vậy. Xét cho cùng thì phải chăng là không rửa
sạch sáu trần(4), xa lìa bốn tướng(5) mà có thể đạt được
như vậy?
Tôi
vốn học sách Nho, tham cầu Phật điển, nghĩ rằng cái “vô”,
cái “hữu” tuy là hai đường nhưng xét cho cùng thì tựa
như cùng một lý. Nhân khi rỗi rãi ngồi trong phòng sách, có
một nhà sư đến chơi, cùng tôi bàn luận về đạo Phật,
trò chuyện hồi lâu đều là những chuyện lông rùa sừng
thỏ. Rồi nhà sư lấy trong tay áo ra cuốn sách Tập anh, nhờ
tôi sửa sang câu cú để tiện việc trùng sang, tránh được
sai sót. Tôi đọc trong sách ấy thấy ghi chép nhiều bậc cao
tăng, danh tố, sức học của họ rất sâu, chứng đạo rất
diệu, bất giác trong lòng tôn kính khâm phục. Các bậc ấy
bàn về đạo không, nói về sự giác ngộ, cố nhiên không
phải là phận sự của tôi. Nhưng Kinh Dịch từng nói: “Trẻ
nhỏ cầu ta kể chuyện, không thể không nghe theo”. Tôi đành
phải nhận lời với nhà sư sửa lại chỗ sai, bổ vào chỗ
sót. Trong khoảng mười ngày thì nghĩa lý, câu chữ của tập
sách lại được uyển chuyển như cũ, chẳng khác gì ánh trăng
càng thêm sáng tỏ. Nhà sư nhân đó xin tôi viết cho một bài
tựa khắc ở đầu sách để hiển dương Phật giáo. Tôi không
dám tiếc công sức bèn gọi tiểu đồng đem giấy bút đến
để làm theo lời nhà sư chỉ bảo. Bèn cầm bút thảo một
mạch bài tựa quê mùa này. Nhà sư vái chào nhận bài tựa
ấy.
Kính
cẩn đề tựa.
Thời
Lê Triều, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), tháng tư, ngày
lành, trùng san.
Môn
đồ nối bước Thiền tông là Thích tử Như Trí;
Sa
di Tính Nhu, Tính Quán, Tính Trung, Tính Huy, Tính Kiến, Tính
Bản.
Thiện
nam: Tính Phận, Tính Thành, Tính Từ, Tính Hưng, Tính Minh, Tính
Thúy.
Thiện
nữ: Diệu Tăng, Diệu Đạo, Tính Phụng(1)
THIỀN
PHÁI VÔ NGÔN THÔNG
Thiền
sư VÔ NGÔN THÔNG
(?
-826)
Chùa
Kiến Sơ(1) hương Phủ Đổng, huyện Tiên Du.
Thiền
sư họ Trịnh, vốn người Quảng Châu (Trung Quốc) thuở nhỏ
ham thích môn Không học(2), bỏ gia sản đến thụ nghiệp tại
chùa Song Lâm ở Vụ Châu. Tính sư cẩn trọng, trầm lặng,
nói ít hiểu nhiều, thông đạt sư lý, vì thế người đương
thời gọi là Vô Ngôn Thông (sách Truyền đăng chép là Bất
ngữ thông)(3)
Một
hôm sư đang lễ Phật, có vị thiền khách đến hỏi:
- Thầy
đang lễ gì đó?
Sư
đáp:
- Lễ
Phật.
Vị
thiền khách chỉ tượng Phật mà hỏi:
- Đây
là cái gì?
Sư
không trả lời được. Tối hôm ấy, sư ăn mặc chỉnh tề
dến lạy vị thiền khách, thưa rằng:
- Hôm
nay thầy hỏi, tôi chưa hiểu rõ ý chỉ thế nào?
Khách
hỏi:
- Thầy
xuất gia đến nay đã mấy hạ (1)?
Sư
đáp:
- Mười
hạ.
Khách
hỏi:
- Đã
từng xuất gia chưa?
Sư
tỏ ra bối rối. Khách hỏi:
- Nếu
không hiểu điều đó thì dù trăm hạ cũng chẳng ích gì.
Nói
đoạn bèn dẫn sư cùng đi yết kiến Mã Tổ (2). Đến Giang
Tây thì tổ đã thị tích(3) vị thiền khách bèn đưa sư đến
yết kiến thiền sư Bách Trượng Hoài Hải(4). Bây giờ có
vị tăng hỏi bách Trượng.
- Thế
nào là pháp môn đốn ngộ của Đại Thừa?
Bách
Trượng đáp:
- Đất
lòng rỗng không thì mặt trời trí tuệ tự chiếu.
Sư
nghe lời nói ấy cảm thấy có điều sở đắc, bèn trở về
trụ trì tại chùa Hòa An ở Quảng Châu. Có người hỏi sư:
- Thầy
là thiền sư chăng?
Sư
đáp:
- Bần
đạo chưa từng học Thiền.
Hồi
lâu sau sư mới gọi người kia, chỉ vào cây thôi lư (cây
xoan)(1). Người ấy im lặng không hỏi nữa.
Khi
thiền sư Ngưỡng Sơn(2) còn làm sa di(3), sư từng gọi bảo:
- Này
Tịch, đem chiếc giường kia lại đây cho ta!
Ngưỡng
Sơn khiêng giường đến, sư lại nói:
- Đưa
về chỗ cũ!
Ngưỡng
Sơn làm đúng như thế. Sư lại hỏi:
- Này
Tịch, bên kia có cái gì?
Ngưỡng
Sơn đáp:
- Không
có vật gì.
Sư
lại hỏi:
- Bên
này có gì?
Đáp:
- Không
có vật gì.
Sư
gọi:
- Này
Tịch!
Ngưỡng
Sơn dạ đáp, sư bảo:
- Đi
đi!
Tháng
chín năm Canh Tí niên hiệu Đường Nguyên Hòa thứ 15 (820),
sư đến chùa Kiến Sơ. Ngoài hai bữa cơm cháo, suốt ngày
sư chỉ ngồi quay mặt vào tường, không nói một lời, chuyên
chú tu tập thiền định làm vui. Suốt mấy năm liền như thế
nên người ngoài không ai biết sư, chỉ có sư trụ trù chùa
là Cảm Thành hết lòng kính cẩn hầu hạ. Cảm Thành gần
gũi bên cạnh sư để học hỏi những điều cơ vi huyền diệu,
hiểu rõ yếu chi của Thiền Tông.
Một
hôm sư không bệnh, tắm rửa, thay quần áo rồi gọi Cảm
Thành đến bảo:
- Ngày
trước tổ ta là Nam Nhạc Hoài Nhượng thiền sư, khi quy tịch
có bảo rằng:
Nhất
thiết chư pháp
Giai
tòng tâm sinh
Tâm
vô sở sinh
Pháp
vô sở trụ
Nhược
đạt tâm địa
Sở
tác vô ngại
Phi
ngộ thượng căn
Thận
vật khinh hứa.
Tất
cả các pháp
Đều
từ tâm sinh
Tâm
không chỗ sinh
Pháp
không chỗ trụ
Nếu
đạt đất lòng
Làm
gì chẳng ngại
Không
gặp thượng căn
Cẩn
thận chớ nói(2)
Nói
đoạn sư chắp tay mà qua đời. Thiền sư Cảm Thành làm lễ
hỏa táng(3) rồi thu xá lị, dựng tháp phụng thờ ở núi
Tiên Du. Bây giờ là ngày 12 tháng giêng năm Bính Ngọ niên
hiệu Bảo Lịch thứ 2 (826) thời cuộc Đường.
Lại
cách hai mươi tám năm (?) đến năm Đinh Sửu niên hiệu Khai
Hựu thứ 24 (1337)(1) Thiền học nước Việt ta bắt đầu từ
[Vô Ngôn] Thông thiền sư(2) ở chùa Kiến Sơ vậy.
Thế
hệ thứ nhất(1)
Thiền
sư CẢM THÀNH
(?-860)
Chùa
Kiến Sơ.
Thiền
sư là người huyện Tiên du, họ(2)... Lúc mới xuất gia ở
tụng kinh làm đầu. Phụ hào trong làng là ông họ Nguyễn
kính mộ đ núi Tiên Du thuộc bản quân, đạo hiệu là Lập
Đức. Lấy việc trì giới ức hạnh cao cả của sư, tự nguyện
cúng gia trạch làm chùa, mời sư đến trụ trì nhưng sư từ
chối. Đêm ấy sư chiêm bao thấy thần nhân đến bảo: “Nếu
làm theo chí nguyện của nhà họ Nguyễn thì chỉ chừng vài
năm sẽ gặp may lớn”. Vì thế sư bèn nhận lời mời của
ông họ Nguyễn (chùa ấy chính là chùa Kiến Sơ ở hương
Phù Đổng).
Sau
đó không bao lâu, Thông thiền sư đến. Sư biết đó không
phải là người thường, ngày đêm hầu hạ chưa từng biếng
trễ. Thông thiền sư cảm động lòng thành khẩn của Lập
Đức bèn đổi tên cho là Cảm Thành.
Một
hôm Thông thiền sư bảo Cảm Thành:
- Xưa
Thế tôn vì nhân duyên lớn mà xuất hiện ở thế gian. Hóa
duyên xong ngài nhập Niết Bàn. Diệu tâm ấy gọi là chính
pháp nhân tạng, thực tướng, vô tướng và tam muội pháp
môn. Đích thân Thế tôn giao cho đệ tử là tôn già Ma Ha Ca
Diếp(1) làm tổ thứ nhất, các đời nối truyền, đến Đạt
Ma đại sư(2) từ Tây Trúc sang trải bao hiểm nguy vì truyền
pháp này. Đến tổ thứ sáu Tào Khê (Huệ Năng) được tổ
thứ năm (Hoằng Nhẫn) bảo cho biết rằng(3) “Khi Đạt Ma
mới đến, người đời chưa tin hiểu nên lấy việc truyền
y bát đề tỏ rõ việc đắc pháp. Nay đức tin đã chín muồi,
y bát có thể trở thành đầu mối tranh chấp cho nên phải
dừng lại ở ngươi, không truyền tiếp nữa”. Từ đó chỉ
lấy tâm truyền tâm, không truyền y bát.
“Bây
giờ Nam Nhạc Hoài Nhượng là người đầu tiên được truyền
tâm pháp. Nhượng truyền cho Mã Tổ Đạo Nhất. Đạo Nhất
truyền cho Bách Trượng Hoài Hải. Ta nhận được tâm pháp
ở Bách Trượng. Phép đó tử lâu đã có tiếng vang, nghe ở
phương này(4) đã có đông người hâm mộ Đại Thừa, vậy
nên ta đến để tìm kẻ thiện trí thức. Nay ta gặp ngươi
cũng là nhờ có nhân duyên kiếp trước. Hãy nghe lời kệ
của ta:
Chư
phương hạo hạo
Võng
tự huyên truyền
Vi
ngô thủy tổ
Thân
tự Tây Thiên
Truyền
pháp nhãn tạng
Mục
vi chi thiền
Nhất
hoa ngũ diệp
Chủng
tử miêm miên
Tiềm
phù mật ngữ
Thiên
vạn hữu duyên
Hàm
vị Tâm tông
Thanh
tịnh bản nhiên
Tây
Thiên thử thổ
Thử
thổ Tây Thiên
Cổ
kim nhật nguyệt
Cổ
kim sơn xuyên
Xúc
đồ thành trệ
Phật
tổ thành oan
Sai
chi hào ly
Thất
chi bách thiên
Nhữ
thiện quan sát
Mạc
khiểm nhi tôn
Trực
nhiêu vấn ngã
Ngã
bản vô ngôn.
Dịch:
Các
nơi đồn đại
Dối
tự trạo truyền
Rằng
thủy tổ ta
Gốc
tự Tây Thiên
Truyền
pháp nhân tạng
Gọi
đấy là Thiền
Một
hoa năm lá
Hạt
giống liên miên
Ngầm
hợp mật ngữ
Muôn
ngàn có duyên
Tâm
tông đều gọi
Thanh
tịnh bản nhiên
Tây
Thiên cõi này
Cõi
này Tây Thiên
Xưa
nay nhật nguyệt
Xưa
nay sơn xuyên
Chạm
đến thành trệ
Phật
tổ thành oan
Sai
một mảy may
Đi
mất trăm ngàn
Ngươi
khéo quan sát
Chớ
lừa cháu con
Nói
thẳng đến ta
Ta
vốn vô ngôn
MINH
CHI
(LSPGVN)
Sư
nghe lời kệ của tổ liền tỉnh ngộ.
Có
vị tăng hỏi:
- Thế
nào là Phật?
Sư
đáp:
- Khắp
tất cả mọi nơi.
Lại
hỏi:
- Thế
nào là Phật tâm?
Đáp:
- Chưa
từng che giấu.
Người
ấy lại nói:
- Kẻ
học đạo này chưa hiểu.
Sư
đáp:
- Ngươi
trượt qua rồi!
Sau
thiền sư không bệnh mà qua đời. Bấy giờ là năm Canh thìn
niên hiệu Đường Hàm Thông thứ 1 (860).
*
* *
Thế
hệ thứ hai
1 người
Thiền
sư THIỆN HỘI
(?
– 901)
Chùa
Dịnh Thiền, hương Siêu Loại(1)
Thiền
sư người hương Điển Lãnh, thủa nhỏ xuất gia theo hầu
sư Tiệm Nguyên ở chùa Đông Lâm thuộc bản hương, tự hiệu
là Tổ Phong. Ông từng vân du nhiều nơi để cầu học yếu
chỉ Thiền tông. Gặp thiền sư Cảm Thành ở chùa Kiên Sơ
bàn theo hầu để học đạo, hơn mười năm không lúc nào
tỏ ra mỏi mệt. Một hôm sư vào phòng hỏi thầy:
- Trong
kinh nói Thích Ca Như Lai tu hành trải qua ba “A tăng kỳ”(2)
mới thành Phật. Nay thầy lại nói “Tâm tức Phật, Phật
tức tâm”, đệ tử chưa hiểu rõ, xin thầy dạy bảo cho.
Cảm
Thành hỏi:
- Ngươi
bảo trong kinh nói, tức là ai nói?
Sư
đáp:
- Chẳng
lẽ đó không phải là lời Phật hay sao?
Cảm
Thành nói:
- Nếu
là Phật nói thì tại sao trong kinh Văn Thủ lại nói: “Ta
ở thế gian bốn mươi chín năm chưa nói một chữ dạy người”?
Vả
lại cổ nhân nói nếu tìm văn để làm chứng thì càng thêm
ngưng trệ: khổ hạnh mà cầu Phật là mê muội, lìa tâm cầu
Phật thì đó là kẻ ngoại đạo. Cứ nắm chấp cái tâm coi
là Phật thì đó là Ma quân.
Sư
hỏi:
- Như
thế trong cái tâm ấy, cái gì không phải là Phật? Cái gì
chính là Phật?
- Cảm
Thành đáp:
- Xưa
có người hỏi Mã Tổ: “Tâm tức là Phật, Phật tức là
tâm, vậy cái gì là Phật?” Mã Tố đáp “Ngươi ngỡ cái
gì không phải là Phật thì chỉ ta xem?”. Người kia không
trả lời được. Mã Tổ nói: “Hiểu thấu được thì khắp
nơi đều là Phật. Không giác ngộ thì sai lầm mãi”. Chỉ
một thoại đồ ấy ngươi đã hiểu chưa?(1)
- Đệ
tử đã lĩnh ngộ rồi.
Cảm
thành nói:
- Người
lĩnh ngộ thế nào?
Sư
đáp:
- Khắp
mọi nơi chẳng đâu không phải là tâm Phật.
Nói
xong bèn sụp xuống lạy tạ. Cảm Thành nói:
Vậy
là ngươi hiểu đúng rồi.
Nhân
đó Cảm Thành đặt tên cho sư là Thiện Hội.
Về
sau thiền sư thị tịch ở bản chùa. Đó là năm Canh thân
niên hiệu Đường Quang Hòa thứ 3 (901).
*
* *
Thế
hệ thứ ba
Thiền
sư VÂN PHONG
(?-957)
Chùa
Khai Quốc(1) kinh đô Thăng Long
Thiền
sư người huyện Từ Liêm, quận Vĩnh Khang, họ Nguyễn còn
có một pháp danh khác là Chủ Phong thiền sư. Khi mang thai bà
mẹ thường trai giới, tụng kinh niêm Phật. Đến khi sinh thấy
hào quang tỏa sáng khắp nhà, cha mẹ cho là điều lạ, có
ý định ngày sau sẽ cho con xuất gia. Lớn lên theo hầu thiền
sư Thiện Hội ở hương Siêu Loại. Sư thường hầu chuyện
riêng với thầy để được làm đệ tử thân tín, có dịp
hỏi han những điều huyền vi, hiểu biết Thiền học ngày
càng tăng tiến. Thiện Hội từng bảo sư:
- Sống
chết là việc lớn, cần phải suy ngẫm cho thấu đáo
Sư
hỏi:
- Khi
sống, chết đến, làm sao mà tránh?
Thiện
Hội đáp.
- Phải
nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh.
Lại
hỏi:
- Thế
nào là chỗ không sống chết?
Đáp:
- Phải
ở trong sống chết mới nhận biết được.
Hỏi:
- Làm
thế nào mà tìm được?
Thiện
Hội nói:
- Ngươi
hãy đi đi! Chiều muộn lại đến!
Sư
bèn đi ra, đúng hẹn, chiều hôm đó lại đến. Thiện Hội
nói:
- Đợi
đến sáng mai mọi người sẽ chứng tỏ cho người biết.
Sư
bừng tỉnh bèn sụp xuống lạy tạ. Thiện Hội hỏi:
- Ngươi
thấy được đạo lý gì?
Sư
đáp:
- Đệ
tử đã lĩnh hội được rồi!
Thiện
Hội lại hỏi:
- Ngươi
lĩnh ngộ cái gì?
Sư
bèn giơ nắm tay nói:
- Kẻ
bất tiếu bị cái này che lấp!
Thiện
Hội bèn thôi không hỏi nữa. Về sau, sư quy tịch năm Bính
Thìn
niên hiệu Chu Hiển Đức cho 3 (957).
*
* *
Thế
hệ thứ tư
2 người,
chỉ chép 1 người
Đại
sư KHUÔNG VIỆT
(933-1011)
Chùa
Phật Đà, hương Cát Lị,(1) huyện Thường Lạc.
Ông
người hương Cát Lị, huyện Thường Lạc, họ Ngô tên là
Chân Lưu, là hậu duệ của Ngô Thuận(2). Ông dáng mạo khôi
ngô tuấn tú, tính tình phóng khoáng, có chí khí cao xa. Thuở
nhỏ theo học Nho, lớn lên theo đạo Phật, cùng bạn đồng
học Trụ Trì đến chùa Khai Quốc thụ giới cụ túc với
thiền sư Vân Phong, nhờ đó được đọc rộng kinh điển
Phật giáo, hiểu sâu yếu chí Thiền học. Năm bốn mươi tuổi,
danh tiếng vang dội đến triều đình. Vua Đinh Tiên Hoàng vời
về kinh đô (Hoa Lư) hỏi chuyện. Sư đối đáp hợp ý, được
vua phong giữ chức Tăng thống. Năm thứ 2 niên hiệu Thái Bình
(971) sư được ban hiệu là Khuông Việt đại sư. Dưới triều
vua Lê Đại Hành, sư đặc biệt được vua kính trọng, phàm
các việc quân quốc triều đình, sư đều được tham dự.
Sư thường đi chơi ở núi Vệ Linh, quận Bình Lỗ, thích nơi
đây cảnh trí đẹp, thanh u, muốn dựng am để ở. Ban đêm
sư chiêm bao thấy thần nhân mặc áo giáp vàng, tay phải đỡ
ngọn bảo tháp, theo sau có hơn chục tên quân hầu dáng mạo
hung dữ. Vị thần bảo với sư rằng: “Ta là Tì Sa Môn(1)
thiên vương, quân hầu theo ta đây đều là bọn quỷ Dạ xoa.
Thiên đế có sắc chỉ sai ta đến nước này gìn giữ cương
giới để cho Phật pháp được hưng thịnh. Ta có duyên với
ngươi nên đến đây để nhờ cậy”. Khi trời sáng, sư vào
núi thấy một cây cổ thụ cao chừng mười trượng, cành
lá xum xuê tươi tốt, phía trên có đám mây lành che bóng.
Sư nhân đó thuê thợ đốn cây ấy lấy gỗ tạc tượng thần
theo đúng như đã thấy trong mộng để thờ phụng.
Năm
Thiên Phúc thứ nhất (981), quân Tống sang xâm lược nước
ta. Trước đó, vua đã biết chuyện này, bèn sai sư đến đền
cầu đảo xin thần phù hộ. Quân giặc kinh sợ lui về giữ
sông Hữu Ninh. Đến đây, bọn chúng lại thấy sóng gió nổi
lên ùn ùn, giao long nhảy tung trên mặt nước, quân giặc sợ
hãi tan chạy.
Năm
Thiên Phúc thứ bẩy (986) nhà Tống sai Lý Giác (2) sang sứ
nước ta. Bấy giờ pháp sư Đỗ Thuận cũng có danh tiếng
lớn. Vua sai pháp sư cải trang làm giang lệnh đón tiếp sứ
giả ở bến sông. Giác thấy giang lệnh có tài nói chuyện
bèn làm thơ tặng, trong đó có câu “Thiên ngoại hữu thiên
ưng viễn chiếu” (ngoài trời lại có trời soi nữa). Vua
bảo Đỗ pháp sư đưa cho Khuông Việt xem. Khuông Việt xem
xong nói: “Sứ Bắc tôn kính bệ hạ không kém gì vua Tông”.
Khi Giác trở về sư làm bài từ Ngọc lang quy đưa tiễn:
Tường
Quang phong hào cẩm phàm trương
Thần
tiên phục đế hương
Thiên
trùng vạn lý thiệp thương lang
Cửu
thiên quy lộ trường
Tình
thảm thiết
Đối
ly trường
Phan
luyến sứ tinh lang
Nguyện
tương thâm ý vị Nam cương
Phân
minh báo ngã hoàng.
Dịch:
Nàng
tươi gió thuận cánh buồng giương
Thần
tiên lại đế hương
Vượt
sóng xanh muôn dặm trùng dương
Về
trời xa đường trường
Tình
thắm thiết
Chén
lên đường
Vin
xe sứ vấn vương
Xin
đem thâm ý vì Nam cương
Tâu
vua tôi tỏ tường(1).
HÀ
VĂN TẤN
(LSPGVN)
Về
sau sư lấy cớ già yếu xin cáo quan trở về dựng chùa ở
núi Du Hi thuộc quận nhà, rồi trụ trì ở đấy, người các
nơi đến theo học rất đông. Một hôm đệ tử thân cận
là Đa Bảo hỏi sư:
- Thế
nào là thủy chung của đạo học?
Sư
đáp:
- Thủy
chung không vật thảy hư không
Hiểu
được Chân Như, thể ắt đồng.
(Thủy
chung vô vật diệu hư không
Hội
đắc Chân Như thế tự đồng)
Đa
Bảo hỏi:
- Lấy
gì bảo chứng?
Sư
đáp:
- Không
có chỗ cho người hạ thủ.
Đa
Bảo thưa:
- Hòa
thượng nói rõ rồi.
Sư
đáp:
- Người
hiểu thế nào?
Đa
Bảo bèn hết lên một tiếng.
Ngày
mười lăm tháng hai niêu hiệu Thuận Thiên thứ hai (1011, đời
Lý Thái Tổ), trước lúc quy tịch, sư gọi Đa Bảo đến đọc
lời kệ rằng:
Mộc
trung nguyên hữu hỏa
Nguyên
hỏa phục hoàn sinh
Nhược
vị mộc vô hỏa
Toàn
toại hà do manh?
Dịch:
Lửa
trong cây có sẵn
Dù
tắt lại bùng ngay
Nếu
bảo cây không lửa
Xát
mạnh sao cháy cây?
Nói
xong sư ngồi kiết già mà qua đời, thọ 52 tuổi (có người
nói thọ 79 tuổi)(1)
*
* *
Thế
hệ thứ năm
Thiền
sư ĐA BẢO
Chùa
Kiến Sơ, hương Phù Đổng, huyện Tiên Du.
Không
biết sư người ở đâu, cũng không rõ họ gì. Bây giờ Khuông
Việt đại sư giáo hóa ở chùa Khai Quốc, sư đến tham thiền
học đạo, được đại sư khen là người lĩnh ngộ cơ vi,
xử sự kính cẩn, riêng được đại sư nhận làm đệ tử
thân tín. Sau khi đắc pháp, sư một mình theo bình bát đi vân
du ngoại vật, sau đến trụ trì ở chùa Kiến Sơ.
Khi
Lý Công Uẩn còn nhỏ tuổi, sư thấy dáng mạo tinh anh tuấn
tú khác thường, bèn nói: “Cậu bé này cốt tướng chẳng
phải tầm thường, ngày sau làm vua ắt là người này”. Lý
Công Uẩn cả sợ nói: “Ngày nay thánh đế đang trị vì,
trong nước yên bình, sư nói thế không khéo gây họa tru di
cho cả họ nhà tôi”. Sư nói:
- Mệnh
trời đã định như thế, dù muốn trốn tránh cũng không được.
Nếu quả đúng như lời, mong đừng nhau!
Sau
khi lên ngôi, Lý Thái Tổ nhiều lần vời sư về kinh thỉnh
vấn yếu chỉ của Thiền tông, ân lễ tiếp đãi trọng hậu,
các việc chính sự triều đình đều mời sư dự bàn định
đoạt. Vua từng xuống chiếu cho trùng tu chùa Kiến Sơ là
nơi sư trụ trì. Về sau không biết sư tịch ở đâu.
*
* *
Thế
hệ thứ sáu
3 người,
chép thiếu 1 người
Trưởng
lão ĐỊNH HƯƠNG
(?-1051)
Chùa
Cảm Ứng(1), núi Ba sơn, phù Thiên Đức.
Trưởng
lão họ Lã, người hương Chu Minh, suốt đời tu hành thanh
tịnh. Xuất gia từ lúc còn nhỏ, theo hầu học đạo với
thiền sư Đa Bảo hơn hai mươi năm. Môn đồ của Đa Bảo
có đến hơn một trăm người mà chỉ Định Hương và Quốc
Bảo Hòa(2) được chọn là giỏi nhất, về yếu chỉ của
Thiền tông thì Định Hương thấu hiểu sâu sắc hơn. Một
hôm sư hỏi Đa Bảo:
- Làm
sao thấy được chân tâm?
Đa
Bảo đáp:
- Chính
ngươi phải tự phát hiện lấy!
Định
Hương khoát nhiên tỉnh ngộ nói:
- Tất
cả đều như thế, đâu phải chỉ riêng đệ tử.
Đa
Bảo hỏi:
- Ngươi
đã hiểu chưa?
Đáp:
- Đệ
tử hiểu rồi, nhưng cũng giống như chưa hiểu.
Đa
Bảo nói:
- Phải
lấy tâm ấy mà bảo nhậm.
Sư
ôm tai đứng quay lưng lại:
Đa
Bảo bèn quát bảo:
- Đi
đi!
Định
Hương sụp xuống lạy ta. Đa Bảo nói:
- Về
sau giao tiếp với người, ngươi phải làm như kẻ điếc.
Ở
kinh đô, có viên Đô tướng Thành hoàng sứ là Nguyễn Tuân
kính mộ danh đức của sư, mời sư về trụ chùa Cảm Ứng,
học trò đến theo học rất đông. Đối với người đời,
sư có công dạy bảo cảm hóa không nhỏ. Ngày ba tháng năm
Canh dần niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1051) đời Lý Thái Tông,
sự lâm bệnh, gọi đệ tử đến đọc bài kệ vĩnh biệt.
Bản
lai vô xứ sở
Xứ
sở thị chân tông
Chân
tông như thị ảo
Ảo
hữu tức không không
Dịch:
Xưa
nay không xứ sở
Xứ
sở ấy chân tông
Chân
tông hư ảo thế
“Có”
ảo tức “không” không.
Nói
xong sư im lặng mà quy hóa.
*
* *
Thiền
sư THIỀN LÃO
Chùa
Trùng Minh, núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du.
Trước
sư đến tham vấn sư Đa Bảo ở chùa Kiến sơ lĩnh hội được
tâm yếu của Thiền tông. Sau sư đến trụ trì ở núi này(1)
có tiếng là bậc cao tăng đương thời. Học trò đến theo
học đông có tới hơn nghìn người. Chùa Trùng Minh trở thành
một thiền viện sầm uất trong chốn tùng lâm. Khoảng niên
hiệu Thông Thụy (1034 – 1038) vua Lý Thái Tông thường đến
thăm chùa. Vua hỏi:
- Hòa
thượng trụ ở núi này đã bảo lâu?
Sư
đáp:
- Tháng
ngày rày biết rõ
Xuân
thu cũ ai hay.
(Đản
tri kim nhật nguyệt
Thùy
thức cựu xuân thu)
Vua
lại hỏi:
- Hàng
ngày hòa thượng làm gì?
Đáp:
- Trúc
biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh
Trăng
trong mây trắng rõ toàn chân
(Thúy
trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch
văn minh nguyệt lộ toàn chân)
Vua
hỏi:
- Có
ý chỉ gì?
Đáp:
- Nhiều
lời vô ích!
Vua
bừng tỉnh ngộ. Sau đó sai sứ đến mời sư về kinh thỉnh
vấn, nhưng khi sứ giả đến nơi thì sư đã quy tịch rồi.
Vua rất thương tiếc, làm thơ viếng, sai trung sứ đem lễ
vật phúng điếu, dựng dàn hoả táng, xây tháp xá lị ở
trong chùa. Lại cho sửa sang mở rộng chùa, cho môn đồ lo
đèn hương thờ phụng.
*
* *
Thế
thứ bẩy
Thiền
sư VIÊN CHIẾU
(999-1090)
Chùa
Cát Tường, kinh đô Thăng Long.
Thiền
sư họ Mai, tên Trực, người huyện Long Đàm(1), châu Phúc
Đường, là con người anh thái hậu Linh Cảm đời Lý(2). Thuở
nhỏ ông thông minh mẫn tuệ, hiếu học. Nghe tiếng trưởng
lão ở chùa Mật Nghiêm giỏi xem tướng, ông bèn đến nhờ
xem hộ. Trưởng lão xem kỹ tướng mạo rồi nói: “Ngươi
có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia tất sẽ là vị Thiện
Bồ tát; nếu không thì thọ yểu chưa biết thế nào”. Sư
cảm ngộ rồi từ biệt thân quyến tìm đến thụ nghiệp
với thiền sư Định Hương ở núi Ba Tiêu. Trong những năm
ấy, sư suy cứu thiền học, chuyên chủ trì tụng kinh Viên
Giác, tinh thông phép Tam quán(3). Một đêm sư đang ngồi thiền
định thì mơ thấy Văn Thủ Bồ Tát cầm dao mổ bụng lôi
ruột sư ra rửa, rồi trao cho diệu dược để chữa vết thương.
Từ đó sư hiểu sâu ngôn ngữ Tam muội, thuyêt giảng trôi
chảy. Sau sư đến vùng gần kinh kỳ dựng chùa trụ trì, người
đến theo học đông nườm nượp. Có vị tăng hỏi:
- Nghĩa
của Phật và thánh như thế nào?
Sư
đáp:
- Cúc
trùng dương dưới giậu
Oanh
xuân ấm đầu cành.
(Ly
hạ trùng dương cúc,
Chi
đầu thục khí oanh)
Lại
hỏi:
- Đa
tạ hòa thượng, nhưng kẻ học này chưa hiểu, xin hòa thượng
chỉ giáo thêm cho.
Sư
đáp:
- Ngày
qua vầng ô chiếu
Đêm
đến bóng thỏ soi.
(Trú
tắc kim ô chiếu
Dạ
lại ngọc thố minh)
Hỏi:
- Đệ
tử hiểu ý thầy
Huyền
cơ là gì đây?
(Dĩ
hoạch sư chân chỉ
Huyền
cơ thị như hà?)
Đáp:
- Nước
đựng đầy thau bưng bất cẩn
Vấp
chân soài ngã hối làm chi.
(Bất
thận thủy bàn kình mãn khứ
Nhất
tao tha điệt hối hà chi?)
Thiền
tăng nói:
- Đa
tạ lời chỉ giáo của hòa thượng
Sư
nói:
- Chớ
rửa trên mặt nước
Thân
gieo nước tự chìm.
(Mạc
trạc giang ba nịch
Thân
lại khước tự trầm)
Hỏi:
- Thiếu
Thất (1), Ma Kiệt(2) rất huyền diệu, từ xưa đến nay ai
kể nối làm chủ?
Đáp:
- Tượng
trời nhật nguyệt thay sáng tối
Mạch
đất quanh co nối Nhạc Hoài(3).
(U
minh kiền tượng nhân ô thố
Khuất
khúc khôn duy vị Nhạc Hoài)
Hỏi:
- Thế
nào là đạo lớn
Nguồn
căn một lối về?
(Như
hà thi đại đạo
Căn
nguyên nhất lộ hành)
Đáp:
- Gió
thốc non cao hay cỏ cứng
Nước
mà nguy biến biết tôi trung.
(Cao
ngạn tật phong tri kính thảo
Bang
gia bản đăng thức trung lương)
Hỏi:
- Tất
cả chúng sinh từ đây tới, trăm năm sau về đâu?
Đáp:
- Rùa
mù đào vách núi
Trạch
que ngược núi cao.
(Manh
quy xuyên thạch bích
Phả
miết thướng cao sơn)
Hỏi:
- Trúc
biếc xanh xanh cũng đều là Chân như. Như vậy cái “dụng”
của Chân như là thế nào?
Đáp:
- Tặng
người đi nghìn dặm
Cười
đưa một ấm trà.
(Tặng
quân thiên lý viễn
Tiếu
bả nhất bình trà)
Hỏi:
- Thế
nào là “uổng công đến mà chẳng ích gì?”
Đáp:
- Ai
biết lên gò núi
Trên
đường đã bạc đầu
(Thùy
thức đông a khứ
Đồ
trung tái bạch đầu)
Hỏi:
- Nhà
sâu hiên im vắng
Ai
biêt bọn ta tìm
(Dã
hiên nhất thâm hộ
Thùy
thức đáng nhàn xao?)
Đáp:
- Kim
cốc(1) tiêu điều hoa cỏ xác
Trâu
dê sớm tối mặc ra vào.
(Kim
Cốc tiêu sơ hoa thảo loạn
Nhi
kim hôn hiểu nhậm ngưu dương)
Hỏi:
- Sao
lại như thế?
Đáp:
- Phú
quý không dè xẻn
Lâu
đài nối biển khơi
(Phú
quý kiêm kiêu thái
Phiên
linh bại thị lâu)
Hỏi:
- Long
Nữ(2) dâng châu thành Phật quả
Đàn
Na(1) bố thí phúc hằng bao?
(Long
nữ hiến châu thành Phật quả
Đàn
Na xả thí phúc như hà)
Đáp:
- Quế
trong trăng muôn thuở
Xum
xuê vẫn một vầng.
(Vạn
cổ nguyệt trung quế
Phù
sơ tại nhất luân)
Hỏi:
- Thế
nào là “vất vả mà chẳng nên công”?
Đáp:
- Trời
cao như gương sáng
Người
đời chốn chốn thông
(Thiên
thượng như huyền kính
Nhân
gian xứ xứ thông)
Hỏi:
- Qua
sông dùng bè mảng
Đến
bền bỏ ghe thuyền
(Độ
hà tu dụng phiệt
Đáo
ngạn bất tu thuyền)
Vậy
không sang sông thì thế nào?
Đáp:
- Ao
khô cá mắc cạn
Sống
được ắt muôn xuân.
(Hạc
trì ngư tại lục
Hoạch
hoạt vạn niên xuân)
Lại
hỏi:
- Thế
nào là “theo dòng thì mới được diệu lý”?
Đáp:
- Chuyện
cũ Kinh Kha đấy
Một
đi chẳng trở về.
(Kiến
thuyết Kinh Kha lữ
Nhất
hành cánh bất hồi)
Hỏi:
- Quặng
vàng lẫn lộn đều nguyên khí
Xin
sư phương tiện luyện cho tinh
(Kim
khoáng hỗn giao nguyên nhất khí
Thỉnh
sư phương tiện luyện tinh hình)
Đáp:
- Chẳng
phải Tề quân(1) khách
Nào
hay cá biển to.
(Bất
thị Tê quân khách
Ná
trì hải đại ngư)
Hỏi:
- Quách
ông(2) chẳng chịu hiểu
Cán
gián có làm chi?
(Quách
quân nhược bất nạp
Gián
ngữ diệc hề vi)
Đáp:
- Nếu
muốn uống rượu trước
Đừng
vẽ rắn thêm chân
(Nhược
dục tiên đề ấm
Hưu
vi xảo họa xà)
Hỏi:
- Rắn
sắp chết giữa đường, xin thầy cứu sống?
Sư
hỏi lại:
- Ngươi
là người phương nào?
Đáp:
- Vốn
là người ở núi.
Sư
nói:
- Núi
xưa về ẩn gấp
Đừng
gặp Hứa chân quân(1)
(Cấp
hồi cựu nham ẩn
Mạc
kiến Hứa chân quân)
Thầy
tăng lại hỏi:
- Kho
biển mênh mông chẳng màng đến
Khe
tào róc rách, ý sao đây?
(Hải
tạng thao thao ưng bất vấn
Tào
Khê trích trích thị như hà)
Đáp:
- Thông
reo trước gió tiếng buồn thay
Mưa
tạnh sau chân biết lối lầy
(Phong
tiền tùng hạ thê lương vận
Vũ
hậu đồ trung thiền trọc nê)
Hỏi:
- Như
thế nào là “không khác ngày nay”?
Đáp;
- Cúc
trùng dương dưới giậu
Oanh
ngày ấm đầu cành
(Ly
hạ trùng dương cúc
Chi
đầu noãn nhật oanh)
Hỏi:
- Rõ
ràng giữa chốn sắc thân
Chói
lọi ở trong tâm mục
(Chiêu
chiêu tâm mục chi gian
Lãng
lãng sắc thân chi nội)
Vậy
mà lý không phân biệt được, hình không trông thấy được.
Tại sao không thể thấy?
Đáp:
- Trong
vườn hoa rực rỡ
Trước
bến, cỏ lơ phơ
(Uyển
trung hoa lạn mạn
Ngạn
thượng thảo li phi)
Hỏi:
- Lạnh
trời mầm cây rụng
Lấy
gì để khoe tươi?
(Tuế
hàn quần miêu lạc
Hà
di khả tuyên dương)
Đáp:
- Mừng
ông đã thấu đạt
Chẳng
cũng vui lắm sao?
(Hỉ
quân lai tự đạt
Bất
diệc thả hoan ngu)
Tăng
nói:
- Được
lời thầy chỉ giáo
Từ
này thoát ưu phiền.
(Hạnh
văn kim nhất quyết
Từng
thứ miễn hốt vô)
Sư
đáp:
- Vũng
cạn vừa lên khỏi
Quay
đầu vạn dặm sâu.
(Thiển
nịch tài đề xuất
Hồi
đầu vạn trượng đàm)
Hỏi:
- “Niết
Bàn thành nội thượng do nguy”. (Lời kinh nói: “Ở chốn
Niết Bàn nguy còn đến”). Vậy biết nơi nào hết hiểm nguy?
Đáp:
- Xây
tổ trên màn trướng
Tóc
râu xoã cành lau
(Doanh
sào liêm mạc thượng
Tu
phát vi thiều kinh)
Hỏi:
- Nếu
gặp khi bức bách
Hai
đường theo nẻo nào?
(Nhược
tao thì bách cận
Lưỡng
cứ thị hà vi)
Đáp:
- Phóng
đãng tùy ý thích
Tiêu
dao với gió trăng
(Trượng
phu tùy phóng đăng
Phong
nguyệt thả tiêu dao)
Hỏi:
Tất
cả chúng sinh, điều nói là Phật, Lý ấy chưa rành. Xin thầy
chỉ giáo (Nhất thiết chúng sinh; Giai ngôn thị Phật, Thử
lý vị minh, thỉnh sư thùy thị)
Đáp:
- Chăm
bón nông tang ngươi hãy gắng
Chớ
học ôm cây đợi thỏ qua
(Khuyến
quân thả vu nông tang khứ
Mạc
học tha nhân đãi thố lao)
Tăng
nói:
- Được
lời thầy chỉ giáo
Ngoài
chẳng hỏi ai chi.
(Hạnh
mông sư hiển quyết
Chung
bất hướng tha cầu)
Sư
nói:
- Đáng
thương người nấc nghẹn
Ngồi
đói chịu quên ăn.
(Khả
lân tao nhất ế
Cơ
tọa khước vong xan)
Tăng
nói:
- Ngọc
vàng cất giấu trong rương đẫy
Rành
rõ giờ đây được ngắm xem.
(Kỷ
niên cửu tích nang trung báu
Kim
nhật đương trường địch diện khan)
Sư
nói:
- Đợi
trung thu trăng sáng
Ngờ
đâu mây tối trời
(Chỉ
đãi trung thu nguyệt
Khước
tao vân vũ xâm)
Tăng
nói:
- Tuy
nghe thầy thuyết giảng
Lẽ
ấy chưa rõ ràng.
(Tuy
văn sư ngữ thuyết
Thử
lý vị phân minh)
Sư
đáp:
- Cười
kẻ ôm cột cầu
- Chết
đuối giữa dòng sâu
(Tiếu
tha đồ bão trụ
Nịch
tử hướng trung lưu)
Hỏi:
- Thế
nào là “nhất pháp”?
Đáp:
- Chỉ
thấy xuân qua hè lại đến
Mới
vào thu chín, gật đông về
(Thốn
kiến xuân sinh kiêm hạ trưởng
Hựu
phùng thu thục cập đông tàng)
Hỏi:
- Như
thế nào là nhiều người được thành Phật?
Đáp:
- Thủy
Hoàng tìm Tiên mỏi
Từ
Phúc mãi chẳng về
(Tổ
Long khu tự chỉ
Từ
Phúc viễn đồ lao)(1)
Lại
hỏi:
- “Kiến
tính thành Phật” (thấy được bản tính thì thành Phật)
nghãi là thế nào?
Đáp:
- Cây
héo vào xuân hoa nở rộ
Gió
đưa nghìn dặm nức hương thần
(Khô
mục phùng xuân hoa canh phát
Phong
suy thiên lý phức thần hương)
Tăng
nói:
- Đệ
tử chưa hiểu, xin thầy giảng lại cho.
Sư
đáp:
- Vạn
năm cây cà ấy
Tươi
tốt vút tầng mây
(Vạn
niên già tử thụ
Thương
thúy tủng vân đoan)
Hỏi:
- Ma
Ni cùng các sắc
Chẳng
hợp cũng chẳng rời
(Ma
Ni dữ chúng sắc
Bất
hợp bất phân ly)
Đáp:
- Hoa
xuân cùng bướm trắng
Lúc
luyến hay chia ly?
(Xuân
hoa dữ hồ điệp
Kỷ
luyến kỷ tương vi)
Tăng
hỏi:
- Thế
nào là “Tuy hóa hỗn tạp”?
Đáp:
- Chẳng
phải sư Thiên Trúc
Uổng
ngắm ngọc Biên châu
(Bất
thị Hồ tăng nhân
Đồ
lao sính Biện châu)
Lại
hỏi:
- Thế
nào là “xúc mục bồ đề”? (Chân lý gần ngay trước mắt).
Đáp:
- Cây
cong chim hoảng sợ
Thổi
mãi lạnh cóng người
(Kỷ
kinh khúc mục điểu
Tân
xuy lãnh tê nhân)
Hỏi:
- Kẻ
học này chưa hiểu, xin thầy đổi cho thí dụ khác.
Đáp:
- Kẻ
điếc nghe đàn sáo
Người
mù ngắm trăng sao
(Tủng
nhân thính cầm hưởng
Manh
giả vọng thiềm thừ)
Hỏi:
- Vốn
đã có hình thì có bóng
Phải
chăng lại có bóng không hình?
(Bản
tự hữu hình kiêm hữu ảnh
Hữu
thời ảnh dã lý hình phầu?)
Đáp:
- Nước
đổ về đông chừ, đua chảy vạn dòng.
Sao
chầu hướng bắc chừ, muôn thuở cùng lòng.
(Chúng
thủy triều đông hề, vạn phái tranh lựu,
Quần
tinh củng bắc hề, thiên cổ quy tâm)
Hỏi:
- Thế
nào là “một câu rõ hết hơn cả muôn câu”?
Đáp:
- Xách
bổng Thái Sơn về Bắc Hải
Ngước
tung thiền trượng tới cung trăng
(Viễn
phù Thái son siêu Bắc hải
Ngưỡng
phao trụ trượng nhập thiềm cung)
Hỏi:
- Chỉ
sự ấy là thực
Ngoài
ra chẳng phải chân?
(Duy
thử nhất sự thực
Dư
nhị tức phi chân)
Vậy
thế nào là “chân”?
Đáp:
- Gió
dễ lay đầu gậy
Đường
đi mưa sinh lầy
(Trượng
đầu phong dị động
Lộ
thượng vũ thành nê)
Hỏi:
- Không
hướng Như Lai xin diệu tạng
Nối
đèn lửa tổ chẳng cầu xin
(Bất
hướng Như lai thì diệu tạng
Bất
cầu tổ diệm tục đăng chi)
Ý
chỉ câu ấy là thế nào?
Đáp:
- Trong
tuyết mẫu đơn nở
Trời
thu oanh hót vang
(Thu
thiên đoàn thử lệ
Tuyết
cảnh mẫu đơn khai)
Hỏi:
- Thế
nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
- Một
người quay vào vách
Cả
nhà uống mất vui
(Nhất
nhân hướng ngung lập
Mãn
tọa ẩm vô hoan)
Lại
hỏi:
- Cổ
kim việc lớn không nên hỏi
Thiền
từ Tây tới hỏi nên chăng?
(Cổ
kim đại sư ưng vô vấn(1)
Đặc
địa tây lai ý nhược hà)
Đáp:
- Kẻ
khéo mồm giả dối
Mai
trơ ngói vỡ thôi(2)
(Xoả
ngọn lệnh sắc giả
Toàn
quy đả ngoã nhân)
Hỏi:
- Cả
tâm và pháp đều quên, tính tức Chân, vậy thế nào là “Chân”?
Đáp:
- Mưa
tươi non hoa, Thần nữ khóc(3)
Gió
khua rặng trúc, Bà Nha đàn.
(Vũ
trích nham hoa Thần nữ lệ
Phong
xao đỉnh trúc Bá Nha cầm)
Lại
hỏi:
- Thế
nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
- Trong
cổ còn vường hóc
Đừng
ngồi có yên dâu.
(Hầu
lý do tồn ngạnh
Thường
cư bất khoái nhiên)
Hỏi:
- Còn
“tu” còn “chứng” sinh bốn bệnh
Vươn
đầu nào có thoát trần ra.
(Hữu
tu hữu chứng khai tứ bệnh
Xuất
đâu hà khả thoát trần lung)
Đáp:
- Biển
rộng bao dung nhiều nguồn nhỏ
Non
cao giữ mãi bụi hồng trần
(Sơn
cao cánh tại dung trần trữ
Hải
khoát năng thâm nạp tế lưu)
Hỏi:
- Trong
sách nói: “Chỉ có Phật với Phật mới biết việc này”.
Ấy là việc gì?
Đáp:
- Đường
hẹp trúc um tùm
Gió
reo nhạc tự thành
(Hiệp
kính sum sum trúc
Phong
xuy khúc tự thành)
Hỏi:
- Không
theo bình thường, không theo thiên nhiên, không theo công dụng,
vậy nay biết làm thế nào?
Đáp:
- Cỏ
bồng chim sâu đậu
Biển
biếc náu giao long.
(Bồng
thảo thê đê yến
Thương
minh ẩn cự lân)
Hỏi:
- Tứ
đại(1) mang về từ nhiều kiếp
Thỉnh
sư phương tiện thoát luân hồi.
(Tứ
đại đới lai do khoáng kiếp
Thỉnh
sư phương tiện xuất luân hồi)
Đáp:
- Tê
giác là loài súc thú hiếm
Ăn
bằng gai góc, ngủ trong bùn.
(Cử
thế súc đồ tê thị bào
Xan
ư kinh cức ngọa ư nê)
Hỏi:
- “Thủ”
hay “xả” đều là ở trong vòng luân hồi; không “thủ”,
không “xả” thì thế nào?
Đáp;
- Xưa
nay hồng đẹp, sắc nay khác
Cành
lá xum xuê chẳng có hoa
(Tòng
lai hồng hiện thủ thường sắc
Hữu
diệp sâm si bất hữu hoa)
Hỏi:
- Nói
“Ngôn ngữ đạo đoạn” (dứt hết nói năng) là nghĩa thế
nào?(1)
Đáp:
- Gió
thổi sừng kêu xuyên rặng trúc
Vầng
trăng vượt núi đến bên tường
(Giốc
hưởng tùy phong xuyên trúc đáo
Sơn
nham đái nguyệt quá tường lai)
Hỏi:
- Chư
Phật thuyết pháp đều nhằm giáo hóa mọi loài, nếu hiểu
thấu bản ý thì gọi là “xuất thế”. Như thế nào gọi
là “bản ý”?
Đáp:
- Xuân
dệt hoa như gấm
Thu
sang đổ là vàng
(Xuân
chức hoa như gấm
Thu
lại diệp tự hoàng)
Hỏi:
- Như
thế nào gọi là “một đường đưa thẳng đến nguồn gốc
của đại đạo”?
Đáp:
- Đông
tây xe ngựa ruổi
Sớm
tối bụi trần bay
(Đông
tây xa mã tẩu
Trần
thổ hiểu hôn phi)
Hỏi:
- Có
tâm có pháp sinh võng thức
Làm
sao tâm pháp thảy tiêu vong?
(Hữu
pháp, hữu tâm khai võng thức
Như
hà tâm pháp đãng câu tiêu)
Đáp:
- Khá
vượt cành không cao tít tắp
Lo
gì sương tuyết tả tơi bay
(Khả
đoạt tùng sao trường uất uất
Khởi
ưu sương tuyết lạc phân phân)
Hỏi:
- Ý
của Tổ và ý trong kinh sách thế nào?
Đáp:
- Hứng
lên xách gậy lên chơi đường núi
Mỏi
mệt buông rèm ngủ chõng tre
(Hứng
lai huề trượng du vân kính
Khốn
tức thùy liêm ngọa trúc sào)
Hỏi:
- Các
Tổ truyền cho nhau là truyền cái gì?
Đáp:
- Bụng
đói kiếm cơm ăn
Lạnh
mình lo áo mặc
Hỏi:
- Người
đời phải đi thuê nhà, khi nhà dột thì ở vào đâu?
Đáp:
- Qua
vàng cùng thỏ ngọc
Chẳng
bợn lo đầy vơi
(Kim
ô kiêm ngọc thế
Doanh
trắc nạn lao phân)
Hỏi:
- Thế
nào là con đường Tào Khê?
Đáp:
- Đáng
thương kẻ vạch thuyền(1)
Khắp
chốn biết tìm đâu!
(Khả
lân khác chu khách
Đáo
xứ ý thông thông)
Sư
từng soạn sách Được sư thập nhị nguyện văn. Vua Lý Nhân
Tông lấy bản thảo sách ấy đưa cho sử giả nước ta đem
sang Trung Quốc để tặng cho vua Triết Tông nhà Tống. Vua Tống
trao cho vị pháp sư cao tọa ở chùa Tướng Quốc xem. Pháp
sư xem xong chấp tay tâu với vua Tống:
- Ở
nước Nam có vị Bồ tát sống đã ra đời, giảng giải kinh
nghĩa rất tinh vi, chúng tôi đâu dám thêm bớt chữ nào.
Vua
tống sai chép lại một bản, còn bản chính giao lại cho sứ
giả đem về Sứ giả trở về tâu lại sự việc, vua Lý Nhân
Tông rất khen ngợi, ban thưởng cho sư rất trọng hậu.
Ngày
tháng 9 năm Canh Ngọ niên hiệu Quảng Hựu thứ 6 (1090) sư
không bệnh, cho gọi đệ tử đến bảo rằng:
- Thân
mình ta đây, xương thịt gân cốt đều do bốn đại hợp
thành, tất không thể thường tồn được. Cũng như khi khung
nhà đã hư hỏng thì rui, mè đều rơi rụng. Các người hãy
trân trọng lời kể của ta đây:
Thân
như tường bích dĩ đồi thì
Cử
thế thông thông thục bất bi
Nhược
đạt tâm không vô sắc tướng
Sắc
không ẩn hiển nhậm suy đi.
Dịch:
Thân
như tường vách đá lung lay
Lật
đật người đời những xót thay
Nếu
được “lòng không” không tướng sắc
“Sắc”
“không” ẩn hiện mặc vần xoay.
NGÔ
TẤT TỐ
(VHĐL)
Đọc
kể xong, sư nghiêm trang qua đời, thọ 92 tuổi đời, 56 năm
tuổi hạ(1). Sự có các sách: Tán Viên Giác kinh, Thập nhị
Bồ Tát Hành tu chứng đạo tràng và Tham đồ hiển quyết,
một quyển, lưu hành ở đời.
*
* *
Thiền
sư CỨU CHỈ
Chùa
Diên Linh(1), núi Long Đội, huyện An Lang.
Thiền
sư họ Đàm, quê ở hương Phủ Đàm, huyện Chu Minh, từ nhỏ
hiếu học, đọc khắp các sách kinh điển Nho, Phật. Một
hôm ông gập sách lại, than rằng:
- Khổng,
Mặc cố chấp cái “hữu” (có). Lão, Trang chìm đắm cái
“vô” (không), sách vở thế tục không phải là phép giải
thoát. Chỉ có Phật giáo là không chấp không và có liễu
thoát sinh tử, nhưng phải tu trì giữ giới tinh tiến. Lại
phải tìm người thiện trí thức ấn chứng mới được.
Nhân
đó ông rời bỏ thế tục, tìm đến thụ giới cụ túc với
Định Hương trưởng lão ở chùa Cảm Ứng núi Ba Sơn. Sư
hỏi trưởng lão:
- Thế
nào là nghĩa cứu cánh?
Định
Hương đáp: “Chưa”! Một lát lại nói:
- Ta
và ngươi là nghĩa cứu cánh rồi đấy!(1)
Sư
còn đang nghĩ ngợi, trưởng lão nói:
- Sai
quá rồi!
Ngay
lúc ấy, sư lĩnh hội được ý chỉ của trưởng lão. Định
Hương nhân đó đặt tên cho sư là Cứu Chỉ.
Sau
sư vào chùa Trùng Minh ở núi Tiên Du tu hạnh Đầu đà, cả
năm không hề bước chân xuống núi. Thanh danh giáo huấn cảm
hóa của sư lan đến triều đình. Vua Lý Thái Tông đến chùa
thăm hỏi. Thái sư Lương Nhậm Văn(2) đối với sư cũng rất
kinh nể. Khoảng niên hiệu Long Thụy Thái Bình (1054 – 1058,
đời Lý Thánh Tông) tể tướng Dương Đạo Gia thỉnh sư về
trụ trì chùa Diên Linh. Sư cố từ chối nhưng không được.
Hôm xuống núi, sư bảo các đệ tử.
- Ta
không trở lại nơi đây nữa!
Chim
muông trong núi nháo nhác kêu buồn bã suốt ba tuần liền.
Sự
trụ trì ở chùa Diên Linh chỉ được hơn ba năm. Trong niên
hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059 – 1065) trước khi thị tịch,
sư gọi học trò đến bảo rằng:
- Hết
thảy mọi pháp môn đều bắt nguồn từ tính, hết thảy mọi
pháp tính đều bắt nguồn từ tâm. Tâm và Pháp là một, đâu
phải là hai. Trói buộc, phiền não, tất cả đều không. Tội
phúc, thi phi, tất cả đều ảo. Chẳng cái gì không phải
là quả, chẳng cái gì không phải là nhân. Chớ có phân biệt
báo từ trong nghiệp(1), chớ có phân biệt nghiệp từ trong
báo. Nếu phân biệt là không thể tự tại. Tuy thấy hết
mọi pháp nhưng không thấy gì; tuy biết hết mọi pháp nhưng
không biết gì. Biết mọi pháp ở chỗ nhân duyên là gốc,
thấy mọi pháp ở chỗ chính chân là nguồn. Tuy đắm trong
thực tế phải hiểu rằng thế gian đều như biến hóa. Người
minh đạt và chúng sinh chỉ là một pháp, không phải hai pháp.
Không rời bỏ nghiệp cảnh, đó là phương tiện thiện xảo.
Trong giới hữu vi chỉ rõ pháp hữu vi và không phân biệt
với tướng vô vị(2), đó là muốn dứt vọng niệm so đo
của ta vậy.
Nói
xong sư đọc lời kể:
Giác
liễu thân tâm bản ngưng tịch
Thần
không biến hóa hiện như tướng
Hữu
vi, vô vi tòng thử xuất
Hà
sa thế giới bất khả lượng
Tuy
nhiên biến mãn hư không giới
Nhất
nhất quan lại một hình trạng
Thiên
cổ vạn cổ nan tỉ huống
Giới
giới xứ xứ thường lãng lãng.
Dịch:
Hiểu
thấu thân tâm vốn lặng thường
Thần
thông mọi tướng biến khôn lường
Tác
“hữu”, tác “vô” do đó cả
Hà
sa thế giới há đong lường
Hư
không mọi cõi tràn đầy khắp
Hình
trạng xem ra thảy thảy không
Muôn
đời nghìn thuở khôn tày sánh
Chốn
chốn nơi sáng lạ đường.
Đúng
ngọ hôm ấy dựng đàn hỏa thiêu, học trò thu linh cốt xây
tháp phúng thờ.
*
* *
Thiền
sư BẢO TÍNH
(?-1034)
Thiền
sư MINH TÂM
(?-1034)
Chùa
Cảm Ứng, núi Ba sơn, phủ Thiên Đức.
Hai
thiền sư đều người huyện Chu Minh. Bảo Tính họ Nghiêm,
Minh Tâm họ Phạm, cùng một tuổi, xuất gia làm bạn với
nhau từ nhỏ. Lúc đầu, Bảo Tính, Minh Tâm cũng Viên Chiến
đều thụ nghiệp với Định Hương trưởng lão, thấu hiểu
những điều cốt yếu của Thiền tông. Sau ba người dược
truyền tâm ấn, đi các nơi để giáo hóa chúng sinh, nổi tiếng
nhất trong chốn tùng lâm thời bấy giờ. Viên Chiểu từng
có thơ khen Bảo Tính là người có chí cao thượng (Tập này
đã có chuyện riêng về Viên Chiếu, ở đây không nhắc lại)
Hai
sư chuyên trì tụng kinh Pháp hoa, hơn mười năm chưa từng
sao nhãng, mỗi khi niệm đến phẩm Dược Vương, hai sư đều
rơi nước mắt mà bảo nhau:
- Các
vị Bồ Tát dốc lòng tu hành trong bao nhiêu kiếp mà đối
với tâm Đại Thừa vẫn còn phải phấn phát mạnh mẽ để
tinh tiến, không tiếc thân mạng. Huống chi bọn ta sống ở
thời mạt pháp, nếu không có lòng chí thành như thế thì
đối với chân tâm đại Bồ Đề của Đại Thừa làm sao
có thể hy vọng được?
Ngày
tháng tư năm Thiên Thành thứ 7 (1034), hai sư định tự thiêu.
Vua Lý Thái Tông biết tin sai sứ thỉnh về kinh. Hai sư bèn
mở hội giảng kinh rồi cùng vào trong lửa hoả quang tam muội(1),
di cốt kết thành thất bảo, vua xuống chiếu đem thất bảo
ấy giữ ở chùa Trường Thánh để cúng đường Lý Thái Tông
cho là việc kinh dị, đổi niên hiệu là Thông Thụy (1034)
sai dựng tháp cúng đường.
*
* *
Thiền
sư QUẢNG TRÍ
Chùa
Quán Đính, núi Không Lộ.
Thiền
sư họ Nham, người kinh đô Thăng Long, là anh của Chương Phụng
hoàng phi. Ông là người có tiết tháo thanh cao không để ý
đến những điều nhỏ mọn. Khoảng đầu niên hiệu Chương
Thánh Gia Khánh (1059-1065), ông bỏ tục tìm đến tham vấn thiên
sư Thiền Lão ở Tiên Du. Chỉ nghe một câu nói của Thiền
lão sư lãnh hội được yết chỉ Thiền tông. Từ đó sư
ngày đêm dốc chí vào Thiền học. Chưa đầy một năm, danh
tiếng đồn khắp gần xa. Về sau sư trụ trì ở núi Không
Lộ, mặc áo vá, ăn hạt, kết bạn với sơn tăng Minh Huệ.
Người ta thường gọi là Hàn Sơn, Thập Đắc tái thế(1).
Sư
đương công bố thượng thư Đoàn Văn Khâm kính trọng(2) tặng
thơ:
Trụ
tích nguy phong bãi lục trần
Mặc
cư ảo mộng vấn phù vân
Ân
cần vô kế tham Trừng Thập
Sách
bạn trăm anh tại lộ quần
Dịch
thơ:
Chống
gậy non cao rũ bụi đời
Nằm
trong mộng huyễn ngắm mây trôi
Ân
cần khôn khéo theo Trừng, thập(3)
Trói
vướng bầy cò lớp mũ đai
NGÔ
TẤT TỐ
(VHĐL)
Trong
niên hiệu Quảng Hựu (1085 – 1091) sư quy tịch. Đoàn thượng
thư thương khóc thảm thiết, làm thơ viếng như sau:
Lâm
mao bạch thủ độn kinh thành
Phất
tụ cao sơn viễn cánh kinh
Kỷ
nguyện tịnh cân xu trượng tịch
Hốt
văn di lý yểm thiền quynh
Trai
đình u điểu không đề nguyệt
Mộ
tháp thùy nhân vị tác minh
Đạo
lữ bất tu thương vĩnh biệt
Viện
tiền sơn thủy thị chân hình.
Dịch
thơ:
Lánh
chợ vào rừng tóc bạc phơ
Non
cao rũ áo ngát hương thừa
Trùm
dép những muốn hầu bên chiếu
Treo
giáp đà nghe khép cửa chùa
Trăng
dọi sân trai, chim khắc khoải
Tháp
không bia chữ, mộ thờ ơ
Bạn
thiền thôi cũng đừng thương xót
Non
nước ngoài am, đó dáng xưa
NGÔ
TẤT TỐ
(VHĐL)
Vua
LÝ THÁI TÔNG
Nhà
Vua thường đến tham vấn những điều yếu chỉ của đạo
thiền với thiền sư Thiền Lão ở núi Thiên Phúc. Những lời
chỉ giáo của Thiền sư như mũi kim, mũi dùi, vừa châm vào,
vua liền thấy trí não thông sáng. Chỉ trong vòng mấy năm,
vua trở thành người ham thích đạo Thiền. Nhân đó, vua cùng
các bậc túc thiền, trưởng lão giảng cứu, bàn luận những
điều dị đồng. Vua nói trước với mọi người:
- Trẫm
nghĩ bàn tới nguồn tâm của Phật tổ, các bậc thánh hiền
thuở xưa còn không tránh khỏi điều tiếng chê bai, huống
chi là những kẻ hậu học. Nay trẫm muốn cùng các sư giãi
bầy tâm ý của mình. Mỗi người hãy làm một bài kệ để
xem sự dụng tâm của từng người như thế nào?
Các
sư đều vâng mệnh. Mọi người còn đang tìm ý tứ thì vua
đã làm xong. Bài kệ như sau:
Bát
Nhã chân vô tông
Nhân
không, ngã diệc không
Quá,
hiện, vị lai Phật
Pháp
tính bản lai đồng.
Dịch:
“Bát
Nhã” Thực vô tông
Người
không, mình cũng không
Phật
trước, nay, sau nữa
Pháp
tính vốn tương đồng
NGÔ
TẤT TỐ
(VHĐL)
Mọi
người đều phục vua có tài ứng đối nhanh lẹ.
Thế
hệ thứ tám
6 người
Quốc
sư THÔNG BIỆN
(?
– 1134)
Chùa
Phổ Ninh, huyện Từ Liêm.
Quốc
sư người hương Đan Phương, họ Ngô, vốn dòng dõi Phật
tử, bản tính thông tuệ, học thông tam giáo
Lúc
đầu sư tham vấn thiền học, đắc pháp với thiền sư Viên
Chiếu(1) ở chùa Cát Tường. Sau đó có chiếu chỉ triệu
về kinh đô Thăng Long trụ trì chùa Khai Quốc, sư tự xưng
hiệu là Trí Không Mùa xuân năm Hội Phong thứ 5 (1096), ngày
rằm tháng hai, Phù Thánh Cảm Lính Nhân hoàng thái hậu(2) đến
chùa thiết lễ trai tăng. Trong lúc đàm đạo với các bậc
túc tăng kỳ lão, thái hậu hỏi:
- Phật
và Tổ nghĩa thế nào? Ai hơn ai kém? Phật trụ phương não?
Tổ ở thành nào? Đến nước ta từ bao giờ? Việc truyền
đạo ai trước ai sau? Mà người niệm tên Phật đạt tâm
ấn của Tổ chưa rõ là những ai?
Bấy
giờ mọi người đều im lặng cả, sư thừa rằng:
- Thường
trụ ở thế gian, không sinh không diệt thì gọi là Phật.
Hiểu rõ tâm tông của Phật, giảng và làm đi đôi với nhau,
gọi là Tổ. Chỉ vì những kẻ kém học nói bậy là có bên
hơn bên kém mà thôi. Và lại Phật có nghĩa là “Giác” (hiểu
biết) vốn lặng lẽ, thường trụ, tất cả chúng sinh đều
có cùng lẽ ấy. Chỉ vì tình trần che lấp, trôi nổi theo
nghiệp báo mà phân ly ra các cõi Phật vì lòng từ bi mà thị
sinh ở đất Thiên Trúc, là vì xứ sở ấy ở vào khoảng
chính giữa của trời đất. Phật mười chín tuổi xuất gia,
ba mươi tuổi thành đạo. Ở đời thuyết pháp bốn mươi
chín năm, mở ra, các pháp môn để giác ngộ cho người đời.
Đấy là thời đại hưng giáo vậy. Khi sắp nhập Niết Bàn,
lại sợ người ta hiểu làm ý mình, Phật bèn bảo Văn Thù(1):
“Ta bốn mươi chín năm chưa từng nói một lời, sao lại
bảo là ta có thuyết giáo ư?” Nhân đó Phật cầm cành hoa
giơ lên. Mọi người đều chưa hêỉu Phật nói ý gì. Chỉ
một mình Ca Diếp tôn già mỉm cười. Phật Biết Ca Diếp
đã lĩnh ngộ, bèn đem chánh pháp nhãn tạng(2) truyền cho.
Đó là Tổ thứ nhất của dòng Tầm tông, được trao truyền
bên ngoài giáo điển(1)
Sau
đó ma Đằng(2) đem pháp ấy vào đất Hán. Rồi Đạt Ma đem
tống chỉ sang các nước Lương, Ngụy. Việc truyền pháp đến
Thiên Thai trì giả(3) là thịnh, gọi là Giáo tông. Về tôn
chí của Đạt Ma thì đến Tào Khuê Huệ Năng là sáng tỏ,
gọi là Thiền Tông. Hai tông này truyền vào nước Việt ta
đã lâu năm. Về Giáo tông thì có Mâu Bác(4), Khương Tăng
Hội(5). Thiền tông thì có phái Tì Ni Đa Lưu Chi(1) vào trước,
phái Vô Ngôn Thông vào sau. Đó là tổ của hai phái.
Thái
hậu hỏi:
- Về
Giáo tông thì chưa nói tới, nhưng còn hai phái Thiền tông
thì có gì chứng thực không?
Sư
đáp:
- Xét
truyện Đàm Thiên pháp sư thầy chép rằng: vua Tùy Cao Tổ
(581-604) gọi sư là pháp khí và bảo: “Trẫm nghĩ đến đạo
từ bi của Điều Ngự(2) mà không biết làm sao để báo đáp
ân đức. Trộm ở ngôi vua, trẫm đã hỗ trợ Tam bảo(3) khắp
nơi: trong nước thì thu xá lị xây 49 bảo tháp; ngoài nước
thì dựng 150 chùa tháp để tiêu biểu cho đời. Ở các xứ
ngoài như Giao Châu cũng đã nhiều lần cho dựng chùa để
ơn phúc nhuần thấm khắp cõi đại thiên. Nhưng xứ ấy tuy
vội thuộc mà ràng buộc còn lỏng lẻo. Vậy pháp sư nên
chọn những vị sa môn có danh đức đưa sang đó để giáo
hóa, khiến cho tất cả đều được đạo Bồ Đề”. Pháp
sư Đàm Thiên tâu: “Xứ Giao Châu có đường không với Thiên
Trúc. Khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở
Luy Lâu(4) đã có tới hai mươi ngôi bảo tháp, độ được
hơn năm trăm vị tăng và dịch được mười lăm quyển kinh
rồi”. Như vậy là Phật giáo đã truyền đến Giao Châu trước
nước ta. Hồi ấy đã có các vị tăng như Ma Ha Kỳ Vực(1),
Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương(2) Mâu Bác v.v... cư trú
tại đó. Nay lại có Pháp Hiền thượng sỉ đắc pháp(3) với
Tỉ Ni Đa Lưu Chi truyền bá tông phái của Tổ thứ ba Tăng
Xán. Pháp Hiền là vị Bồ Tát sống, hiện trụ trì ở chùa
Chúng Thiện, giáo hóa không dưới ba trăm môn đồ, không thua
kém gì ở Trung Quốc. Bệ hạ là bậc cha hiền của khắp
thiên hạ, muốn bố thí bình đẳng nên định đưa như tăng
sang giáo hóa. Nhưng họ đã có người rồi, ta không phải
cho người sang nữa. Lại có chứng cứ nữa: tướng quốc
đời Đường là Quyền Đức Dư viết trong lời tựa sách
Truyền pháp rằng: “Lại sau khi Tào Khê (Huệ Năng) mất,
thiền pháp thịnh hành, các dòng đều có kẻ nối, thiền
sư Chương Kính Huy đem những điều tâm pháp quan yếu của
Mã Tổ đi thi hành giáo hóa ở miền Ngô, Việt. Vô Ngôn Thông
đai sĩ đem tông chỉ của Bách Trượng Hoài Hải đi khai ngộ
ở Giao Châu”. Đó là chứng cứ vậy.
Thái
hậu lại hỏi:
- Sự
truyền thừa của hai tông phái ấy thứ tự thế nào?
Sư
đáp:
- Phái
Ti Ni Đa Lưu Chi thì nay có Lâm Huệ Sinh, Vương Chân Không,
Phái Vô Ngôn Thông thì có Mai Viên Chiếu, Nhan Quảng Trí. Dòng
của Khương Tăng Hội thì nay có Lôi Hà Trạch. Ngoài ra những
phái phụ thì nhiều không kể xiết.
Thái
hậu cả mừng, phong sư làm Tăng thống, ban áo cà sa màu tía,
ban hiệu là Thông Biện đại sư, hậu thưởng để tỏ rõ
inh sủng. Sau Thái hậu lại thỉnh sư vào đại nội, phong
làm quốc sư để tham vấn, nhờ đó hiểu sâu tôn chỉ của
Thiền ông. Thái hậu có làm kệ Ngô Đạo như sau:
Sắc
thị không, không tức sắc
Không
thị sắc, sắc tức không
Sắc,
không câu bất quản
Phương
đắc khế chân tông.
Dịch:
Sắc
mà không, không tức sắc
Không
là sắc, sắc tức không
Sắc,
không đều chẳng quản
Mời
Khế hợp chân tông
HOA
BẰNG
(TVLT
1)
Về
già, sư trụ trì ở chùa Phổ Ninh, mở đàn thuyết pháp. Phàm
việc dạy người, sửa mình sư thường dẫn dụng đến kinh
Pháp Hoa, vì vậy người đương thời gọi sư là Ngô Pháp
Hoa(1)
Ngày
mười hai tháng hai năm Giáp Dần niên hiệu Thiên Chương Báo
Tự thứ 2 (1134) sư lâm bệnh rồi qua đời(2).
*
* *
Đại
sư MÃN GIÁC
(1052-1096)
Chùa
Cứu Liên Giáo Nguyên.
Đại
sư Người Lũng Triền, hương An Cách, họ Nguyễn(1) huý Trường.
Cha là Hoài Tố, làm quan đến chức Trung thư viên ngoại lang.
Khi
Lý Nhân Tông còn là thái tử, đã có chiếu chỉ cho con em
các danh gia vào hầu trong cung. Ông vốn là người học rộng,
nhớ giỏi, học thông Nho, Phật nên được chọn vào trong
số đó. Những lúc ở nhà thường suy niệm Thiền na(2). Sau
khi lên ngôi, Nhân Tông mến tính tình ông thuần hậu chất
phác, ban hiệu là Hoài Tín. Trong khoảng niên hiệu Anh Vũ Chiêu
Thắng (1076-1084)(3) ông dân biểu xin xuất gia. Sau khi được
thiền sư Quảng Trí ở chùa Quán Đính truyền tâm ấn, sư
đeo bình bát đi vân du khắp nơi tìm đạo hữu. Sư đi đến
đâu cũng có rất đông người đến xin theo học đạo. Sư
đọc kinh Đại Tạng, đạt được tri thức không phải nhờ
thầy, trở thành lãnh tụ pháp môn của một thời.
Khi
ấy vua nhà Linh Nhân hoàng thái hậu đang lưu tâm Thiền học,
cho dựng chùa Cứu Liên Giáo Nguyên ở bên cạnh cung Cảnh
Hưng, thỉnh sư đến trụ trì để tiện hỏi han về đạo
Phật. Khi nói chuyện, vua và hoàng hậu thường gọi sư là
trưởng lão chứ không gọi tên. Một hôm vua nói với sư:
- Bậc
chí nhân thị hiện tất phải làm việc cứu giúp chúng sinh,
không hạnh nào không cần có đủ, không việc gì không phải
chăm lo, chẳng phải chỉ sức định tuệ mà cũng có công
giúp ích nên phải kính nhận nó.
Rồi
vua phong cho sư làm Hoài Tín đại sư, đứng đầu Giáo Nguyên
thiền viên để truyền thụ tâm ấn vô tu vô chứng của Phật
tổ. Vua lại xuống chiếu phong cho sư chức Nhập nội đạo
trầng Tử y đại sa môn, được dư bàn chính sự, ngang hàng
với các quan tam ti, miễn tô thuế cho năm mươi hộ để chi
dùng việc đạo.
Ngày
ba mươi tháng một năm Hội Phong thứ 5 (1096) sư lâm bệnh,
gọi đệ tử đến đọc kệ rằng:
Xuân
khứ bách hoa lạc
Xuân
lai bách hoa khai
Sự
trục nhân tiền quá
Lão
tòng đầu thượng đáo
Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai.
Dịch:
Xuân
ruổi, trăm hoa rụng
Xuân
tới, trăm hoa cười
Trước
mắt việc đi mãi
Trên
đầu già đến rồi
Đừng
tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm
qua, sân trước, một cành một mai.
NGÔ
TẤT TỐ
(VHĐL)
Đêm
ấy sư ngồi kiết già thị tịch, thọ 45 tuổi, được mười
chín tuổi hạ. Vua Lý Nhân tông ban lễ hậu, các quan công
khanh đều đến dâng hương làm lễ hóa táng rồi thu xá lỵ
xây tháp tại chùa Sùng Nham ở hương An cách để phụng thở.
Vua ban cho sư tên thụy là Mãn Giác.
*
* *
Thiền
Sư NGỘ ẤN.
(1020-1088)
Chùa
Long An, Ninh Sơn(1), phủ Ứng Thiên.
Thiền
sư người Tư Lý, hương Kim Bài, họ Đàm, tên Khí. Mẹ họ
Cù, khi chưa lấy chồng nhà ở cạnh nghĩa địa gần khu rừng,
thấy người ta đặt bẫy bắt hết cả chim bà nói: “Thà
chết mà làm người thiện còn hơn sống mà làm kẻ ác”.
Một hôm bà đang ngồi dệt vải có con khỉ lớn từ trong
rừng chạy ra ôm lấy lưng bà suốt ngày mới bỏ đi. Sau đó
bà biết mình có mang. Đến khi sinh ra, đứa con mặt mũi xấu
xí, bà lấy làm ghét, bèn đem bỏ vào rừng. Trong hương có
sư cụ người Chiêm Thành họ Đàm trông thấy đem về nuôi,
nhân đó đặt tên là Khí (có nghĩa là vứt bỏ). Đến năm
lên mười, ông theo học Nho, học vấn ngày một tăng tiến,
giỏi cả chữ Hán và chữ Phạn. Năm mười chín tuổi xuất
gia, chịu đủ giới luật(2), nghiên cứu tinh thông cả hai
kinh Viên giác và Pháp hoa. Sau khi được thiền sư Quảng Trí
ở chùa Quán Đính truyền tâm ấn, sư bèn đến núi Ninh Sơn
kết am tranh làm chỗ ở, lấy hiệu là Ngộ Ấn. Có tăng khách
thỉnh vấn:
- Thế
nào là đại đạo?
Sư
đáp:
- Con
đường lớn.
Khách
hỏi:
- Kẻ
học này hỏi về đại đạo, thế mà hòa thượng lại đáp
là con đường lớn”, đệ tử chưa biết đến bao giờ thì
đạt tới đại đạo.
Sư
đáp:
- Mèo
con(1) chưa biết bắt chuột!
Khách
hỏi:
- Mèo
con có Phật tính không?
- Không.
- Tất
cả những vật hàm linh đều có Phật tinh, sao hòa thượng
lại nói mèo con không có?(2)
- Không,
ta chẳng phải là vật hàm linh.
- Không
phải vật hàm linh, vậy hòa thượng là Phật chăng?
- Ta
chẳng phải Phật, cũng chẳng phải vật hàm linh.
Lại
có người hỏi:
- Thế
nào là Phật, Pháp và Thiền?
Sư
đáp:
- Đấng
Vô thượng pháp vương ở thân là Phật, ở miệng là Pháp,
ở tâm là Thiền. Tuy là ba nhưng quy lại chỉ là một, cũng
ví như nước ở ngã ba sông, tuỳ chỗ mà đặt tên. Tuy tên
gọi không giống nhau nhưng tính nước thì không khác.
Ngày
14 tháng sáu năm Quảng Hựu thứ 4 (1088) khi sắp thị tịch
sư đọc lời kệ sau:
Diệu
tính hư vô bất khả phan
Hư
vô tâm ngộ đắc hà nan
Ngọc
phần sơn thượng sắc thường nhuận
Liên
pháp lô trung thấp vị can
Dịch:
Hư
vô tính diệu khó vin noi
Riêng
bụng hư vô hiểu được thôi
Trên
núi ngọc thiêu, màu vẫn nhuận
Trong
lò sen nở sắc thường tươi
NGÔ
TẤT TỔ
(VHĐL)
Đọc
xong sư thanh thản qua đời, thọ 69 tuổi. Học trò để tâm
tang ba năm.
*
* *
Thiền
sư ĐẠO HUỆ
(?-1073)
Chùa
Quang Minh, núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du.
Thiền
sư người hương chân Hộ, quận Như Nguyệt, họ Âu, tướng
mạo đoan chính, giọng nói trong trẻo. Từ năm 25 tuổi xuất
gia theo hầu sư Ngô Pháp Hoa(1) ở chùa Phổ Ninh học hỏi được
nhiều điều uyên áo của cửa huyền. Sau sư đến trụ trì
chùa Quang Minh, giữ nghiêm giới luật, chuyên tu thiền định,
trong vòng sáu năm lưng không bén chiếu, hiểu sâu phép Tam
quán Tam ma địa, học trò đông đến hơn một nghìn người.
Tiếng sư tụng kinh ngày đêm cảm hóa cả khỉ vượn trong
núi, khiến chúng kéo từng đàn đến chùa nghe kinh. Vì thế
danh tiếng của sư vang truyền đến kinh đô.
Năm
Đại Đính thứ 20 (1159 đời Lý Anh Tông) hoàng phi Thụy Minh
bị ốm, vua sai sứ vời sư đến xem bệnh. Ngày sư lên đường
khỉ vượn gào khóc quyến luyến. Khi sư vào cung, vừa đến
cửa phòng của hoàng phi thì bệnh của phi bèn khỏi. Vua Lý
Anh Tông mừng lắm, mời sư nghỉ lại ở tân quán trong chùa
Báo Thiên. Trong khoảng 1 tháng, các quan công khanh, đạo hữu
hâm mộ danh tiếng đến tham thính nhiều không kể xiết. Sư
bèn đến thuyết pháp ở nhà giảng. Từ đó sư không về
núi nữa. Tăng chúng các nơi đến xin làm đệ tử rất đông.
Ngày
mồng một tháng 8 năm Ất Hợi niên hiệu Chính Long Bảo ứng
thứ 10 (1173), sư lâm bệnh, than rằng:
- Loạn
li lan rộng, do đâu mà xẩy ra?
Nói
đoạn đọc lời kệ rằng:
Địa,
thủy, hỏa, phong, thức
Nguyên
lai nhất thiết không
Như
văn hoàn tụ tán
Phật
nhật chiếu vô cùng.
Dịch:
Đất,
nước, lửa, gió, thức
Hết
thảy vốn đều “không”
Như
mây tan rồi tụ
Phật
nhật chiếu không cùng
Sư
lại nói:
Sắc
thân dữ diệu thể
Bất
hợp bất phân ly
Nhược
nhân yếu chân biệt
Lô
trung hoa nhất chi.
Dịch:
Sắc
thân và diệu thể
Chẳng
hợp, chẳng lìa xa
Kẻ
nào toan tách biệt
Lò
lửa, một cành hoa.
HOÀNG
LÊ
(TVLT
1)
Canh
ba đêm ấy sư lặng lẽ qua đời. Học trò là Quách tăng thống
lo liệu lễ vật, đưa thi hài sư về quận nhà làm lễ hóa
táng rồi xây tháp ở bên cạnh chùa Long Khám núi Tiên Du,
một phần xá lị đem về thờ ở Vạn Tuế tại Thăng Long.
*
* *
Thiền
sư BIỆN TÀI
Người
Quảng Châu (Trung Quốc), đến nước ta vào thời Lý Thánh
Tông (1054 – 1071) nối pháp tự của Thông Biện quốc sư,
từng vâng sắc chỉ biên sửa sách Chiếu đối lục.
Thiền
sư BẢO GIÁM
(?
-1173)
Chùa
Bảo Phúc, quận Mỹ Lãng(1).
Thiền
sư người hương Trung Thụy, họ Kiều, tên Phù, là người
trung tín, kính cẩn, chân thực, chất phác, điềm đạm. Từ
nhỏ theo Nho học, có tài viết chữ đẹp, các sách Thi, Thư,
Lễ, Dịch không sách nào không để tâm nghiên cứu. Dưới
triều vua Lý Anh Tông, ông làm quan đến chức Cung hầu xá
nhân. Năm ba mươi tuổi xin thôi việc quan, đến chùa Bảo
Phúc ở hương Đa Vân xin xuất gia. Các sách kinh tàng ở chùa
ấy đều do tay sư chép. Sau khi sư trụ trì chùa quy tịch,
sư tiếp nối làm trụ trì. Chẳng mấy chú ý đến bản thân,
sư thường ăn vận đồ sô gai, hàng tơ lụa không bao giờ
dùng đến. Năm này qua năm khác cứ giữ một mực như thế.
Lúc nghỉ ngơi, sư thường bảo học trò:
Muốn
lên cỗ xe truyền đạo của Phật thì phái siêng năng. Muốn
thành tựu được sự chính giác của Phật thì phải có trí
tuệ. Cũng như người bắn cung, ngoài một trăm bước thì
phải dùng sức để bắn tới nơi, nhưng để trúng đích thì
không cần dùng sức vậy.
Ngày
7 tháng 5 năm Chính Long Bảo ứng thứ 11 (1173) khi sắp viên
tịch, sư đọc bài kệ rằng:
Đắc
thành chính giác hãn băng tu
Chỉ
vị lao lung tri tuệ(1) ưu
Nhận
đắc ma ni huyền diệu lý
Chỉ
như thiên thượng hiểu kim ô.
Dịch:
Mấy
ai thành Phật ở tu hành?
Chỉ
trói cùm thêm tri óc mình
Thấu
lẽ huyền vi trong ngọc sáng
Là
vầng dương hiện giữa trời xanh
NGUYỄN
ĐỒNG CHI
(TVLT
1)
Lại
một bài khác:
Tri
giả do như nguyệt chiếu thiên
Quang
hàm trần sát chiếu vô thiên
Nhược
nhân yếu thức tu phân biệt
Lĩnh
thượng phù sơ tỏa mộ yên.
Dịch:
Trí
tuệ như trăng chiếu khắp trời
Sáng
trùm trần thế chẳng riêng ai
Ví
người hiểu lẽ không phân biệt
Núi
phủ mây chiều cây cỏ tươi
ĐàO
PHươNG BINH
(TVLT
1)
Sư
nói lời cuối:
- Cả
Tâm và Ý của Như lai đều không thể hiểu hết được. Chỉ
có thể dùng Vô lượng Tri mới biết được. Cho nên biết
Tâm Như lai như hư không là chỗ dựa cho tất cả. Trí tuệ
của Như lai cũng là như thế.
Nói
xong sư qua đời, môn đồ thu xá lị xây tháp phụng thời.
*
* *
Thiền
sư KHÔNG LỘ
(?-1119)
Chùa
Nghiêm Quang, hương Hải Thanh (1)
Thiền
sư họ Dương, người Hải Thanh, nhà mấy đời làm nghề đánh
cá, sau bỏ nghề theo tu hành đạo Phật. Sự chuyên chú tu
trì pháp môn Đà La Ni (Dharàni). Khoảng niên hiệu Chương Thánh
Gia Khánh (1059 – 1065, đời Lý Thánh Tông), sư cùng đạo hữu
là Giác Hải đi vân du cõi ngoài, dấu kín tông tích, đến
chùa Hà Trạch, ăn rau mặc lá, quên cả thân mình, dứt hết
mọi điều mong muốn, một lòng chuyên chú tu tập thiền định.
Rồi sư thấy tâm thần, tai mắt ngày càng sáng láng thông
tỏ, bay trên không, đi dưới nước, hàng long phục hổ, muôn
nghìn phép lạ không lường hết được. Sau sư về bản quận
dựng chùa trụ trì.
Một
hôm người hầu đến thưa với sư:
- Đệ
tử từ khi đến đây chưa được hòa thượng chỉ giáo tâm
yếu. Nay có bài kệ xin trình hòa thượng:
Đoàn
luyện hâm tâm thủy đắc thanh
Sum
sum trực cán đối hư đình
Hữu
nhân lai vấn Không vương pháp
Thân
tọa bình biên ảnh tập hình.
Dịch:
Rèn
luyện thâm tâm tựa nước thanh
Sân
thênh cổ thụ tỏa sum cành
Có
người thỉnh giáo nguồn pháp Phật
Lưng
dựa bình phong, bóng tựa hình.
Sư
xem xong nói:
- Ngươi
đem kinh đến, ta nhận, đem nước đến, ta uống, sao bảo
ta không truyền tâm yếu?
Nói
đoạn sư ha hả cười vàng. Sư từng đọc bài kệ:
Tuyển
đắc long xà địa khả cư
Dã
tình chung nhật lạc vô dư
Hữu
thì trực thướng cô phong dính
Trường
khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Dịch:
Kiểu
đất long xà chọn được nơi
Tình
quê lai láng chẳng hề vơi
Có
khi xông thẳng lên đầu núi
Một
tiếng kêu vang, lạnh cả trời
KIỀU
THU HOẠCH
(TVLT)
Ngày
3 tháng 6 năm Kỷ Hợi niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ
10 (1119) sư thị tịch. Môn nhân thu xá lị táng [ở tháp] trước
cửa chùa. Vua Lý Nhân Tông cho sửa sang mở rộng chùa Nghiêm
Quang, miễn tô thuế cho 20 hộ để đèn hương phụng thờ.
(Tuổi
thọ của sư không khảo được. Nay theo thế thứ truyền pháp
ở sách Nam Tông đồ(1) ghi lại tại đây).
Thiền
sư BẢN TỊNH
(1100-1176)
Am
Bình Dương, núi Kiệt Đặc, huyện Chí Linh.
Thiền
sư họ Kiều, người hương Phù Diễn, quận Vĩnh Khang. Thuở
nhỏ ông hiếu học, hiểu sâu lẽ sinh tử huyền vi của đạo
Phật, sửa mình theo đạo đức nhân nghĩa của nhà Nho. Sau
ông xuất gia, đắc pháp với thiền sư Mãn Giác ở chùa Giáo
Nguyên. Năm Đại Định thứ 2 (1141, đời Lý Anh Tông) sư đến
trụ ở núi Kiệt Đặc. Quan hữu bật Ngụy Quốc Bảo kính
phục đạo đức của sư kính lễ như thầy. Sau sư nhận lời
thỉnh của thánh Dương công chúa đến trụ trì chùa Kiền
An ở kinh đô Thăng Long. Sư có bài kệ phát nguyện như sau:
Thế
thế sinh sinh
Bất
muội phật chỉ
Tự
giác giác tha
Vô
gian bỉ thứ
Phương
tiện đề huề
Nhập
ư nhất quỹ.
Dịch:
Kiếp
kiếp đời đời
Không
mờ ý Phật
Tự
giác, giác tha
Không
chia ta – vật
Phương
tiện giúp nhau
Lối
chung bước gấp
MAI
XUÂN HẢI
Ngày
tháng giêng năm Trinh Phù thứ nhất (1176) đời Lý Cao Tông),
sư không bệnh gọi đệ tử đến bảo rằng:
Nhất
quỹ nhất quỹ
Thạch
miêu dao vĩ
Trịch
thân tróc thử
Hoàn
hóa vi quỷ
Nhược
yếu phân minh
Kim
sinh lệ thủy.
Dịch:
Một
nẻo, một nẻo
Mèo
đá vẫy đuôi
Lao
tới vồ chuột
Lại
hóa thành quỷ
Nếu
mà rõ được
Vàng
sinh lệ thủy(1)
MINH
CHI
Lại
đọc bài kệ:
Huyền
thân bản tự không tịch sinh
Do
như kính trung xuất hình tượng
Hình
tượng giác liễu nhất thiết không
Huyễn
thân tu du chứng thực tướng.
Dịch:
Thân
huyễn vốn từ không tịch sanh
Dường
tựa trong gương hiện bóng hình
Hiển
rành hình tượng là không huyễn
Thân
huyễn phút giây chứng thực tướng
MINH
CHI
Đọc
kệ xong, sư qua đời, thọ 77 tuổi.
*
* *
Thế
hệ thứ mười
12
người, chép thiếu 2 người
Thiền
sư MINH TRÍ
(?-1196)
Chùa
Phúc Thánh, hương Điển Lãnh.
Sư
họ Tồ, còn pháp danh là Thiền Trí, người hương Phù Cầm(1).
Ông bẩm tính thông minh, đọc rộng các sách. Đến tuổi trưởng
thành có nhân duyên được gặp Đạo Huệ thượng sĩ, bèn
bỏ Nho học, mặc áo cà sa, thỉnh vấn được yếu chỉ của
đạo huyền. Sư thông hiểu tôn chỉ các kinh Viên giác, Nhân
vương, Pháp hoa truyền giảng không biết mệt, được Đạo
Huệ đặt cho pháp danh là Minh Trí.
Một
hôm sư đang cắt cỏ, có vị tăng khách khoanh tay đến đứng
bên cạnh. Sư nhanh tay vung liềm về phía tăng khách, cắt một
bụi cỏ. Tăng khách hỏi:
- Người
xưa nói: Hòa thượng cắt được cái gì đấy?
Sư
giơ cái liềm lên. Tăng khách đỡ lấy rồi vùng tay làm một
động tác như cắt cỏ. Sư nói:
- Còn
nhớ câu nói sau của ngươi không? Người chỉ cắt được
cái kia chứ không cắt được cái này.
Tăng
khách thôi hỏi, bỏ đi.
Sư
kể lại cho tăng đồ khách nghe chuyện ấy. Vị tăng đồ
đứng cạnh nói:
- Người
nói là Văn Thù, kẻ im lặng là Duy Ma(1)
Sư
nói:
- Không
nói không lặng, chẳng phải là ngươi sao?
Vị
tăng ấy nhận là phải. Sư hỏi:
- Sao
không hiện pháp thần thông?
Tăng
đáp:
- Đệ
tử không từ chối. Nhưng hiện pháp thần thông chỉ sợ hòa
thượng thu vào trong đạo.
Sư
nói:
- Thế
là ngươi chưa phải đã có con mắt của tông phái Giáo ngoại(2)
Nói
đoạn sư đọc kệ rằng:
Giáo
ngoại khả biệt truyền
Hy
di Tố, Phật uyên
Nhược
nhân dục biện đích
Dương
diệm mịch cầu yên.
Dịch:
Giáo
ngoại khá riêng truyền
Phật,
Tổ đạo uyên nguyên
Nếu
mong thấy rõ đích
Hãy
tìm mây khói lúc nắng xuân lên!
Năm
Bính Thìn niên hiệu Thiên Sư Gia Thụy thứ 11 (1169 đời Lý
Cao tông) trước khi thị tịch, sư đọc bài kệ:
Tùng
phong thủy nguyệt minh
Vô
ảnh diệc vô hình
Sắc
thân giá cá thị
Không
không tầm hưởng thanh.
Dịch:
Thông
reo trăng nước sáng
Không
ảnh cũng không hình
Sắc
thân cũng thế vậy
Hư
không tìm tiếng vang!
Đọc
kệ xong, sư lặng yên qua đời
*
* *
Thiền
sư TÍN HỌC
(?-1190)
Chùa
Quán Đính, núi Không Lộ.(1)
Thiền
sư người hương Chu Minh, phủ Thiên Đức, họ Tô, gia đình
mấy đời làm nghề khắc ván in kinh. Từ nhỏ sư đã sống
thanh tịnh, không giao du hỗn tạp. Ba mươi hai tuổi theo Du
thiền sư đến núi Tiên Du, theo hầu thiền sư Đạo Huệ trong
khoảng ba năm, hiểu sâu tông chỉ. Sau đó sư một mình một
gậy đi vân du, rồi dừng lại trụ trì chùa Quán Đính. Sư
đứng trước tượng Phật đốt ngón tay phát nguyện:
- Đệ
tử này đã bao kiếp lao khốn trong vòng trần ai. Nay xin dứt
hẳn không quay lại nữa.
Sư
chuyên tâm nghiên cứu chép Tam quán của kinh Viên giác. Trong
nhiều năm, hàng ngày chỉ ăn một bữa, hình dung khô héo tiều
tụy, dứt hết lòng ham muốn. Nhờ đó hiểu sâu chính định
Tam quán. Công khanh sĩ thứ ở kinh đô biết sư là bậc cao
nhã, ai cũng ngưỡng mộ muốn được học. Sư nói:
- Có
lợi tất có nhiễm, có nhiễm tất có lợi. Có nhiễm có lợi
thì bậc Bồ Tát không làm, chỉ làm những điều gì không
lợi không nhiễm.
Ngày
9 tháng giêng năm Canh Thân(1) niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy thứ
5 (1190) sư lâm bệnh, gọi tăng chúng đến đọc bài kệ:
Sơn
lâm hổ báo
Hoành
văn ban bác
Nhược
dục chân biệt
Tử
thối mẫu trác
Dịch:
Rừng
sâu báo hổ
Da
vằn loang lổ
Nếu
muốn phân rõ
Con
kêu mẹ mổ(2)
Đọc
kệ xong [sư qua đời](3)
*
* *
Thiền
sư TỊNH KHÔNG
(1091-1170)
Chùa
Khai Quốc, phủ Thiên Đức
Thiền
sư vốn người Phúc Châu (Trung Quốc), họ Ngô. Lúc đầu sư
xuất gia thụ giới cụ túc ở Viện Sùng Phúc thuộc bản
châu. Năm ba mươi tuổi, sư hành cước về phương nam, rồi
dừng lại trụ trì chùa Khai Quốc nước ta. Trong khoảng năm
sáu năm sư tu hạnh Đầu đà, mỗi ngày chỉ ăn một nhúm
hạt vừng hay hạt mạch, lưng không bén chiếu, chỉ ngồi
thiền, mỗi lần nhập định suốt mấy ngày liền mới đứng
dậy. Người bốn phương dâng phẩm vật cúng dàng chất đầy
chùa. Có lần kẻ trộm đến rình ngoài cửa, sư bèn gọi
vào chỉ cho mà lấy. Bấy giờ Nam Khang công chúa có ý muốn
lìa tục, ngầm xin sư cho làm lễ xuống tóc xuất gia. Triều
đình biết chuyện hạ chiếu bắt sư vào triều. Sư đến
cửa khuyết nét mặt vẫn thản nhiên như không có chuyện
gì. Vua thấy vậy tỏ ý kính trọng, phong là “Thạc đức
danh tăng” (vị danh tăng có đức lớn). Sư có từ không nhận.
Một
hôm sư lên nhà giảng, có vị tăng khách chống gậy đến
hỏi:
- Thế
nào là pháp thân?
Sư
đáp:
- Pháp
thân vốn không hình.
Khách
lại hỏi:
- Thế
nào là pháp nhãn?
Sư
đáp:
- Pháp
nhân vốn không bóng.
Sư
lại nói:
- Trước
mắt không có pháp. Ý ở trước mắt, còn pháp thì tai không
nghe, mắt không nhìn thấy được.
Tăng
khách ha hả cười vang. Sư hỏi:
- Khách
cười cái gì?
Khách
đáp:
- Hòa
thượng là bậc xuất gia chưa hiểu tông chỉ, phải đến
tham vấn Đạo Huệ mới xong.
Sư
nói:
- Liệu
có tìm được vị hòa thượng ấy không?
Khách
đáp:
- Trên
không mái che, dưới không dùi cắm.
Sư
bèn cải dạng đi tham thỉnh thiền sư Đạo Huệ ở núi Tiên
Du. Đạo Huệ nói:
- Tông
chỉ ở đây chẳng phải là không có, nhưng Xà Lê(1) làm sao
mà bảo nhậm được?
Sư
còn nghĩ ngợi, Đạo Huệ quát lớn:
- Ngày
trước mắt ngươi đã trượt qua rồi.
Sư
liền lĩnh ngỗ yếu chỉ, rồi ở lại hầu hạ Đạo Huệ
thiền sư. Sau ba năm sư đắc pháp trở về chùa cũ, nhận
môn đồ để truyền thụ.
Một
hôm sư gọi tăng chúng đến đọc bài kệ rằng:
Thượng
vô phiến ngoã già
Hạ
vô trác chùy địa
Hoặc
dịch phục trực nghệ
Hoặc
sách trượng nhi chi
Động
chuyển xúc xứ gian
Tự
long được thôn nhĩ.
Dịch:
Trên
không viên ngói lợp
Dưới
không đất cắm dùi
Người
cải dạng đến học
Kẻ
chống gậy vào chơi
Khi
chuyển động tiếp xúc
Như
rồng nhảy nuốt mồi
BĂNG
THANH
(TVLT1)
Một
thầy tăng hỏi:
- Lời
dạy của hòa thượng nghĩa thế nào?
Sư
đáp:
- Ngày
ngày gặt lúa về
Quanh
năm kho đụn rỗng.
(Nhật
nhật khứ hoạch hòa
Thì
thì không thương lẫm)
Tăng
nói:
- Đệ
tử chưa hiểu.
Sư
nói:
- Sáng
mãi trời trăng
Mây
trôi tỏa bóng
(Nhật
nguyệt trường minh
Phủ
văn cái ấm)
Nói
đoạn sư lại đọc bài kệ:
Trí
nhân vô ngộ đạo
Ngộ
đạo tức ngu nhân
Thân
cước cao ngọa khách
Hề
thức ngụy kiêm chân.
Dịch:
Kẻ
trí không ngộ đạo
Ngộ
đạo ấy ngu đần
Duổi
chân nằm nghỉ khỏe
Chân
ngụy chẳng chi cần!
Hỏi:
- Thế
nào là Phật?
Đáp:
- Nhật
nguyệt sáng soi ức triệu cõi
Ai
hay mua móc gội non sông!
(Nhật
nguyệt lệ thiên hàm ức sát(1)
Thùy
tri văn vụ lạc sơn hà)
Hỏi:
Làm thế nào hiểu được?
Đáp:
- Mục
đồng quen ngủ trên lưng nghé
Đất
có anh hùng cưỡi vượt qua
(Mục
đông chi quán ngọa ngưu bối
Thổ
hữu anh hùng khóa đắc y)
Hỏi:
- Ý
Tổ và ý Phật giống nhau, khác nhau thế nào?
Đáp:
- Trèo
non vượt biển muôn dặm đều hướng về cửa khuyết.
- Trí
tuệ của hòa thượng thật đặc sắc kỳ lạ, sao không cho
các đệ tử cùng biết?
- Người
thổi lửa, ta làm gạo; ngươi xin ăn, ta lấy bát. Ai phụ bạc
ngươi?
Thầy
tăng ấy bèn tỉnh ngộ.
Ngày...
tháng... năm Chính Long Bảo Ứng thứ 8 (1170, đời Lý Anh Tông),
sư sắp thị tịch, gọi tăng chúng đến nói lời vĩnh quyết:
- Các
người hãy giữ mình như khi ta còn sống, chớ nhiễm thế
tục mà sinh ra đau buồn.
Nửa
đêm hôm ấy, sư ngồi kiết già mà viên tịch, thọ hơn 80
tuổi.
(Lời
đối đáp cơ duyên trong truyện này so với truyện hòa thượng
Giáp Sơn trong sách Truyền đăng có phần nào giống nhau. Xét
sách Liệt tổ của Huệ Nhật thấy chép khách, nhưng không
dám cái chính).
*
* *
Thiền
sư ĐẠI XẢ
(1120-1180)
Chào
Bác Đức, núi Vũ Ninh.
Thiền
sư họ Hứa, người phường Đông Tác. Xuất gia từ lúc còn
nhỏ, theo tu tập Thiền học với Đạo Huệ thiên sư ở Tiên
Du, đã hiểu biết được đại khái. Sư thường xoã tóc quên
ăn, không ở hẳn một nơi nào nhật định. Các bậc vương
công tranh nhau thờ làm thầy, nhất là Kiến Ninh vương và
Thiên Cực công chúa (1) đối với sư lại càng tôn kính. Sư
từng dựng chùa ở gò Hồ Nham núi Tuyên Minh để giáo hóa,
học trò đến theo học rất đông. Bấy giờ có thầy tăng
người nước Tống là Nham Ông cảm mộ danh tiếng của sư,
tìm đến thỉnh vấn, tự đốt một ngón tay đem dâng sư để
tỏ lòng thành. Người ta nghi ngờ sư có yêu thuật. Trong niên
hiệu Thiên cảm Chí Bảo (1174 – 1175) đời Lý Anh Tông, thai
úy Đỗ Anh Vũ ra lệnh bắt sư đem về giam ở thành nội,
quở trách nặng nề, nhưng sư không hề tỏ ý sợ hãi. Nhờ
có Thiên cực công chúa xin với vua nên sư mới khỏi bị tội.
Một
hôm vua Lý Anh Tông vời sư đến hỏi:
- Trẫm
nhiều phiền cảm, có phép gì chữa khỏi không?
Sư
nói:
- Phép
thập nhị nhân duyên(1) là gốc rễ của vòng sinh tử tuần
hoàn. Bệ hạ dùng phép ấy thì đó là thuốc chữa bệnh vây.
Vua
hỏi tông chỉ của pháp ấy thế nào, sư đáp:
- Chỉ
vì nhân duyên vô minh mà dẫn đến mọi buồn lo khổ não.
Muốn cầu Bích Chi Phật(2) phải hiểu rõ thập nhị nhân duyên
để giữ mình thì mới hết nghiệp căn khổ não.
Vua
nói:
- Thế
thì trẫm phải tĩnh tâm tu tập.
Sư
nói:
- Phải
cấm trừ nghiệp thức(3) giữ lòng yên tĩnh thì mới quét
sạch phiền não. Ngoài ra không có phép riêng nào đáng phải
tu tập. Ngày xưa Lương Vũ Đế từng hỏi Bảo Chí thiền
sư, Bảo Chí cũng trả lời như thế. Nay bần đạo trộm phép
nói tương tự để bệ hạ tham cứu.
Ngày
5 tháng 2 năm Trinh Phù thứ 5 (1180) sư dặn dò đệ tử xong,
đọc kệ rằng:
Tứ
xà đồng kiệp bản nguyên không
Ngũ
uẩn cao sơn diệc bất tông
Chân
tinh linh minh vô khuể ngại
Niết
Bàn sinh từ nhậm già lung.
Dịch:
Tứ
xà(1) cùng giỏ vốn nguyên không,
Ngũ
uẩn(2) non cao chẳng tổ tông
Chân
tính sáng thiêng không trở ngại
Niết
Bàn sinh tử mặc giam lồng
MAI
XUÂN HẢI
Lại
đọc tiếp một bài kệ khác:
Thạch
mã xỉ cuồng ninh
Thực
miêu nhật nguyệt minh
Đồ
trung nhân cộng quá
Mã
thượng nhân bất hành.
Dịch:
Ngựa
đá nhe răng cuồng
Ngày
tháng kêu ăn mạ
Trên
đường người cùng qua
Cưỡi
ngựa, người không đi!
MINH
CHI
Canh
năm hôm ấy sư uống thuốc độc mà qua đời, thọ 61 tuổi.
*
* *
Thiền
sư TINH LỰC
(1112-1175)
Am
Việt vương trì, núi Tỉnh Cương, huyện Vũ Ninh.
Thiền
sư người Cát Lăng, huyện Vũ Bình, họ Ngô, tên húy là Trạm.
Từ thủa nhỏ thông minh, giỏi biện luận, có tài văn nghệ,
nhất là viết chữ rất đẹp. Khi du học được gặp thiền
sư Đạo huệ, ông bị cuốn hút, bèn dốc lòng nương nhờ
đất Phật. Trải bao năm tháng sư ăn rau mặc lá, chuyên tâm
tu trì phúc tuệ, đạo tâm ngày càng kiên vững. Đạo Huệ
từng bảo sư:
- Tâm
ấn của chư Phật đều có cả ở ngươi, không phải tìm
ai khác.
Sư
nói:
- Đội
ơn thầy chỉ giáo, chẳng hay đệ tử nên tru phương nào?
Đạo
Huệ đáp:
- Chẳng
phải đi đâu xa, cứ về đất cũ Vũ Ninh cũng đủ.
Sư
bèn đến núi Tỉnh Cương chụm lều tranh mà trụ, sáng sớm
đến đêm khuya lễ Phật sám hối, chứng được phép niệm
Phật tam muội(1), tiếng sư tung kinh niệm Phật sang sảng như
âm thanh ở chốn Phan thiện.
Sư
thường giảng kinh Viên Giác, thấy văn bản kinh sách có chỗ
nghĩa lý bất thông thì cầm bút sửa lại, người đương
thời thường nói vui là trong miệng sư có chất thư hoàng.
Ngày
tháng... năm Thiên Cảm Chí Bảo thứ 2 (1175) sư lâm bệnh,
gọi đệ tử đến dặn bảo:
- Các
ngươi cần phải siêng lòng cúng dàng, không phải cầu Phật
ở đâu khác. Phải trừ dệt hết ác nghiệt, miệng đọc
tâm tụng, lấy đức tin mà giảng giải cho chúng sinh. Hãy
giữ lòng yên tỉnh thanh không, thân gần kẻ thiện trí thức,
lời nói hòa nhã, chẳng bao lâu trong tâm hết sợ hãi, hiểu
thấu giáo lý, xa rời ngu mê, truyện không động. Tất cả
mọi pháp vô thường, vô ngã, vô tác, vô vi, chỗ nào thấy
chênh lệch xa rời phải biết phân biệt để hiểu rõ, như
thế mới đáng là người học đạo chân chính. Duyên hóa
độ của ta đến nay thế là xong.
Nói
đoạn sư đọc bài kệ;
Tiên
tuy ngôn cát hậu ngôn hung
Tự
thị thừa(1) tiên húy bất tòng
Vi
ngộ hiện long vi Phật tử
Hối
tao thử xuất tịch vô cùng.
Dịch:
Trước
tuy là cát, sau là hung
Giáo
huấn người xưa tránh chẳng dùng
Vì
thấy rồng lên làm Phật tử
Chợt
trông chuột hiện lặng vô cùng.
Đọc
kệ xong, sư nghiêm trang qua đời, thọ 64 tuổi.
*
*
*
Thiền
sư TRÍ BẢO
(?
– 1190)
Chùa
Thanh Tước, núi Du Hí, hương Cát Lị Hi,(1) quận Thường Lạc.
Sư
người Ô Diên, quận Vĩnh Khang, họ Nguyễn, là cậu của thái
úy Tô Hiến Thành đòi Lý Anh Tông. Sư bỏ tục, xuất gia tu
hành ở chùa Thanh Tước, ăn gạo hút, mặc áo rách, dễ đến
mười năm chỉ dùng một manh áo, cứ ba ngày mới nhóm lửa
thổi cơm, chẳng bao lâu da dẻ sần mồi, nhan sắc hô héo.
Khi ra đường thấy kẻ nghèo hèn thì khoanh tay tránh lối,
gặp người tu hành thì quỳ mà lạy chào. Trong sáu năm, sư
chuyên chú tu tập thiền định, sau khi thành đạo bèn chống
gậy xuống núi. Từ đó sư đi phổ khuyến các nơi để lo
việc sửa cầu, dựng chùa tháp, không nghĩ đến điều lợi.
Có
vị tăng khách đến hỏi sư:
- Sinh
từ đâu tới? Tử đi về đâu?
Sư
còn nghĩ ngợi, tăng khách nói:
- Còn
đang nghĩ ngợi
vạn
dặm mây trôi
(Nghĩ
nghị chi gian
Bạch
Văn vạn lý)
Sư
không đáp được. Tăng khách bèn quát:
- Chùa
tốt mà không có Phật!
Tăng
khách nói xong bỏ đi.
Sư
than rằng: “ta tuy có lòng xuất gia mà chưa hiểu thấu tông
chỉ cũng ví như người đào giếng sâu đến chín nhẫn mà
không gặp nước, còn đợi gì mà không bỏ cái giếng ấy
đi! Huống chi ta tu thân mà không ngộ đạo, biết tính thế
nào”?
Từ
đó sư đi vân du bốn phương tìm thấy học đạo. Nghe danh
thiền sư Đạo Huệ ở Tiên Du, sư bèn tìm đến tham vấn.
Sư lại nêu câu hỏi: “Sinh từ đâu tới, tử đi về đâu?”.
Đạo
Huệ đáp:
- Sinh
không từ đâu tới, tử chẳng về đâu.
Sư
hỏi:
- Thế
chẳng phải rơi thoát vào chỗ trống không ư?
Đạo
Huệ đáp:
- Chân
tính diệu viên, thể tự không tịch; vận dụng tự tại chẳng
cùng với sinh tử. Cho nên nói sinh không từ đâu tới, tử
chẳng về đâu.
Nghe
câu nói ấy, sư bèn lĩnh ngộ, thưa rằng:
- Chẳng
nhờ gió cuốn mây bay tạnh
Nào
thấy trời thu vạn dặm xanh
(Bất
nhân phong quyên phù vân tận
Tranh
kiến thanh niên vạn lý thu)
Đạo
Huệ nói:
- Người
thấy cái gì?
Sư
đáp:
- Quen
biết khắp thiên hạ
Tri
âm được mấy người?
(Tương
thức mãn thiên hạ
Tri
âm năng kỷ nhân)
Nói
xong từ tạ trở về núi cũ. Từ đó, sư tự tin truyền giảng
thuyết pháp, lời lẽ kích thiết như xiết đá đánh lửa.
Một
hôm sư lên nhà giảng, tăng đồ và tu sĩ ngồi chật như nêm.
Có người hỏi:
- Thế
nào là “tri túc”?
Sư
đáp:
- Phàm
người xuất gia, tại gia phải dừng lại ở chỗ “tri túc”.
Nếu biết “tri túc” thì ngoài không xâm phạm đến ai mà
trong không tổn hại đến mình. Bé mọn như lá cỏ, nếu người
ta không cho, mình cũng không nên lấy, huống gì là vật khác?
Của cải của người, nếu ta mơ tưởng đến thì cuối cùng
không chỉ dừng ở đó mà sẽ sinh lòng trộm cắp. Đến như
vợ cả, vợ lẽ của người, nếu ta mơ tưởng thì cũng không
dừng ở đó mà sẽ sinh lòng tà dâm. Các ngươi hãy nghe lời
kệ của ta:
Bồ
Tát tư tài tri chỉ túc
Ư
tha từ thứ bất xâm dục
Thảo
diệp bất dữ ngã bất thủ
Bất
tưởng tha vật đức như ngọc
Bồ
tát tự thê phương tri túc
Như
hà tha thê khởi thàm dục
Ư
tha thê thiếp tha sở hộ
An
nhẫn tự tâm khởi tâm khúc.
Dịch:
Của
dùng Bồ Tát biết vừa đủ
Đối
ngươi thương xót chẳng lấn tham
Vật
mọn không cho ta không lấy
Chẳng
quản của người đức ngọc lành
Bồ
tát vợ nhà còn biết đủ
Tại
sao vợ người lai khởi tham?
Thê
thiếp của người, người bảo hộ
Đâu
nỡ lòng mình khởi vạy tà
THANH
TỪ
(TSVN)
Ngày
14 tháng 4 năm Gia Thụy thứ 5 (1190) sư lâm bệnh rồi qua đời.
Đệ tử làm lễ hóa táng, thu linh cốt, dựng tháp thờ ở
sơn môn.
Thiền
sư TRƯỜNG NGUYÊN
(1110
– 1165)
Chùa
Sóc Thiên vương, núi Vệ Linh, (1) Bình Lỗ.
Thiền
sư người hương Trường Nguyên, huyện Tiên du, họ Phạm,
vốn thuộc giống người Bối. Lúc mới xuất gia được thiền
sư Đạo Huệ ở chùa Quang Minh truyền tâm ấn. Sâu vào núi
Vệ Linh ẩn tích, ăn rau rừng, hạt dẻ, làm bạn với suối,
khe, khỉ, vượn, suốt ngày dồi luyện thâm tâm cho đạt được
sự hồn thuần để tụng kinh niệm Phật. Trong khoảng năm,
sáu năm sư lặng lẽ tu trì nên không ai hay biết. Nhưng cuối
cùng rồi danh tiếng của sư cũng lan truyền đến kinh đô.
Vua Lý Anh Tông lấy làm hâm mộ, muốn triệu kiến mà không
chịu đến. Vua bèn sai bạn cũ của sư là phiên thần Lê Hối
đến khuyên mời. Sự nhận lời cùng đi nhưng khi đến chùa
Quán Hương lại lấy làm hối, bèn trốn về, nói với học
trò:
- Ta
đã thân khô lòng nguội, đối với thế tục, phù phiếm hư
ngụy có đáng là gì? Có lẽ là do chí hạnh của ta chưa thuần
nên còn bị cái lòng lợi danh làm khốn!. Các ngươi hãy nghe
lời kệ của ta:
Viên
hầu bảo từ qui thanh chướng
Tự
cổ thánh hiền một khả lượng
Xuân
lai oanh chuyển bách hoa thăm
Thu
chi cúc khai một mô dạng.
Dịch:
Khỉ
vượn bồng con náu núi ngàn
Từ
xưa hiền thánh mấy ai tường?
Xuân
sang hoa thắm oanh ca rộn
Thu
tới còn riêng cúc nở vàng.
MAI
XUÂN HẢI
Sư
lại từng nói với môn đồ:
- Lạ
thay! Lạ thay! Tại sao lại nói các chúng sinh đều có trí
tuệ của Như Lai mà vẫn ngụ si mê hoặc, không thấy, không
biết. Ta thường đem đạo lý giáo hóa khiến cho họ lìa bỏ
vông tướng chấp trước để tự mình thấy được trí tuệ
rộng lớn của Như Lai, được lợi ích an lạc.
Ngày
7 tháng sáu năm Chính Long Bảo ứng thứ 3 (1165), sư se mình,
gọi đệ tử đến đọc lời kệ:
Tại
quang tại trần
Thường
ly quang trần
Tầm
phủ trừng triệt
Dữ
vật vô hận
Thể
ư tự nhiên
Ứng
vậy vô ngân
Tồng
tương nhị nghi
Đào
thải nhân luân
Đình
độc vạn vật
Dữ
vật vi xuân
Tác
vũ thiết nữ
Đả
cố mộc nhân.
Dịch:
Ở
nơi bóng trần
Thường
lìa bóng trần
Lòng
dạ trắng trong
Cùng
vật không thân
Tài
bằng trời đất
Vượt
cá nhân luân
Dưỡng
muôi muôn vật
Cùng
vật vui xuân
Gái
sắt đứng múa
Người
gỗ đánh trống
THẠCH
TỪ
(TSVN)
Đọc
kệ xong sư quy tịch, thọ 56 tuổi
*
* *
Thiền
sư TỊNH GIỚI
(?
– 1207)
Chùa
Quốc Thanh, núi Bí Linh, phủ Nghệ An (có thuyết nói chùa Quốc
Thanh ở Phủ Trường An)
Thiền
sư quê ở hương Giang Mãn, đất Lô Hải Ngung(1) họ Chu, húy
là Hải Ngung, xuất thân nhà nghèo, tính tình trung thực thuần
hậu. Thuở nhỏ ông theo Nho học. Năm hai mươi sáu tuổi bị
ốm, chiêm bao thấy người trời xuống cho thuốc, tỉnh dậy
thì khỏi bệnh. Từ đó quyết chí xuất gia, tìm các bậc
túc thiền trong bản hương để tu tập giới luật. Nghe nói
Lăng Sơn là nơi u tịch, có thể đến tìm thầy học đạo.
Sư bèn chống gậy đi về phía đông. Trong khoảng bẩy năm
theo hầu thiền sư Báo Giác ở chùa Viên Minh, chỉ nhờ một
câu nói của sư mà lĩnh ngộ tông chỉ.
Ngày
tháng mười năm Quý Tỵ niên hiệu Chính Long Báo ứng (1173)
tước khi thị tịch, sư Báo Giác bảo Tịnh Giới:
- Sinh,
lão, bệnh, tử là lẽ thường của thế gian, há riêng mình
ta được miễn thông lệ ấy hay sao?
Sư
hỏi:
- Hôm
nay hòa thượng thấy trong người thế nào?
Bảo
Giác cười rồi đọc bài kệ:
Vạn
pháp quy không vô sở y
Quy
tịch chân như mục tiền ky (cơ)
Đạt
ngộ tâm viên vô sở chỉ
Thủy
thủy tâm nguyệt dẫn tâm nghi(1)
Dịch:
Muôn
pháp về không, không thể nương
Chân
như lặng lẽ hiện chán chường
Thấu
tột nguồn tâm không chỗ chỉ
Nước
tâm bóng nguyệt bặt nghĩ lường.
THANH
TỪ
(TSVN)
Báo
Giác đọc kệ xong trao pháp cụ cho Tịnh Giới rồi quy tịch.
Từ
đó Tịnh Giới đi du phương hành hóa, sau dừng lại ở chùa
Quốc Thanh. Tại đây sư tu Đầu đà khổ hạnh trong khoảng
sáu năm không xuống núi. Sư có phép lạ hàng long phục hổ,
cảm hóa thần thông. Châu mục Phạm Từ hâm mộ danh đức
đem hậu lễ thỉnh sư cho đúc chuông đồng kính tiến để
nhà chùa treo trấn giữ sơn môn.
Mùa
hè năm Trinh Phù thứ 2 (1177) gặp đại hạn, vua Lý Cao Tông
xuống chiếu cho các danh tăng làm lễ cầu đảo đều không
ứng nghiệm. Vua từ lâu đã nghe danh tiếng của sư, bèn sai
sứ thỉnh sư về kinh. Sư nghỉ ở chùa Báo Thiên đến nửa
đêm thắp hương đứng giữa sân chùa tụng niệm cầu khấn,
trời bèn đổ mưa. Vua hết lời khen ngợi sùng ái, thường
gọi là Vũ sư (vị sư giỏi thuật cầu mưa). Nhân dịp đó
vua triệu sư vào ở gần điện riêng để tiện hỏi về Phật
pháp, ban thưởng rất trọng hậu.
(Tục
truyền: sư xuất gia khi còn tuổi đinh tráng, ở nhà còn thiếu
thuế. Chị gái là Chu Thị Hằng năm vẫn phải nộp thay. Sư
nhớ việc đó nhưng không biết làm thế nào để xin miễn
được. Khi nghe tin triều đình xuống chiếu cầu mưa, sư bèn
lén về nhà báo chị cho đào một cái ao sau vườn. Đêm đến
sư thắp hương tụng niệm cầu đảo, một lát sau trời mưa
nước đầy ao. Quan địa phương kinh lạ tâu về triều. Vua
cả mừng sai sứ thỉnh sư về kinh. Sư nghỉ ở chùa Báo Thiên,
đêm hôm sau thắp hương cầu đảo, quả nhiên được mưa
to. Nhờ việc ấy sư được độ làm tăng(1), lại miễn tô
thuế cho cả họ (trong năm ấy).
Năm
Trinh Phù thứ tư (1179) chùa Chân Giáo ở núi Vạn Bảo làm
xong, vua triệu các bậc danh tăng có đức vọng về dự hội
khánh thành. Sư ứng chiếu đến cửa khuyết, nghỉ ở gác
Lâm Tê. Bấy giờ trời mưa dâm, đường sá lầy lội phương
hại đến viện mở hội chùa. Sư lập đàn cầu tạnh, mưa
liền ngớt. Xong hội chùa bẩy ngày trời lại mưa như cũ.
Sau
sư trở về bản hương lo liệu trung tu chùa Quảng Thánh. Trong
lúc đi các nơi quyên mộ để đúc chuông làm trống, có khi
trời kéo mấy đen sắp mưa, sư đứng giữa sân giơ gậy trừng
mắt nhìn lên, chỉ trong chốc lát mây tan; mặt trời lại
xuất hiện. Về sau qua nhiều lần binh hoả mà quả chuông
do sư đúc ở chùa Quảng Thánh đến nay vẫn còn. Sau sư trở
về chùa Quốc Thanh giảng hóa cho môn đồ. Có vị tăng hỏi
về Phật lý, sư đáp:
- Ta
với ngươi!
Sư
lại nói:
- Tính
của tâm tức là Như Lai tạng(1). Cho nên đạt được tâm
tự tính thì thanh tịnh.
Ngày
bẩy tháng bẩy năm Trị Bình Long ứng thứ 3 (1207) trước
khi thị tịch, sư đọc bài kệ:
Thử
thì thuyết đạo hãn tri âm
Chỉ
vì như tư đạo táng tâm
Hề
tự Tử Kỳ ta sảng sẩm
Thỉnh
lai nhất đại Bá Nha cầm.
Dịch:
Thời
này bàn Đạo ít tri âm
Vì
đạo ngày nay đã mất tâm
Ai
giống Tử Kỳ nghe nhạc giỏi
Bá
Nha đàn thoảng, hiểu tinh thâm.
HOÀNG
TRUNG THÔNG
(TVLT
1)
Lại
đọc thêm một bài nữa:
Thu
lai lương khí sảng hung khâm
Bát
đấu tài cao đổi nguyệt ngâm
Kham
tiếu thiền gia si độn khách
Vi
hà tương ngữ dĩ truyền tâm.
Dịch:
Êm
dịu hơi thu mát cõi lòng
Tài
thơ ngâm chọi bóng trăng trong
Cửu
thiền những thẹn người si độn
Để
lại câu gì, nghĩ chửa thông.
NGÔ
TẤT TỐ
(VHĐL)
Nói
xong sư ngồi kiết già mà tịch:
(Nguyên
chú: truyện này có chỗ hơi khác với quốc sử và văn bia,
nay khảo cứu lại.)
*
*
*
Thiền
sư GIÁC HẢI
Chùa
Diên Phúc, hương Hải Thanh.
Thiên
sư họ Nguyễn, người hương Hải Thanh, từ nhỏ làm nghề
đánh cá, thường lấy thuyền làm nhà, lênh đênh trên sông
biển. Năm 25 tuổi bỏ nghề cũ, cắt tóc đi tu. Lúc đầu
sư cùng với Không Lộ theo học đạo với Hà Trạch(1). Sau
sư nối pháp tự của Không Lộ. Thời Lý Nhân Tông, sư và
Thông Huyền chân nhân có lần được vời vào hoàng cung ngồi
hầu vua trên bệ đã mát ở hiên điện chính, chợt có đôi
cắc kè đậu gần đó kêu vang lên rất chối tai. Vua bảo
Thông Huyền xua đi. Thông Huyền lặng lẽ niệm chú, một con
liền rơi xuống. Thông Huyền cười bảo sư:
- Còn
một con nữa xin nhường hòa thượng! Giác Hải bèn chú mục
nhìn, chỉ nháy mắt con cắc kè kia cũng rơi nốt. Vua lấy
làm lạ, làm thơ khen ngợi như sau:
Giác
Hải tâm như hải
Thông
Huyền đạo hựu huyền
Thần
thông kiêm biến hóa
Nhất
Phật, nhất Thần tiên
Dịch:
Giác
Hải lòng như biển
Thông
Huyền đạo rất huyền
Thần
thông kiêm biến hóa
Một
Phật, một Thần tiên.
PHẠM
TRỌNG ĐIỀM(1)
Do
chuyện đó tên tuổi Giác Hải đồn vang khắp thiên hạ, cả
tăng, tục đều kính mộ. Vua Lý Nhân Tông lấy lễ tiếp đãi
như thầy. Mỗi khi xa giá về hành cung ở Hài Thanh, vua thường
đến chùa Diên Phúc trước. Vua hỏi Giác Hải:
- Sư
có thể cho nghe về phép thần túc không?(2)
Sư
bèn làm tám phép thần biến, rồi tung người nhảy lên không
cao đến mấy trượng, trong chốc lát lại nhảy xuống chỗ
cũ. Vua và các quan đều vỗ tay khen ngợi. Vua ban cho một chỗ
kiệu, mỗi khi về kinh được phép vào hoàng thành.
Đến
đời Lý Nhân Tông, vua nhiều lần triệu mời, nhưng sư đều
lấy cớ già yếu từ chối không về kinh.
Có
vị tăng hỏi:
- Phật
và chúng sinh thì ai là khách, ai là chủ?
Sư
đọc bài kê mà đáp:
Liễu
dụng(3) nữ đầu bạch
Báo
nhĩ tác giả thức
Nhược
vẫn Phật cảnh giới
Long
môn tao điểm ngạch(1).
Dịch:
Biết
dùng gái đầu bạc
Bảo
ông người khéo biết
Nếu
hỏi cảnh giới Phật
Cửa
rồng gặp điểm trán
Khi
sư lâm bệnh, gọi đệ tử đến đọc kệ rằng:
Xuân
lai hoa điệp thiện tri thì
Hoa
điệp ưng tu cộng ứng kỳ
Hoa
điệp bản lai giai thị huyễn
Mạc
tu hoa điệp hướng tâm trì.
Dịch:
Xuân
sang hoa bướm khéo quen thì
Bướm
lượn hoa cười vẫn đúng kỳ
Nên
biết bướm hoa đều huyền ảo
Thây
hoa mặc bướm, để lòng chi
NGÔ
TẤT TỐ
(VHĐL)
Đêm
ấy có ngôi sao lớn rơi xuống phía đông nam nhà phương trượng.
Sư ngồi nói chuyện đến sáng rồi trang nghiêm qua đời. Vua
xuống chiếu miễn thuế cho ba mươi hộ để đèn hương thờ
phụng, cho hai người con trai(2) ra làm quan để tỏ ý biểu
dương khen thưởng.
Thiền
sư NGUYỆN HỌC
(?
1181)
Chùa
Quảng Báo, hương Chân Hộ, quận Như Nguyệt.
Thiền
sư họ Nguyễn, người hương Phù Cầm, thuở nhỏ thụ pháp
với thiền sư vẫn trì ở chùa Mật Nghiêm, lĩnh hội được
yếu chỉ. Rồi sư đến ẩn cư ở núi Vệ Linh, chuyên chú
tu tập phạn hạnh.
Ròng
rã mười hai năm trời, mỗi lần tọa thiền nhập định ngồi
liền ba ngày mới đứng dậy. Sư thường trì tụng bài chú
Hương Hải đại bi Đà La Ni, cầu mưa, trị bệnh luôn ứng
nghiệm. Vua Lý Anh Tông cảm phục sư có phép thần thông linh
nghiệm, ban chiếu chỉ cho sư được phép ra vào cung cấm để
tiện việc cầu cúng, chữa bệnh.
Sau
sư cáo lão trở về chùa trụ trì. Môn đồ xin thụ pháp đến
hơn trăm người.
Ngày
11 tháng sáu năm Thiên Cảm Chí Bảo thứ 8 (1181) trước khi
thị tịch, sư bảo tăng chúng rằng:
Đạo
vô ảnh tượng
Xúc
mục phi dao
Tự
phản suy cầu
Mạc
cầu tha đắc
Túng
nhiêu cầu đắc
Đắc
tức bất chân:
Thiết
sử đắc chân
Chân
thị hà vật?
Dịch:
Đạo
không hình ảnh
Trước
mắt chẳng xa
Xoay
lại tìm ta
Chớ
tìm đâu khác
Dẫu
có tìm được
Được
chẳng phải chân
Dù
có được “chân”
“Chân”
là gì vậy?
Cho
nên các Phật Tam thế, Tổ các đời truyền thụ tâm ấn đều
như thuyết ấy. Các ngươi hãy nghe lời kệ của ta.
Liễu
ngộ thân tâm khai tuệ nhãn
Biến
hóa linh thông hiện th ực tướng
Hành
trụ, tọa, ngọa, độc trác nhiên
Ứng
hiện hóa thân bất khả lượng
Tuy
nhiên sung tắc biến hư không
Quan
lai bất kiến như hữu tướng
Thế
gian vô vật khả tỷ huống.
Trường
hiện linh quang minh lãng lãng
Thường
thời diễn thuyết bất tư nghi
Vô
đắc nhất ngôn dĩ vi đương
Dịch:
Giác
ngộ thân tâm bừng tuệ nhãn
Linh
thông biến hóa hiện thực tướng
Đi
đứng nằm ngồi mặc an nhiên
Ứng
hiện hóa thân không thể lượng
Tuy
rằng đầy ắp khắp hư không
Xem
ra chẳng thấy như hình tướng
Thế
gian chẳng vật nào sáng ngang
Linh
quang mãi mãi vẫn ngời sáng
Thường
thì nói ra chẳng nghi ngờ
Nhưng
chẳng lời nào cho thỏa đáng
MAI
XUÂN HẢI
Một
bản dịch khác:
Rõ
hiểu thân, tâm mắt tuệ mở
Biến
hóa linh thông, bày thực tướng
Đi
đứng nằm ngồi, riêng siêu việt
Ứng
hiện hóa thân không thể lường
Tuy
hiện khắp đầy rẫy như không
Xem
ra nào thấy có tướng gì
Thế
gian không có gì sánh được
Thường
hiện ánh thiêng sáng sáng ngời
Luôn
luôn thuyết pháp bất tư nghì
Không
một lời nào xem thỏa đáng
M.C.
Nói
xong sư ngồi kiết già mà qua đời.
(Nguyên
chú: Truyện này, giữa bản lưu truyền lâu nay và truyện Huệ
Tứ trong sách Truyền đăng hơi giống nhau. Nay theo như sách
Liệt tổ yếu ngữ của Huệ Nhật đã chép)
*
* *
Thế
hệ thứ mười một
9 người,
chép thiếu 8 người
Thiền
sư QUẢNG NGHIÊM
(1122-1190)
Chùa
Tịnh Quả, hương Trung Thụy, huyện Trương Canh.
Thiền
sư họ Nguyễn, người Đan Phượng, từ nhỏ mồ côi cha, theo
hầu cậu là Bảo Nhạc, được khai tâm học đạo. Sau khi
cậu mất ông đi hành cước khắp nơi để tham vấn thiền
học. Nghe tiếng sư Thiền Trí(1) thuyết pháp giảng hóa ở
chùa Phúc Thánh, hương Điển Lãnh, sư tìm đến xin làm đệ
tử. Một hôm nghe Thiền Trí giảng Tuyết Đậu ngữ lục,
đến đoạn hai thầy Đạo Ngô và Tiên Nguyên đến nhà người
điếu tang, đối đáp về vấn đề sinh tử, sư dương như
có điều sở đắc, bèn hỏi:
- Thoại
đầu này người xưa nói về cái lẽ ở trong sinh tử, không
biết có còn hợp lý nữa hay không?
Thiền
Trí hỏi lại:
- Người
có hiểu được cái lý ấy không?
Sư
hỏi:
- Thế
nào là lý không sinh tử?
Thiền
Trí đáp:
- Chỉ
ở trong sinh tử mới biết được!
Sư
đáp:
- Phải
đạt được vô sinh đã!
Thiền
Trí nói:
- Vậy
là ngươi liễu ngộ rồi.
Sư
bừng hiểu, hỏi:
- Lấy
gì bảo nhậm?
Thiền
Tri nói:
- Hiểu
rồi lại vẫn giống như chưa hiểu!
Sư
bèn sụp xuống lạy tạ. Từ đó danh tiếng của sư lan truyền
trong chốn Thiền lâm. Rồi đó, sư đến trụ trì ở chùa
Thánh Ân hương Siêu Loại. Sau thượng thư bộ binh là Phùng
Giáng Tường hâm mộ danh tiếng của sư, mời về truyền giảng
tông chỉ ở chùa Tịnh Quả, tăng lữ gần xa đến theo học
đều được tiến ích.
Một
hôm, đệ tử thân cận là Thường Chiếu đưa kinh Kim Cương
đến hỏi sư:
- Nói
Như Lai đắc pháp thì cái pháp ấy vốn không thực không hư,
vậy đó là pháp gì?
Sư
đáp:
- Người
đừng bài báng Như Lai mới được!
Thường
Chiếu nói:
- Hòa
thượng cũng không nên bài báng lời trong kinh.
Sư
hỏi:
- Kinh
ấy do ai nói?
Thường
Chiếu nói:
- Xin
hòa thượng đừng nhạo đệ tử nữa. Há chẳng phải đó
là lời của Phật hay sao?
Sư
đáp:
- Nếu
là lời Phật nói thì tại sao Kinh lại có câu: “Nừu nói
Như Lai có thuyết pháp điều gì thế tức là bài báng Phật”?
Thường
Chiếu không trả lời được.
Lại
một vị tăng hỏi:
- Thế
nào là Pháp thân?
Sư
đáp:
- Pháp
thân vốn không tướng.
Tăng
hỏi lại:
- Thế
nào là Bát Nhã?
Sư
đáp:
- Bát
Nhã vốn không hình.
Hỏi:
- Thế
nào la cõi Tịnh quả?
Đáp:
- Như
ngôi mộ cổ dưới cây thông, cây bàng.
- Thế
nào là người trong cõi?
- Một
mình ngồi trong cái bình bịt miệng!
- Chợt
gặp kẻ tri âm thì tiếp thế nào?
- Cứ
thoải mái mà rướn đôi mày!
Vị
tăng ấy lại hỏi:
- Lớp
con cháu của Âu công ở chùa Kiến Sơ thì thế nào?(1)
Đáp:
- Kẻ
ngu nước Sở!
Vị
tăng im lặng không hỏi nữa.
Ngày
15 tháng 2 năm Canh tuất niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy thứ 5
(1190), sư lâm bệnh, gọi đệ tử đến đọc bài kệ rằng:
Ly
tịch phương ngôn tịch diệt khứ
Sinh
vô sinh hậu thuyết vô sinh
Nam
nhi tự hữu xung thiên chi
Hưu
hưởng Như Lai hành xứ hành.
Dịch:
Thoát
tịch diệt xong, bàn tịch diệt
Sau
vô sinh, hãy nói vô sinh
Làm
trai lập chí xông trời thẳm
Theo
gót Như Lai luống nhọc mình.
NGUYỄN
ĐỨC VÂN - ĐÀO PHƯƠNG BÌNH
(TVLT1)
Đọc
xong sư chắp tay thanh thản mà qua đời,
thọ
69 tuổi. Thượng thư Phùng Giáng Tường làm lễ hỏa thiêu,
xây tháp phụng thờ.
*
* *
Thế
hệ thứ mười hai
7 người,
chép thiếu 6 người
Thiền
sư THƯỜNG CHIẾU
(?
– 1203)
Chùa
Lục Tổ(1) hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức.
Thiền
sư họ Phạm, người hương Phù Ninh, giữ chức Quảng từ
cung lệnh đô tào triều Lý Cao Tông. Sau từ quan, xuất ra học
đạo với sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả được sư đích
thân truyền thụ pháp chỉ. Sư theo hầu Quảng Nghiêm mấy
năm rồi đến trụ trì thuyết pháp tại chùa cổ ở phường
Ông Mạc, sau mới về chùa Lục Tổ. Môn đồ đến theo học
ngày càng đông. Có vị tăng hỏi:
- Khi
ta và vật vin nhau thì thế nào?
Sư
đáp:
- Vật
ngã lưỡng vong
Tầm
tính vô thường
Dị
sinh dị diệt
Sát
na bất đình
Thùy
thị phan duyên
Sinh
vi vật sinh
Diệt
vi vật diệt
Bỉ
pháp sở đắc
Thường
vô sinh diệt
Dịch:
Ta
vật quên hết
Tâm
tính không thường
Dễ
sinh dễ diệt
Chớp
mắt chằng dừng
Ai
vin mà biết?
Sinh
là vật sinh
Diệt
là vật diệt
Pháp
kia sở đắc
Thường
không sinh diệt
Tăng
nói:
- Đệ
tử chưa hiểu, xin thầy chỉ giáo lại cho.
Sư
đáp:
- Hiểu
thế nào là Tâm mà tu đạo chỉ dụng sức ít mà dễ thành.
Không hiểu Tâm mà tu đạo thì phí công vô ích.
Hỏi:
- Thế
nào là pháp thân tràn khắp mọi nơi?
Sư
đáp:
- Như
một lỗ chân lông mà biểu hiện đủ pháp giới thì tất
cả lỗ chân lông đều như thế. Nên biết nếu Tâm không
thì không một kẽ hở nào không phải là thân Phật. Vì sao
vậy? Vì pháp thân ứng hóa thành Phật, không chỗ nào không
đến. Phải biết đúng như thế. Như Lai dùng sức Tâm tự
tại, trong chỗ không khởi không chuyển mà chuyển pháp luân(1);
biết tất cả mọi pháp thường không khởi cho nên dùng ba
thứ pháp(2), nói là đoạn nhưng không phải là đoạn mà chuyển
pháp luân; biết tất cả mọi pháp đều chấp một bên, cho
nên chỉ ở chỗ lìa dục nhưng không trừ dục mà chuyển
pháp luân; đi vào chỗ hư không còn tất cả mọi pháp, cho
nên không ngôn thuyết mà chuyển pháp luân; biết tất cả
mọi pháp đều không thể nói rằng lời, cho nên dùng cứu
cánh là sự im lặng mà chuyển pháp luân; biết tất cả mọi
pháp đều có tính Niết Bàn cho nên nói: tính không tướng,
tính không tận, tính không sinh, tính không diệt, tính không
phải là ta mà cũng chẳng phải là không ta, tính không phải
là chúng sinh mà cũng chẳng phải không là chúng sinh, tính
không phải là Bồ Tát, tính không phải là pháp giới, tính
không phải là hư không, mà cũng không phải là tính của bậc
chính giác (Phật)
Nói
xong sư đọc bài kệ:
Tại
thế vi nhân thân
Tâm
vi Như Lai tạng
Chiếu
diệu thả vô phương
Tâm
chi cánh nguyệt khoáng.
Dịch:
Ở
thế là nhân thân
Tâm
là Như Lai tạng
Chiếu
dọi khắp muôn phương
Nếu
tìm không thấy bóng
Ngày
24 tháng chín năm Thiên Gia Bảo Hựu thứ 2 (1203) sư bảo là
đau tim, gọi tăng chúng đến đọc kệ:
Đạo
bản vô nhan sắc
Tần
tiên nhật nhật khoa
Đại
thiên sa giới ngoại
Hà
xứ bất vi gia.
Dịch:
Đạo
vốn không màu sắc
Ngày
ngày lại mới tươi
Ngoài
đại thiên sa giới
Đâu
chẳng phải nhà ngươi
Nói
xong sư ngồi kiết già mà tịch. Đệ tử là bọn Thần Nghi
làm lễ hỏa táng, thu xá lị xây tháp phụng thờ.
Sư
từng làm sách Nam tông tụ pháp đồ một quyển, lưu hành
ở đời(1)
*
* *
Thế
hệ thứ mười ba
5 người,
chép thiếu 3 người
Cư
sĩ THÔNG SƯ
(?
– 1228)
Sư
người Ốc hương huyện An La, họ Đặng. Lúc đầu sư cùng
Quách Thần Nghi ở chùa Thắng Quang theo học đạo thiền sư
Thường Chiếu ở chùa Lục Tổ. Một hôm vào phòng hỏi thầy:
- Làm
thế nào hiểu rõ Phật pháp?
Thường
Chiếu đáp:
- Phật
pháp không thể biết rõ, hiểu điều này thì sẽ không cần
hiểu pháp. Các Phật đều tu hành như không có pháp gì để
biết rõ được. Chư Phật đều như thế. Tu tất cả pháp
đều bất khả đắc.
Sư
lĩnh ngộ yếu chỉ, trở về bản hương truyền giảng giáo
pháp, học trò đến theo học rất đông. Những người đến
tham vấn đều được sư truyền thụ tâm ấn. Có người hỏi:
- Thế
nào là người xuất thế?
Sư
đáp:
- Ngươi
không nghe người xưa nói hay sao? “Ngũ uẩn” đều không
tứ đại vô ngã, chân tâm không tướng(1), không đến không
đi; khi sinh tính không đến, khi chết tính chẳng đi; yên tĩnh
viên tịch, tâm cảnh vẫn như một. Phải hiểu được như
vậy mới chóng đốn ngộ, không bị ba đời ràng buộc. Như
thế là người xuất thế, tất thảy các điều ấy không
thể tách rời nhau.
Lại
hỏi:
- Thế
nào là nghĩa “vô sinh”?
Sư
đáp:
- Cần
phải hiểu tính của các uẩn đều không tịch. Vì hư không
nên không thể diệt. Đó là nghĩa “vô sinh”.
Hỏi:
- Thế
nào là lý vô sinh?
Đáp:
- Phải
điều tiết được ngũ uẩn mới làm lộ rõ được tính không
của nó. Tính không thì không thể diệt. Đó là lý vô sinh.
Lại
có vị tăng hỏi:
- Thế
nào là Phật?
Đáp:
- Tâm
vốn là Phật, cho nên Tam tạng Huyền Trang đời Đường nói:
“Chỉ liễu ngộ đất lòng cho nên gọi tổng trì, ngộ pháp
vô sinh gọi là Diệu giác.
Sau
sư qua đời ngày tháng 7 năm Mởu Tí niên hiệu Kiến Trung
thứ 4 (1228) đời Hoàng Triều (Trần).
*
*
*
Thiền
sư THẦN NGHI
(?-1216)
Chùa
Thắng quang, hương Thị Trung, Kim Bài.
Thiền
sư người đất ngoại trại, họ Quách, gia đình mấy đời
tu hành thanh tịnh. Lúc đầu sư xuất gia học đạo với thiền
sư Thường Chiếu ở chùa Lục Tổ. Khi Thường Chiếu sắp
thị tịch, sư hỏi:
- Tại
sao người khi thời tiết đến(1) đều chết như thế tục
cả?
Thương
chiếu hỏi lại:
- Ngươi
nhớ được mấy người không theo thế tục?
Sư
đáp:
- Chỉ
mình tổ Đạt Ma thôi
Thường
chiếu hỏi:
- Có
gì kỳ lạ?
Sư
đáp:
- Một
mình bay lượt trở về trời Tây.
Thường
Chiếu hỏi:
- Núi
Hùng Nhỉ là nhà ai?
Sư
đáp:
- Chỉ
là chỗ chôn quan tài đựng chiếc giày mà thôi!
Thường
Chiếu nói:
- Nói
dối người để vụ lợi ắt là Thần Nghi!
Sư
đáp:
- Chẳng
phải là Tống Văn nói dối, còn việc Trang Đế cho phát quật
quan tài nữa thì sao?
Thường
Chiếu Quát:
- Toàn
chuyện chó sủa suông cả!
Sư
hỏi:
- Hòa
thượng cũng theo thế tục chăng?
Thường
Chiếu đáp:
- Theo
tục.
Sư
hỏi:
- Sao
lại thế?
Thường
chiếu nói:
- Để
hòa đồng với mọi người.
Sư
bỗng tỉnh ngộ, sụp xuống lạy tạ, nói:
- Trước
đây đệ tử hiểu lầm cả rồi.
Thường
Chiếu bèn quát lên một tiếng. Sư lại hỏi:
- Đệ
tử theo hầu hòa thượng đã bao năm nay mà chưa biết ai là
người đầu tiên truyền đạo vào nước ta? Xin hòa thượng
chỉ giáo cho đệ tử được biết thế thứ các đời truyền
pháp, ngõ hầu cho người học đạo ngày nay được biết nguồn
gốc.
Thường
Chiếu khen sư có lòng khẩn thiết, bèn lấy tập sách Chiếu
đối bản(1) của sư Thông Biện và những điều ghi chép về
các tông phái để phân biệt thế thứ nối pháp của các
dòng (1) đưa cho xem. Sư xem xong hỏi thêm:
- Hai
phái Nguyễn Đại Điên, Nguyễn Bát Nhã sao không thấy chép
trong tập này?
Thường
Chiếu đáp:
- Chắc
là Thông Biện có ý gì đó.
Ngày
18 tháng 2 năm Bính Tí niên hiệu Kiến Gia thứ 6 (1216) sư đem
tập phả đồ của Thường Chiếu trao cho mình truyền lại
cho đệ tử là Ẩn Không, dặn rằng:
- Bây
giờ tuy loạn, ngươi hãy giữ sách này, cẩn thận không để
binh hỏa hủy hoại thì tổ phong ta sẽ không mai một.
Nói
xong sư qua đời.
(Nguyên
chú: Ẩn Không trước ở huyện Na Ngạn(2), Lạng Châu người
đương thời gọi là Na Ngạn đại sư)
*
* *
Thế
hệ thứ mười bốn
5 người,
chép thiếu 3 người
Thiền
sư TỨC LỰ
Chùa
Thông Thánh, huyện Chu Minh,phú Thiên Đức.
Thiền
sư còn có tên là Tịnh Lự, người hương Chu Minh, thuở nhỏ
thông minh, theo nghiệp Nho đã học đủ các sách kinh điển.
Sau đó Nho theo học Phật giáo với Thông Thiền cư sĩ, tham
vấn học hỏi những lẽ huyền vi. Một hôm vào ngày giải
hạ(1) sư bủa lưới bắt được con cá trê, đem đến biếu
thầy. Thông Thiền kinh sợ nói:
- Ngươi
đã xuất gia mà còn phạm sát, làm sao khỏi bị quả báo ngày
sau?
Sư
đáp:
- Lúc
ấy đệ tử không thấy có vật này, mà cũng không thấy có
bản thân mình, cũng chẳng biết quả báo sát sinh, cho nên
mới làm như thế.
Thông
Thiền biết sư là một pháp khí (2) bèn cho vào phòng mặt
truyền tâm ấn rằng:
- Nếu
ngươi dùng được đất lòng ấy thì dù có phạm vào năm
điều tội ác, bấy điều phải xấu hổ(1) thì cũng vẫn
thành Phật.
Lúc
ấy có thầy tăng đứng bên cạnh nghe trộm được, bèn kêu
lên:
- Khổ
quá. Nếu như có việc ấy thì tôi cũng không tin như thế!
Thông
thiền bèn nghiêm giọng quát:
- Giặc!
Giặc! Là phi nhân sao dám trộm nghe?
Nghe
câu nói ấy, sư bèn lĩnh ngộ. Sau sư về chùa Thông Thánh
nghiên cứu yếu chỉ Thiền tông để truyền dạy cho học
trò. Ứng Thuận cư sĩ là ngời nổi pháp tự của sư.
*
* *
Thiền
sư HIỆN QUANG
(?
-1221)
Núi
Yên Tử(1)
Thiền
sư người kinh đô Thăng Long, Họ Lê, húy là Thuần, dáng mạo
thanh tú, giọng nói êm nhẹ. Sư sống tự lập từ thuở nhỏ,
từng trải qua nhiều khốn khó. Năm mười một tuổi, được
thiền sư Thường Chiếu ở chùa Lục Tổ nhận nuôi làm đệ
tử. Sau học tập thông minh tấn tới, mỗi ngày tụng đọc
cả vạn câu. Chưa đầy mười năm thông giỏi cả tam giáo,
nhưng chưa kịp suy cứu yếu chỉ Thiền tông thi Thường Chiếu
đã quy tịch. Về sau, khi biện luận những điều tâm yếu
thường bị người khác bắt bẻ, sư hối tiếc tự trách:
“Ta nay cũng ví như đứa con nhà giầu, khi cha mẹ còn sống
thì kiêu lười vô độ, sau khi cha mẹ chết thì cô độc mê
muội, không biết của quý trong nhà cất giữ ở đâu, rốt
cuộc trở thành nghèo khó”. Sư bèn đi vân du khắp chốn
tùng lâm tìm thấy học đạo, sau gặp thiền sư Trí Thông(2)
ở chùa Thánh Quả, được nghe một lời nói mà đất lòng
đột nhiên bừng sáng, bèn thờ Trí Thông làm thầy. Sư từng
nhận lễ cúng dàng của công chúa Hoa Dương. Bấy giờ những
lời hủy báng đạo Phật dấy lên như ong, sư nghe biết, tự
nghĩ rằng: “Phàm có quan hệ với những người được thế
tục ngưỡng mộ tất không tránh khỏi bị điêu tiếng chê
bai. Lẽ nào ta cũng phải chịu như thế? Vả lại Bồ Tát
thường rộng, Phật giáo vô lường. Thế mà kẻ tầm thường
vẫn còn buồn bã than khóc, sao không mau tỉnh ngộ, lấy nhẫn
nhục làm giáp trụ, lấy tinh tiến làm giáo mác thì lấy gì
mà đánh ma quân, phá phiền não để cầu đạt tới Vô thượng
Bồ Đề?”.
Sau
đó sư vào núi Uyên Trừng phủ Nghệ An(1) thụ giới cụ túc
với thiền sư Pháp Giới. Một hôm thấy người hầu của
một tín chủ mang gạo lên cúng cho nhà chùa, lỡ tay làm đổ
xuống đất, người ấy lo sợ, vội vốc cả gạo lẫn đất.
Sư thấy vậy lấy làm hối hận, nghĩ rằng: “Ta sinh ra không
có ích ghi cho ai, chỉ làm cho mọi người phải cung đốn vất
vả nên mới đến nỗi như thế”. Từ đó sư chỉ ăn rau
mặc lá không phải lo lường gì nữa. Sau gần mười năm sư
muốn tìm nơi khác để tu hành đến trọn đời, bèn đến
chỗ sâu trong núi Yên Tử(2) kết am tranh mà ở. Mỗi khi xuống
núi sư thường quảy túi vải trên đầu gậy, sư đi tới
đâu, những lúc nằm ngồi, dã thú trông thấy đều đến
thuần phục.
Vua
Lý Huệ Tông kính trọng đức vọng của sư, nhiều lần đưa
lễ vật đến mời về kinh, nhưng lần nào sư cũng lánh mặt,
bảo người hầu trả lời sứ giả rằng:
- Bần
đạo ở đất vua, ăn lộc vua, thờ Phật tại núi này đã
lâu năm, thửa công đức chưa thành tựu, tự lấy làm hổ
thẹn. Nếu ép bần đạo về yết kiến vua thì chẳng những
không bổ ích gì cho trị đạo mà cũng chuốc lấy sự hủy
báng của chúng sinh. Huống chi ngày nay Phật pháp đang thịnh
hành, các bậc thầy mẫu mực trong bản đạo đã có đủ
để chầu hầu lễ nghi nơi điện các. Xin bệ hạ đoái lượng
cho kẻ mặc chiếc cà sa thô lạnh này được nương thân Phật
đạo trong chốn núi rừng, khỏi phải đến kinh đô.
Từ
đó sư quyết không xuống núi.
Có
thầy tăng hỏi:
- Từ
khi đến núi này, hòa thượng làm những việc gì?
Sư
đáp:
- Ná
dĩ Hứa Do đức
Hà
tri thế kỷ xuân
Vô
vi cư khoáng dã
Tiêu
đạo tự tại nhân.
Dịch:
Theo
Hứa Do tu đức
Nào
hay đã mấy xuân?
Vô
vi trong cõi rộng
Tiêu
dao một tấm thân
Mùa
xuân năm Tân Tị niên hiệu Kiến Gia thứ 11 (1221), trước
khi thị tịch, sư nghiêm trang ngồi trên tảng đá, đọc bài
kệ sau:
Huyền
pháp giai thị huyễn
Huyễn
tu giai thị huyễn
Nhị
huyễn giai bất tức
Tức
thị trừ chư huyễn.
Dịch:
Huyễn
pháp đều là huyễn
Huyễn
tu dều là huyễn
Hai
huyễn đều xa lìa
Tức
là trừ các huyễn
Nói
xong sư an nhiên mà hóa. Môn nhân là Đạo Viên làm lễ mai
táng sư trong hang núi.
Nguyên
chú: Lại theo sách Tự ngu tập nói không biết rõ sư quy hóa
ở đâu
*
* *
Thế
hệ thứ mười lăm
7 người,
chỉ chép 1 người
Cư
sĩ ỨNG VƯƠNG
Ứng
Vương cư sĩ họ Đỗ, húy Văn(1), người phường Họa thị
(chợ Vế?) ở kinh đô Thăng Long. Cư sĩ tính tình rộng rãi,
không lo bon chen việc đời. Lúc đầu cư sĩ làm quan dưới
triều Chiêu Lăng(2) đến chức Trung phẩm phụng ngự. Những
lúc rỗi rãi cư sĩ dốc chí vào Thiền học, tay trong mấy
khi rời quyển sách,, tìm tòi đến cùng để hiểu ý tổ,
thấu triệt tâm tông.
Cư
sĩ thụ nghiệp với thiền sư Tức Lự ở chùa Thông Thánh
hiểu sâu các bí quyết, nhờ đó phong độ thiền tông không
suy trệ, đạo nhãn thêm cao. Sau khi được truyền tâm ấn,
cư sĩ trở thành bậc tai mắt trong chốn tùng lâm, cũng ngang
hàng quốc sư Nhất Tông, thiền sư Tiêu Dao, Giới Minh, Giới
Viện v.v...
(Hết
Quyển Thượng)
*
* *
(1)
Hỗn độn: chỉ thời kỳ hỗn mang khi mới khai thiên lập
địa.
(2)
Phật Uy Âm: Bhismagarjitavararaja.
(1)
Sa Bà: Thuật ngữ Phật giáo dịch âm từ chữ Sanskrit: Saha,
nghĩa là khó kham nhẫn, khó chịu đựng, nơi có loài ngườivà
các loài chúng sinh khác đang sống.
(2)
Sáu đạo (lục đạo): cõi trời, cõi người, cõi Atula, quỷ,
cõi súc sinh, cõi địa ngục, chỉ chung sáu đường của cuộc
luân hồi.
(3)
Ba đường (Tam đồ): chỉ: đường lửa (hoả đồ) ở địa
ngục lửa cháy; đường máu (huyết đồ) nơi súc sinh ăn thịt
lẫn nhau; đường gươm đao (đao đồ) nơi quỷ đói bị gươm
đạo bức bách.
(4)
Đồ Trừng, thường gọi là Phật Đ Trừng, nhà sư Ấn Độ
đến Lạc Dương (Trung Quốc) năm Vĩnh Gia (307-313) đời Tấn.
(5)
Nguyên Văn in: nhiễu kỳ nhân, với chữ ‘nhiễu’ (rối loạn),
đúng ra là chữ nhiễu (xoay quanh), nhầm do đồng âm.
(1)
Nguyên văn: từ mục tương cố (bốn mắt nhìn nhau) chỉ việc
sư đệ truyền tâm pháp, không cần dùng lời nói.
(2)
Tác giả bài Tựa muốn nói Vô Ngôn Thông là vị thiền sư
mở đầu dòng Thiền mang tên của vị thiền sư đó: thiền
phái Vô Ngôn Thông. Trước Vô Ngôn Thông đạo Phật đã được
các nhà sư Ấn Độ, Trung Á, theo đường biển đến truyền
giảng ở nước ta như Ma Ha Kỳ Vức (Mahajivatra) từng đến
Luy Lâu thời Sĩ Nhiếp (168 – 198) v.v...
(3)
Vô thượng chính giác: giác ngộ chân chính ở bậc cao nhất
(tức là Phật).
(4)
Sáu trần (lục trần) cũng gọi là sáu giặc (lục tặc) nói
sáu thú làm mê hoặc con người; sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp.
(5)
Bốn tướng (tứ tướng): có nhiều nghĩa, ở đây dùng với
nghĩa “hữu vi tứ tướng” (sinh, trụ, dị, diệt).
(1)
Thích như Trí, sa di Tính Nhu v.v... cùng các thiện nam, tín nữ
ghi ở đây là những người đã đóng góp công của cho việc
khắc in lại sách này vào năm 1715.
(1)
Nay thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội.
Chùa đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn
hóa (Quyết định 09-VH/QĐ 21-2-1975 của Bộ Văn Hóa).
(2)
Không học: chỉ Phật học.
(3)
Tức Sách Truyền đăng lục do Hòa thượng Đạo Nguyên (đời
Tống) soạn.
(1)
Một năm tu hành tính là một hạ.
(2)
Mã Tổ: tức Thiền sư Đạo Nhất (709-788) họ Mã, học trò
của Nam Nhạc Hoài Nhượng (677 – 744).
(3)
Thị tịch: có nghĩa là nhập Niết Bàn (tức là chết). Các
từ quy tịch, viên tịch, tịch diệt cũng đồng nghĩa. Trong
sách này dùng cả những từ thông thường như: “Thệ” (qua
đời), “thọ chung” v.v... (không có gì phân biệt), chúng
tôi cũng theo đó mà dịch bằng những từ thường dùng.
(4)
Bách Thượng Hoài Hải (720-814), đệ tử của Mã Tổ Đạo
Nhất.
(1)
Ý của thiên sư Vô Ngôn Thông là Thiền hay Thiền sư không
phải là một cái gì có thể định nghĩa được, như cây
thôi lư kia, nhìn thẳng vào đó thì thấy ngay, khỏi cần qua
trung gian ngôn ngữ và khái niệm. (Theo Nguyễn Lang, Sđd, tr.155).
(2)
Ngưỡng Sơn thiền sư phát hiệu Tuệ Tịch (mất năm 916) thế
hệ thứ 4 phái Tào Khê, tổ thứ nhất phái quy Ngưỡng.
(3)
Sa di: tức là bậc tiểu tăng, chỉ mới chịu 10 điều răn
giới.
(2)
Theo bản dịch nghĩa của Minh Chi trong Lịch sử Phật giáo
Việt nam (sđd, tr.111) riêng câu thứ 6 chúng tôi thu lại làm
4 chữ cho hợp số chữ của nguyên văn.
(3)
Hoả táng: chữ Hán dịch Phạn ngữ là Đồ Tì, cũng dịch
là Chà (Đồ) Duy, người nước ta thường quen đọc là Trà
Tì. Văn bản TUTA cũng in là Trà Tì.
(1)
Ở đây có sự sai lầm (có lẽ do rách thiếu ở bản in) xem
thêm ở Lời giới thiệu.
(2)
Nguyên văn chép “Thông thiền sư”, cũng là một cách gọi
gọn của thiền sư Vô Ngôn Thông.
(1)
Nguyên văn ghi: Đệ nhị thế (thế hệ thứ hai), điều chỉnh
lại”thứ nhất” cho hợp với các số ghi khác.
(2)
Nguyên văn ghi là “tính thị” (họ) nhưng bỏ trống, không
ghi rõ họ gì.
(1)
Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa) tổ chứ nhất của Thiền tông Ấn
Độ.
(2)
Đạt Ma đại sư tức Bồ đề Đạt ma (Bodhidharma) người
Ấn Độ, tổ thứ nhất dòng thiền tông Trung Quốc (đến
Quảng Châu năm 520 đời Lương Vũ Đế).
(3)
Nguyên văn: “... sở ư Đạt ma...”, ở vị trí chứ “ư”
đúng ra phải là chữ “ngôn” (... sở ngôn Đạt ma).
(4)
Nguyên bản in “... bắc phương khắc lầm chữ “thử” (này)
thành chữ “bắc”.
(1)
Hương Siêu loại: nay thuộc địa phận huyện Thuận Thành
tỉnh Hà Bắc.
(2)
A tăng kỳ (Asankhya), nghĩa là nhiều vô số lượng. Mỗi A
tăng kỳ kiếp bằng 1000 vạn vạn vạn vạn vạn vạn kiếp.
Mỗi kiếp tính bằng 432 triệu năm ở cõi đời.
(1)
Thoại đầu: những câu nói có sức khởi phát, cũng có nghĩa
như Câu Thiền, lời Thiền suy nghĩ. Sư nghe xong liền đáp:
(1)
Chùa Khai Quốc do vua Lý Nam Đế (541-547) cho dựng (ở thôn
Yên Trì) và đặt tên để ghi nhận việc thành lập nhà nước
Vạn Xuân. Năm 1615, vì bãi sông Hồng sụt lở, dân phường
Yên Hoa lời chùa vào dựng ở trong đê, tức là chùa Trấn
Quốc ở Hồ Tây Hà Nội hiện nay.
Chùa
hiện nay được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn
hóa.
(1)
Cát Lị (cũng đọc là Cát Lợi) tên hương đời Lý. Đại
Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ 1, tờ Sa) chép việc Phạm
Hạp bị Lê Hoàn đánh đuổi phải chạy về hương Cát Lị
ở Bắc Giang, tức là hương này hiện chưa rõ ở đâu.
(2)
Ngô Thuận Đế: Một thụy hiệu của Ngô Quyền mà tứ liệu
cổ chỉ có Thiền uyển tập sinh ghi lại đây. Theo gia phả
họ Ngô thì Khương Việt đại sư (Ngô Chân Lưu) là con Ngô
Xương Tỷ, cháu Ngô Xương Sắc.
(1)
Tì Sa Môn (Vaisravana), tên vị thần giữ của trong thần thoại
Ấn Độ, thần thoại Phật giáo coi là vị thần bảo vệ
Phật pháp. Là Một trong bốn vua Trời (Tứ Thiên vương) trấn
giữ bốn phương. Vua Trời giữa phương Bắc Tỉ sa môn thiên
vương.
(2)
Lý Giác (nguyên bản in là Nguyễn Giác) sang sứ nước ta hai
lần 9năm 986 và 987); việc Ngô Chân Lưu tiếp đón Lý Giác
nói đây là vào năm Lý Giác đi sứ lần thứ hai.
(1)
Bài từ nói trên giữa bản in của TUTA và Đại Việt sứ
ký toàn thư có dị biệt một số chữ. Ông Hà Văn Tấn dịch
theo văn bản do Hoàng Văn Lâu khảo dị, khôi phục theo điệu
từ “Nguyễn lang quy” trong “Một số vấn đề văn bản
học Hán Nôm (Viện Hán Nôm) NXB. Khoa học xã hội, 1983, tr.191-211.
(1)
Khuông Việt đại sư không thể thọ 52 tuổi, vì như vậy
nhà sư phải sinh năm 960, không thể làm Tăng thống năm 971.
Trong LSPGVN (tr.132) ông Hà Văn Tấn cũng đã nhận xét: “Nói
sư thọ 72 tuổi (in nhầm? đúng là 79) là hợp lý vì năm sinh
sẽ là 933, hợp với điều ghi ở trên là “bốn mươi tuổi
danh tiếng vang dậy đến triều đình”.
(1)
Chùa Cảm ứng: còn gọi là chùa Trăm Gian ở Tam Sơn, huyện
Tiên Sơn, Hà Bắc ngày nay. Núi Ba Sơn, cũng gọi là Ba Tiêu,
nay gọi là Tam Sơn.
(2)
Quốc Bảo Hòa: trong TVLT1 ở tiểu truyện Lã Định Hương
(tr.237) cũng có ghi tên người này nhưng với chữ Bảo là
quý, báu, và ghi là quốc sư Bảo Hòa. Nguyên bản TUTA không
chép là quốc sư và chữ Bảo là bộ thủ + bao.
(1)
Nguyên bản in nhầm là Từ Sơn, đúng ra là “tư sơn” nghĩa
là núi này, tức là núi Thiên Phúc (Thiên phúc phong) đã ghi
ở trên. Văn bản TUTA có đến mấy chỗ “tư sơn” khắc
nhầm thành “Từ sơn” như vậy.
(1)
Huyện Long Đàm nay thuộc địa phận huyện Thanh Trì ngoại
thành Hà Nội.
(2)
Linh Cảm thái hậu họ Mai, mẹ vua Lý Thái Tông
(3)
Tam quán: Thuật ngữ Phật giáo, chỉ phương pháp nhận thức
sự vật hiện tượng theo ba phạm trù: Không quán, Giải quán,
Trung quán (hoặc Không quán, Hữu quán, Trung quán).
(1)
Thiếu thất: tên ngọn núi có chùa Thiếu Lâm, nơi tu hành
của Bồ đề Đạt Ma.
(2)
Ma Kiệt: tức Ma Kiệt Đà (Magadha) tên tiểu quốc ở Ấn Độ,
nơi Phật thành đạo. Câu này hàm ý hỏi ai là người kế
nối Thiền tông.
(3)
Nhạc, Hoài: Vừa có nghĩa là Ngũ Nhạc, Hoài Hà, chỉ chung
sông núi, ở đây cũng để chỉ của Nam Nhạc Hoài Nhượng
(1)
Kim Cốc: tên trang viện đẹp của Thạch Sùng đời Tấn, sau
khi Thạch Sùn chết trở thành hoang phế.
(2)
Long nữ: người con gái của Long vương Ba Kiệt La, nghe Phật
thuyết pháp mà đốn ngộ thành Phật hóa thành con trai bay
lên tòa sen (được nói đến trong kinh Pháp Hoa)
(1)
Đàn Na: cũng như Đà Na, chữ phiên âm Phạn ngữ, có nghĩa
là bố thí.
(1)
Tề quân: vua Thủy tề
(2)
Quách ông: chỉ Quách Phác (đời Tấn). Phác giỏi âm dương
thuật số, nhưng không tính được số mệnh cho mình: Vì cạn
gián mà bị Minh Đế giết.
(1)
Hứa chân quân: chỉ Hứa Tốn, đạo sỉ đời Tấn.
(1)
Tần thủy Hoàng tin đạo Thần Tiên, sai phương sĩ là bọn
Từ Phúc đi tìm thuốc tiên. Từ Phúc đưa bộ thuộc ra biển
rồi không trở về nữa. Tổ Long là cách nói của một phương
sĩ dùng để chỉ Thùy Hoàng (Tổ là đầu, cũng như Thủy;
Long là rồng cũng nghĩa như Hoàng).
(1)
Nguyên bản là “vô gian” vừa không rõ nghĩa, vừa thất
luật đối. Đây là do chữ “vấn” khắc lầm.
(2)
Toàn quy đả ngoã nhân: kẻ dùi mai rùa và đập ngói (mai rùa
cứng, dùi mãi vẫn trơ không thủng; đập ngói cho nhỏ thì
ngói vỡ không dùng được) chỉ người làm những việc uổng
công vô ích.
(3)
Thần nữ lệ: Dẫn tích hai bà vợ vua Thuần là Nga Hoàng và
Nữ Anh; sau khi vua Thuấn chết, hai bà đến bờ sông Tương
thương khóc, nước mắt rơi xuống rừng tre, giống tre ấy
từ đó có đốm trắng (tre hoa).
(1)
Tứ đại: Thuật ngữ Phật giáo, chỉ bốn yếu tố: đất,
nước, lửa, gió hợp thành con người (và muôn vật).
(1)
Ngôn ngữ đạo đoạn: Chân lý cứu cánh không thể nói lên
bằng lời được, con đường ngôn ngữ bị cắt đứt.
(1)
Vạch thuyền: chữ Hán là “khắc chu”: xưa có người nước
Sở đánh rơi thanh kiếm xuống sông bèn đánh dấu chỗ rơi
kiếm vào mạn thuyền để biết chỗ mà tìm! Tất nhiên thuyền
đi tới đấu cái dấu theo đến đấy, không biết tìm đâu.
(1)
Nguyên bản: “lạp nguyệt ngũ thập lục” (lạp nguyệt)
đúng phải là “lạp niên” chỉ số năm tu hành (chẳng hạn:
Kể dằng lục dùng “thế lạp” để chỉ tuổi đời, pháp
lạp” để chỉ tuổi tu hành)
(1)
Chùa Diên Linh ở núi Long Đội, tức núi Đọi nay thuộc xã
Đội Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Ninh. Theo văn bia tháp
Sùng Thiện Diên Linh (do Nguyễn Công Bật soạn) thì cả chùa
và tháp Sùng Thiện Diện Linh do vua Lý Nhân Tông cho khởi công
xây dựng năm Hội Tường Đại Khánh 9 (1118). So với điều
ghi trong truyện này nói Cứu Chỉ mất trong khoảng niên hiệu
Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065) thì không hợp. Như vậy có
thể năm 1118 chỉ là năm trùng tu chùa Sùng Thiện Diên Linh
(đã có từ trước) hoặc có sự lầm lẫn tư liệu về năm
sống của thiền sư Cứu Chỉ. Xin ghi lại để tiện thao khảo.
(1)
Đoạn đối thoại này trong nguyên bản TUTA có lẽ in sót sai
vài chữ, trong đó có chữ “sơn” mới xuất hiện để chỉ
một trong hai người (Định Hương hoặc Cứu Chỉ) nhưng cũng
lại không thống nhất.
(2)
Nguyên bản in là Lương Văn Nhậm, chỉnh lý lại theo chính
sử ghi vị thái sư này là Lương Nhậm Văn.
(1)
Nguyên văn: “Bất ư nghiệp trung phân biệt, bất ư báo trung
phân biệt nghiệp” , xét ý đối hai vế của câu này thì
biết sau chữ “Phân biệt” ở vế một in một chữ “báo”.
(2)
Pháp hữu vị là thế giới hiện tượng có sinh diệt, biến
hóa; pháp vô vi là cảnh giới không sinh diệt, tịch tĩnh.
(1)
Hoả quang tam muội: loại thiên định phát ra lửa, tự thiêu
cháy thân xác, cũng gọi là Hỏa quang định
(1)
Hàn Sơn: tức Hàn sơn tử (ở núi Thiên Thai) và Thập Đắc
(ở chùa Quốc Thanh) là hai cao tăng đời Đường.
(2)
Nguyên bản TUTA in nhầm là Đoàn Văn Liễm (chữ Khâm và chữ
Liễm dễ nhầm).
(1)
Nguyên bản in nhầm là “Viên sư Đan Chiếu”.
(2)
Tức Ý Lan nguyên phi, mẹ vua Lý Nhân Tông, được phong Hoàng
thái hậu năm 1073. Theo Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ
3, t 18a) thì thụy hiệu của của bà là “Phù Thánh Linh Nhân
hoàng thái hậu”, không có chữ “Cảm”
(1)
Văn thù cũng tức là Văn Thù Sư Lị (Mânjuri) vị Bồ tát
đệ tử của Phật Thích Ca.
(2)
Chánh pháp nhân tạng: chánh pháp bao hàm muôn đức (tạng)
như con mắt trí tuệ (nhãn) nhìn thấu khắp tất cả mọi
sự vật, hiện tượng.
(1)
Giáo ngoại biệt truyền: Trương truyền Tổ Đạt Ma khi qua
Trung Quốc có nói bốn câu thơ, sau này thành tôn chỉ của
Thiền tông Trung Hoa: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt
truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Nghĩa
là:
Không
bày đặt chữ nghĩa
Trong
truyền ngoài giáo điển
Chỉ
thẳng vào Tâm người
Thấy
được tánh mà thành Phật
Ý
tứ là: chân lý hay là thực tại siêu việt ngôn ngữ, kinh
sách. Giáo điển chỉ là cái bè qua sông, ngón tay chỉ mặt
trăng. Tu thiền là chỉ thẳng vào Tâm; thấy được tánh tức
là giác ngộ được Phật tính thì sẽ thành phật (Minh Chi
chú)
(2)
Ma Đằng cũng gọi là Nhiếp Ma Đằng, một trong hai nhà sư
Ấn Độ đến Trung Quốc đầu tiên (năm 68 đời hán Minh đế)
(3)
Thiên thai trí giả: tức sư Trí Khải (đời Tùy) tổ thứ
ba của Thiên thai tông
(4)
Mâu Bác (người đời Hán) sang Giao Châu thời Sĩ Nhiếp (187-226)
có tá phẩm Lý hoặc luận
(5)
Khương Tăng Hội: tức Tăng Hội nhà sư người nước Khương
Cư (Sogdiane, nay buộc Udơbếch, Liên Xô) sinh và xuất gia ở
Giao Châu rồi sang Trung Quốc truyền giáo
(1)
Tức vinitaruci, có truyện riêng trong sách này.
(2)
Điều ngự; một trong mười hiệu của Phật Thích Ca.
(3)
Tam bảo: chỉ ba thứ quý báu nhất của đạo Phật là Phật,
Phát, Tăng.
(4)
Luy lâu: Cũng đọc là Liên Lâu, thủ phủ Giao Châu thời
Bắc thuộc (nay thuộc địa phận huyện Thuận Thành, tỉnh
Hà Bắc).
(1)
Ma ha Kỳ Vực (Mahajivaka) nhà sư Ấn Độ đến Luy Lâu khoảng
năm 168-169.
(2)
Chi Cương Lương: (Kalaruci) nhà sư người nước Nhục chi (Trung
Á) đến nước ta đầu thế kỷ thứ III.
(3)
Nguyên bản TUTA ở câu này khắc rối mấy chữ: “... hữu
pháp đắc Hiện thượng pháp sĩ”. Đúng ra hai chữ “đắc
pháp” phải để sau chữ sĩ.
(1)
Nguyên bản in là ngộ Pháp Hoa, nhầm do Ngô và ngộ gần âm
mà khắc nhầm chữ.
(2)
Nguyên bản in là Long Chương Bảo Tự, sửa lại cho đúng là
Thiên Chương Bảo Tự (1133-1138).
(1)
Đúng họ của Mãn Giác là họ Lý, thân phụ là Lý Hoài Tố
sang sứ nhà tống năm 1073.
(2)
Thiền na; Phiên âm tiếng Phạn (dhyana), cũng có nghĩa là thiền
đinh.
(3)
Nguyên bản in nhầm là Anh Vũ Chiến Thắng
(1)
Ninh sơn: tên xã thuộc huyện Hoài Đức ngoại thành Hà Nội.
(2)
Nguyên văn: Cụ túc giói có nghĩa là giới đầy đủ: Tì Khưu
250 giới, Tì Khưu nỉ 500 giới.
(1)
Chữ Hán là miêu nhi, nguyên bản in chữ miêu là cây mạ (thiếu
bộ Khuyển).
(2)
Nguyên văn: “... hòa thượng như hà độc vô”, còn có thể
hiểu là: sao hòa thượng lại nói hòa thượng không có (Phật
tính)?”
(1)
Ngô pháp Hoa tức thiền sư Thông Biện, em truyện riêng trong
sách này.
(1)
Mỹ Lãng: nay thuộc địa phận huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà
Sơn Bình. TUTA viết nhầm chữ “quân” (trong từ quân tử).
ĐNTU đã chỉnh lại là quận Mỹ Lương.
(1)
Nguyên bản in chữ “huệ”, đúng phải là chữ “Tuệ”
(trí tuệ).
(1)
Hải thanh: tên hương thuộc lộ Thiên Trường, đời Lê thuộc
trấn Sơn Nam Hạ. Nay thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Chùa Nghiêm Quang
sau đổi tên là Thần Quang (1167), nguyên ở hữu ngạn sông
Hồng, đã bị hủy hoại vì lũ lụt. Năm 1630 dân sở tại
dựng lại chùa ở tả ngạn sông Hồng nay thuộc xã Duy Nhất
huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình, thường gọi là chùa Keo Dưới.
Chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa
(1)
Nam tông đồ; tức Nam tông tự pháp đồ của Thường
Chiếu.
(1)
Lệ Thủy: sách Hàn Phi Tử chép: sông Lệ Thủy ở Kinh Nam
có vàng, có lệnh cấm ai đãi trộm vàng thì bị phanh thây,
nhưng người ta vẫn đãi trộm, vì tin là mình không bị bắt.
(1)
Phù cầm: tên hương đời Lý, ở bơ nam sông Như Nguyệt; nay
là thôn Phù Cầm, xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong tỉnh Hà Bắc.
(1)
Duy ma, tức Duy Ma Cật (Vimalakirti) tên vị trưởng lão sống
cùng thời với Phật; tuy là tu gia nhưng trình độ Phật học
và chứng đắc không thua kém gì các vị Đại Bồ Tát như
Văn Thù. Kinh Duy Ma chép lời đối đáp của ông với Bồ Tát
Văn Thù; còn có tên là Tịnh Danh.
(2)
Giáo ngoại; xem chú thích ở truyện thiền sư Thông Biện
(1)
Núi Không Lộ: tức núi Thầy ở xã Sài Sơn huyện Quốc Oai
tỉnh Hà Sơn Bình.
(1)
Nguyên bản in là Canh thân, đúng ra niên hiệu Thiên Tư Gia
Thụy thứ 5 (1190) là năm Canh Tuất.
(2)
Thối, trác; nguyên nghĩa chữ Hán thối là nuốt, trác là mổ.
Từ nhà Phật quen dùng làm hoán dụ để chỉ việc người
học đạo thỉnh vấn thiền sư (tựa như gà con sắp mổ vỏ
trứng để chui ra, gà mẹ giúp mổ bên ngoài cho vỡ hẳn vỏ
trứng).
(3)
Nguyên bản sau 2 chữ “kệ tất” là hết mục chép về thiền
sư Tín Học, có lẽ thiếu mấy chữ.
(1)
Xà lê nghĩa là bậc cao tăng uy tín đáng làm mẫu mực cho
các tăng. Đây nói sư Tỉnh Không
(1)
Sat; Tức Sát Đa La, dịch âm tiếng Phạn, có ba nghĩa” 1-Cõi
đất, 2-Vũ trụ lớn, 3-Tháp chùa; ở đây theo nghĩa thứ nhất
(1)
Thiên cực công chúa: con gái vua Lý Anh Tông
(1)
Thập nhị nhân duyên: mười hai nguyên nhân sinh ra mọi đau
khổ ở đời: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập (ngũ
quan và trí tuệ), Xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử.
Trong đó. “vô minh” (avidya, - tình trạng mông muội thiếu
hiểu biết về lẽ tử sinh, như đám mây mù che mắt) là nguyên
nhân quan trọng nhất.
(2)
Bích chi phật dịch âm đầy đủ là Bích Chi Ca Phật Đà (Prateyka
– Boudha) nghĩa là duyên giác, nhờ giác ngộ về lý thập
nhị nhân duyên.
(3)
Nghiệp thức; do căn bản vô minh không giác ngộ mà tâm động
(nghiệp thứ ba trong thập nhị nhân duyên).
(1)
Tứ xà; cũng gọi là Tứ đại thuật ngữ Phật giáo chỉ
bốn yếu tố dất, nước, gió tạo nên thân tâm con người
(ví như bốn con rắn nhốt chung một giỏ)
(2)
Ngũ uẩn: năm yếu tố sắc, thụ, tưởng, hành, thức; chúng
sinh (vạn vật) đều do năm yếu tố ấy tụ hợp mà thành.
(1)
Nhờ niệm phật mà vua định, gọi là phép niệm Phật tam
muội Tam muội có nghĩa là
(1)
Nguyên văn bản in bỏ trống 1 chữ, chú là “Thái Tổ húy”
tức là chữ “Thừa” (kiêng húy đời Trần).
(1)
Cát Lị Hi: phiên theo nguyên bản; ngờ thừa chữ Hi, (Hương
Cát Lị đã được nói đến một lần ở truyện sư Khuông
Việt, còn tên hương Cát Lị Hi (?) thì chưa gặp)
(1)
Vệ Linh; tên núi, tức núi Sóc, nay thuộc xã Phù Linh,
huyện Sóc Sơn ngoại thành Hà Nội.
(1)
Về quê quán của thiền sư Tịnh Giới, nguyên bản TUTA in
là: “... Hải Ngung Giang Mão hương”, trước chữ Hải có
một chữ nữa cũng thuộc nhóm từ địa danh, nhưng cả hai
bản in TUTA hiện còn đều bị mờ nhoè chữ ấy, vì ậy các
nhà nghiên cứu chỉ ghi Tịnh Giới quê ở hương Giang Mão
(TVLT1, tr.538), làng Giang Mão (Ngô Tất Tố – Văn học đời
Lý, tr.90) v.v... Chúng tôi đã đối chiếu với Đại Nam thiền
uyển truyền đăng lục (Sđd, tờ 29a) đọc rõ được chữ
nhoè ấy là chữ Lô (Lô Hải Ngung, Giang Mão hương). Nhưng
như vậy cũng vẫn còn chưa rõ vì có đến vài cách ngắt
mạch để hiểu về địa danh này, tạm ghi là “hương Giang
Mão đất Lô Hải Ngung” để chờ tra cứu thêm. Tịnh Giới
húy là Hải Ngung tức là lấy hai chữ trong địa danh để
đặt tên.
(1)
nguyên bản in: “Thủy thủy tâm nguyệt dẫn tâm nghi”, nhầm
vị trí, chữ “thủy” thứ hai đáng phải để sau chữ “tâm”.
(1)
Độ: thuật ngữ Phật giáo, dịch Phan ngữ paramita, có nghĩa
là vượt qua giới hạn (giữa mê tối và giác ngộ) sau mang
thêm nghĩa: cho phép xuất gia tu hành. Ở đây nói Tịnh Giới
nhờ có công cầu mưa linh ứng nên được bỏ qua việc thiếu
thuế, được chính thực công nhận làm tăng.
(1)
Như lai Tạng (Tathàgatagarbha), thuật ngữ Phật giáo, có nghĩa
là Tâm, nơi bắt nguồn của pháp tính.
(1)
Hà Trạch tức thiền sư Lôi Hà Trạch đã được thiền sư
Thông Biện nhắc đến khi nói chuyện với Linh Nhân Hoàng thái
hậu: “Dòng của Khương Tăng Hội thì nay có Lôi Hà Trạch”.
Chưa thấy tài liệu nào ghi tiểu truyện của Lôi Hà Trạch.
(1)
Theo bản dịch trong Kiến văn tiểu lục (NXB. Sử học, H.,1962,
tr.234)
(2)
Phép thần túc: phép thần thông chân đi nhanh như ay
(3)
Nguyên bản in chữ “giác” (góc, sừng), không có nghĩa, do
chữ “dụng” lầm thành.
(1)
Điểm nghạch. Theo truyền thuyết: cá chép nếu vượt được
long môn (hoặc Vũ môn) thì sẽ hóa thành rồng, không vượt
được thì bị đánh dấu vào trán (để không cho quay lại
vượt lần thứ hai), vì vậy người ta thường dùng điển
tích này để chỉ người đi thi chượt; ở đây hiểu với
nghĩa là tu hành không đặc tạo.
(2)
Trước năm 25 tuổi Giáp Hải làm nghề đánh cá, đã có vợ
con, sau mới xuất gia.
(1)
Nguyên bản chép là Trí Thiền, đúng ra là Thiền Trí tức
Tô Minh Trí (thế hệ thứ mười dòng Vô Ngôn Thông)
(1)
Âu công: Chỉ thiền sư Âu Đạo Huệ; Kiến Sơ: tên chùa,
nơi thiền sư Vô Ngôn Thông trụ trì.
(1)
Chùa Lục Tổ cũng gọi là chùa Cổ Pháp ở xã Đình Bảng,
huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc ngày nay.
(1)
Pháp luân: bánh xe pháp. Phật pháp ví dụ như bánh xe, luân
luôn được giảng thuyết hành từ, cũng như bánh xe luôn luôn
chuyển động (vì vậy có câu Pháp luân thường chuyển)
(2)
Ba tưứ pháp (Tam chủng pháp): hữu vi pháp, Vô vi pháp, Bất
khả thuyết pháp.
(3)
Nguyên văn: “đoạn ưng vô đoạn” ý nói ba thứ pháp tuy
tách rời để diễn đạt nhưng thực ra là thâm nhập lẫn
nhau, không tách biệt.
(1)
Theo Nghệ văn chí trong Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn,
thiền sư Thường Chiếu còn soạn sách Thích đạo khoa giáo,
một quyển.
(1)
Không tướng: Chân tâm không có tướng để có thể thấy
và nắm bứat được.
(1)
Thời tiết: chỉ lúc họ mang hết, sắp trút hơi cuối cùng
(1)
Nguyên văn “Chiến đối bản” tức tập sách của Thông
Biện, sau được thiền sư Biện Tài, nói Biện Tài “vâng
sắc chỉ” biên sửa thành sách Chiếu đốilục”
(1)
Tức là tập Nam tông tự pháp đồ của Thường Chiếu.
(2)
Na Ngạn: tên huyện đời Trần, nay là đất huyện Lục Ngạn,
tỉnh Hà Bắc
(1)
Giải hạ: tức ngày rằm tháng bảy. Theo lệ cổ của Phật
giáo, hàng năm các tăng, ni đến chùa tu hành trong ba tháng
mùa hạ (lễ kết hạ vào ngày rằm tháng tư) sau lễ giải
ba, tăng ni được tự do hành cuộc hoặc trở về quê quán.
(2)
Pháp khí: từ Phật giáo, chỉ những nhà tu hành có thiên tư,
năng lực giác ngộ và truyền tu Phật pháp.
(1)
Đây là cách nói của các nhà truyền giáo đạo Phật, nhất
là của phái Thiền tông để nhấn mạnh cái ý phải phá bỏ
mọi chấp trước, kể cả về thiện, ác v.v... để đạt
tới giác ngộ
(1)
Núi Yên Tử: nay thuộc huyện Đông Triều, tỉnh quảng Ninh.
(2)
Về thiền sư Trí Thông (thầy của Hiện Quang) trong Tập san
Khoa học xã hội số 7 (Paris, 1980, tr.103 và 107) ông Hoàng Xuân
Hãn ghi: Trí Thông là Thông sư (tức Thông sư cư sĩ), có thế
lầm?
(1)
Nghệ An phủ: chữ Nghệ bản in khắc nhầm thành chữ Hựu.
(2)
Nguyên văn bản in: “Toại thâm nhập Từ Sơn, kết mao cư
yên”. Ở đây bản in khắc lầm chữ “tư” (này, ấy) ra
chữ Từ (với chữ tư + bộ tâm ở dưới) là tên phủ Từ
sơn ở trấn Kinh Bắc. Đúng ra “tư sơn” (núi ấy) tức
núi Yên Tử; nơi trụ trì của Hiện Quang, theo thông lệ của
sách này đã nêu ngay ở câu đầu truyện. Soạn giả không
ghi chi tiết việc Hiện Quang từ Nghệ An ra núi Yên Tử như
thế nào.
(1)
Nguyên văn: “... Húy Văn tính pha sơ khoáng”. Trong LSPGVN ghi
là Đỗ Văn Tính. Chúng tôi hiểu tên húy của vị này chỉ
một chữ Văn, còn chữ “tính” đi với câu sau. Theo câu
cuối ở truyện thiền sư Tức Lự thì biết Ứng Vương cư
sĩ còn có hiệu là Ứng Thuận cư sĩ (người nối pháp của
Tức Lự).
(2)
Chiêu lăng: tên lăng của Trần Thái Tông (ở ngôi 1225 – 1231),
ở đây dùng lăng hiệu để gọi triều vua.