Với
những người đang trên đường nghiên cứu và thực hành các
pháp Thiền của Ðại thừa nói chung và tham học về Thiền
Tông nói riêng, có lẽ không ai trong chúng ta không từng đọc
hay được nghe qua ở đâu đó chí ít là năm ba lần trong đời,
lời dạy của đức Phật, rằng "Phiền não tức thị
Bồ-đề" hoặc "Sanh tử tức thị Niết-bàn",
được dịch sang Việt ngữ mà nhiều người xưa nay công nhận
là sát với nghĩa ban đầu của nó, là "Phiền não tức
Bồ-đề" và " Sanh tử tức Niết-bàn" .
Những
lời dạy như thế có tính cách khai mở trực tiếp cho những
người căn cơ, phước đức vào hàng trung thượng, một bước
trực chỉ vào cữa Ðại-thừa, nhanh chóng tỏ ngộ thật tướng
các pháp.
Nghĩa
là nhờ may mắn có được trực giác mạnh mẽ, được ví
như chiếc ngòi nổ chực chờ kích hoả để bùng vỡ tự
tâm khi gặp cơ duyên thuận lợi, những hàng phước trí thượng
thừa đặc biệt ấy thường dễ dàng tháo tung trí huệ siêu
việt (Bát-nhã trí) vốn sẵn tiềm ẩn, để ngay đó tỏ rõ
chơn tướng mọi sự vật. Chính lúc ấy, giống như một cơn
mê dài đầy mộng mị hốt nhiên choàng tỉnh, người con Phật
liền thấy biết như thật cái điều mà một hữu tình, tiêu
biểu là cái bóng dáng từ lâu được gọi là "Ta", tức thân
tâm này, mà từ lúc sơ sanh cho tới một sát na trước, chưa
hề được biết, đó là hết thảy chúng hữu tình, đang từng
hồi ẩn hiện trong huyễn cảnh sanh tử trước mắt, mà tự
thể hữu tình ấy chưa từng dứt mất bổn tánh vô sanh; đang
trong cảnh giới phiền não mà phiền não chẳng thể xâm phạm,
trói buộc.
Cũng
bắt đầu từ chỗ vừa thức trực đó, người con Phật biết
thế nào là tự sống làm "một" bản thể nguyên uỷ vô sanh
để tu hành, tức không rời lìa tự tánh mà tinh cần tiệm
tu cho đến giải thoát sanh tử rốt ráo.
Về
sau này, chư Tổ Thiền tông, đặc biệt là từ Lục-tổ Huệ-Năng
trở đi, thường mượn ý tứ ấy, nhưng vận dụng lại
dưới hình thức các cặp song đối, như Sanh-tử đối với
Niết-bàn, Phiền-não đối với Bồ-đề, Sắc với Không,
Tâm với Phật, Thiện với Ác, ….vv… qui nạp thành một
mối. Và từ một mối này, tức những cặp khái niệm nhị
nguyên đối lập, tiêu biểu cho hết thảy các pháp duyên-khởi
trong tâm, hiện khởi ngoài thân, Tổ dẫn dắt các căn trí
linh lợi có duyên với Ðại thừa Ðốn giáo, đoạn lìa trói
buộc lưỡng biên nhơn quả, trực nhập Trung-đạo, lần đến
giác ngộ bổn tánh chơn không vô sở đắc. Rồi cũng từ
trong tánh sáng vừa được khai mở này, người học đạo
làm tất thảy việc để tự lợi, lợi tha mà không rời lìa
bổn tánh tự tại, nghĩa là tự sống "một" trong nó mà thứ
lớp quán chiếu trong ngoài để gột sạch hết thảy các cấu
nhiễm vị ngã từ thô đến tế của thân tâm mà tự thăng
hoa, tịch diệt.
Cũng
cần nói thêm một chút cho rõ kẻo có người thắc mắc, rằng
vì sao đã tu theo pháp vô vi của đức Phật mà trong đây còn
nói có "làm" tất thảy việc. Nói người ấy làm tất thảy
việc, mà thật ra không có việc gì gọi rằng làm trong đây
cả, vì làm mà không khởi ý, trọn lìa vọng chấp nhị nguyên,
tức tuỳ duyên mà làm với cái tâm không, rổng rang, bình
đẳng, chơn chất, vô cầu, vô dục, vô trụ, vô đắc;
lại nữa, tuy nói không thấy làm mà thiệt ra không việc gì
không làm, nghĩa là lúc nào cũng hiển phát cái tâm "vô tâm"
bình đẳng thành lợi ích chan hoà lên mọi chúng sanh, cùng
khắp pháp giới, cũng là cách nuôi nấng, trưởng dưỡng thánh
thai, cho đến thành tựu công đức giải thoát viên mãn. Chỗ
này có phần tương tợ với Triết-giáo Lão-Trang "vô vi nhi
vô bất vi", tức làm mà không thấy có làm, không làm mà không
việc gì không làm, nghĩa là tuỳ duyên đến đi, nói nín,
động hay bất động cũng đều từ cái tâm "VÔ", lợi ích
trang trải cùng khắp, nhưng không hề thiên chấp một riêng
ai. Ðến chỗ này có thể gọi là nhập đạo rồi vậy.
Những
lời dạy của đức Phật, như "Phiền não tức Bồ đề,
Sanh tử tức Niết-bàn" có tính cách chỉ thẳng thấy
ngay, xuất sanh từ tánh chơn linh không gốc gát, không trói
buộc nhị nguyên nhơn quả, vượt quá sự thấy nghe, hiểu
biết, nghĩ bàn của tâm ý thức phàm tình, nên không phải
ai ai cũng đều có thể tin hiểu ngay tức khắc được. Mà
dẫu sau đó có hiểu biết đi nữa thì cũng chỉ là cái biết
ngoài da, thịt không dính dấp gì tới cốt tuỷ của điều
cần biết, cũng là Pháp-tánh, bất khả thuyết, bất khả
tư nghị mà đức Phật muốn mượn ngôn ngữ trong đây để
làm phương tiện chỉ trỏ về nó. Thâm nhập "một" nó, cũng
có nghĩa cùng "nó" tuyệt đối, tức muôn duyên tự bặc, thì
ngay đó vô ngôn.
Pháp
trực chỉ thượng thừa của chư Phật chỉ thích hợp cho
một số căn trí đặc biệt nào đó mà thôi; còn ngoài ra,
những người khác khó bề kham nổi.
Pháp
Ðốn giáo của Lục Tổ Huệ-Năng cũng như vậy, có công năng
không thể nghĩ bàn trong việc phá trừ vô minh, hiển bày Phật
tánh, riêng dành cho những căn trí linh lợi, có duyên với
Ðại thừa, Tối thượng thừa pháp. Người trí căn kém cỏi,
ít phước đức thường khó tin, khó hiểu, khó chấp nhận
pháp này. Ðó là sự thật.
Lục
Tổ thường ví pháp Ðốn giáo chẳng khác như trận mưa lớn,
dễ làm trốc gốc và cuốn phăng đi những thứ cây cỏ, lau
lách thấp bé và yếu ớt, nhưng ngược lại, làm tăng trưởng
và tươi tốt thêm cho những cội trường sanh đại thọ.
Bỡi
vậy chư Tổ thường dạy các đệ tử của mình, rằng, nếu
không gặp được người phước trí vào bậc thượng, thì
phải rất cẩn trọng, chớ nên nói pháp này ra, bỡi sợ có
kẻ không tin hiểu nổi rồi sanh tâm nghi ngờ, huỷ báng.
Ngày
nay, kỷ nghệ in ấn phát triển vượt bậc, song song với công
nghệ truyền thông đại chúng quảng bá sâu rộng, len lỏi
vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, nên ai ai cũng có thể
dễ dàng bắt gặp những câu nói ẩn áo, lạ lùng, khó tin,
khó hiểu như trên của Tổ, Phật.
Sợ
rằng có những Phật tử còn giữ cái tâm chấp, chấp ngã,
chấp pháp, chấp lên chữ nghĩa, chấp vào âm thanh, chấp vào
mớ tri kiến đã được học hỏi….vv… khiến khó lòng tiếp
nhận ý chỉ sâu xa của các bậc Thánh trí, hoặc nghi ngờ
tíùnh chân thật của những lời dạy ấy, rồi sanh tâm cuồng
loạn, hủy báng chánh pháp, khiến càng tự tạo thêm tội
chướng.
Thế
nên, dù tự biết sở học Phật của mình tích góp được
trong đời này còn rất ít ỏi, đối với biển pháp mênh
mông thì ví như nắm lá trong rừng cây, nhưng chúng tôi cũng
không ngại sự kém cỏi, hay che dấu dốt nát của mình mà
vẫn mạnh dạn viết ra, để giải đáp chung cho những bạn
đạo đã từng thắc mắc, viết thư hỏi chúng tôi về các
câu trên và những câu tương tự.
Ví
bằng chỗ luận nghĩa ấy chưa khế hợp tâm ý của Tổ, Phật
thì cũng đã sẵn có các bậc đức cao đạo cả trong đời
này chỉ ra chỗ sai sót, dốt nát kia mà dạy lại cho mình,
thì rốt cuộc, chỉ một việc làm mà được cả hai đường
lợi ích, đó là vừa lợi tha vừa được tự lợi vậy.
Ðành
rằng ngôn ngữ, tri thức khó bề tiếp cận diệu lý cao sâu,
huyền mầu của Thánh trí, vì đó là sự thật đương nhiên,
không gì có thể khác được. Tuy nhiên, người viết vẫn
mong rằng những lời thô thiển này, trong một chừng mực
nào đó, có thể đáp ứng được một phần hiểu biết căn
bản tối thiểu, để người học Phật trung, sơ cơ không
còn nghi ngờ gì nữa về tính chân thật của câu nói trên
hoặc những lời dạy tương tự khác của đức Phật và của
chư Tổ.
Thiết
nghĩ, nếu thắc mắc của các bạn đạo được tháo gỡ,
tức nghi ngờ trong lòng đối với pháp đã tan biến, thì niềm
tin vào Phật đạo ắc sẽ càng vững mạnh hơn, Bồ đề tâm
sẽ càng kiên cố hơn, việc thực hành Phật pháp lên chính
thân tâm mình sẽ càng dõng mãnh, nhiệt tình hơn, và tất
yếu, con đường tiến tu phía trước cứu cánh bờ kia ắc
cũng sẽ thuận lợi, nhanh chóng hơn.
Ví
bằng lực bất tòng tâm, do sở học Phật của người viết
cạn cợt, không thể làm sáng nghĩa hơn câu nói đó được,
thì chí ít cũng mong coi đây như là hồi chuông cảnh báo cho
những ai, chớ nên vì nhất thời chưa đủ duyên lành để
tin sâu, hiểu thấu lời dạy của đức Phật "Phiền
não tức Bồ đề" hoặc "Sanh tử tức Niết-bàn"
thì cũng không nên nghi ngờ sự chân thật của nó, hay sanh
tâm huỷ báng, kẻo tự tạo nghiệp chướng cho mình một cách
oan uổng.
Ðó
là cả tấm lòng và mong ước của chúng tôi vậy.
I. Sanh tử,
Phiền não - Bồ đề, Niết bàn
dưới cái
biết của tâm ý thức.
Có
lẽ không hiếm người đang tu Phật tại gia như chúng ta, khi
bắt gặp câu nói "Phiền não tức Bồ-đề" hoặc
"Sanh tử tức Niết bàn" thì thường không khỏi
nghi ngờ, thắc mắc về tính chân thật của nội dung lời
dạy ấy.
Bỡi
làm sao không thắc mắc, nghi ngờ cho được khi những lời
dạy vừa nêu gần như phủ nhận sạch sẽ, nếu không muốn
nói là quay ngoắc lại một trăm tám mươi độ đối với
tri kiến về Phật pháp mà chúng ta đã từng học hỏi, hiểu
biết và tích góp được từ những năm tháng trước đó cho
tới lúc này.
Nghĩa
là, qua việc nghiên cứu từ trong sách vở, kinh điển hoặc
được nghe các vị Thầy thuyết giảng, thì có lẽ ai trong
chúng ta cũng đều có chỗ hiểu biết một cách đại lược
như sau. Rằng, vào thuở xa xưa, hơn hai ngàn rưởi năm trước,
từ cảnh giới Tỳ-lô Giá-na, đức Phật, khi ấy còn là vị
Ðại Bồ-tát, nhìn thấy thấu suốt khắp hết các cõi. Ngài
thấy chúng sanh ở cõi Ta-bà si mê, điên đảo, quên mất tánh
căn bản vô sanh của mình, vọng chấp thân, tâm và các sắc
trần huyễn-hoặc như bóng ảo trong gương, như mặt trăng
trong nước làm thật có, khiến phải tự nổi trôi bất định,
trói buộc vĩnh kỳ trong biển nghiệp thức sanh tử luân hồi
.
Với
lòng từ bi vô hạn, không nỡ nhìn thấy chúng-sanh khổ đau,
lầm lạc mà không cứu, nên, biết nhơn duyên đã phải lúc,
đúng như lời thọ ký của đức Phật Nhiên-đăng thuở xa
xưa, rằng Bồ-tát sẽ làm Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni ở
cõi Ta bà, nên Ngài mới thị hiện ở cõi uế độ, ngũ trược
này để thuyết pháp độ sanh.
Phương
tiện giáo hoá của đức Phật, thì thậm vi thậm diệu, không
thể nghĩ bàn, có công năng dẫn dắt hết thảy mọi căn cơ
từ thấp tới cao, bất luận ngu hay trí, nếu ai ai biết tin
tưởng cầu học và nhứt tâm thực hành một trong các pháp
thích hợp với phước trí của mỗi người, đúng như lời
Phật dạy, thì cũng đều có thể đoạn lìa phiền não, vượt
thoát sanh tử, đắc quả Bồ đề, thân chứng Niết-bàn như
Phật không khác.
Có
lẽ đó là cái nhìn tổng quan về Phật đạo, cũng là sự
hiểu biết căn bản trong một chừng mực nào đó của đa
phần người tu Phật tại gia trong chúng ta.
Sở
dĩ nói sự hiểu biết về Phật đạo có giới hạn chừng
mực, là vì, việc học và thực hành pháp Phật của người
cư sĩ, về mặt khách quan, vốn dĩ còn nhiều bất cập. Chẳng
hạn như không đủ sách vở, kinh điển để nghiên cứu, hoặc
không sẵn có thiện tri thức bên cạnh để học có thể trực
tiếp tham vấn hay giúp họ hoá giải một vấn đề còn nghi
ngờ, thắc mắc vượt quá tri kiến về Phật học mà họ
không thể tự biện biệt, và điều quan trọng hơn hết là
cái quĩ thời gian của người cư sĩ dành cho đạo học lúc
nào cũng ít hơn rất nhiều so với người xuất gia, vì bản
thân họ, nhất là những người trụ cột, còn phải lo cho
cuộc sống của cả gia đình. Thế nên mới nói, sự hiểu
biết và việc thực hành Phật pháp của người tại gia thường
có giới hạn vì lý do khách quan, chứ không phải có ý gì
khác. Còn những người có đầy đủ các điều kiện để
tu tập thì chẳng phải là không có, nhưng ngoại lệ đó có
lẽ không nhiều.
Trở
lại với chủ đề trên, do hiểu biết thông thường bằng
cái tâm phân biệt phàm chấp, tức chấp ngã, chấp pháp, hệ
lụy lên khái niệm nhị nguyên, nên Sanh tử - Phiền não ở
đây mặc nhiên được những người tu học tại gia trung sơ
cơ như chúng ta coi như là pháp thật có, rằng đó là lẽ
tất yếu phải xảy ra đối với luật tắc nhơn quả luân
hồi. Sanh tử - Phiền não được hiểu là điều mà hữu tình
bắt buộc phải thọ khổ theo nghiệp báo, phải thay hình đổi
dạng theo từng nghiệp dĩ, không ra ngoài hai đường sướng
khổ, vui buồn, tội phước, có không, còn mất…vv… tuỳ
thuộc vào cái nhân thiện nghiệp hay ác nghiệp, biệt nghiệp
hay cộng nghiệp mà những chúng sanh ấy đã tạo tác.
Còn
Bồ-đề, Niết-bàn thì được chúng ta hiểu qua kinh nghiệm
sở học Phật của mình, dĩ nhiên sự hiểu biết đó cũng
bằng tâm ý thức phân biệt, có lẫn chút mơ màng, tưởng
tượng, rằng đó là chỗ giải thoát miên viễn, tự tại
của chư Phật, Bồ tát, vượt quá cảnh giới sanh tử luân
hồi mà chúng sanh đang phải thọ nghiệp báo trước mắt.
Và sở dĩ chúng tôi nói "có lẫn chút mơ màng, tưởng tượng",
là không ngoài mục đích, để nhân đây tách bạch một vấn
đề, không phải là việc vừa mới xảy ra hôm qua, mà là
chuyện cũ rích, chuyện vẫn thường hay xảy ra từ muôn thuở
trước và tồn tại đến tận bây giờ. Ðó là những người
tu Phật thường hay bị đánh lừa, dẫn đến việc bị cột
chặt vào sanh tử, nhưng lại rất hiếm người đủ sáng suốt
để kịp thời nhận ra mình bị đánh lừa, bị xô đẩy.
Hoặc cũng có người, một lúc nào đó bất chợt tỉnh táo,
nhận ra rằng từ lâu đến giờ mình đã bị lừa, mà kẻ
dối lừa mình lại không ai khác hơn là chính mình, nhưng đến
lúc ấy dẫu có hối cũng không còn kịp, uổng phí một đời
tu. Bỡi cớ sao? Bỡi người bị đánh lừa thường cảm thấy
khoan khoái, dễ chịu, nếu không muốn nói là rất thích thú
được "bị lừa", vì bản ngã đã được ru ngủ, vuốt ve,
mơn trớn một cách thoã mãn, để cuối cùng, khi phải trực
diện với hai đầu mối sanh tử, thì không còn kịp để cải
sửa, đành buông tay phó mặc vô minh trói buộc.
Sự
thật đã có không hiếm người rơi vào trường hợp này.
Về mặt chủ quan, tự thân họ không sớm nhận ra kẻ thù
dìm sâu mình vào biển sanh tử lại không ai khác hơn là ý
thức chấp ngã vi tế, ẩn tàng trong thân tâm này một cách
kín đáo, cũng như nguỵ trang khéo léo đến mức khiến người
đó lầm tưởng mình đã thật sự vô ngã, đã thật chứng
Phật tâm. Bên cạnh đó, về mặt khách quan, họ thường được
những người chung quanh phụ hoạ, tâng bốc đến tận mây
xanh, khiến tưởng rằng mình đã thật sự nên thần,
nên thánh rồi.
Thế
nào là bị đánh lừa và bị trói buộc ? Ðó là sự nhầm
lẫn thường thấy của người tu Phật, cả tại gia lẫn người
xuất gia, về chỗ không tự sáng suốt để biện biệt được
như thật đâu là cái biết vi tế, cao vời mà mình đang sở
hữu nhờ huân tập kinh nghiệm bằng tri thức và đâu là cái
biết của tánh biết tuyệt đối mà mình chưa hề đạt tới,
tức chưa tự thể nhập "một" với nó, mà có chăng chỉ là
sự "biết" nó bằng mường tượng của ý thức. Nghĩa là,
có người tuy chưa thật sự sáng tỏ tánh biết, chưa phải
là đang tự một ở bờ kia, nhưng lại lầm nhận cái chỗ
biết rất vi tế và hơn hẵn người bình thường mà mình
đang chấp hữu, tưởng rằng đó là tánh biết. Chung qui lại
mọi tội sinh ra không ngoài cái ý thức vị ngã nhỏ nhiệm
tiềm ẩn trong ta, tức còn thấy hữu ngã.
Thật
ra, trong quá trình tu học, đạt tới chỗ cái biết vi tế,
cao vời của thức ý, vượt quá nhiều tầng nấc so với người
bình thường, như đọc qua các kinh điển Ðại thừa hay Ngữ
lục của chư Tổ liền hiểu ngay ý tứ các Ngài muốn chỉ
dạy trong đó mà không cần phải bỏ công suy nghĩ, cũng đã
là một việc vô cùng khó khăn rồi, nếu không muốn nói là
thành công một bước trong việc tu học ở đời này. Tuy nhiên,
hiểu được ý nghĩa trong kinh điển (nắm bắt tri kiến giải
thoát) mà không tự vượt thoát khỏi cái chỗ hiểu biết
còn trói buộc với thức ý (chưa vượt thoát khỏi phương
tiện, là tri kiến giải thoát) - nghĩa là còn thấy có người
hiểu và pháp được hiểu, cũng là chưa tự thể nhập "một"
trụ xứ vô sở trụ, chưa "một" pháp giới thường trụ,
bất khả thuyết, bất khả tư nghị mà đức Phật muốn trỏ
về. Có nghĩa người ấy vẫn chưa chuyển được cái thức
biết sanh tử về lại nguồn cội nguyên uỷ vô sanh mà thức
ấy xuất sanh - cũng là chuyển thức thành trí - thì vẫn còn
là ở bờ này.
Ðiều
ấy có nghĩa, cho dù cái chỗ biết của người ấy cao xa tới
đâu, thì thật sự nó vẫn còn là cái biết sanh tử,
tức chưa vượt thoát khỏi sự trói buộc của bản ngã, tức
còn có ý thức "hữu ngã" một cách nhỏ nhiệm, tức còn đang
ở bờ này.
Chỗ
hiểu biết cao vời của người đó so với tri thức về Phật
học của những người bình thường khác, tạm thí dụ như
bầy chim bị nhốt trong chiếc lồng nhỏ hẹp, so với những
con chim bị nhốt trong một vuông lưới to rộng như trái núi.
Có nghĩa, dù bầy chim được sống trong vuông lưới to rộng
tới đâu đi nữa (hơn hẵn những con chim trong chiếc lồng
con) thì cũng vẫn còn bị giới hạn bỡi những mắt lưới,
hoàn toàn khác biệt với những con chim đang tự do, tự tại
bay liệng trong bầu trời cao xanh vô cùng vô tận trên kia.
Lại
nữa, ngay trong đời mạt pháp này, một sự thật khó có thể
chối cãi, là rất hiếm người tu Phật tại gia như chúng
ta, trước mắt đã thành tựu được đại công đức là thân
chứng, thật chứng Bồ-đề, Niết-bàn như-tự-thể-lý-tánh-nó-là,
tức đã ngộ ra bản thể Phật tâm, sáng tỏ tánh biết, là
ở bờ kia. Những người có đại duyên, đại phước đức
thật chứng bổn tánh như thế ở trong đời này, không phải
là chẳng có, nhưng phải nói là rất hy hữu. Phần còn lại,
nếu phải nói một cách chân thật, không ai tự dối, thì
hầu hết những người tu Phật như chúng ta chưa tự thật
chứng "nó", chưa tự làm "một" nó, mà chỉ hiểu biết "nó",
tức hiểu biết Bồ-đề, Niết-bàn như là đối tượng của
tâm ý thức, dù chỗ biết được sở hữu ấy cao vời và
hết sức vi tế. Có nghĩa, đó cũng chỉ là cái biết
về Bồ đề - Niết bàn có lẫn chút mơ màng tưởng tượng,
vì ngay đó vẫn còn tồn tại ý thức hữu ngã.
Chính
vì cái chỗ chưa tự thể nhập "một" Phật tri-kiến mà cứ
lầm tưởng rằng mình đã đại ngộ bản thể, đã sáng tỏ
tánh Phật chúng sanh, cứ nghĩ mình đã đến đi tự tại,
hay là cho rằng mọi việc trong đời này đã xong, vv…và vv…khiến
không ít người xuất gia cũng như vài người tu học tại
gia đã có những động thái và ngôn ngữ đi ngược lại,
làm ngược lại, nói ngược lại bài học trí huệ và hạnh
nguyện từ bi của đức Phật mà không tự biết.
Một
số người mắc phải căn bệnh ấy, nhưng không tự biết
là mình đang có bệnh, thường hay lớn tiếng phủ nhận hoặc
chê bai một số kinh điển của đức Phật mà tự thân họ
không có sở trường hoặc chưa hiểu, chưa hành hết các pháp
ấy một cách thấu đáo, tới nơi tới chốn. Lại có người
mạnh miệng phủ nhận một số vị Tổ sư của Thiền tông
mà tự thân họ chưa đủ duyên phước và trí tuệ để được
cùng các Ngài ấy gặp gỡ; nghĩa là những mảnh thức biết
kia còn đang mê mờ, lang thang vô vọng trong biển nghiệp, chưa
hề sực tỉnh thể nhập làm một vào tinh thần giải thoát
được các Ngài thể hiện trong các Ngữ-lục, tức chưa phải
cùng các Ngài trong chỗ đồng hội, đồng thuyền (tánh tướng
dung thông) nên mới thấy có sự ngăn ngại, xung đột với
các Ngài (vì tự thân họ còn chấp tướng) dẫn đến việc
phủ nhận, chê bai, huỷ báng, tự tạo nghiệp chướng. Lại
cũng có người đem miệng lưỡi, chữ nghĩa ra mổ xẻ, chứng
minh, phê phán các Thiền ngữ, Công án vv….Thậm chí có vị
còn cống cao, ngã mạn tới mức tự phong danh hiệu xem ra còn
hơn cả đức Phật.
Than
ôi, thời mạt pháp. Những người như thế thật rõ ràng không
biết tội lỗi là gì!
Nếu
những người ấy quả tình đã thấy biết như thật, cũng
là thật chứng bổn tâm, bổn tánh, thì có thể nói, trước
mỗi thời giảng, ắc thường chấp tay cuối đầu cung kính
lạy khắp mười phương hư không, cũng là khắp cùng hết
thảy Phật quốc độ mà tách bạch cùng tự Phật của mình
rằng: "Những gì con sắp nói ra, tuy không ngoài việc tạm
mượn phương tiện được gọi là pháp để hiển bày ý chỉ
và tâm từ bi của chư Phật cho mục đích cứu độ, nhưng
những giòng pháp chơn không, không gốc gát, không tự tánh
này sẽ từ miệng con tuông chảy để làm lợi ích chúng sanh,
hoàn toàn không hiện khởi một chút ý riêng nào, cho dù nhỏ
nhặt như mảy lông. Nếu con có làm được như thế, thì pháp
Phật mới trong sáng, bình đẳng, chơn chất, mới không có
đúng sai, phải trái trói buộc vô minh nhơn quả, tức những
dòng pháp ấy luôn khế hợp cái tâm không tâm, bổn lai tự
thỉ.
Lại
nữa, ngay trong lúc này, con biết như thật rằng, chỉ có cái
thức tâm huyễn hoặc trói buộc vô minh sanh tử mới nghĩ,
mới nói, mới làm trong chỗ phân biệt để cho là pháp có
đúng sai, phải trái, thuận nghịch, hơn thua….mà đó cũng
là việc làm của những người đang mượn pháp để tự đề
cao bản ngã, tự trói buộc không ngoài danh lợi hai đường,
chứ Phật pháp và Phật tâm trước mắt, tự thể vốn như
như, chơn không, rổng rang, thanh tịnh, không gì có thể
được vv…và vv".
Nên
biết, pháp thì vô tâm, chẳng phải trái, đúng sai, cao thấp,
cũng không hề thiên vị một riêng ai. Pháp chỉ tuỳ thuận
nhơn duyên mà ban phát, nên tâm bệnh của chúng sanh thì cũng
tuỳ duyên mà tiếp nhận. Từng mỗi pháp tự có công dụng
riêng ứng hợp với căn cơ, phước trí của mỗi thức tâm
cùng nó hữu duyên.
Tam
thừa và mười hai phần giáo, bổn lai tự thỉ vốn chơn không,
vô sở đắc. Tạm gọi là pháp đó, ấy là nhờ trí huệ
Phật vận dụng tánh chơn không linh diệu, không thể nghĩ
bàn mà thành có pháp, cũng là phương tiện giả lập tuỳ
duyên cứu độ mà thôi. Các pháp ấy, như tất thảy cây lá
trên núi rừng, ngoài đồng hoang, không cây lá nào chẳng phải
là vị thuốc để trị bệnh, vì thuốc kia không hợp bệnh
này ắc cũng phải hợp với bệnh khác, thậm chí cây lá độc
cũng là thuốc.
Pháp
vô vi của đức Phật cũng như thế ấy, không có thấp cao,
hay dở, mà chỉ tuỳ ở chỗ chúng-sanh-tâm có ứng hợp Phật
tâm hay không. Chợt ứng hợp Phật tâm, chúng sanh tâm liền
đồng một cái tâm như như, không đến không đi, không sanh
không diệt, cũng tức là ngay đó sáng tỏ tánh biết,
là vượt thoát tử sanh phiền não, là ở bờ kia. Không ứng
hợp được Phật tâm tức còn ở bờ này, là trói buộc vô
minh, sanh tử.
Lại
nữa, tuy Phật pháp là vô vi pháp, nhưng tuỳ ở chỗ cái tâm
vô vi của người học đạo ứng hợp Phật tâm sâu hay cạn
mà vẫn tự có người chứng Thánh, kẻ chứng Hiền sai biệt.
Do
chúng sanh, tâm trí hữu vi có hạn lượng, không thể hiểu
thấu hết tất thảy pháp quyền biến thiện xảo vô biên
của bậc Nhất thiết trí, chứ không có pháp đúng sai. Pháp
pháp tự xưa nay vốn là giả lập, tuỳ duyên ứng nghiệm
cho từng mỗi tâm bệnh của chúng sanh, nên không có pháp nào
thiếu, cũng chẳng có pháp nào thừa, thí như những hạt mưa
từ trên trời rơi xuống, từng mỗi giọt rơi đúng vào chỗ
nó đáng rơi, thế thôi. Chúng ta không thể bảo theo "ý" mình,
là tại sao những giọt mưa không rơi vào chỗ này, hoặc phải
rơi vào chỗ nọ. Phật pháp là pháp tuỳ duyên như thế đó,
cũng tức là đang tự trong chơn Ðạo vậy!
Những
ai đang trong cảnh giới nhơn quả mà thật sự hiểu thấu
lẽ này ắc sẽ không còn khen pháp này, hay chê pháp nọ, hoặc
tán tụng pháp nọ mà phủ nhận pháp kia, vì tất thảy pháp
đó đều là biểu hiện của trí huệ Phật, là tuỳ duyên
pháp, vì bổn tánh pháp pháp chơn không vô sở đắc. Phải
lấy cái tâm không tâm để mà nhìn pháp, thì mới biết pháp
pháp đều là từ trí huệ duyên thành, không phải thật có.
Ðã không phải thật có, thì làm gì có thấp cao, sai đúng?.
Chỉ có cái tâm sanh tử vô minh mới thấy có pháp sai biệt
mà thôi.
Cho
nên, nếu còn mở miệng được, dù khen hay chê, dù tán tụng
hay phủ nhận, đối với chỗ thật biết kia, cũng là bản
thể chơn không vô sở đắc, thì sự khen chê ấy chẳng khác
gãi ngứa ngoài giày, còn riêng cái thức tâm chê khen đó,
thì đang tự vun đắp nghiệp chướng, tự trói buộc vọng
nghiệp vô minh nhơn quả.
Thế
nên, đương khi tự trong một niệm không sanh cũng không diệt,
tức trước niệm không sanh niệm, sau niệm không diệt niệm,
có nghĩa là ta đang trọn một trong chánh niệm chơn thường,
cũng là nhứt niệm tam muội, thì ngay sát na ấy, tự kiểm
điểm lại xem còn có ai trong đây để khởi sanh vọng niệm
vọng chấp, để chê khen, công nhận hay phủ nhận này nọ.
Bỡi vì ngay đó, tự thấy như thật, biết như thật, một
chút bóng hình còn không thấy có, huống là có người có
tâm cống cao ngã mạn để chê khen, tán tụng hay phủ nhận.
Cho
nên, chắc chắn một điều rằng, sở dĩ có chê khen đó là
lúc mảnh thức tâm sanh tử đang vọng niệm sanh tử, trong
cảnh giới sanh tử mà nói mớ, như nói trong chiêm bao vậy.
A-di-đà Phật !
Tóm
lại, chỉ có thật thấy thật biết thì mới tự xác định
không còn có ngã và ngã sở để chê khen hay phủ nhận này
nọ, bỡi khi ấy, như da thịt mình đang lành lặn thì ai lại
dại khờ gì mà cầm dao tự xẻo cắt thịt mình, đang trong
tam muội tịch tĩnh, Bồ đề Niết bàn lại tự mang lông,
đội sừng để lê lết trong biển nghiệp thức sanh tử hay
sao? Ðâu có đạo lý nào như vậy? Chỉ có người mất trí
mới làm những việc như thế mà thôi. Cho nên, chỉ có con
người làm sai, nghĩ sai, nói sai vì còn hữu ngã, chứ pháp
Phật thì bổn tánh tự như, chơn không, không là gì cả, không
sai không đúng, không thực không hư .
Trở
lại với chủ đề của bài viết. Xuất phát từ chỗ hiểu
biết sâu sắc qua kinh nghiệm về lẽ nhơn quả theo giáo lý
của nhà Phật, song song với niềm tin mãnh liệt vào lời tuyên
bố như đinh đóng cột của đức Phật, rằng "Ta là
Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành", cộng
với lòng nhiệt tình cầu đạo, đã khiến hàng thân cận
nam nữ chúng ta tự nguyện đến với đạo Phật để học
hỏi, nghiên cứu và thực hành các pháp giải thoát của Ngài,
không ngoài mục đích là để có cơ hội giũ sạch nghiệp
chướng phiền não, đoạn lìa trói buộc sanh tử luân hồi,
với ý thức mong cầu chứng đắc quả vị Bồ đề - Niết-bàn,
cũng tức là thành Phật.
Từ
chỗ hiểu biết như thế, đã khiến hàng thân cận nam nữ
chúng ta thấy có tướng sanh tử, phiền não cần phải đoạn
lìa, cũng như có đối trọng của sanh tử, phiền não là quả
vị Bồ đề, Niết bàn siêu việt để chúng ta có cơ hội
chứng đắc.
Sự
hiểu biết và niềm tin vào Phật đạo của hàng hữu học
tại gia chúng ta từ lâu vốn là như thế. Ấy vậy mà nay
lại có cơ duyên bắt gặp câu nói "Phiền não tức Bồ đề"
- "Sanh tử tức Niết bàn", cũng do chính đức Phật và chư
Tổ nói ra, khiến chúng ta không biết phải nên hiểu làm sao
cho hợp lý, để niềm tin vào Phật đạo trước sau vẫn luôn
như nhứt, để Bồ đề tâm không bị lay chuyển vì những
lời dạy khó tin, khó hiểu ấy, cũng như để con đường
tiến tu phía trước mặt, không vì thế mà bị chướng ngại.
Tóm
lại, do hiểu biết bằng tâm ý thức phân biệt, hệ luỵ
khái niệm nhị nguyên, nên khi đối diện với câu nói "Phiền
não tức Bồ đề", hoặc "Sanh tử tức Niết-bàn" thì không
ai trong chúng ta không cảm thấy ngờ ngợ, rồi tự hỏi đi
hỏi lại với chính mình rằng vì sao Phiền não tức là Bồ
đề hoặc Sanh tử tức là Niết bàn. Ðôi khi chúng ta còn
đi xa hơn thế nữa, với suy nghĩ giản đơn rằng, nếu quả
thật Phiền não tức Bồ đề, Sanh tử tức Niết bàn như
lời đức Phật và chư Tổ đã dạy, thì cần gì chúng ta
phải ngày đêm gắng sức tham cứu, học hỏi và tu tập Thiền-Ðịnh
cũng như gìn giữ các cấm giới cho uổng công phí sức. Bỡi
lời Phật dạy ở trên hết sức rõ ràng, rằng Sanh tử tức
Niết-bàn, Phiền não tức Bồ đề thì cũng có khác chi nói
ngược lại, Niết bàn tức Sanh tử, hoặc Bồ đề tức Phiền
não?
Từ
những suy nghĩ ấy khiến có thể có người phân tâm tự hỏi,
nếu nhứt tâm tu học đời này hoặc nhiều đời nữa mới
có thể thoát ly phiền não sanh tử, mới có thể chứng đắc
Bồ-đề, Niết-bàn, mà Niết bàn, Bồ đề kia, như lời Phật
dạy, cũng là Phiền não, Sanh tử, nghĩa là tu hành cho lắm
để rồi sanh tử vẫn hoàn sanh tử, phiền não khổ đau vẫn
cứ đeo đẳng trói buộc thân tâm, thì hoá ra việc mà chúng
ta đang theo đuổi trong đời này chẳng phải là vô ích lắm
ru?
Có
lẽ đa phần người trung, sơ cơ thường hay suy nghĩ gần giống
hoặc đại khái là như vậy khi bắt gặp câu nói trên của
đức Phật.
Sự
cảm nhận vừa nêu có phần hơi chủ quan của người viết,
do căn cứ vào việc có nhiều bạn đạo nghi ngờ, thường
hay đưa ra câu nói trên hoặc những lời dạy tương tự khác
của đức Phật khi có dịp cùng nhau gặp gỡ để trao đổi
về tri kiến Phật học, hoặc cũng có không ít bạn biên thư
nói lên thắc mắc đó với chúng tôi.
Tuy
nhiên, cảm nhận ấy dù gì thì cũng chỉ là việc lấy bụng
ta suy ra bụng người mà thôi. Cho nên, nếu ức đoán trên
là không phù hợp với tâm ý và sự hiểu biết của đa phần
người học Phật tại gia trong chúng ta, thì cũng mong được
các bạn đạo bỏ quá cho.
Mục
đích của bài viết này là để đáp ứng yêu cầu của một
số bạn hữu thân thiết đã tin cậy biên thư hỏi chúng tôi.
Cho nên, bằng cách mạn phép qua con đường gián tiếp của
ngôn ngữ trong khả năng của mình, chúng tôi nghĩ rằng, ở
một chừng mực nào đó, những thân cận nam nữ chúng ta có
thể nắm bắt được đại ý của câu nói "Phiền não
tức Bồ đề, Sanh tử tức Niết bàn" hoặc những câu
có ý nghĩa tương tự, để từ đó mỗi người có thể tự
xác quyết những lời dạy ấy là hoàn toàn chân thật, không
có chút gì ngăn ngại hay đi ngược lại kinh nghiệm sở học
Phật trước đó của mình.
Nếu
chúng ta hiểu thấu được lời Phật dạy, qua các thời điểm
và đối tượng được giáo hoá khác nhau, từ thấp đến
cao, mà thấy tất thảy các pháp đó đều dung thông vô ngại
nhau, đều là các pháp giả lập, là phương tiện thiện xảo
được đức Phật bày ra để tuỳ thuận nhơn duyên mà độ
người, thì điều ấy nói lên con đường tu học của chúng
ta càng ngày càng tiến bộ thấy rõ. Nghĩa là, khi những nghi
ngờ, thắc mắc về những lời dạy khó tin khó hiểu, cũng
như mới đầu nghe qua cảm thấy có phần xung đột với những
gì đã học trước đó, mà nay đã được khai thông, sáng
tỏ, thấu suốt (cũng là một bước tiến dài của việc tu
trí) thì niềm tin vào Phật đạo ắc càng kiên cố hơn, việc
thực hành pháp Phật ắc càng tinh cần dõng mãnh hơn, thì
công đức hy hữu, tối thượng trong cuộc đời tu học, là
ngộ bản thể chơn thật của vạn pháp, ắc cũng có cơ thành
tựu nhanh chóng hơn.
II. Phiền não,
Sanh tử - Bồ đề, Niết bàn
dưới cái
biết của tánh biết .
Vì
sao đức Phật và chư Tổ lại bảo "Phiền não tức Bồ đề
- Sanh tử tức Niết bàn"?
Ðó
là vì, dưới cái biết như thật của con mắt thánh trí, con
mắt sáng suốt, tỏ rõ thật tướng các pháp, cũng là tánh
biết, thì tất thảy các pháp tướng nói chung, phiền não,
sanh tử trong trường hợp này nói riêng, đều là tướng ảo
hoá, huyễn vọng, không phải thật có.
Thật
tướng của phiền não, cũng như của tất thảy tướng duyên
khởi trong tâm, hiện khởi ngoài thân là không một tướng
nào, tức vô tướng. Vô tướng là thật tướng của tất
thảy pháp.
Thật
tánh của các pháp nói chung, của phiền não ở đây nói riêng,
là không có tự tánh, tức không có một tánh riêng nào.
Tánh
không có tự tánh, còn gọi là tánh vô tự tánh, tức tự
thể bổn lai chơn không, mà vẫn được tạm gọi là tánh,
chỉ vì do con người cần có cái để gọi (hầu làm phương
tiện để biểu thị cái chỗ chơn không, vô tướng mà linh
diệu, huyền mầu, không thể nghĩ bàn trong khi học đạo)
mới phải tạm đặt tên cho, được gọi là tánh. Cái tên
"tánh" ấy cũng chỉ là giả danh, biểu thị thể tánh tuyệt
đối, chơn không, vô sở đắc.
Nói
giả danh đó, cũng có nghĩa, đối với bản tánh chân thật
của cái mà nghĩa giả danh kia muốn trỏ về (thật tướng
vô tướng) thì tri giác, tình tưởng, nghĩ nghị của loài
người không thể vói tới, là chỗ bất khả thuyết, bất
khả tư nghị.
Nói
về cái tên "tánh" giả danh, ở phía bên trên của sự hiểu
biết, tức vượt quá ý thức, cảm quan hay tình tưởng, nghĩ
nghị của một hữu tình, thì "nó" là một cái gì đó không
thuộc về ngũ uẩn, không thuộc về sắc, thinh, hương, vị,
xúc, pháp, không hình không bóng, là bản thể tuyệt đối,
trong trẻo, chơn thường, được tạm gọi là Vô, là Ðạo,
là Tri kiến Phật, là tánh Phật chúng sanh…vv.
Gọi
Tánh ấy là "vô - không, không một tánh, tướng nào", cũng
chẳng phải là cái không ngơ, hay không đối với có theo sự
hiểu biết bằng khái niệm phàm tình, mà bản thể cái giả
danh "Vô" ấy là chơn không, tuyệt đối, nhưng lại linh diệu
không thể nghĩ bàn, hay sanh các pháp. Ðó cũng chính là tánh
căn bản của vạn loại hữu tình, tức không một hữu tình
nào lại không chung cùng một tánh gốc đó. Các chúng hữu
tình, dù lớn như trái núi, dù nhỏ như hạt cải, thì Phật
tánh của từng hữu tình ấy đều như nhau, không hai, không
khác, không hơn, không kém, không sạch, không nhơ, không thiếu,
không thừa…vv. Nghĩa là trong cảnh giới hiện tượng huyễn
hoá theo vọng nghiệp sanh tử, thì từng mỗi chúng hữu tình,
cũng là những mảnh thức biết duyên khởi, tuông sanh từ
tánh biết linh diệu, có thể vì chiêu cảm tội phước theo
nghiệp thức ít hay nhiều, nặng hay nhẹ mà những hữu tình
ấy phải thay hình đổi dạng qui vào trong chín loài, thọ
nghiệp trong sáu đường, nhưng tánh căn bản của hữu tình,
tức tánh Phật chúng sanh thì không hai, không khác.
Thế
nào là chín loài chúng sanh? Có thể là còn rất nhiều loài
khác nữa, nhưng tựu chung thì có thể kể chín loài tiêu biểu
mà trong các kinh thường hay nhắc đến. Ðó là các loài sanh
trứng, sanh con, sanh từ chỗ ẩm ướt, hoặc biến hoá sanh,
loài có sắc, loài không sắc, loài có tư tưởng, loài không
có tư tưởng, loài chẳng phải có tư tưởng chẳng phải
không có tư tưởng. Ðó là chín loài chúng sanh theo nghiệp
dẫn dắt, đến đi trong sáu đường, tức trong sáu cảnh nhơn
quả là Trời, Người, A-tu-la, Súc sanh, Ngạ quỉ, Ðịa ngục.
Nhắc
lại, dù làm thân chúng sanh nào trong sáu đường, cũng là
sáu cảnh giới của vọng thức vọng nghiệp, thì vẫn không
mất tánh căn bản kia, cũng là tánh Phật chúng sanh.
Ngộ
cái bổn tánh bất biến mà thường tuỳ duyên hay sanh các
pháp, cũng là tánh bổn lai chưa từng sanh diệt của mình,
thì đó gọi là ngộ nhập Phật tri kiến, là sáng tỏ tánh
Phật chúng sanh. Thế nhưng không phải ai ai cũng có thể nhận
ra nó, nếu không nhờ thực hành chơn chánh một trong các pháp
vô vi của đức Phật, tương thích với từng căn cơ, phước
trí mỗi người cộng với nỗ lực của tự thân.
Sở
dĩ chúng sanh khó lòng nhận ra bộ mặt thật chưa từng đến
đi ấy, chỉ vì mỗi một cái tội vô thỉ vô minh. Do vô minh
che lấp bổn tánh, cũng là tánh biết nguyên uỷ, đồng nghĩa
với việc chúng sanh điên đảo mê mờ quên mất bổn thể
vô sanh của chính mình, cũng tức là tự xoay lưng lại với
con người thật của mình để cắm đầu nhắm mắt chạy
theo, nhìn theo một hướng riêng mà không phải là cái nhìn
toàn thể, dẫn đến vọng chấp cái tướng "ngã-ta" ảo hoá,
làm thật có, để ngay đó vọng thấy có thế giới hiện
tượng đến đi, sanh diệt chung quanh. Hay nói cách khác, từng
mỗi chúng sanh tâm cùng "nó - bổn tánh nguyên uỷ" thông lưu
vô ngại nhau, tạm ví như ánh sáng của ngọn đèn dầu dưới
ánh trăng rằm. Hai cái sáng chung cùng đó chẳng thể bảo
là một, cũng chẳng phải hai, cũng không phải khác. Duy có
điều con người chỉ biết hướng về cái đèn của tự ngã,
có thắp có tắt, tức có sáng có tối (thức biết sanh diệt)
và quay lưng lại với tánh thường sáng tự tại, cũng là
cội nguồn nguyên uỷ, (tánh biết) vốn luôn tự sẵn có.
Nghĩa
là, tự thỉ uyên nguyên, chỉ vì một niệm bất giác máy
động mà những mảnh thức biết (tâm thức) tuông sanh. Thức
biết chợt biết thì tự nhiên có thế giới hiện tượng
xuất hiện. Những mảnh thức biết ấy, là bóng hình, là
dụng của tánh biết, như bóng trăng trong nước, như
ảo ảnh trong gương, nhưng lại hàm chứa đầy đủ mọi tánh
căn bản linh diệu như của tánh gốc, tức bổn tánh, Phật
tánh. Những bóng hình huyễn ảo đó, tức những mảnh
thức biết, mê mờ điên đảo, vọng chấp bóng hình huyễn
hoặc, giả hợp của ngũ uẩn duyên thành làm thật ngã - ta,
coi cái tướng do thức (biết) duyên với lục trần làm cái
tâm thật có của mình. Rồi từ chỗ vọng chấp một tướng
ngã này làm thật có, đã khiến vọng sanh các tướng nhơn,
tướng chúng sanh, tướng thọ mệnh để phân biệt, so sánh,
tự trói buộc theo hai đường tử sanh, nhơn quả.
Từ
chỗ lầm chấp tướng ngã và các pháp tướng trong tâm ngoài
thân làm thật có, nên chúng sanh coi phiền não, sanh tử là
tướng thật có, là khổ ách thật. Cũng vậy, dưới con mắt
phàm tình, chúng sanh đã coi Bồ đề, Niết-bàn mà đức Phật
giả lập làm đối trọng với phiền não, sanh tử cũng là
tướng thật có, là chỗ giải khổ có thiệt, nên chúng sanh
liền thấy có tướng Bồ đề, Niết-bàn là hai là khác, là
đối lập với tướng Phiền não, Sanh diệt.
Thế
nên, với cái tâm tu nhưng còn chưa sáng tánh biết để biết
như thật thật tướng của vạn pháp, nên khi nghe thấy đức
Phật dạy "Phiền não tức Bồ đề" hoặc "Sanh tử tức Niết-bàn"
thì chúng ta tức khắc vọng khởi tâm phân biệt theo khái
niệm nhị nguyên, dẫn đến suy lường, so sánh rồi vọng
khởi nghi ngờ, thắc mắc về tính chân thật của câu nói
đó.
Trong
khi ấy, dưới con mắt tự tại của thánh trí, tánh biết
"biết" như thật ngã và pháp đều như hoa đóm trong không.
Ngã là do các duyên tụ hội từ ngũ uẩn mà thành, các Pháp
là do thức biết duyên với lục trần mà sanh, không phải
thật có.
Ngã
đã không, thì nhứt thiết pháp ắc đều không, huống là
Sanh tử, Phiền não, Bồ đề, Niết bàn làm sao có ngoại lệ.
Vì
sao nói "ngã" này không thật có? Trước hết chúng
ta cần phải xác định một điều là ngã chẳng phải thật
không, tức ngã chẳng phải ngoan không, hay không đối với
có, mà ngã vẫn hiện khởi rõ ràng, vì, như trên đã nói,
nhờ các duyên tụ hội từ ngũ uẩn mà thành có ngã. Nghĩa
là, ngã này đang hiện khởi bên cạnh vô số những mảnh
thức tâm khác cũng đồng thời hiện khởi, nên không thể
nói là không có ngã. Mảnh thức tâm kia chợt vọng "biết"
thì ngay tức khắc, ý thức về ngã hiện hữu.
Chính
vì cái chỗ vọng biết này mà chúng sanh, cũng là những mảnh
thức tâm huyễn hoặc thấy có đến đi, sống chết cũng như
thấy có khổ, vui, còn, mất…. trong biển nghiệp thức, vì
vọng khởi chấp ngã, chấp pháp làm thật có.
Ðể
diệt trừ vọng tâm mê lầm, chấp trước của chúng sanh cho
rằng ngã là pháp thật có khiến chúng sanh khỏi phải bị
trói buộc triền miên trong vọng nghiệp sanh tử, đức Phật
đã dùng cách phủ định mà nói rằng ngã không thật có.
Có nghĩa, Ngài không nói rằng ngã thật sự không (vì một
điều không ai có thể chối cãi là rõ ràng ngã và các pháp
tướng khác vẫn đang hiện khởi trước mắt) mà Ngài chỉ
nói rằng "ngã không thật có" cốt để phá
trừ cái tâm sai lầm chấp trước của chúng sanh cho rằng
"ngã thật có" mà thôi.
Ngài
nói rất rõ ràng là ngã không thật có, tức dạy rằng ngã
ấy chỉ là giả danh; ngã sở dĩ hiện hữu là nhờ các pháp
riêng biệt duyên vào nhau đúng thời điểm mà hiện khởi,
hết duyên thì tan rã, không phải ngã tự tại hay có tự tánh
riêng biệt nào.
Sự
hiện hữu ấy của ngã không phải tự chính nó, mà là nhờ
vào nhiều yếu tố riêng biệt tụ hội, tức duyên hợp từ
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Nhờ có năm uẩn, mà uẩn
đầu tiên gồm đất, nước, gió và lửa, đồng tụ hội
trong một lúc với bốn uẩn khác mà thành cái ngã, nhưng ngã
ấy không có tự tánh riêng biệt. Vì không thể gọi từng
mỗi món duyên hợp như đất, hoặc nước, hoặc lửa…hoặc
thọ, tưởng vv…làm ngã được, nên đức Phật đã
dạy, ngã ấy chỉ là giả danh, tánh ngã vốn tự chơn không,
không tự tánh. Tánh ngã không tự tánh cũng có nghĩa là bổn
tánh chơn thật của ngã là tánh chơn không, là vô sở đắc,
cũng là tánh Phật. Vậy cùng tột ngã kia cũng do từ một
tánh tạm gọi là duy nhất, tuyệt đối, chơn không, linh diệu,
là Phật tánh xuất sanh.
Nếu
tự nhận biết như thật cái ngã này chẳng phải thật có,
thì một lẽ đương nhiên là tâm của cái ngã kia ắc cũng
không thật có. Vì không có ngã thì tâm nương tựa vào đâu
để thành? Tâm đã không thật có, tức thể tánh chơn thật
của tâm vốn thiệt là bản thể chơn không, nói tới cùng
tột thì đó là tánh Phật chúng sanh. Ngay lúc tâm vừa chợt
không, tức trở về lại nhập một cội nguồn nguyên uỷ
là tánh chơn không, thì ở cái sát na đó lấy gì để thấy
có thế giới hiện tượng sanh khởi. Bỡi bản thể chơn thật
của thế giới kia, ngay lúc ấy cũng là chơn không. Thế giới
kia sở dĩ hiện khởi chỉ vì mảnh thức biết vọng chấp
ngã-pháp mà thành có. Cho nên, ngay lúc không còn thấy có tâm,
cũng là tự đồng "một" thể tánh tuyệt đối, thì ở ngay
cái sát na phi thời gian ấy, đó là Ðạo, là thể tánh chơn
thật, là Niết-bàn, là Bồ đề, là bất khả thuyết, bất
khả tư nghị.
Tóm
lại, từ vô thỉ vô minh, do chúng sanh điên đảo, mê mờ
nên chấp ngã, chấp pháp, coi các pháp tử sanh, phiền não
nói riêng, tất thảy các pháp tướng duyên khởi trong tâm,
hiện khởi ngoài thân nói chung làm thật có, nên phải nổi
trôi lặn ngụp trong sáu đường của nghiệp thức.
Cũng
với cái tâm mê đó, khi nghe đức Phật thuyết Bồ đề, Niết
bàn thì chúng sanh liền tiếp nhận Bồ đề, Niết bàn của
đức Phật như là một tướng giải thoát có thật, có chỗ
sở đắc, mà không biết rằng thực tướng Bồ đề - Niết
bàn kia là chơn không, chỉ là cái giả danh, giả lập, là
phương tiện để đánh thức thức tâm mê của chúng sanh,
chứ bổn tánh chơn thật của Bồ đề - Niết bàn cũng chính
thiệt là tánh chơn không, vô sở đắc, chẳng phải thật
có.
Nghĩa
là, do chúng sanh mê mờ, lẫn lộn, không tự biện biệt được
chỗ chân giả, chủ khách, cũng là không nhận ra tánh biết
và dụng của nó là tướng biết, nên đức Phật mới đem
Bồ đề, Niết bàn ra để làm phương tiện dẫn dụ, đánh
thức cái tâm si mê. Và một khi hành giả nhờ học hỏi, hiểu
biết và thực hành pháp vô vi của đức Phật lên chính thân
tâm này mà chợt tỉnh ngộ, cũng tức là ngộ cái tánh biết
tuyệt đối để không còn biết bằng thức biết mê lầm
nhơn quả nữa, thì liền biết như thật, một sát na trước,
cái mà ta lầm nhận là ta chỉ là bóng hình huyễn hoặc trong
giả cảnh vô minh sanh tử; một sát na sau, ta đã trở về
lại thể tánh nguyên uỷ vô sanh, cũng là thể tánh bổn lai
chơn thật, mà trong đó, nói ta đây nhưng cũng chẳng thấy
có gì là ta nữa, vì tự thể là tánh biết tuyệt đối.
Ngay
lúc này, tự trong ta có hai cái thấy biết trước mỏ ác.
Nếu dùng con mắt phàm tình của một sát na về trước để
thấy biết như mọi chúng sanh khác trong nhơn quả, tức biết
bằng cái tướng hữu trụ của thức tâm sanh diệt, thì dù
nói Niết bàn, Bồ đề hay gì gì đi nữa, thì Niết bàn, Bồ
đề kia vẫn là cái tướng được biết của sanh tử, chẳng
thể dính dấp tới người nói. Còn với cái thấy biết như
thật vừa khám phá, thì Bồ-đề, Niết bàn là bổn tánh tịch
diệt, bất khả thuyết, bất khả tư nghị, cùng ta tuyệt
một, không hai, không khác, chẳng khác như ta đang trong một
giấc ngủ mê mang, không mộng mị, và đương nhiên là tuyệt
đối vô ngôn, vô thức.
Tới
đó, cái bóng hình huyễn hoá này chỉ còn biết chấp tay cuối
lạy mười phương hư không và dạt dào lòng từ bi bộc phát,
muốn đi vào tất thảy mọi cảnh giới hoa đóm để cứu
độ cũng là cách đền ơn quá, hiện, vị lai chư Phật mà
thôi.
Ðến
đây thì cái cần tìm xưa nay cũng đã thấy rồi, nhận ra
rồi, tức là sáng tỏ bổn tánh thường hằng, chưa từng
sanh diệt, vượt quá nhơn quả nghiệp báo, tự thấy bình
đẳng, hiu nhiên, đến đi tự tại. Tới đó thì hành giả
tu Phật tự biết, không còn nghĩ tới Bồ đề, Niết bàn
nữa, vì nhơn quả không lầm, sanh tử không còn, thực tại
trước mắt tuyệt đối, bổn tâm quảng đại vô lượng,
vô biên, không đến, không đi, rổng rang như hư không,
thì còn cần đề cập gì tới Bồ đề, Niết bàn nữa.
Thể
tánh chơn thật của Bồ đề, Niết bàn trong đây, ngay lúc
này cũng chính thiệt là bản thể vô sanh, là Phật tâm nguyên
uỷ, là mặt mũi xưa nay của mình chứ không là gì khác.
III. Nên thận
trọng về cách dùng từ ngữ của người xưa.
Ðể
có thể nhanh chóng nắm bắt một cách tương đối ý nghĩa
những lời dạy của đức Phật và của chư Tổ, trước hết
chúng ta nên cẩn thận lưu ý đến cách xử dụng từ ngữ
của các Ngài. Với những câu nói giản đơn, dùng ít từ
ngữ nhưng ý nghĩa thì lại quá hàm súc, như câu "Phiền
não tức thị Bồ-đề" - "Sanh tử tức thị Niết-bàn"
hoặc những câu có ý nghĩa tương tự khác như "Tâm tức
thị Phật", "Phật tức thị Tâm", "Sắc
tức thị Không", "Không tức thị Sắc",
"Chúng sanh tức Phật" …vv…. thì chữ mà chúng
ta cần để ý hơn hết, là chữ "tức- là" hay
"tức
thị - tức là" hiện diện trong đó.
Thông
thường, khi chợt nghe qua những câu nói như trên, hàng trung
sơ cơ dụng tri thức để hiểu biết như chúng ta, chưa kịp
đắn đo suy nghĩ, đã vội khởi tâm thắc mắc, hỏi lại
(với chính mình) rằng vì sao Phiền não lại "là"
Bồ-đề hoặc Sanh tử lại "là" Niết bàn, trong
khi Phiền não - Sanh tử được chúng ta xác định bằng kinh
nghiệm học tập vốn có từ trước, thì đó là pháp trói
buộc, khổ ách mà ai ai cũng rất muốn rời lìa, còn Bồ đề
- Niết bàn là pháp giải thoát, tự do, tự tại mà ai ai cũng
mong cầu chứng đắc?
Ðiều
ấy có nghĩa, đối với sự hiểu biết hiện tại của chúng
ta, thì pháp Sanh tử - Phiền não hoàn toàn sai biệt, là hai
là khác, nếu không muốn nói là đối nghịch trăm phần với
Bồ đề - Niết bàn.
Ấy
thế mà nay đức Phật và chư Tổ lại dạy rằng Phiền não
"là" Bồ đề, Sanh tử "là" Niết bàn thì làm sao người
học Phật chúng ta có thể chấp nhận được?
Nếu
chúng ta không thận trọng về cách dùng từ ngữ của người
xưa mà tự ý sửa đi một vài chữ trong câu nói đó theo cảm
tính, nghĩa là thay vì dùng chữ "tức" chúng ta lại dùng chữ
"là", khiến câu nói trở nên sai biệt hẵn với ý tứ bàn
đầu mà các Ngài muốn gởi gắm vào trong đó.
Nếu
xem xét kỹ lưỡng cách dùng từ ngữ trong hai câu trên từ
nguyên văn Hán tự hoặc đã phiên âm ra Hán-Việt (Phiền não
tức thị Bồ đề, Sanh tử tức thị Niết bàn), thì thấy
rằng đức Phật có dạy Sanh tử "là" Niết bàn đâu, cũng
như có dạy Phiền não "là" Bồ đề đâu, mà Ngài nói rất
rõ ràng, rằng Sanh tử "tức là" Niết bàn, Phiền não "tức
là" Bồ đề, hoặc có thể nói cho gọn lại mà không làm
lệch nghĩa ban đầu của câu nói, là "Phiền não tức
Bồ đề, Sanh tử tức Niết bàn".
Ðiều
ấy có nghĩa, chỉ vì một chút vô tình không đáng có theo
quán tính, chúng ta đã tự sửa một chữ "tức"
hoặc "tức thị" thành chữ (thị - là),
(do đa phần ngầm hiểu một cách máy móc hai chữ "là" với
"tức", hoặc "tức là" trên hình thức khái niệm theo mặt
chữ có nghĩa gần giống như nhau, nhưng thật ra tính cách
của chúng được đặt trong câu nói này thì hoàn toàn không
giống nhau như ta nghĩ tưởng) nên mới khiến lời khai thị
trực tiếp kia trở nên khó hiểu hơn đối với những người
trung, sơ cơ như chúng ta, vì ngữ nghĩa của nó sai biệt hẵn
.
Bỡi
vì, nếu nói "Phiền não là Bồ đề" hoặc "Sanh tử là Niết-bàn"
thì rất dễ làm cho người học đạo lầm tưởng Phiền não,
Sanh tử, Bồ đề, Niết bàn, Tâm, Phật, chúng sanh… đều
cùng là những tướng thật có như nhau, vô tình dẫn dắt
người cầu đạo đi vào chỗ kẹt chấp tướng một cách
không ngờ. Trong khi đó, với câu nói "Phiền não tức Bồ
đề", thì chữ "tức" dễ làm cho chúng ta phải tự nhìn ngược
vào trong để suy gẫm và khám phá mà "à" lên một tiếng:
thì ra đức Phật dùng "tức" là để chỉ thể tánh của sự
việc.
Cho
nên trong các trường hợp như trên, chúng ta không thể dịch
chữ "tức thị" hoặc "tức" thành "là" được, mà phải dịch
là "tức" hoặc "tức là" để cho người cầu học dễ nhận,
dễ hiểu hơn.
Ðiều
ấy có nghĩa, lúc còn tăm tối vô minh, dưới con mắt phàm
tình, thì thấy Phiền não là Phiền não, Bồ đề là Bồ đề,
tức Phiền não và Bồ đề là hai tướng sai biệt, đối nghịch
nhau. Còn lúc đã ngộ ra cái tâm Phật, cũng là thấy biết
tánh tướng của vạn pháp một cách như thật, thì "Phiền
não tức thị Bồ đề" là chân lý, bỡi lúc ấy đã rõ bổn
tánh nguyên uỷ của Bồ đề, của Phiền não không ngoài một
tánh chơn không, vô sở đắc.
Thế
nhưng ngày nay vẫn có không hiếm người thường hay giảng
hoặc dịch những câu tương tự như "Phiền não là Bồ đề",
hoặc "Sanh tử là Niết bàn", "Tâm là Phật", "Phật là Tâm",
"Sắc là Không" vv ….như thế là không tương ưng với tâm
ý của người xưa. Làm sao những chúng sanh còn cái tâm trói
buộc sanh tử, còn chấp tướng như chúng ta có thể nhứt
thời hiểu ngay Tâm là Phật, hay Phiền não là Bồ đề được?
Bỡi cớ sao? Vì chúng ta đang là những mảnh thức biết huyễn
hoặc, đang trong cảnh giới sanh tử huyễn hoặc, nhìn các
pháp huyễn hoặc, nhưng lại vọng chấp tất thảy các pháp
kia làm tướng thật có. Ðã thế thì nói "Phiền não là Bồ
đề" thì ai hiểu được.
Cho
nên, chỉ khi nào mọi người, ai ai cũng đều tự biết như
thật rằng tất thảy pháp đều vô ngã, hiện tượng giới
trước mắt là không thật có, tới chừng ấy, pháp pháp bình
đẳng, thì mới có thể nói Phiền não là Bồ đề, hay Sanh
tử là Niết-bàn được. Tuy nhiên, tới chừng ấy, thì ai
còn cầu nói pháp nữa, ai còn cầu giảng pháp phương tiện
nữa, bỡi ai ai cũng đều đã biết như thật là nhứt thiết
pháp vô ngã, tánh của vạn pháp là vô tự tánh, tức bổn
nguyên vốn chơn không, vô sở đắc. Bỡi thế, đang trong lúc
này, với cái tâm còn trói buộc vô minh, hệ lụy khai niệm
lưỡng nguyên, chúng ta không thể dùng chữ "là" để méo mó
thay cho chữ "tức" hay "tức thị" của người xưa được.
Phiền
não là pháp sanh diệt, cũng như Sắc, như Tâm là pháp sanh
diệt. Sắc hiện khởi là do duyên tụ hội của bốn món đất,
nước, gió, lửa mà thành. Hết duyên sắc trở về không.
Nên nói sắc tức thị không, sắc tức không, mà không thể
nói sắc là không được, bỡi vì sắc đang hiện khởi trước
một cái ngã đang hiện khởi và đang thấy biết bằng vọng
thức sanh diệt. Phiền não cũng như vậy. Chỉ vì do thức
tâm duyên với trần cảnh mà sanh phiền não hay hoan lạc, khổ
đau hay buồn rầu vv… Phiền não và các pháp tương tự nói
chung, không có tự tánh. Cùng tột của pháp không có tự tánh,
cũng là tánh Phật, là tánh chơn không vô sở đắc. Nên nói
pháp này "tức" pháp kia vv…để dành cho cả người đang mê
lẫn người vừa chợt ngộ.
Cho
nên, nếu dùng "là" như một số người đã phiên
dịch "Phiền não là Bồ đề, Sanh tử là Niết bàn"
thì những nghi ngờ phát xuất từ câu nói đầu tiên này vô
tình dễ làm cho những nghi vấn khác lần lược xuất hiện
trong đầu những người còn chấp tướng, khởi tâm nghi hoặc
mà đặt lại vấn đề, rằng chẳng lẽ nước cũng là lửa,
xoài là mít, ổi là cam …. hay sao? Trường hợp như thế vẫn
có thể xảy ra lắm chứ.
Dịch
như thế không khéo vô tình đưa người trung, sơ cơ cầu học
đi vào thế kẹt chấp tướng trong chỗ vô cùng. Hoá ra dịch
nghĩa để cho người khác hiểu, lại khiến càng khó hiểu
hơn, thì thà cứ để nguyên văn "phiền não tức thị Bồ
đề" ắc người ta còn dễ chấp nhận cũng như dễ hiểu
hơn.
Nói
phiền não tức Bồ đề, dễ làm cho chúng ta sực nghĩ về
bản chất của Bồ đề và phiền não, để từ đó sáng nghĩa
câu nói mà liên tưởng tới đá lạnh tức là nước, hoặc
băng đá tức là nước, hoặc 1000gr tức l kg vv…
Bỡi
vì, trong hầu hết các kinh điển, đức Phật cũng như sau
này là chư Tổ, thường dạy, "Phiền não tức thị Bồ
đề - Phiền não tức Bồ đề", mà các Ngài không nói
"Phiền não thị Bồ đề - Phiền não là Bồ đề" là có chủ
ý rõ rệt.
Bằng
ngôn ngữ vượt thoát, đức Phật cũng như chư Tổ muốn chỉ
thẳng cho các căn cơ nhạy bén, linh lợi thấy ngay mà không
qua ý thức, nghĩ suy, rằng Phiền não và Bồ đề tuy giả
danh là hai, nhưng bổn tánh của Bồ đề và Phiền não thì
không hai, không khác.
Bồ
đề hay Niết bàn của đức Phật đều là nghĩa tịch diệt,
là diệt tất thảy tướng, là an trú bình đẳng tánh, là
tuyệt bặc muôn duyên, là bổn tánh chơn không, vô sở đắc.
Ðem
cái tánh cùng tột của phiền não, sanh tử là không, là chơn
không, là Phật tánh so lại với cái tánh cùng tột của Bồ
đề Niết bàn là tịch diệt, là chơn không, vô sở đắc
thì mới biết, bổn tánh của chúng không hai không khác, nên
mới nói "tức - tức là" .
Cho
nên, chỉ vì một niệm đang mê, liền thấy có pháp phiền
não sanh tử trói buộc . Một niệm chợt ngộ, tức ngộ tánh
bổn lai, tự tại, bình đẳng, thì liền biết như thật nhứt
thiết pháp không, không có tự tánh, thì ngay đó Phiền não,
Sanh tử, Bồ đề, Niết bàn cũng không ra ngoài bổn tánh chơn
không, tịch lặng.
Nếu
là người căn trí, thì vừa chợt nghe đề cập tới hai chữ
"bổn tánh" của Phiền não, "bổn tánh" của Bồ đề, ắc
dễ dàng nhận ra ngay đâu là ý chỉ mà đức Phật muốn trỏ
về, tức trực nhận ra bổn tâm mình cũng là tánh chơn không,
vô sở đắc như Bồ đề, như Niết bàn kia không khác.
Thế
nên Tổ, Phật mới nói "tức" hoặc "tức là" mà không nói
"là", cũng vì lý do từ một tâm mê hay ngộ khi nhìn bổn tánh
của sự việc mà thấy là hai là khác.
Riêng
với pháp Ðốn giáo thì những căn trí và phước đức vào
hàng trung thượng nương lời dạy ấy để nhìn vào tự tâm
khiến dễ dàng khám phá bổn tánh chân thật của mình.
Nhận
ra chỗ này thì Phiền não tức Bồ đề là điều không thể
sai chạy.
Tuy
nhiên chủ ý của sự dẫn dắt ấy là hướng chúng ta nhìn
thẳng vào tự tâm để thật chứng bổn tánh Bồ đề và
Phiền não, Sanh tử với Niết bàn, hoặc là thật tánh của
Tâm với Phật, của Sắc với không …vv. chứ không phải
để cho chúng ta dùng cái thức biết sanh diệt chạy theo phân
biệt, so sánh suông các pháp ấy như thế này hay như thế
nọ. Ðó chính là chỗ mượn tri kiến giải thoát của Phật
để thắp sáng bổn tâm, rồi nhìn các pháp bằng chính con
mắt tâm vừa được thắp sáng, rồi cũng ngay sát na đó chợt
lìa tri kiến ấy để ngoảnh đầu trực ngộ bổn tánh chơn
không vô sở đắc, cũng là tức thời bừng sáng tánh Phật
chúng sanh. Nói thì lâu chứ đã thấy biết chơn thật thì
không quá cái nháy mắt, vì trong đây không dụng suy lường,
nghĩ nghị. Ðã chợt thấy thì tức khắc toàn thể là mình,
là tánh biết chơn thật hiển hiện tuyệt một, bất khả
thuyết, bất khả tư nghị.
Một
khi sáng tỏ thật tướng của "ngã" là không một tướng nào,
tánh thật của ngã là không có tự tánh thì liền biết như
thật, tất thảy các pháp đều do duyên sanh, không phải thật
có. Khi ấy, liền biết Phiền não tức Bồ đề, Sanh tử tức
Niết bàn, Tâm tức Phật, Sắc tức không….vv..hay dẫu có
nói không phiền não, không Bồ đề, không Tâm, không Phật,
không sắc, không không …cũng chẳng sái vì tất thảy pháp
hiện khởi và duyên khởi đều từ tự tánh chơn không mà
hiện hữu, và tất thảy tướng hiện khởi ấy lại qui về
một chỗ, đó là tự tánh chơn không, tịch tịnh, vô sở
đắc. Xuất sanh và qui nguyên chỉ một chỗ này, nhưng có
sum la, vạn tượng đầy khắp, chỉ vì vọng thức duyên sanh
trùng trùng sai biệt. Chỉ có điều tới đó thì cũng hết
còn miệng lưỡi để nói, vì tâm ý thức, tình tưởng, giác
quan không còn chỗ để có thể dính dấp, vì bản thể tuyệt
đối, bất khả thuyết, bất khả tư nghị, không ta, không
người, không chúng sanh, không thọ giả, là chỗ mà chư Tổ
thường dạy "các các tu tự ngộ - mỗi mỗi nên tự ngộ"
nghĩa là mỗi người tự ngộ ra, tự biết mà thôi, như người
câm thấy chiêm bao, biết rõ ràng mà nói không thể tới.
Vì
Bồ đề vô sở đắc, cũng là nghĩa như của các pháp, như
thật như hư, thế nên trong đạo tràng Bát nhã, khi thuyết
kinh Kim cang Bát nhã Ba-la-mật, đức Phật xác định rất rõ
ràng, rằng "Tu bồ đề! Thiệt vô hữu pháp Như lai đắc
A nậu đa la Tam miệu tam bồ đề. Nhược hữu pháp như lai
đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề giả, Nhiên đăng Phật
tức bất dữ ngã thọ ký: Nhữ ư lai thế đương đắc tác
Phật hiệu Thích ca mâu ni - Này ông Tu-bồ đề ! Thiệt không
có pháp Như-lai được Chánh-đẳng Chánh-giác Vô thượng Bồ-đề.
Nếu có pháp Như lai được Chánh đẳng giác Vô thượng Bồ
đề thì Phật Nhiên đăng ắc đã không thọ ký cho ta, rằng
ở đời sau ông sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni".
Hoặc
Ngài còn dạy :"Thiệt vô hữu pháp Phật đắc A nậu
đa la Tam miệu tam Bồ đề. Như lai sở đắc A nậu đa la tam
miệu tam bồ đề, ư thị trung vô thật vô hư - Thiệt không
có pháp chi Phật đặng đạo Vô thượng Bồ đề. Như lai
đặng cái pháp Vô thượng Bồ đề, ngay trong ấy không thiệt
không hư".
(Phần
thứ 17 - Kinh Kim-cang Bát nhã Ba-la-mật).
IV. Thực hành
để Giải thoát Tri kiến.
Từ
những dòng chữ đầu trang cho tới giờ, do khuôn khổ hạn
hẹp của bài viết, nên chúng tôi không làm cái việc truy
nguyên gốc tích những lời dạy trên, như xuất phát từ đâu,
ai nói, hay nói lúc nào vv…để có thể thoả mãn sự ham thích
tích chứa kinh nghiệm về đa văn tri kiến của các bạn mình.
Ở đây, chúng tôi đã trực tiếp đi vào đề tài, nghĩa là
tuỳ thuận nhơn duyên làm sáng tỏ được chút nào hay chút
nấy ý chỉ của đấng Toàn-Giác muốn gởi gắm vào nội
dung câu nói trên, để những ai hữu duyên với pháp này có
cơ may chỉ một bước là vào thẳng Trung-đạo, tức cữa
Ðại thừa giải thoát.
Sở
dĩ chúng tôi không muốn các bạn tốn phí nhiều thời gian
cho việc truy tìm những gốc tích ấy, chỉ vì một lý do hết
sức đơn giản, đó là nỗi lo chung cho chúng ta, những người
như tôi như các bạn không còn nhiều thì giờ trong đời để
thực hành Phật pháp, mà việc thực nghiệm sở học Phật
lên chính thân tâm mình để cứu cánh bờ kia mới là điều
quan trọng nhứt, đáng nên làm ngay, nếu không muốn nói là
cần phải làm hơn tất cả mọi việc khác. Nói như thế để
thấy rằng, việc thực hành Phật pháp của chúng ta trong đời
này quan trọng đến mức nào.
Bỡi
vì, ai trong chúng ta cũng đều biết, sanh tử là chuyện đại
sự cấp bách, trong khi thời khắc trôi mau chẳng đợi chờ
ai, nên việc tu và hành để tự giải thoát sự trói buộc
của nghiệp báo luân hồi chẳng khác như việc cứu người
vừa bị tên độc bắn trúng. Việc cần kíp phải làm ngay
lúc này là cứu người bị nạn, chứ không phải lo chuyện
truy nguyên ai là người bắn mũi tên đó, hoặc mũi tên được
làm bằng gì, dài ngắn nặng nhẹ ra sao, bắn lúc nào, ở
đâu, tại sao bắn, vv… Trước mắt, những sự hiểu biết
như thế hoàn toàn không cần thiết đối với người bị
nạn đang đau đớn và có thể chết vì mũi tên độc ấy
bất cứ lúc nào. Việc cần làm ngay là phải có phương pháp
hữu hiệu để nhổ mũi tên ấy ra càng sớm càng tốt, phải
cho uống thuốc giải độc cũng như tra thuốc thích hợp vào
vết thương, để nhanh chóng cứu người.
Nếu
đem việc người bị tên độc bắn trúng cần được cấp
cứu để có thể sống sót, so sánh với chuyện phải như
pháp thực hành lên chính thân tâm này để có thể vượt
thoát trói buộc sanh tử luân hồi mà chúng ta đang theo đuổi
trong đời này, thì cả hai việc đều cần kiếp, đều cấp
bách như nhau.
Thế
nên, chuyện truy tìm các nguyên nhân và sự kiện như vừa
nêu ở trên, có thể chưa phải là việc làm của chúng ta,
hoặc giả nên để dành cho các nhà nghiên cứu chuyên biệt
về Phật học thì hơn.
Bỡi
vì có một điều mà ai hiểu rất rõ, là nếu việc học Phật
chỉ mong để làm giàu kinh nghiệm tri thức và kiến giải
sâu rộng mà không biết mượn lý đạo đã học được để
như pháp thực hành hầu tự khai tâm mở tánh cho mình (mượn
Tri
kiến giải thoát để khai tâm và biết Giải thoát
khỏi Tri kiến giải thoát để có cơ hội trực
ngộ bổn tánh) thì chỗ sở học bị chấp chặt kia, đôi
khi còn tai hại hơn là không biết gì cả, vì đấy chính là
biểu hiện của tâm chấp pháp, là sở tri chướng.
Nếu
phải bị sở tri chướng trói buộc vì không thể tự vượt
thoát khỏi tri kiến giải thoát, thì thà rằng chúng ta, những
Phật tử tại gia gồm đủ mọi căn trí, chỉ cần giữ chặt
sáu chữ Hồng-Danh gắn kết trong tâm không lúc nào rời lìa,
không lúc nào ngưng dứt để có cơ hội thể nhập Tam-muội
Tự-tánh Di-Ðà ngay trong đời này, còn hơn là học đủ thứ,
biết đủ thứ, nhưng lại vướng mắc vào kiến chấp. Bỡi
vì chỗ biết đủ thứ này, vẫn không vượt khỏi phạm vi
hiểu biết của ý thức, mà thức ý này chính là mầm móng
lưu xuất và tạo dựng cảnh giới vọng nghiệp sanh tử dành
cho các đời vị lai mà chúng ta phải trói buộc vậy. Ðó
là sự thật.
07-12-2008
09:23:55