Phần
thứ nhất
Lịch
Sử Khái Luận
Lịch
sử là ghi chép những hình ảnh, sự kiện và tư tưởng của
từng thời đại; đón tìm một tia sáng bất diệt cho tương
lai. Mỗi trang sử là một bài thơ hùng tráng, lẫm liệt, đôi
khi lại là thất bại khổ đau…, có sức làm rung động tim
óc con người không ít…Tg.
Chương
I
Nguyên
Lý Sáng Lập Ðạo Phật
…Đời
sống quốc gia dân tộc với hoàn cảnh địa lý và ảnh hướng
khí hậu, thiên thiên, đã tạo dựng cho Ấn Độ có một lịch
sử khác với các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đó là
sự cố đặc biệt của xứ Ấn Độ xưa và nay. Nơi có những
rừng núi thâm u, tục gọi là lục địa xanh (Pays bleus), đã
ảnh hưởng nhiều tới luồng tư tưởng nhân bản, tiến bộ
và giải thoát sớm được xuất hiện. Thật vậy, bất cứ
tôn giáo, học thuyết, chủ nghĩa nào, khi mới sinh khởi, đều
là phản ánh (không nhiều thì ít) của hoàn cảnh, khí hậu,
địa dư, xã hội, chủng tộc mà tạo dựng cả. Nếu
người ta xét nó ngoài hoàn cảnh thực tại lẽ dĩ nhiên không
thể thấu hiểu nổi. Văn hóa đạo Phật cũng do nhân duyên
hội ngộ như thế mà nảy mầm và thúc đẩy, tiến hóa…
* Hình
Thể Địa Dư
Địa
lý xứ Ấn Độ mang một dấu tích đặc biệt, phía tây có
nguyên Béloutchistan và các dãy núi thuộc phía tây bắc; phía
tây bắc có rặng núi Himalayas cao vút, gồm hai dãy chạy song
song nối liền và kéo dài tới tận biên giới Miến Điện
với nhiều nhánh tua tủa. Ấn Độ có 3.500 km núi chạy dài
từ tây sang đông và 800 km chạy từ bắc xuống nam; đấy
là chưa kể phía duyên hải miền tây hoàn toàn là các núi
đá lởm chởm. Rặng núi Himalayas sừng sững cao ngất trời
phương bắc đã ngăn chặn các làn gió từ trung ương Á Châu
thổi tới và giử lại các làn gió lưu tích sự ẩm ướt
của gió mùa. Phần lớn các băng tuyết của núi này đã tạo
ra các giòng thủy lưu nuôi sống vùng bình nguyên Ấn Hà. Các
đường thông thương với vùng Thượng Huyền đều nằm ở
phía tây bắc Ấn Độ. Cả vùng tây và bắc Ấn Độ đều
có các núi cao và cao nguyên. Mùa đông cực rét. Mùa hè, băng
tuyết tan. Sông ngòi đều có thủy lưu cháy xiết. Về phía
nam có gió mùa đem mưa từ Ấn Độ Dương vào lục địa.
Vì vậy, Ấn Độ như có các biên giới thiên nhiên để được
sống yên bình, phát triển văn minh thành thị. Nếu không nhờ
có năm nhánh sông Jhelam, Chenab, Ravi, Béas và Satlédj hợp lại
với sông chính Indus thì cả vùng phía tây bắc Ấn Độ chỉ
là sa mạc mà thôi. Vùng đất phì nhiêu nhất hiện nay của
Ấn Độ là hai trung nguyên Ấn Độ hà và Hằng hà, vì nơi
đây dân cư đông đúc, xóm làng trù phú. Mọi sinh hoạt đều
bắt rễ từ đấy rồi tỏa ra khắp nơi trong nước. Địa
bàn Dèkkan và Kashmir là hai cực nam, bắc đã phân định hình
thể địa dư bản xứ. Toàn cõi Ấn Độ có một diện tích
rộng lớn là trên ba triệu km2, bằng 3,4% diện tích đất
của địa cầu (không phải 3,4% diện tích địa cầu), gồm
có 3.268.090km2 (Ấn Độ) 935.000km2 (Hồi Quốc), bằng hơn 7
lần diện tích nước Pháp hay bằng hơn cả Âu Châu, trừ
nước Nga. Và Ấn Độ đứng hàng thứ hai về dân số (1984:
688.600.000 người), bằng 1/5 tổng số nhân loại, bằng 10 lần
dân số nước Pháp[1]. Thủ đô hiện nay là New Dehli. Nói về
địa thế Ấn Độ thật hùng vĩ, phía bắc có dãy núi Himalayas
bao bọc, phía nam là một đại hải mênh mông bát ngát... như
cuốn hút tất cả tinh hoa của trời đất tụ lại. Giòng
sông thiêng Gange linh tú trong xanh lững lờ đổ nguồn về
vịnh Bengale làm tươi mát cả một vùng đất rộng lớn. Và,
hơn nữa; Ấn Độ được coi như là trung điểm của địa
cầu. Sở dĩ nền văn hóa, văn minh vĩ đại của Ấn Độ
có được vị thế độc tôn là do ảnh hưởng của hoàn cảnh,
khí hậu, thiên nhiên mà có. Nền văn hóa, văn minh ấy có
một sắc thái khác hẳn các tư trào văn hóa, văn minh hiện
hữu trên thế giới (xin sẽ bàn đến trong mục Văn Hóa ở
dưới). Một khu vực có những che chở thiên nhiên, có núi
cao, biển rộng, sông dài... Đấy cũng là lẽ tất yếu đã
giúp Ấn Độ sớm nảy nở một nền văn hóa siêu đẳng:
Văn hóa Đạo Phật.
* Hoàn
Cảnh Xã Hội
Khi
muốn biết trình độ tiến hóa của một dân tộc, người
ta căn cứ vào từng giai đoạn và sự biến thiên của lịch
sử dân tộc ấy, để thẩm định giá trị của nó. Sau thời
đại thái cổ, xã hội Ấn Độ tuy đã thoát qua thời kỳ
man dã, bán khai, tiến sang thời kỳ văn minh; nhưng... dân chúng
nơi đây vẫn luôn luôn sống trong tình trạng đói khổ và
bị áp bức, đời sống con người do đấy mà bị chi phối
về mọi mặt.
- Về
Nhân Chủng, Cách nay khoảng bốn, năm nghìn năm, những người
đầu tiên (Adivâsis) ở bình nguyên Indus và ở rải rác trong
xứ, gồm có các nhóm nhân chúng (groupes ehtniques) Négroĩdes
và Proto Australoides. Các người Négroides thì sinh tụ ở các
rặng núi Cochin và Travancore, có màu da gần như đen, đầu
dài hoặc trung bình, tóc quăn thành các xoáy trôn ốc dài.
Còn các người Proto-Australoĩdes thì ở miền trung (Ấn Độ)
và một số ở rải rác về phía bắc Ấn Độ. Ngày nay nếu
nói đến người bản xứ Ấn Độ là nhắc đến loại người
đã chiến thắng được các người Négroĩdes, tức là người
Proto-Australoĩdes “Dravidiens”[2]. Về nguồn gốc người bản
xứ Ấn Độ Dravidiens thì chúng ta rất it biết chắc chắn
lắm. Có nhiều giả thuyết đã được nêu lên. Rất hữu
lý thì chúng ta phải nên chấp nhận nguồn gốc người Dravidien
phát tích từ Béloutchistan. Ngày nay người ta còn thấy các
người Brahuis ở vùng biên giới Béloutchistan còn nói một
thổ ngữ Dravidien. Có thể họ đã ở Ấn Độ rồi sau này
bị các người Aryens đẩy xuống phía nam Ấn Độ. Cũng có
thể họ đã ở khắp Ấn Độ trước khi người Aryens vào
đây. Có nhiều nhà bác học nhân chủng cho rằng các người
Paléo-Méditerranéens là những người bản xứ Ấn Độ ngày
nay. Nhưng cũng có người cho rằng họ hãy còn ở nam bán đảo
Dekkan và là giống người căn bản cho Đông Nam Á, từ quần
đảo Andanans tới quần đảo Indonésiens. Người Dravidien vốn
sinh trưởng từ trước ở Ấn Độ, có nước da ngăm ngăm,
tóc quăn, vóc người tầm thước. Người Aryens thì sáng nước
da, cỡ người to lớn, mũi thẳng, khôn ngoan hơn đã đột
nhập tại lưu vực Ấn Độ hà; mãi về sau từ phía tây bắc
vượt qua các thung lũng dõi theo núi Tuyết (Himalaya) vào khai
lập ở lưu Ngũ Hà[3]. Có một sự kiện mà chúng ta nên lưu
ý là có vài bộ lạc mang huyết tố Dravidien lại nói thổ
ngữ gốc Aryen, như trường hợp các người Bhil thuộc bộ
lạc Mounda, hiện lưu cư tại miền cao nguyên Dekkan. Trước
hết, ta nên để ý các giống người Paléo-Méditerranéens có
một vị tri địa dư nhân chủng rất lớn cũng như khi ta nói
đến nhân chủng Négroĩde đấy mới chỉ là đứng về phương
diện nhân chủng mà xét, như vậy là đã ngoại trừ các yếu
tố quốc gia, chính trị... Nói tóm, Ấn Độ gồm có 5 nhóm
nhân chủng chính: đó là các người da đen Phi châu; như các
người Proto-Australoĩdes, thuộc giống Úc Châu. Ngoài hai loại
người này còn có giống người Paleo-Méditerranéens, các người
Austro-Asiatiques (Nam A), các người Armenoĩdes và Alpins... Về
nhân số thì nước Cộng Hòa Ấn Độ hiện nay có khoảng
trên sáu trăm triệu người.
- Về
Kinh Tế: Ấn Độ là dải đất “phì nhiêu” rộng lớn
rất thuận tiện cho sự trồng trọt, canh tác của người
bản xứ. Về Canh Nông là nghề chính của các dân tộc chịu
ảnh hưởng nền văn hóa thảo mộc đông phương, do đó mà
người Ấn Độ rất cần cù, nhẫn nại. Nông sản chính là
lúa gạo và lúa mì, nhưng theo lối canh tác cổ xưa, dụng
cụ thô sơ, sự thu hoạch rất kém cỏi... nên dân Ấn Độ
rất nghèo! Để bù vào sự thiếu hụt đó, các sản vật
khác cũng giúp cho sự mưu sinh đỡ phải chật vật, như bông,
đay, gai, mía, chè và các nghệ chăn nuôi súc vật... Về Kỹ
Nghệ, Ấn Độ có kỹ nghệ cổ truyền, như làm đồ gốm,
luyện kim, thuộc da, đan đồ dùng bằng tơ, dệt vải v.v...
Có chì, kẽm, dầu hỏa và có nhiều mỏ than, sắt là những
nguồn tài nguyên giàu có của quốc gia này. Về Thương Mại,
các đường thông thương tiện lợi vẫn là phía tây bắc
Ấn Độ với vùng Thượng Huyền. Ngay từ bản sơ, ta có thể
xếp Ấn Độ đứng hàng thứ hai thứ ba trên hoàn cầu. Vì
hầu hết các đô thị lớn đều tiện đường giao thương,
có rất nhiều đường bộ và thủy thuận tiện cho sự xuất,
nhập cảng như Calcutta, Bombay, Karatchi, Madras là nơi có những
hải cảng quan trọng...
Đáng
lý với hoàn cảnh thuận tiện ấy, dân chúng Ấn Độ không
đến nổi nghèo khổ suốt đời phải lao lực, bận bịu trong
những kẻ mưu sinh vụn vặt, tầm thường mới phải, nhưng,
tại sao dân chúng vẫn nghèo khổ, so với các quốc gia khác
trên thế giới? Ta hãy nhìn vào hoàn cảnh xã hội sinh
hoạt chính trị từng thời đại để tìm nguyên nhân
- Về
Chính Trị: từ nghìn xưa, xã hội Ấn Độ có truyền thống
là một xã hội đẳng cấp, nhất là sau cuộc di dân vĩ đại
của những người Aryens thẩm nhập và đồng hóa dân tộc
này. Với mục đích chia để trị, họ đã phân định xã
hội Ấn Độ thành bốn đắng cấp cách biệt hẳn nhau. Bốn
đẳng cấp ấy là: 1. Brahmanes, những thầy tu (giáo sĩ Bà
La Môn) giữ việc lễ nghi cúng hiến; 2. Ksatryas (Sát Đế Lị),
giòng dõi những người quyền quí, nắm giữ chính quyền,
cai trị dân chúng; 3. Vaisyas (Phệ xá), những người buôn bán,
làm ruộng, suốt đời cày thuê làm mướn; 4. Sudras (Thủ Đà
La), giống thổ dân ở những nơi rừng núi thâm u và làm tôi
mọi suốt đời... Dòng tình cảm đồng loại bị chia cắt.
Sự tranh chấp giữa các đẳng cấp trong xã hội có khi ngấm
ngầm, có khi bộc phát, làm cho bầu không khí nghẹt thở,
khó chịu, mỗi ngày thêm căng thẳng, trầm trọng. Những người
thiệt thòi nhất trong xã hội là hai lớp người Vaisyas và
Sudras. Họ không có một tia hy vọng nào được giải phóng
cả. Ngoài bốn đẳng cấp ấy, còn một hạng người man rợ
- hạng người Parias đời sống của họ khổ hơn con vật,
không bao giờ biết có ánh sáng mặt trời! Thật là cảnh
địa ngục ở trần gian. Tại sao cùng là một kiếp người
lại sự chênh lệch đến thế?!
Và...
còn biết bao sự đau khổ dày vò thể xác lẫn tâm hồn, họ
đành phải nhận chịu một phần do ảnh hưởng xã hội đế
chế phong kiến cổ thời và một phần chính do tư tưởng
Bà La Môn giáo gây ra... Điều này ta không lấy làm lạ. Khi
dòng Bà La Môn đã tạo được lực lượng tôn giáo, lẽ tất
nhiên họ sẽ tìm đủ mọi cách giữ gìn địa vị của mình,
và muốn mãi mãi duy trì chế độ đắng cấp, nên đã vin
vào những thần thuyết mơ hồ, thiếu căn cứ, đặt ra một
bộ luật có tính cách nữa chính trị, nửa tôn giáo, bộ
luật Manou, có những đều: cấm chỉ sự hôn phối giữa những
người thuộc đẳng cấp khác nhau. Đạo đức, tôn giáo lúc
này chỉ còn là hình thức, đời sống hỗn độn, con người
không có tự do, thiếu sinh khí, không biết gì là hứng thú
sống còn! Suốt đời họ phải nai lưng ra làm việc để
kiếm miếng ăn manh áo mặc cũng không đủ, lại còn phải
đóng góp đủ thứ sưu cao thuế nặng để cung phụng cho bọn
cai trị mình thụ hưởng một cách phi lý. Cuộc sống của
họ thật cơ cực, vất vả, thiếu thốn... Một chế độ
đẳng cấp (système des castes) bất bình đẳng đương nhiên
không thể đứng vững được. Chỉ có những hạng người
bạc nhược, thụ động, ích kỷ mới chịu thu hình trong một
hoàn cảnh đã rồi. Những người có tâm hồn thức giác,
biết nhìn xa, trông rộng, có chí khí sắt đá, chỉ chờ cơ
hội là cuộc cách mạng tương lai bộc phát. Phong trào “phản
kháng” mỗi ngây thêm tỏ rõ, mãnh liệt...!![4]
- Về
Văn Hóa: Ngay từ buổi rạng đông, Ấn Độ đã sớm có một
nền văn minh, những ngôn ngữ, văn tự (Phạm văn = Sanskrit
và Pali) riêng, đại biểu xứng đáng cho nền Văn Hóa Nhân
Bản Toàn Diện: đó là sự ưa sống trầm hùng, đượm sắc
thái Tự do, giải thoát. Người Ấn Độ rất thông minh và
giàu tình cảm. Đứng về phương diện quốc gia thì, văn minh
Ấn Độ có rất nhiều nhân chủng tạo dựng. Đại loại
người ta chia ra làm hai. Đó là văn minh bắc Ấn, thuộc nền
văn minh của người da trắng Aryens, và văn minh nam Ấn, thuộc
người da màu. Văn minh da màu có trước văn minh da trắng.
Nền văn minh này còn gọi là văn minh tiền Aryenne (Civilisation
pré-Aryenne). Nhưng đứng về thời gian mà nói, nền văn minh
tiền Aryenne được gọi là nền văn minh bán xứ.
Để
tránh ngộ nhận ta gọi là văn minh Dravidienne (Civilisation Dravidienne).
Văn minh Dravidienne chịu ảnh hưởng của các nền văn minh
khác. Nói thế tức có nghĩa nền văn minh nhân chủng Dravidienne
là một sự tổng hợp khá bền chặt giữa các mối liên lạc
của các vùng Địa Trung Hải và Cận Động. Văn minh bản
xứ Ấn Độ cũng rất huy hoàng không kém các vùng khác, trái
lại còn có nhiều điểm ưu thắng hơn. Người Aryens đã không
đóng góp gì vào nền văn minh thành thị nguyên thủy Ấn Độ,
hay nói khác là nền văn minh tiền Aryenne, tức là nền văn
minh tây bắc Ấn Độ, vùng sông Indus. Văn minh này có các
biên giới thiên nhiên che chở. Phía bắc có rặng núi Himalayas;
tây nam có biển Oman; đông nam có vịnh Bengale.
Do
đó Ấn Độ là vùng đặc thù của phần đất thuộc văn
minh Âu - Á (Eurasie). Ấ Độ có cửa ngõ gần như duy nhất
để tiếp xúc với vùng Âu Á ở tại phía bắc. Nơi đây
các dân cư Ấn Độ và các vùng lân cận giao tiếp theo hai
ngả đường. Ngả thứ nhất bằng con sông Caboul, qua Khaĩber.
Ngả thứ hai bằng các thung lũng của hai con sông Kouran và
Gounal, qua Waziristàn. Khaĩber là cửa ngõ đưa vào bắc Pendjab.
Waziristàn là đại lộ vào vùng trung Pendjab. Ta có thể nói
được là vùng tây bắc, vùng sông Indus, chính là cuống họng
đưa chất dinh dưỡng hay độc tố vào nội địa Ấn Độ;
người Aryens vào khoảng giữa đô thị thiên niên kỷ, người
Macédoniens do đại đế Alexandre le Grand năm 326 và năm 180 TTL;
người Grecs Bactriane; người Indo - Scythes vào khoảng thời
đại Jésus. - Christ; người Hung Nô (Huns) vào khoảng 450 TTL;
người Turco - Afghans từ năm 1.000 TL, người Grands Moghols từ
1526 TL, đều qua ngả tây bắc để vào Ấn Độ. Bất luận
vào thời đại nào, dù văn minh phế hưng ra sao, Ấn Độ vẫn
mang đặc tính thế giới sử là nhờ vào các cửa ngõ ở
phía tây bắc Ấn. Các cửa ngõ này đã quyết định cường
độ văn minh bình nguyên Ấn Hằng nhiều nhất và có tính
cách trực tiếp, rồi từ đó ảnh hưởng lan dần xuống cao
nguyên Dekkan ở phía nam Ấn Độ.
Nền
văn minh Ấn Độ có vẻ trầm lặng nhưng oai hùng hơn các
vùng khác; tuy cùng mang một đặc tính “định cư, nông nghiệp,
thành thị”. Cái đặc tính trầm lặng này của Ấn Độ
ngày nay vẫn còn.
Nền
văn minh cổ nhất và có tính cách ngoạn mục mới được
khai quật gần đây, nằm trong vùng tây bắc Ấn Độ, thuộc
Khaipur ở Pendjab.
Địa
danh này mang tên Kot Diji. Kot Diji hợp với Mohenjo-daro và Harappa,
thành địa danh văn minh tối cổ của Ấn Độ. Kot Diji đứng
vào hàng cổ nhất.
Ta
có thể nói là từ năm nghìn năm nay, bình nguyên sông Indus
là nơi đắc địa cho các nền văn minh đầu tiên của Ấn
Độ khai mở. Nghệ thuật, thủ công nghệ và cả hệ thống
chữ viết nữa đã đạt tới mức vô cùng sáng sủa. Tiếng
Hindia thuộc dòng những tiếng Indo Européenne, cùng một nguồn
gốc ngữ tộc với tiếng Phạm, nghĩa là của những dân tộc
có tổ tiên là người Ấn Âu. Người Ấn Độ bản xứ là
hậu duệ của giống dân da sậm có liên lạc huyết thống
(xa hay gần) với nhân chủng Négroĩdes và Proto-Australoĩdes...
Như vậy ta có thể kết luận tiếng Phạm đứng hàng đầu
trong loại Indo-Européenne.
Ba
khu vực có giống người gây thành xã hội trên thế giới:
1.
Lưu vực giữa hai con sông Dương Tử và Hoàng Hà.
2.
Đồng bằng sông Nile.
3.
Đồng bằng sông Hằng.
Ba
khu vực có ba luồng từ tưởng khác nhau và là căn bản của
nhân loại. Từ đồng bằng sông Dương Tử thuộc một thứ
tiếng khác hẳn, loại tiếng liên âm của những người phi
châu, còn hầu hết loại đa âm đều thuộc dòng Indo-Européene,
trừ những dụng ngữ hằng ngày để sống, từ khu vực khác
nhau, còn những ngữ thuật (termes savants) để biểu lộ tư
tưởng lúc đầu (thời thượng cổ) phần lớn loại đa âm
đều mượn ở Phạm văn.
Các
học giả chia làm tám nghành của Indo-Européenne
1.
Nghành Aryenne hay indo - iranienne gồm các tiếng Ấn, Ba Tư và
Phạm, Arabe v.v…
2.
Nghành Arménien, một phần nước Nga.
3.
Hi Lạp (cổ và kim), Ionien, Altique, Dorien v. .v..
4.
Albanie, giáp giới Nga và Trung Ðông.
5.
Nghành Italique, gồm Ý, La Mã, La Tinh v.v..
6.
Nghành Celtique, phần nhiều là từ - ngữ, gồm Pháp, một phần
Anh, Bồ.
7.
Nghành Germanique. gồm Ái Nhĩ Lan. Scandinave, các tiếng
Đức, Phổ, Anh và Anglo- Saxon
8.
Nghành Balto-Slave. Lithuanie. Nga. Ba Lan. Tiệp. Bulgarie, các
dân tộc Nam Tư (sevbo- croate).
Văn
minh Phạm còn có một công trình lớn là đầu tiên dùng chữ
số như chữ số ngày nay ta viết, nhớ lại con số của người
Trung Hoa hay La Mã không thể nào đặt con tính được, chữ
Ai Cập cũng vậy, Phạm văn đầu tiên đã dùng số hệ (Syetème
numérique) nhân mười như ngày nay, và nghĩ ra con số “không”
(Zézo), trong chữ số, ta có thể nhờ đó mới có toán học.
Tiếng Phạm thuộc trong những loại đa âm hiện có trên thế
giới nhưng tiếng phổ thông mà ngày nay dân chúng Ấn Ðộ
bắt-buộc-phải-dùng-để-thống-nhất-ngôn-ngữ là tiếng
Hindi, có gốc từ chữ Phạm và ngôn ngữ Ấn Âu hơn là những
tiếng địa phương có gốc từ tiếng Moundari và dravidien[5],
còn về lối chữ cổ Ấn độ như ta biết theo lối tượng
hình, giống lối chắp A.B.C... Ngày nay đại đa số các nước
tiên tiến đều dùng lối chữ trên, và cả các việc ấn
loát, tốc ký và điện tín cũng dựa vào lối viết ấy. một
dân tộc có quá trình tiến hóa như Ấn Ðộ, lẽ dĩ nhiên
những tư tưỡng về tôn giáo, triết học cũng sớm được
nảy mầm, giờ đây ta hãy đi vàolĩnh vực ấy để tìm hiểu...
Tư
tưởng siêu nhiên:
Thời
đại hồng hoang, bất cứ dân tộc nào, xã hội loài người
cũng sùng bái thiên nhiên. Ngoài tư trào tôn giáo, họ
chưa có ý thức về triết học hoặc luân lý. Nhân đứng
trước bầu trời mặt đất rộng lớn, với cảnh tượng
kỳ lạ như sắm chớp, trăng sao núi sông... họ sinh lòng tín
ngưỡng tôn giáo, triết học và mê tín ở Ấn Ðộ cũng như
hầu hết các dân tộc khác ở trên thế giới khi ý thức
con người vừa chớm nở, đều không vượt ra ngoài ra công
lệ ấy. Những bài ca tán tụng tôn giáo do đó mà làm ra,
mục đích là để cầu phúc, tiêu tai, sau lâu trở thành những
lời sấm bí truyền, nhằm giải thích sự linh ứng của thần
và sự tế tự, cầu đảo của người ta, đấy là nguyên
nhân chính để tạo lập ra bộ thánh kinh Véda. Véda là một
bộ thánh kinh cổ nhất của xứ Ấn Ðộ. (Véda, dịch là
“minh trí: trí sáng” nghĩa là kinh này làm cho sáng suốt,
tỏ rỏ sự thật) kinh điển Véda gồm có 4 loại chính: 1.
Rig-Véda chép những bài ca tán tụng tôn giáo; 2. Sama-véda,
chép những bài văn tế, giải thích các lối nghi thức quan
hệ; 3. Yajur-Véda, chép những văn chú thuật tướng truyền,
4. Atharva-Véda, chép những lời giải đáp về các bí quyết,
ma thuật v.v.. .
Kể
từ khi người Aryens xâm chiếm dùng bắc Ấn Ðộ thì lịch
sử thánh kinh cũng bắt đầu được kiến lập.
Ngay
từ buổi ban sơ, người Aryens đã nghĩ đến sự bỏ củ thay
mới, và tạo lập một lý thuyết có tính chất kỳ thị và
trục lợi làm nền tảng cho các bộ máy hành chính sau này.
Ðó là thứ lý thuyết lãnh đạo chỉ huy tổng quát tất cả
cơ cấu của xã hội, một thứ hiến pháp bất thành văn:
thứ hiến pháp được xây dựng trên căn bản của bộ thánh
kinh Phệ Ðà (Véda) về sau, thánh kinh cũng được sáng tác
thêm. Các thần cũ chỉ còn là một bóng mờ đối với những
vị mới được tân chế các bộ thánh kinh Véda nhường chỗ
cho các bộ mới ra đời. Đó là các bộ: Tế Nghi Thư (Brahmana)
Sâm Lâm Thư (Aranyaka) và Áo Nghĩa Thư (U panishad).Vào thời
kỳ Tế Nghi Thư thì có Tạo vật chủ Prajapati, và thời kỳ
Áo Nghĩa Thư có thần Atman. Hệ thống kinh điển thần học
và xã hội học được giải thích mỗi lúc thêm khó hiểu,
và do đó mới có nhiều nguồn tự do tưởng giải thích thánh
kinh[6].
Sau
thời đại Véda tư tưởng Ấn Ðộ bắt đầu chuyển biến,
Triết học do đấy được manh nha. Con người không còn tin
vào thần thoại nữa. Muốn hiểu vũ trụ con người đã vận
dụng đến trí năng mình để khảo sát nó và, bắt nguồn
từ đấy, các phái triết học tiếp nhau ra đời. Trong những
phái triết học, hoặc dung hợp nhau, nhưng… tất cả đều
là hướng tìm cái nguồn gốc của vũ trụ. Có phải cho rằng
“Phạm Thiên” (Brahma) là căn bản của vũ trụ, vạn hữu.
Nhưng phái khác lại cho rằng “Ðất” là gốc của vạn
hữu; phái lại cho rằng “Nước” là gốc; phái cho rằng
“Lữa” là gốc; phải cho rằng “Gió” là gốc v.v...
Tiến bộ một nấc nữa, người ta bỏ vật chất (đất, nước,
gió, lửa…) mà hướng về chổ trừu tượng,
nên có những phái lập ra “Thời Gian Luận”, “Phương Hướng
Luận”, “Không Gian Luận” v.v... rồi nào Chủ Quan, Khách
Quan, Trừu Tượng, Cụ Thể, Nhất Nguyên, Ða Nguyên, Chủ Ðộng,
Chủ Tĩnh… bao nhiêu tư tưởng khởi xướng trở thành một
thời đại hết sức hỗn độn!
Có
thể nói thời kỳ này các tư tưởng gia Ấn Ðộ sinh hoạt
rất náo nhiệt. Kinh Phật ghi sổ mục có chín mươi hệ phái
thần học, triết học khác nhau, nhưng nổi bật nhất, vẫn
là sáu triết phái, đó là.
1.
Phái Ajita Kesakambali, chủ trương “Duy Vật Luận” con
người là do các yếu tố vật chất kết hợp tạo thành,
không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có sự
kết sinh tương tục trong đời mai sau, con người chết là
hết, thuyết này có tính cách chống lại thần cách siêu hình
của Bà La Môn giáo, không nhận có Thượng Ðế (Brahma) sáng
tạo vũ trụ và loài người, và lấy sự hưởng thụ vật
chất làm mục đích cứu cánh cuộc đời.
2.
Phái Pakudha Kaccayana thì chủ trương thuyết “Vạn Vật Thường
Tồn” vạn sự vạn vật ở đời chẳng qua là do các yếu
tố nhân duyên tạo thành vậy ta không nên quan tâm tới chúng,
vì nếu không, chỉ nhận lấy sự đắng cay phiền não vô
ích.
3.
Phái Purana Kasspa, chủ trương “Ngẫu Nhiên Thuyết”, cho rằng
vạn vật có ở đời, chỉ là ngẫu nhiên. Không tin có luật
nhân quả. Phủ nhận đạo đức chẳng phải tôn thời, sùng
bái gì cả. Nói khác, đạo đức là không tưỏng, cần phải
phá bỏ, vì mọi liên hệ cuộc đời là ngẫu nhiên. .
4.
Phái Makkhali Gosala lại chủ trương “Tự Nhiên Thuyết”,
con người sinh ra đời là bởi tự nhiên. Mọi sự họa phúc,
vui hay khổ cùng là tự nhiên, nó không bị ảnh huởng bất
cứ một nguyên nhân nào chi phối cả.
5.
Phái Sanjaya Belathiputta chủ trương “Hoài Nghi Thuyết”, ngụy
biện rằng chân lý không phải là không biến đổi, việc
trước mắt ta vừa thấy đó, ví dụ các hoa chẳng hạn, thoạt
nhìn tưởng là nó vẫn y nguyên nhưng sự thực thì, nó đã
biến đổi từng chớp mắt, từ màu hống thẫm chuyển sang
màu hồng lợt đối với sự vật cũng thế, ta không thể
không hoài nghi về sự hiện hữu của chúng.
6.
Phái Nigantha Nataputta, chủ trương thuyết “Tương Ðối”,
nghĩa là không có cái gì tuyệt đối cả. mọi con người
sinh ra đời, lớn lên, làm việc… rồi chết! vậy bất cứ
giải quyết vần đề gì, ta cũng nên chú ý đến các yếu
tÍnh tâm lý ngã - tha, để khỏi bị va chạm làm bẩn kiếp
sống con người trên cõi đời này, như: không gây ra các tội
lỗi, phát triển lòng từ, và điều cần yếu là biết
luyện thân khắc khổ để cầu giải thoát… Kiếp sống
này chẳng ra gì (vì là tương đối). Thôi thì mong để một
khi chết yên vui ở kiếp sau...
Tiếp
sau đó, còn có những học phái khác lần lượt ra đời. Ðó
là sáu học phái:
1.
Nỳaya
2.
Vaisésika
3.
Samkhya
4.
Yoga
5.
Mimansa và
6.
Védanta
Tư
tưởng của sáu học phái này chịu ảnh hưởng, hoặc trực
tiếp, hoặc gián tiếp, của ba thời kỳ Rig-Véda, Bràhmana
và Upànishad, phần nội dung của nói chỉ là khai triển điều
(đã có) trong các thánh thư. Ðôi khi cũng có phát triển những
điều mới lạ nhưng là để chứng minh cho những thuyết lý
của các thánh thư được sáng tỏ mà thôi.
Kiểm
điểm lại, ta thấy, tư tưởng Ấn Ðộ đã tuần tự phát
triển một cách nhịp nhàng. Thoạt đầu, con người còn sùng
bái ánh sáng thiên nhiên, về sau, sấm, chớp, gió, mưa,
cũng được coi là có thần linh chi phối, cai quản. Ðó là
từ Ðộc Thần Giáo (monothéisme) chuyển qua thời kỳ Đa Thần
Giáo (Polythéisme). Rồi từ Ða Thần Giáo đi đến Phiếm Thần
Giáo (Panthéisme) về sau tư tưởng càng ngày thêm sáng
đạt, người ta lại nảy ra những nghi ngờ và tự hỏi: Căn
bản của vũ trụ là gì? -Nhân sinh do đâu mà có? Giá trị
của cuộc sống ra sao? Những câu hỏi hóc búa ấy là những
roi đòn đánh váo tâm thức con người, bắt phải suy nghĩ.
Ðo dó, tư tưởng triết học mỗi ngày khai triển càng rộng,
sâu thêm, nhằm giải đáp những mối băn khoăn, thắc mắc
của con người, về siêu hình cũng như về thực tại cuộc
sống, (xin xem vấn đề này ở phần Luật Thuyết ở dưới)
Nói
tóm, ở Ấn Ðộ xưa, trước đời đức Phật ra đời, về
tư tưởng, tôn giáo, triết thuyết cũng như về mặt chính
trị, kinh tế và xã hội thật là vô cùng phức tạp, thêm
vào đó, nạn kỳ thị tôn giáo cũng trầm trọng không kém.
Phía tây Ấn Ðộ là địa bàn hoạt động của Bà La Môn
giáo (Brahmanisme). Phía đông thì thuộc Kỳ Na Giáo (Jahĩsme).
Hai tôn giáo này tranh giành ảnh hưởng với nhau, và chi phối
hoàn toàn đời sống con người, không những về mặt tinh
thần mà cả về phương diện vật chất nữa, có thể nói
đây là một thời đại loạn của sứ Ấn Ðộ con người
không còn biết tinh tưởng, bám víu vào đâu nữa cả?
Giữa
lúc hoàng cảnh bế tắc ấy. đức Phật xuất hiện như một
mặt trời sáng rỡ buổi sớm mai làm mất đi những bóng tối
của đêm đen dày đặc, đang che phủ cuộc đời. Ngài là
cứu tinh không chỉ dành riêng cho xứ Ấn Ðộ thời ấy, mà
là của nhân loại chúng sinh. Thật vậy đức Phật ngày đầu
tiên xướng thuyết Nhân Bản, lấy Con Người làm cứu cánh
để giải quyết hết mọi vất đề bế tắc của thời đại
cả về nhân giới, tâm giới và siêu giới. Giáo lý của
đạo phật là Như Thật (chân lý), là ánh sáng của trí tuệ
và là niềm tin cho con người, ở bất cứ thời gian, hoàn
cảnh và nơi đâu...
Ðấy
là những đặc điểm Nguyên Lý Sáng Lập Ðạo Phật.
[1]
L’Inde dans le monde – Yves Petit – dutaillis, Ancien Directeur du
Courrier des Indes et Manu Mulla, Ancien diplomée de I’Université de
Bombay – Editions Payot, 1951.
L’Inde,
un monde en transition – Beatrice Pitney Lamb – Editions Marabout
Université – 1966.
- Ấn
Ðộ Ngày Nay, Những Nét Ðại Cương, ấn bản của Toà Tổng
Lãnh sự Ấn Ðộ tại Sàigòn, 1970.
[2]
Nhân Chủng Dravidien: có rất nhiều vi chủng. Có
một số người trước đây có ý kiến là nhân loại
không có nhân chủng Dravidien. Nhưng ngày nay người ta đã công
nhận có. Nhân chủng Dravidien là một trong 7 Nhân chủng
chính là:
a/
Indo-Aryens: Là những người có khuôn mặt bầu dục, mắt
lớn và đậm, da trắng, tóc nhiều, thân hình lớn và cân
đối. Những người này lai giống rất nhiều.
b/
Dravidiens: Là những người có nước da sậm, vóc người tầm
thước, mắt đậm hay đen, mũi rộng, đầu dài, tóc thường
quăn.
c/
Mongoloides: Là những người có nước da vàng nhạt, mặt phẳng,
mắt xếch và thường hay có hai mí.
d/
Aryo: Dravidiens: Là những người có da nâu sáng (tối đen).
e/
Scytho – Dravidiens: Là những người có đặc tính thuộc loại
đầu tròn (brachycéphale), da thường sậm.
f/
Mongolo – Dravidiens: Là kết quả của sự hợp chủng giữa
các người Aryo – Dravidiens và Mongoloĩdes. Họ có thân hình
trung bình, da sậm, mũi rộng.
g/
Turco – Iraniens: Là những người có thân hình lớn và khỏe,
da trắng hơi ngả sang màu vàng đồng, mắt nâu hay sậm, mũi
dài và nhỏ (có vẻ giống các người Sémités).
[3]
Ngũ Hà: 5 nhánh sông Jhelam, Chenab, Ravi, Béas và Satlédj hợp
lại với sông chính Indus thuộc phía tây bắc Ấn Ðộ.
Người
ta được biết sông Nile ở Phi Châu đã tạo thành nơi định
cư rất trù phú của nền văn minh Ai Cập giữa lòng sa mạc
Phi Châu. Sông Tigre và Euphrate ở Trung Ðông cũng đã tạo nền
văn minh Lưỡng Hà (Mosopotamie) trong lòng sa mạc Trung Ðông.
Hệ thống sông Indus cũng tương tự như vậy.
[4]
Tìm hiểu thêm.
Ði
sâu vào lịch sử ta thấy, Ấn Ðộ tuy là một nước lớn,
dân số đông, nhưng lại chia thành nhiều tiểu quốc, Mỗi
tiểu quốc có một cơ quan hành chính riêng. Ðấy cũng là
sự thiệt thồi, yếu kém về mặt tinh thần cũng như về
mặt vật chất của một quốc gia! Hiện tượng này xảy ra
trước thời đức Phật xuất thế. Nhưng sau đó, một cuộc
vận động cách mạng xã hội bùng nổ (cuộc cách mạng xã
hội này xảy ra sau thời đức Phật) và tiếp theo là giai
đoạn ổn định và thống nhất của quốc gia Ấn Ðộ, qua
các triều đại Maurya – Kushna – Gupta… từ thế kỷ thứ
II TTL đến thế kỷ V TL. Sang đầu thế kỷ thứ V thì Ấn
Ðộ bị quân Hung Nô (Huns) chiếm đóng và đặc nền thống
trị. Năm 121 lại bị Mông Cổ xâm chiếm. Và, sau đó là sự
hiện diện của người Anh vào năm 1600, cho đến năm 1876 thì
Anh cai trị toàn cõi Ấn Ðộ. Rồi, qua nhiều cuộc vận động
đòi quyền sống và giành độc lập của phong trào dân nhân
Ấn, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, bền gan và khôn khéo
của thánh Mahandas Kkaramchand GHANDHI (1869-1948), mãi đến 15-8-1947,
đế quốc Anh mới thực sự chịu trao trả chủ quyền lại
cho người Ấn, nhưng lại bắt Ấn phải đứng trong khối
liên hiệp Anh. Thêm vào đó nạn phân chia đẳng cấp (truyền
kiếp) cũng là một yếu tố làm chậm bước tiến thủ của
một quốc gia không ít!...Chế độ đế chế và phong kiến
thuở xưa, mọi quyền bính đều do nhà vua và bọn quan lại
“truyền tử nhược tôn” nắm giữ. Người dân chỉ biết
phục tòng. Hoàn cảnh xã hội và chính trị của nước Ấn
Ðộ ngày nay đã hoàn toàn đổi mới.
Vào
khoảng 1960, Ấn Ðộ kiểm soát hoàn toàn giải đất từ chân
núi Himalaya và đảm nhiệm luôn chính trị đối ngoại (politique
extérieure) cho nước Bhuton. Vào năm 1950, chế độ Rana của
nước Népal sụp đổ. Sau nước này được đặt trong vòng
ảnh hưởng của Ấn Ðộ.
( )
Histoire del’lnde et la civilization indienne – Jacques Dupuis –
Editions Petite Bibliothèque Payot – No 35 – 1963.
( )
Liên bang Ấn Ðộ gồm 17 tiểu bang và 10 khu vực thuộc chính
quyền trung ương, 17 tiểu bang là: Andhra, Pradesh, Assan,Bihar,
Gujarat, Haryana,Jammu và Kashmir, Kerala, Madhya, Prasthan, Tamil, Nadu,
Uttar, Pradesh và West, Bengal. Các khu vực thuộc chính quyền
trung ương là: Andanan và nicobar Islandas Delhi, Chandigarh, Dadrava,
Nagar Havely, Goa, Daman và Dius Himachal Pradesh, Laccadive, Minicoy
và Amindivi quần đảo, Manipur, Pondicheny và Tripura.
[5]
Hiến pháp Cộng hòa Ấn Ðộ công nhận tiếng Hindi là ngôn
ngữ chính thức của liên bang, (được nói và hiểu hầu hết
trong các vùng; đồng thời cũng thừa nhận những ngôn ngữ
thuộc mỗi vùng, xếp theo số dân sử dụng ngôn ngữ đó,
Tehigu, Bengali, Marathi, Tanil, Urdu, Cujarati, Kannada, Malayalan, Ariya,
Punjabi, Assamese, kanhm iri, Simdhi và Sanskrit)
[6]
Thánh kinh là thứ hợp soạn, sáng tác tập thể.
CHƯƠNG
HAI:
ĐỨC
PHẬT THÍCH CA MÂU NI
Sự
xuất hiện đức Phật THÍCH CA MẬU NI trong thế giới loài
người là một vinh hiển cho con người và cuộc đời. Ngài
là kết tinh của muôn ngàn hương hoa “từ bi” và “trí
tuệ”, là hiện thân của chân lý, một điềm lành cho hết
thảy chủng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới. “Nếu
cõi đời không đau khổ, tối tăm, đức Phật đã chẳng xuất
hiện ở đời”. Ngài ra đời, vì mục đích trọng đại
là Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến[1] cho chúng sinh, nên
dù chúng ta có là Phật tử hay không, thiết tưởng cũng cần
biết sơ lược về lịch sử, những diễn biến lớn của
cuộc đời Ngài, là đức Phật THÍCH CA MÂU NI, vị giáo chủ
khai sáng đạo Phật.
Ở
đây, ta hãy tìm hiểu những nét chính của lịch sử ấy:
·
NIÊN ĐẠI ĐẢN SINH
Có
nhiều thuyết khác nhau[2]. Theo thuyết phổ thông hiện nay,
đức Phật đản sinh, thành đạo, Niết Bàn nhằm ngày trăng
tròn tháng Vesak của sứ Ấn Độ, tức là ngày 15 tháng 4 âm
lích năm 623 trước Jésus Chirst ra đời. Như vậy, tính từ
khi đức Phật đản sinh đến nay là 2.595–1971, nhưng cuộc
đại hội nghị Phật giáo thế giới kỳ II tại Tokyo (Nhật
Bản) năm 1952, đã quyết định lấy năm đức Phật Niết
Bàn làm ngày kỷ niệm “Phật lịch” thống nhất cho toàn
thế giới=2.515–1971.
Và,
từ ngày ấy đến nay, trong lịch sử nhân loại, đã trải
qua bao nhiêu biến cố hưng suy, nhưng với đạo Phật vẫn
tồn tại và triển khai, vẫn sống và vẫn sáng.
·
THÂN THẾ VÀ NƠI SINH THÁI TỬ
Thái
tử Siddhartha (Sĩ Đạt Ta)[3], thuộc giai cấp Satriya (Sát Đế
Lị) giòng Cakya (Thích Ca), một đại quí tộc ở Ấn Độ,
con hoàng đế Suddhodana (Tịnh Phạn) và hoàng hậu Mâyâdevi
(Tịnh Diệu). Sử chép, khi gần ngày sinh thái tử, hoàng hậu
phải trở về kinh đô Devadaha nước Koli (Câu li)–theo cổ
tục đàn bà có mang phải về quê cha mẹ mình để sinh–và
đản sinh thái tử ở vườn hoa Lumbini (Lâm Tì Ni), bên gốc
cây Asaka (Vô ưu), nay là xã Ruminidhehi, thuộc quản hạt Aouth,
phía tây nam của xứ Népal và phía đông Papti. Toàn cõi Ấn
Độ chia làm nhiều tiểu quốc... Kinh thành chính nhà vua lúc
bấy giờ có tên là Kapilavastu (Ca Tì La Vệ), nơi phát sinh
đấng Đại từ bi phụ của hết thảy chúng sinh trong cõi
tam thiên đại thiên thế giới.
Đản
sinh thái tử được 7 ngày thì hoàng hậu Mâyâdevi tạ thế.
Sau nhờ bà dì là Mahâprajâpati (Ma Ha Ba Xà Ba Đề)[4] trông
nom, nuôi dưỡng thái tử cho đến khi trưởng thành.
Năm
1806, người ta tìm ra được một trụ đá của vua Asoka có
kắc hàng chữ: “Chỗ này là vườn Lumbini (Lâm Tì Ni), nơi
đức Phật đản sinh”.
·
HÌNH TƯỚNG VÀ TƯ CHẤT
Thái
tử có 32 tướng quí, 80 vẻ đẹp. Nhà tiên tri Asita (A Tư
Đà) khi xem tướng thái tử, có nói: “Nếu thái tử ở tại
gia sẽ là một vị vua trên hết các vị vua chúa trong hoàn
cầu, ngự trị cả năm châu; nhưng chữ vạn nổi ở trên
ngực là điềm báo trước thái tử sẽ xuất gia thành Phật,
làm chủ cả tam giới, dắt đường chỉ nẻo cứu độ cho
hết thảy chúng sinh”.
Năm
thái tử lên 7 tuổi, vua cha mời các đạo sĩ trứ danh thời
bấy giờ vào dạy: Như học văn ông Visvamistra (Tì Sa Mật
Đà La) và học võ ông Ksantidiva (San Đề Đề Bà), không bao
lâu thái tử trở nên bậc văn võ toàn tài, tinh thông, và
sở trường hơn hết là các môn nghị luận, triết lý, văn
chương... Thái tử là vị thiếu niên bác học đương thời!
Năm
16 tuổi, thái tử vâng lệnh vua cha kết hôn với công nương
Yasôddhara (Da Du Đà La)[5] và sinh hạ được một người con
trai là Rahula (La Hầu La).
LÝ
DO XUẤT GIA
Hiện
trang xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ luôn luôn sống trong tình
trạng báo động, nghi ngờ, áp bức, bất công do giai cấp
Bà La Môn giáo gây ra, nền luân lý cổ truyền gần như sụp
đổ. Thái tử đau buồn nỗi đau nhân thế. Vốn là người
giàu tư tưởng, khi tuổi mới lơn là tuổi hay thắc mắc,
hoài nghi tất cả. Hơn nữa, thái tử là một thanh niên thông
minh tuyệt vời, ưa tìm hiểu mọi việc. Nên, sau khi du ngoạn
bốn cửa thành, thái tử đã cảm nhận bao nỗi thống khổ
của trần gian: già, đau, sống, chết; bốn cảnh buồn tê
tái ấy là những duyên cớ đã thúc giục chí xuất gia của
Ngài mà không một sức mạnh nào có thể ngăn cản được.
Không một con đường đầy hoa nào dẫn ta đến vinh quang mà
không có sự thử thách. Mọi phán đoán đã định, người
chí khí cao cả ấy nhất quyết từ giã hoàng gia, cắt ngang
sợi dây tình ái với công nương Yasôddhara và Rahula, vượt
thành, xuất gia[6], tu đạo giải thoát, hòng đưa muôn loài
từ đau khổ, mê mờ tới hạnh phúc và ánh sáng chân lý.
Năm
29 tuổi,[7] lúc đương đêm, thái tử cùng với tên hầu cận
Chandaka (Xa Nặc) trung thành giong ruổi lên đường đến bờ
sông Anoma, thì trời vừa hừng sáng, thái tử dừng lại nơi
đây, đưa lưỡi kiếm lên ngang đầu xén mớ tóc của mình,
cởi tấm áo cẩm bào vứt đi, khoác trên vai mảng y vàng của
bậc xuất trần; rồi quay lại bảo Chandaka: “Chính vì đêm
tối ta mới đi tìm ánh sáng”.
Qua
bao nhiêu tháng năm, thái tử đã đi khắp đó đây tìm học
ở các đấng tiên hiền, đạo sĩ trứ danh. Nhưng triết lý
của vị nào cũng không được siêu thoát, nên thái tử đành
bỏ đi nơi khác.
·
SÁU NĂM TU KHỔ HẠNH
Rồi
từ đấy thái tử dấn thân trên con đường thiên lý, đến
một khu rừng, gần làng Ouroubilva (cũng gọi là Dukarakrya, có
nghĩa là Khổ Hạnh Lâm), nơi có con sông Nairanjani (Lilani),
bên tháp núi Râdjagriha (Vương Xá), cảnh trí hữu tình, thái
tử cùng 5 người Bhadravarglyas, đệ tử của ông Rudraka tu
ở đây 6 năm. Trong bọn năm người[8] có Kaundinya (Kiều Trần
Như) là hơn cả.
Bồ
tát[9] tu ép xác cho đến nỗi gầy gò ốm yếu, có đôi khi
tưởng đến sắp chạy theo tử thần. Mà nào có hiệu quả
gì đâu? ngài nghĩ: “Thân thể có cường tráng thì tinh thần
mới sảng khoái. Quá sướng hay quá khổ đều không phải
lối tu chân chính[10]. Con đường dẫn đến giải thoát là
Phải tránh xa hai thái cực ấy”.
Có
một hôm, nàng Sujatâ, con gái của Nadica, vợ của trưởng
giả Senani, thấy Bồ tát sức đã kiệt mới khuấy sữa với
mật ong, đựng trong một cái bát bằng vàng dâng cúng, Bồ
tát ăn xong bát sửa thấy người khỏe lại như thường. Năm
đệ tử của Rudraka bỏ thầy theo Bồ tát, thấy thể lấy
làm bất bình, lánh đi sang thành Béranès, ẩn tu trong rừng
Mragadâ (Lộc Uyển)[11].
Bồ
tát lúc này một mình một bóng đến xứ Goya, trải nệm cỏ
bên một gốc cây Bodhi (Bồ đề)[12], ngồi thiền định ở
đó và tự thệ nguyện lớn: “Nếu ta ngồi đây mà không
tìm ra đạo lý nhiệm mầu, không tìm ra lẽ huyền bí của
vũ trụ vạn pháp thì dù thịt nát, xương tan, ta quyết không
rời bỏ chỗ ngồi này”.
Suốt
trong 49 ngày suy tưởng, đến ngày cuối cùng khi vầng sao mai
hiện lên lộng lẫy giữa bầu trời xanh thẳm, Bồ tát thấy
thân tâm trở nên vắng lặng và sáng suốt, bao nhiêu cặn
bã mê mờ và phiền não đều khoảnh khắc rũ sạch, giải
quyết một lần những lẽ huyền bí của vạn pháp về vũ
trụ, con người, về quan niệm sống chết, cả về tâm lý
lẫn vật thể. Hàng triệu triệu điềm lành quyện lại bên
gốc cây “bồ đề”, trái đất như chuyển mình, mây ngừng
bay, gió ngừng thổi, tất cả như nghiêng mình kính cẩn tôn
Ngài lên ngôi Đại Giác.
Ngài
đã thành Phật với danh hiệu THÍCH CA MÂU NI (Cakyamuni). Năm
ấy ngài 35 tuổi.
Công
hạnh tu chứng của đức Phật, đánh dấu một quá trình cao
cả: qua bao nhiêu chặng đường gai gốc nhưng rất huy hoàng
của một đấng toàn giác.
Ngài
đã thành công viên mãn!
·
45 NĂM THUYẾT PHÁP ĐỘ SINH
Trong
năm thời thuyết giáo, hơn 45 năm ròng, lần đầu tiên, đức
Phật đặt chân trên giải đất Béranès,bên bờ sông Nairanjanà,
nơi rừng Mrigadâva, giáo hóa cho năm người đệ tử thuở
xưa cùng tu với Ngài ở đây, mà lịch sử gọi là “Chuyển
Pháp Luân=Dhammacakkharasutta”, cho tới khi giảng kinh Pháp Hoa,
kinh Đại Niết Bàn.
Kinh
Ariyapariyesana Suttam XXVI chép:
“Này
các tỳ khưu, ta, kẻ đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô
thượng tối thắng đạo lộ, hướng đến tịch mịch, tuần
tự du hành tại nước Magadha và đến tụ lạc Uruyelà. Tại
đây, ta thấy có một địa điểm khả ái, một khóm rừng
thoải mái, có con sông trong sáng (Neranjara) chảy gần, với
một chỗ lội qua dễ dàng khả ái, và chung quanh có làng mạc
bao bọc, dễ dàng đi khất thực. Này các tỳ khưu, rồi ta
tự nghĩ: “Thật là một địa điểm khả ái, một khóm rừng
thoải mái, có con sông trong sáng chảy gần, với một chỗ
lội qua dễ dàng khả ái, và chung quanh có làng mạc bao bọc
dễ dàng khi khất thực. Thật là một chỗ vừa đủ cho một
Thiện nam tử tha thiết tinh cần có thể tinh tiến. Và này
các tỳ khưu, ta ngồi xuống tại chỗ ấy và nghĩ: “Thật
là vừa đủ để tinh tiến”.
Rồi
này các tỳ khưu, ta tự mình bị sinh, sau khi biết rõ sự
nguy hại của cái bị sinh, tìm cầu cái không sinh, vô thượng
an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn, và đã chứng được
cái không sinh vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn;
tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị
già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ
ách, Niết Bàn, và đã chứng được cái không già, vô thượng
an ổn khỏi các khổ ác Niết Bàn; tự mình bị bệnh, sau
khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái
không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn,
và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi
các khổ ác, Niết Bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ
sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết,
vô thượng an ổn khỏi các khổ ách Niết Bàn, và đã chứng
được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách,
Niết Bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại
của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn
khỏi các khổ ách, Niết Bàn, và đã chứng được cái vô
sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn; tự
mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị
ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn
khỏi các khổ ách, Niết Bàn, và đã chứng được cái không
bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn.
Và tri và kiến khởi lên nơi ta. Sự giải thoát của ta không
bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của ta, không còn
sự tái sinh nữa’.
“Này
các tỳ khưu, rồi ta suy nghĩ như sau: “Pháp này do ta chứng
được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh,
cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu
thấu. Còn quần chúng thì phần nhiều ưa ái dục, khoái ái
dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục,
khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa
ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy
được định lý. Idapaccayatà Paticcasamuppàda (Y tính duyên khởi
pháp); thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là
tịch tịnh, tất cả sinh được trừ bỏ, ái được đoạn
tận, ly dục, ái diệt. Niết Bàn. Nếu nay ta thuyết pháp mà
các người khác không hiểu ta, thời như vậy thật khổ não
cho ta, như vậy thật bực mình cho ta! “Này các tỳ khưu,
rồi các bài kệ bất khả tự nghị, từ trước chưa từng
được nghe, được khởi lên nơi ta:
“Sao
ta nói chính pháp,
được
chứng ngộ khó khăn?
Những
ai còn tham sân,
Khó
chứng ngộ pháp này.
Được
ngược dòng thâm diệu,
Khó
thấy, thật tế nhị,
Kẻ
ái nhiễm vô minh,
Không
thấy được pháp này”
Rồi
này các tỳ khưu, với những suy tư như vậy, tâm của ta hướng
về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp. Này các tỳ
khưu, lúc bấy giờ Phạn Thiên Sahampati khi biết được tâm
tư của ta với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: “Than ôi,
thế giới đã tiêu diệt, thế giới sẽ bị hoại vong, nếu
tâm của Như Lai, bậc A La Hán, Chính Đẳng Giác hướng về
vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp”. Rồi này các
tỳ khưu, Phạn Thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi thẳng
cánh Tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng; cũng vậy,
vị ấy biến mất từ thế giới Phạn Thiên và hiện ra trước
mắt ta. Này các tỳ khưu, rồi Phạn Thiên Sahampati đắp thượng
y một bên vai, chắp tay hướng vái ta và bạch rằng: “Bạch
Thế Tôn hãy thuyết pháp! Bạch Thế Tôn hãy thuyết pháp!
Có những chúng sinh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại,
nếu không được nghe Chính Pháp. (Nếu được nghe), những
vị này có thể thâm hiểu Chính Pháp”. Sau khi nói vậy, lại
nói thêm như sau (lược dẫn):
...
“Xưa, tại Magadha
Bậc
thanh tịnh chứng ngộ
Như
đứng trên núi cao
Nhìn
xuống đám quần sanh
Hãy
đi khắp thế giới
Bậc
Thế Tôn Chánh Giác
Hãy
thuyết vi diệu pháp
Người
nghe sẽ thấu hiểu”.
“Này
các tỳ khưu, sau khi biết được lời Phạn Thiên yêu cầu,
vì lòng từ bi đối với chúng sinh, với Phật nhãn ta nhìn
quanh thế giới. Này các tỳ khưu, với Phật nhãn ta thấy
có hạng chúng sinh ít nhiễm bụi đời nhiều nhiễm bụi đời,
có hạng lợi căn động căn, có hạng thiện tính ác tính,
có hạng dễ dạy khó dạy, và một ít thấy sự nguy hiểm
phải tái sinh thế giới khác và sự nguy hiểm có những hành
động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ
sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sinh
ra dưới nước không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này
các tỳ khưu, với Phật nhãn, ta thấy có hạng chúng sinh ít
nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn,
có hạng độn căn, có hạng thiện tính ác tính, có hạng
dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải
tái sinh thế giới khác và sự nguy hiểm có những hành động
lỗi lầm...
“Này
các tỳ khưu, rồi ta tự suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho
ai đầu tiên, ai sẽ mau hiểu Chính Pháp này?” Này các tỳ
khưu, rồi ta tự suy nghĩ: “Nay có Alàra Kãlãma là bậc tri
thức, đa văn, sáng suốt đã từ lâu ít nhiễm bụi đời.
Ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho Alàra Kãlãma, vị này sẽ
mau hiểu Chính pháp này! “Này các tỳ khưu, rồi chư thiên
đến ta và nói như sau: “Bạch Thế Tôn, Alàra Kãlãma đã
mệnh chung bảy ngày rồi”. Rồi tri kiến khởi lên nơi ta:
“Alàra Kãlãma đã mệnh chung bảy ngày rồi”. Này các tỳ
khưu, ta nghĩ: “Thật là một thiệt hại lớn cho Alàra Kãlãma:
Nếu nghe Pháp này, Alàra Kãlãma sẽ mau thâm hiểu! “Rồi
này các tỳ khưu, ta lại nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai
đầu tiên? Ai sẽ mau hiểu Chính Pháp này?” rồi này các
tỳ khưu, ta lại nghĩ: “Nay có Uddhaka Rãmaputta là bậc tri
thức, đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm bụi
đời, ta hãy thuyết pháp đầu tiên cho uddaka Rãmaputta. Vị
này sẽ mau hiểu Chính Pháp này”. Rồi chư Thiên đến ta
và nói như sau: “Bạch Thế Tôn, Uddaka Rãmaputta đã mệnh
chung ngày hôm qua!”Rồi tri kiến khởi lên nơi ta: “Uddaka
Rãmaputta đã mệnh chung ngày hôm qua!” Này các tỳ khưu, ta
nghĩ: “Thật là một thiệt thòi lớn cho Uddaka Rãmaputta. Nếu
nghe Pháp này, Uddaka Rãmaputta sẽ mau thâm hiểu”. Này các
tỳ khưu, rồi ta suy nghĩ: “Ta sẽ thuyết pháp cho ai đầu
tiên? Ai sẽ mau hiểu Chính Pháp này?”. Rồi này các tỳ khưu,
ta lại nghĩ: “Nay nhóm năm vị tỳ khưu ở tại đâu?” Này
các tỳ khưu, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ta thấy
nhóm năm vị tỳ khưu hiện ở Bàrãnaĩ, tại Isipatana, vườn
Lộc Uyển. Rồi này các tỳ khưu, sau khi ở tại Uruvelà lâu
cho đến khi mãn ý, ta lên đường đi đến Bàrãnasĩ.
“Này
các tỳ khưu, rồi ta tuần tự đi đến Bàrãnasĩ, Isipatana,
vườn Lộc Uyển, đi đến chỗ nhóm năm vị tỳ khưu ở.
Này các tỳ khưu, nhóm năm vị tỳ khưu khi thấy ta đằng
xa đi đến, đã cùng nhau thỏa thuận như sau: “Này các Hiền
giả, nay Sa môn Gotama đang đi đến; vị này sống trong sự
sung túc, đã từ bỏ tinh cần, đã trở lui đời sống đầy
đủ vật chất, chúng ta chớ có đính lễ, chớ có đứng
dậy. Hãy đặt một chỗ ngồi, và nếu vị ấy muốn, vị
ấy sẽ ngồi”. Này các tỳ khưu, nhưng khi ta đi đến gần,
năm vị tỳ khưu ấy không thể giữ đúng điều đã thỏa
thuận với nhau. Có người đến đón ta và cầm lấy y bát.
Có người sắp đặt chỗ ngồi. Có người đem nước rửa
chân đến.Nhưng các vị ấy gọi ta bằng tên với danh từ
Hiền giả (Avuso). Này các tỳ khưu, khi nghe nói vậy, ta nói
với nhóm năm vị tỳ khưu: “Này các tỳ khưu, chớ có gọi
ta bằng tên và dùng danh từ Hiền giả. Này các tỳ khưu,
Như Lai là bậc A La Hán, Chính Đẳng Giác. Hãy lắng tai, pháp
bất tử đã chứng được. Ta giảng dạy, ta thuyết pháp.
Sống đúng theo lời khuyến giáo, các người không bao lâu,
sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt ngay trong hiện tại, mục
đích vô thượng của Phạn hạnh mà các Thiện nam tử xuất
gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các người sẽ
an trụ”. Này các tỳ khưu, khi nghe nói vậy, nhóm năm vị
tỳ khưu nói với ta: “Hiền giả Gotama, với nếp sống này,
Hiền giả đã không chứng được Pháp siêu nhân, tri kiến
đặc thù xứng đáng bậc Thánh; thì nay làm sao hiền giả,
với nếp sống sung túc, với sự từ bỏ tinh cần, với sự
trở lui đời sống vật chất đầy đủ, lại có thể chứng
được Pháp siêu nhân, tri kiến đặc thù xứng đáng bậc
Thánh”. Này các tỳ khưu, khi nghe nói vậy ta nói với nhóm
năm vị tỳ khưu, Như Lai sống không sung túc, không từ bỏ
tinh cần, không trở lui đời sống vật chất đầy đủ. Này
các tỳ khưu, Như Lai là bậc A La Hán, Chính Đẳng Giác. Này
các tỳ khưu, hãy lắng tai nghe Pháp bất tử đã chứng được.
Ta giảng dạy, ta thuyết pháp..., và ta đã làm cho năm vị
tỳ khưu chấp nhận”.![13]
Đức
Phật đã chu du khắp nước Ấn Độ, từ cực bắc, dưới
chân núi Himalaya, đến cực nam, bên ven sông Gange, nơi hang
cùng ngõ hẻm, ở đâu có ánh sáng mặt trời là có dấu chân
Ngài ở đó.[14]
Hơn
300 hội nói pháp, Ngài đã thâu nhận số đông đệ tử xin
vào giáo hội, không phân biệt giàu, nghèo, sang, hèn, thanh
niên, già cả, nam hay nữ, người trí thức hay kẻ ngu si, tất
cả... đều được đức Phật đưa vào Chính Pháp và coi như
nhau, khác nào như cơn gió lốc thổi dồn các thứ lá lại
một chỗ, đức Phật thuyét pháp cho hết thảy.
Với
đức hy sinh, với lý tưởng cao cả, và với lòng thương vô
biên của đức Phật, hàng vô lượng chúng sinh trên khắp
hành tinh, đã tìm được lẽ sống cao đẹp cho mình, ngay trong
cuộc đời đầy tội lỗi, xấu xa, ác độc...
Trải
qua bao sương tuyết cuộc đời, đức Phật đã thắng trong
mọi hoàn cảnh vẻ vang, vô cùng cao đẹp; đã tô đậm nét
son trên trang sử nhân loại, tuyệt nhiên không vướng chút
bạo tàn, với đức hiếu sinh và lòng từ bi quảng đại,
đã xoay lại bất công muôn chế độ tàn bạo, phi nhân tính,
để lại cho hậu thế một gương sáng láng vô cùng!
Và
nét son rất tươi ấy, tươi mãi, đã mở đầu cho cuộc đời
cao rộng đầy hương hoa trong một Kỷ nguyên Công Bằng, Tự
Do và Chính Nghĩa.
·
ĐỨC PHẬT NIẾT BÀN
Năm
543 trước kỷ nguyên TL, bấy giờ đức Phật đã 80 tuổi,
khi chí nguyện ước muốn đã thành, một hôm, ngài cho triệu
tập các đệ tử từ khắp bốn phương lại mà di chúc những
lời tối hậu:
“Này
các con, hãy tôn kính tịnh giới, tịnh giới còn, đạo Ta
còn. Những kinh luật, Ta đã dạy từ khi Ta thành Phật tới
giờ, sẽ là nơi nương tựa, che chở cho các con. Những giáo
pháp của Ta có những lợi ích, các con hãy cố gắng học
và làm theo. Ở núi rừng, nơi bùn lầy nước đọng, bên bờ
sông, dưới gốc cây, trong tĩnh thất, hoặc bất cứ nơi nào
trầm lặng, các con hãy tưởng nhớ giáo pháp của ta. Đừng
sao nhãng, vì một đời luống qua, không làm gì..., chỉ kết
liễu trong ân hận hối quá!”.
Và
– “Các con, hãy vì lòng từ bi rộng lớn, đi gieo rắc hạnh
phúc cho đời, Đừng đi trùng nhau trên một ngả đường.
Các con, hãy truyền đạo mầu nhiệm cho đời hiểu thế nào
là cuộc sống cao cả, trong sạch, hoàn toàn và gương mẫu”.
Những
lời vàng ngọc của đức Phật truyền dạy làm rung động
đến tận cùng tâm thức của những người đệ tử mến
yêu, cần phải suy nghĩ.
Trên
đường đức Phật chỉ bảy, mỗi bước đi lên là mỗi bước
tới gần ánh sáng chân lý.
Sau
khi đã dạy bảo các đệ tử mọi lẽ, Ngài liền từ giã
thành Sravasti (nay là thành Sateth Maheth) mà sang thành Kusinagarâ
giữa hai cây Sala (tục gọi là cây bông vải: mộc miên), trong
một khu rừng ở mé núi Hiranyavati và tịch diệt ở đây o
[1]
Chữ trong kinh Pháp Hoa (Suddhamapundarika): Thế tôn, duy dĩ nhất
đại sự nhân duyên cố, xuất hiện ư thế.
[2]
Những niên đại đức Phật đản sinh theo các thuyết: 1023,
685, 624, 623, 566, 563, 561, 559, 557, 487 trước tây lịch, theo
Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, trang 31.
Ở
Việt Nam, đạo Phật từ khởi thủy cho đến ngày nay vẫn
thường kỷ niệm trong những ngày:
- 8 tháng 4 đức Phật đản sinh
- 8 -
2
-
xuất gia
- 8 -
12 -
thành đạo
- 15 -
2
-
niết bàn
Theo
sử Trung Hoa ghi chép: Đức Phật đản sinh vào đời Chu Linh
Vương trước kỷ nguyên khoảng 557 năm đồng thời với đức
Khổng Tử.
Nước
ta thuở xưa bị Bắc thuộc hàng nghìn năm; sự ảnh hưởng
về tôn giáo, chính trị, văn hóa là những tập quán cố hữu,
mà Đạo Phật Việt Nam hiện tại chưa thể một sớm một
chiều xóa bỏ những ngày lễ trên, khi đã in sâu trong lòng
những người con Phật kính yêu.
[3]
Những tiếng riêng trong sách này đều được tôn trọng tính
chất đặc biệt của chúng, trừ những chữ nào Việt hóa
hoàn toàn, như tiếng Phật THÍCH CA MÂU NI. Ngoài ra, chúng tôi
không phiên âm những chữ ấy, như người Trung Hoa đã phiên
âm từ chữ Sanskrit (Phạn) ra chữ Hán.
[4]
Mahaprajâpati Gautami là vợ lẽ của vua Suddhodana. Không biết
tục lệ này có tự bao giờ: hai giòng họ Cakya và Koli đời
đời thông gia với nhau. Vua Suddhodana cũng y theo tục lệ ấy
mà lấy hai chị em con vua Anucakya nước Koki, là Mahamaya và
Mahaprajapati Gautami.
[5]
Công nương Yasôddhara, cũng gọi là Gopa, là em cô cậu với
thái tử, và là con của bà Amita và vương tước Suprabuddha.
[6]
Kinh Ariyapariyesanasuttam XXVI trang 163 chép: “...Sau một thời
gian, khi ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ
huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời,
mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt thân
khóc, ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ
gia đình, sống không gia đình. Ta xuất gia như vậy, kẻ đi
tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng đạo
lộ, hướng đến tịch tịnh”
[7]
Có thuyết nói: Thái tử, 19 tuổi xuất gia, 30 tuổi thành đạo.
Nhưng nay, căn cứ theo bộ Trường A Hàm (Digha Nikaya) quyển
IV trong đại tang kinh Phật giáo, thì Ngài xuất gia 29 tuổi.
[8]
1. Ájnàta Kaundinya (Kiều Trần Như), 2. Asvajit (A Thấp Bà),
3. Bhadrika (Bạt Đề), 4. Dasabala Kâsyapa (Thập Lực Ca Diếp),
5. Mahânâman (Ma Ha Nan).
[9]
Từ đây gọi ngài là Bồ tát mà không gọi là thái tử nữa.
[10]
Juvénal cũng nói câu tương tự: “Mans sa–na–in corpore sano=“Một
tâm hồn trong sạch trong một thân thể tráng kiện”
[11]
Nay đổi là Sarnath
[12]
Trong cuốn “Triết Học Phật Giáo”, trang 42, Phan Văn Hùm
có viết về cây bồ đề như sau:
“Cây
Pippala, sau người ta gọi là Boddhidruma nghĩa là cây giác ngộ
(Bodhi, ta đọc là bồ đề, nghĩa là giác ngộ. Druma nghĩa
là cây). Còn chỗ đất ấy gọi là Bodhimanda, nghĩa là: Trường
giác ngộ.
“Năm
623 sau kỷ nguyên, thầyy Hsan Tsang (Huyền Trang) qua Ấn Độ
có tả cảnh cây Boddhidruma như sau: “Cây bồ đề này ở
gần con sông Nairanjana. Đứng trong thành Ràjagriha trông thấy
nó ở 15 dặm ngoài xa. Cội cây trắng xóa, lá xanh ngời”.
“Trong
khoảng tiền thế kỷ XIX một người Anh, tên là Cunningham,
có đến xem cây bồ đề, bảo rằng: “Cây Bodhi trứ danh
ấy hiện nay vẫn còn, mà nó xơ xác rất mực: một cỗi to
còn xanh tươi, có ba cành quay về hướng tây, còn mấy cành
kia đã tróc sạch vỏ và mục rồi. Cây ấy có lẽ thường
đổi thay, trồng đi trồng lại nhiều lần, bỡi vì cây pippala
hiện nay đứng trên một cái giàn cao ít nữa là “30 pieds”
trên cuộc đất chung quanh”.
Ông
Oldenberg, người Đức, tác giả quyển Lịch Sử Đức Phật,
bảo rằng năm 1976 cây boddhiruma bị bão, trốc gốc mất. (Arochaeel,
Reports 1, 5 p 110 note, nouvelle édition)
[13]
Trích kinh dẫn thượng, trang 167–172, trong bộ Najjhina Nikaya–tỳ
khưu Th. Minh Châu dịch
[14]
Lịch sử ghi - Trong thời gian mới xuất gia, thái tử đã tham
học với các đạo sĩ trứ danh như các ông: Bhagàva, Aràlakàlama,
Udraka Ramaputta, nhưng xét thấy tư tưởng triết lý của các
vị này chưa được siêu thoát nên Ngài đã tự tìm cho mình
một lối đi...
Và,
sau khi giác ngộ, lần đầu tiên “chuyển pháp luân” tại
vườn Lộc Uyển, thuộc nước Bàrànasi, đức Phật thuyết
giảng về bốn chân lý (Catuariyasacca): Khổ, Tập, Diệt, Đạo
để độ coh 5 pháp hữu đồng tu với Ngài thuở trước đó
là các ông: Ajnàta Kaudinya, Aùsavjit, Bhadrika, Mahânâman, Dásbala
Kàsyap. Ngôi Tam Bảo có từ đấy=Phật (Buddha) là Phật bảo,
Pháp (Dharma) là Pháp bảo, Tăng (Sangha) là Tăng bảo. Cũng tại
nơi đây, đức Phật còn độ cho trưởng lão Yasas và song
thân của ông làm cư sĩ, gọi là Phật tử tại gia. Nam giới
gọi là Upàsaka (Ưu Bà Tắc), Nữ gọi là Upàsika (Ưu Bà Di).
Đức
Phật và đệ tử vân du các nơi để hóa đạo. Trước
hết, ngài đến nước Magadha gặp 3 anh em ông Kàsyapa, thuộc
hệ phái Bà La Môn giáo. Được ngài thuyết pháp cho nghe, lấy
làm hoan hỷ nên cả 3 ông đã cải giáo quy y theo Phật. Đồng
thời 1000 đệ tử của các ông cũng được Ngài hóa độ.
Do đó, giáo đoàn của đức Phật mỗi ngày thêm bành trướng.
Vua Bimbisàra (Tần Bà Sa La) của nước Magadha thì hết lòng
sùng kính đức Phật nên đã cho xây Trúc Lâm Tịnh Xá (Venuvana
Vihàra) ở núi Ghridhrakuta để cúng dường đức Phật làm
nơi an trụ thuyết pháp. Cũng tại Tịnh Xá này, đức Phật
đã độ cho 3 ông: Sàriputra (Xá Lợi Phất), Maudgalyvàyana (Mục
Kiền Liên). Mahakàsyapa (Đại Ca Diếp) và đồng thời 250 đệ
tử của ông Sàriputra và Maudgalyàyana cũng xin gia nhập tăng
chúng. Từ đấy đệ tử của đức Phật đã tăng lên 1250
vị.
Lúc
trở về kinh thành Kapilavastu thăm lần đầu, kể từ khi xuất
gia tới sau ngày thành đạo, đức Phật đã hóa độ cho cả
hoàng gia, trong đó phụ hoàng Suddhodana, Nanda (người em khác
mẹ). Anada, Devadatta và Anurudha (cả 3 đều là em họ)...
Sau
đó, đức Phật đến Rajagrha (Vương Xá Thành) hóa đạo cho
vua Prasenajit (Ba Tự Nặc), thái tử Jita (Kỳ Đà) và trưởng
giả Sudatta (Tu Đạt Đa) thuộc nước Kosala; sau ông này phát
nguyện xây dựng Kỳ Viên Tịnh Xá (Jitavana Vihàra) để cúng
dường đức Phật. Ngoài ra, vua nước Vesali cũng xây dựng
một Đại Lâm Tịnh Xá (Mahàvana Vihàra) và thành lập 2 giảng
đường=1) Mragàramàtuh Pràsada); 2) Kùtàgàrasàla để dâng
cúng Phật. Nhưng 2 tịnh xá Venuvana Vihàra và jetavane Vihàra
là nơi đức Phật đình trụ thuyết pháp nhiều hơn cả.
Sau
5 năm đức Phật thành đạo, thì phụ vương Ngài băng hà,
chính phi Mahapajapati (kế mẫuu đức Phật) và công chúa Jasoddhara
cũng được độ cho xuất gia làm bhiksuni. Khi nói tứ chúng
tức là chỉ cho bốn giới đệ tử: Tỳ khưu, tỳ khưu ni,
ưu bà tắc và ưu bà di.
Hàng
đệ tử xuất sắc của đức Phật thì nhiều nhưng 10 có
tên dưới đây là trứ danh hơn cả; trong kinh gọi là Thập
đại đệ tử:
1.
Đại Ca Diếp (Kasyapa) tôn giả, bậc tu định đệ nhất.
2.
Xá Lị Phất (Sariputra) tôn giả, trí tuệ đệ nhất.
3.
Mục Kiền Liên (Maudgalyàyana) tôn giả, thần thông đệ nhất.
4.
Ca Chiên Diên (Kàtyàyana) tôn giả, nghị luận đệ nhất.
(4
vị này thuộc giai cấp Bràhmanah (Bà La Môn giáo).
5.
A Nan Đà (Ananda) tôn giả, đa văn đệ nhất.
6.
A Nâu Lâu Đà (Anusuddha) tôn giả, thiên nhãn đệ nhất.
7.
La Hầu la (Rahula) tôn giả, mật hạnh đệ nhất.
(3
vị này xuất thân từ giai cấp Ksatrya–hoàng tộc)
8.
Tu Bồ Đề (Subhùti) tôn giả, Thiền định đệ nhất.
9.
Phú Lâu La (Purna) tôn giả, biện tài đệ nhất.
(2
vị này thuộc giai cấp Vaisya, giai cấp bình dân...)
10.
Ưu Ba Li (Upàli) tôn giả, trì luật đệ nhất.
(vị
này từ giai cấp Sùdra, giai cấp tiện dân, vốn đời làm
nô lệ!)
Các
đệ tử tại gia hộ trì chánh pháp về nam giới, có vua Bimbisàra
và vua Ajàtasatru thuộc nước Magadha; vua Prasenajit của nước
Kosala. Nữ giới có Videhi, Srimàla và vợ ông Tu Đạt là Sujàtà
v.v...
Người
đệ tử cuối cùng, trước giờ đức Phật Niết Bàn, được
hóa độ là ông Tu Đạt Đà La (Sudhadra), 120 tuổi, thuộc Bà
La Môn giáo.
Chương
Ba
Lịch
Sử Truyền Bá
Ánh
sáng Chính Pháp bắt đầu chiếu khắp nhân gian, cách nay hơn
2.500 năm, do đức THÍCH CA MÂU NI thành lập Phật giáo ở Ấn
Ðộ, sau một thời gian tìm được “bên gốc cây Bodhi”.
45
năm giáo hóa, lần đầu tiên, đức Phật hóa độ cho năm
vị Tỳ kheo (Bhikku) rồi lên đến 1,250 vị, lập thành một
đoàn truyền giáo, Ðức Phật và các đệ tử vân du khắp
đây đó, đi đến đâu là được dân chúng hoan nghênh đến
đấy, dòng người tin tưởng theo sau…
Còn
cuộc cách mạng nào đẹp hơn thế nữa! Ðức Phật không
dùng uy quyền thế lực, Ngài chỉ cảm hóa mọi người bằng
giáo lý mầu… Không ai bảo ai, họ tự động kéo đến với
đức Phật và tất cả đều được Ngài hóa độ. Bốn giai
cấp ở Ấn Ðộ đồng thời phải sụp đổ một lượt, Ngài
đã phá tan những thành kiến sai lầm về vũ trụ nhân sinh,
về quan niệm cuộc sống, về đạo đức, luân lý, về chính
trị, nhất là đã gây một quá trình tiến triển giữa chúng
sinh cõi Sa bà (Sabaloka), lấy Ấn Ðộ làm trung điểm. Uy danh
đức Phật mỗi ngày thêm lừng lẫy, bọn ngoại đạo (Bà
La Môn giáo) sinh lòng ghen ghét tìm đủ cách để chống đối
nhưng đã hoàn toàn thất bại. Ánh sáng đạo vàng của đức
Phật mỗi ngày thêm tỏa sáng và lan rộng từ những miền
heo hút lạnh lẽo xa xôi tới các nước văn minh tân tiến
đều đã thấm nhuần, không ít thì nhiều, nguồn giáo lý
Giác Ngộ và Giải Thoát.
Nguồn
Giáo Lý Nhân Bản Ðạo Phật
Sau
khi thành đạo, đức Phật thấy việc trước hết, nói theo
từ ngữ bây giờ, là thực thi một cuộc cách mạng xã hội
toàn diện. Ngài thấy các hệ tư tưởng cũng như sự hiện
diện của các giáo phái, các thế lực chính trị đương thời
đã không giải quyết được gì cho con người và xã hội.
Mà muốn cải tiến xã hội điều căn bản là giáo hóa các
vị lãnh đạo tinh thần, để các vị này ý thức trách nhiệm
mình và chuyển hóa xã hội: Ðức Phật đã độ cho giới
tu sĩ, trong số có năm vị pháp hữu đồng tu với Ngài xưa
kia tại rừng Mrigadàyà mà Kaundinya (Kiều Trần Như) làm huấn
sư, để khai đạo. Sau ba tháng an cư tại Béranès, số đệ
tử mỗi lúc một đông, đức Phật đã giáo dưỡng được
số đông đệ tử tu chứng thánh quả A La Hán (Arahat), trong
đó có Ananda. Một mặt, nhằm vào trung điểm của cơn lốc
xã hội để cảm hóa và điều ngự: các vị đạo trưởng
thời danh được đức Phật dang tay tế độ, như: ba anh em
ông Kasyapa (Ca Diếp) rồi đến hai ông Sariputra (Xá Lị Phất)
và Maudagalyàyana (Mục Kiền Liên). Sau giới tu sĩ là giới
cầm quyền, vua Bimbasara (Tần Bà Sa La) của vương quốc Magadha
(Ma Kiệt Ðà) và vua Pasenadi nước Kosala đều được đức
Phật âu yếm hóa độ. Sau hết là giới tài phiệt, thương
nhân và thường dân cũng được đức Phật hóa độ một
cách bình đẳng.
Ðạo
của đức Phật phát huy tại rừng vắng rồi truyền về các
thủ phủ, kinh thành, và cũng chính tự nơi đây tỏa đi khắp
nơi khắp chốn. Từ đô thị đạo Phật đã truyền đến
thôn dã, do các tăng sĩ sứ giả truyền đạo nhiệt tâm hoằng
pháp và do sự hưởng ứng của mọi lớp người ở Ấn Ðộ,
từ vua chúa đến thương gia, tỷ phú v.v… rồi đến các
giai cấp thường dân đều nhất tâm qui hướng đấng giáo
chủ siêu việt của thời đại: Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Công
cuộc hóa đạo mà đức Phật chú ý là, tìm một giải pháp
hữu hiệu để hóa giải các mối ưu tư của tâm thức con
người và các bế tắc của xã hội. Ðức Phật đã bắt
mạch cho thuốc rất đúng, đã vạch định một chương trình
hành động hợp lý, đáp ứng được hoàn cảnh ngưỡng vọng
của mọi tầng lớp xã hội. Ðức Phật đã thẳng thắn chỉ
trích những tệ đoan xấu xa trong xã hội. Ðó là sự hành
hạ cực hình thân xác một cách phi lý, vì người ta nghĩ
rằng cuộc sống này là tạm bợ, điều quan hệ là sau khi
chết được nhập vào một thực thể siêu hình đại ngã
của Brahama = Phạm Thiên, (linh hồn của vũ trụ). Ðức Phật
cũng không quên những hạng người vô lý tưởng, buông trôi
kiếp sống trong giòng luân lưu lãng bạc, để kéo họ về
thực tế cuộc đời.
Ðấy
là những yếu tắc chỉ đạo nhằm xây dựng một xã hội
nhân bản văn minh và tiến bộ. Sự phân phối các hàng tăng
sĩ đi muôn nơi giáo hóa là đức Phật đã trực tiếp khai
sinh ra một cách thức hoằng pháp mới: đó là việc đưa các
sứ giả đạo pháp đi vào cuộc đời để trực kiến trực
giải các thắc mắc của quần chúng, để giúp mọi người,
mỗi người sớm được “chuyển mê khai ngộ”.
Sự
nghiệp vĩ đại của đức Phật là sự khai phá rừng lý thuyết
âm u tào tạp sẵn có và đã mở ra một hướng đi hợp với
lý trí, tình cảm, hành động và khả năng của mỗi người
và xã hội loài người.
Ý
thức “trung đạo = Majjhimàpatipadà” của đức Phật là
một ý thức mới mà từ trước chưa hề có[1]. Thuyết trung
Ðạo dạy con người ý thức được cái “khổ” (Dukhha)
rồi tự mình chiến thắng nó một cách vinh quang, theo sự
diễn biến cụ thể của luận lý biện chứng, là sự quan
sát và truy nguyên cái Khổ để tìm cách thoát khổ.
Theo
thuật ngữ chuyên môn trong giới Phật học thì, những điều
ta vừa diễn tả trên, có tên gọi “Tứ Diệu Ðế: Catuani
yasacca” hay là bốn chân lý căn bản: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo.
Tập làm nhân cho Khổ. Ðạo làm nhân cho Diệt. Muốn đạt
đến phần nhì của chương trình giải thoát khổ cảnh là
Diệt, Ðạo thì phải trải qua phần đầu của chương trình
là Khổ, Tập.
Chân
lý thứ nhất: SỰ KHỔ (Dukhha). - Cội nguồn của khổ gồm
có hai: phần căn bản là các yếu tố nội tại (tức thân
ngũ uẩn)[2] và phần phụ là hoàn cảnh chung quanh mà con người
(có thể) cố gắng (sẽ) vượt qua được. Phần căn bản
của Khổ là sinh, già, ốm, chết. Phần phụ gồm những điều,
như: ta phải thân cận, liên hệ với những kẻ mà mình không
muốn thân cận; phải xa cách những người mình yêu mến;
bất mãn vì điều mình ao ước mà không được. Sự khổ
vốn sẵn có lại làm phát sinh cái khổ phiền não, gọi là
khổ khổ. Mọi loại khổ phiền não khác như thời tiết:
nóng, lạnh, dịch lệ, bão lụt, động đất, chiến tranh…
làm cho mất sự vui sướng, gọi là hoại khổ. Khi con người
mang theo trong mình cái tính cách vô ngã, vô thường, dời đổi,
hợp tan… gọi là hành khổ. Tất cả nỗi khổ não ấy là
kết quả tích lũy của cái Nghiệp (karma) luân hồi.
Chân
lý thứ hai: NGUYÊN NHÂN SỰ KHỔ (Dukkhasamudaya). Căn nguyên
của sự khổ, mà đầu mối tạo ra mọi khổ ở đời là
Vô minh, Tham, Sân, Si, Vọng động. Chính đấy là nguyên nhân
của sự sa lầy trong sự ngừng đọng ý thức tiến hóa trên
chiều hướng giải thoát.
Chân
lý thứ ba: SỰ DIỆT KHỔ (Dukkhanirodha hay Nirvàna). – Là sự
giải thoát khỏi hết khỏi hết mọi hệ lụy khổ đau, bất
luận nguyên nhân gần hay xa nào có thể gây ra sự khổ, làm
xao động cuộc sống chân hạnh phúc, và để được mình
ra khỏi giòng thác lũ sinh tử. Ái dục và những gì liên quan
đến ái dục phải cương quyết loại bỏ.
Chân
lý thứ tư: CON ÐƯỜNG DIỆT KHỔ (Dukkhanirodhagàminipatipadà).
Ðó là con đường đưa đến sự giải thoát vĩnh viễn kiếp
thân đau khổ, gồm có tám nhánh, cũng gọi là Bát Chính Ðạo
(Àryàstàstàngamàrganàmàni): Chính kiến, chính tư duy, chính
ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm
và chính định.
Chính
Kiến (Samyadrstih). - Sự thấy biết chân chính; trái lại là
tà kiến, hiểu biết sai lầm. Chính Tư Duy (Samyaksamkalpah),
suy nghĩ chân chính là sự suy nghĩ dựa trên lý trí để là
thăng hoa cuộc sống, giải thoát mọi khổ đau. Chính Ngữ
(Samyagàh), lời nói chân chính, từ hòa, không đặt điều,
xu nịnh, dèm pha, độc ác, là để tránh những gì không đúng
như thật, có dụng ý gây đau khổ cho tha nhân và có tính
cách diệt mầm mống giải thoát, mầm mống tiến hóa chung,
đều không được nói. Chính Nghiệp (Samyakkarnantah), là hành
động một cách minh chính để không gây ra sự tổn thương,
làm đau khổ cho kẻ khác, hoặc cho chính bản thân. Chính Tinh
Tiến (Samyagvàhàmah), khai trừ khỏi tâm thức những ý nghĩ
xấu, những hành động xấu, luôn luôn nghĩ, nói, và làm những
việc tốt lành. Chính Mệnh (Samyagàjivàh), sự mưu sinh một
cách chính đáng, không gây phiền nhiễu hoặc vi phạm đến
quyền lợi của những người khác, với ý định cạnh tranh
bất chính, trong những mưu mô gây trợ duyên cho các điều
kiện sát hại sinh linh, như: nghề bán khí giới, thuốc nổ,
làm đồ tể v.v… Chính Niệm (Samyaksmrtih), là sự phản tỉnh,
sự nuôi dưỡng thường xuyên một ý thức tốt đẹp, nỗ
lực tiêu diệt khổ đau. Chính Ðịnh (Samyaksmàdhih) sự lắng
đọng tâm tư để được yên tĩnh, trong sáng; nhằm tập trung
các sức mạnh vĩ đại bắt nguồn từ vô thức, hay từ tiềm
thức để đưa vào ý thức và làm bừng nở các năng khiếu
siêu việt, sáng tạo, hòng cởi mở các vòng dây sinh tử,
khổ đau triền miên, tức là GIẢI THOÁT.
Ta
thấy “Bát Chính Ðạo” bắt đầu bằng Chính Kiến, Chính
Tư Duy để kết thúc bằng Chính Ðịnh, Như vậy là yếu tố
tinh thần quyết định đầu tiên. Ta cũng nên nhớ rằng đấy
là một sự mới mẻ mà từ trước ở Ấn Ðộ, chưa có.
Các giáo phái đương thời, kể cả các nguồn tư tưởng cổ
sơ chỉ mới chú trọng đến các vấn đề đạo đức, thúc
liễm thân tâm, phần lớn gần như toàn vẹn thuộc về vật
chất, hoặc có khuynh hướng vật chất mà thôi, các gian đoạn
Phệ Ðà, Phạm Thư và Áo Nghĩa Thư chỉ là những sự mua
chuộc, đe doạ và cưỡng bức con người, bắt con người
phải phục tòng vào một Ðấng Vô Hình, qua các hình thức
thuần túy duy vật, như tu ép xác, hoặc cúng tế các thần
thánh bằng những lễ vật cụ thể. Ðạo đức của xã hội
đương thời là tận tụy lễ bái, phục vụ thần linh. Ðạo
Phật, trái lại, bắt nguồn từ ý thức trước, ý thức đi
trước hành động, thanh lọc ý thức là thanh lọc hành động.
Ðạo đức, theo quan niệm đạo Phật, là trọng đức thanh
khiết để đừng dồn ép con người sa ngã vào vòng danh, lợi
và những tham vọng thấp hèn. Nói thế không có nghĩa đạo
Phật bỏ quên các yếu tố vật chất phục vụ nhân sinh;
nhưng không đặt nặng phần vật chất hơn tinh thần để
con người phải nô lệ vì nó.
Chính
vì vậy mà ta thấy đạo Phật là trung tâm phát huy đầu tiên
ở Ấn Ðộ một tinh thần mới, một nghệ thuật sống rất
cao đẹp, mang một yếu tính giáo dục thanh nhã, dưới hình
thức các dụ ngôn bóng bảy đầy hiệu năng. Kinh Bách Dụ
là kho tàng của loại này. Duyệt xét lại kho tàng văn hóa
cổ Ấn Ðộ chúng ta thấy - trừ đạo Phật – các kinh điển
của các pháp gia, đạo giáo đều chỉ ghi chép một cách trực
tả mà thôi. Ðó là một sự nghèo nàn về kỹ thuật khai
hóa.
Bát
Chính Ðạo đã mở ra cho ta con đường “Trung Ðạo” rất
rộng rãi làm mờ át các con đường nhỏ hẹp của các đạo
giáo hiện hữu. Nó mang tính cách toàn diện và phổ cập tính.
Do đó, Bát Chính Ðạo vừa giải quyết được các vấn đề
thuộc cá nhân lẫn cộng đồng xã hội. Chính vì vậy mà
đức Phật, lần chuyển pháp luân đầu tiên, được các bậc
thạc đức đương thời có trực giác cho rằng Bát Chính Ðạo
là một giải pháp thực tế hữu hiệu nhất để cải hóa
con người, xây dựng xã hội.
Ðạo
Phật gạt bỏ những gì là cực đoan, tệ đoan, trục lợi,
ích kỷ. Hay nói cách khác, về mặt hình nhi hạ, đạo Phật
xây dựng Một xã hội người văn minh, giác ngộ và giải
thoát bằng con đường Bát Chính Ðạo, nhằm đưa con người
vượt lên cao để không còn đắm chìm vào vật chất và khỏi
là tù nhân cho xã hội, và bị cuốn theo các sự tranh chấp
thấp hèn, chỉ gây ra đau khổ mà thôi; về mặt hình nhi thượng,
triết lý đạo Phật là nguồn giải thích, cắt nghĩa hiện
tượng siêu hình xuất thế một cách sáng bén. Ðó là hệ
thống “Thập Nhị Nhân Duyên = Dvàdasãngah pratityasamutpàdah”[3].
Thập
Nhị Nhân Duyên là: Vô Minh, Hành, Thức, Danh Sắc, Lục Nhập,
Xúc, Thụ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, Lão Tử. Nếu đi từ trên xuống
dưới thì ta thấy Thập Nhị Nhân Duyên sẽ là kết thúc bằng
cái chết. Ðó là hậu quả của Nghiệp (Karma). Mà khởi điểm
của Nghiệp là Vô Minh (Avidyà), nên phải kết thúc bằng cái
chết. Nhưng nếu đi ngược lại từ dưới lên trên, tức
là muốn thoát Sinh thì phải cắt đứt Hữu, Thủ, Ái… để
tiến lên đến đỉnh chót cây thang Thập Nhị Nhân Duyên là
thoát khỏi Vô Minh (giải thoát) tức đã đạt được trạng
thái Chân Lý, không còn bị vướng mắc vào vòng nghiệp quả
tương đối vay, trả, lặn hụp trong giòng thác lũ sinh tử.
Thập
Nhị Nhân Duyên là một hệ thống luân lý có thể tính ngược
hay xuôi, có thể tính toàn chuỗi hay phần lẻ (từng đoạn)
để tùy nghi áp dụng vào mỗi trường hợp; nó có thể giải
thích được các sự vụ về tâm linh, tình cảm, lý trí, hành
động, hữu hình hay vô hình của mỗi cá nhân hay đoàn thể,
đã tiến hóa hoặc chưa tiến hóa, và ngay cả hoàn cảnh thụt
lùi nhanh hoặc chậm nữa. Các bài toán thuộc về cá nhân,
gia đình xã hội về kinh tế, chính trị, khoa học v.v… đều
có thể giải thích qua công thức Thập Nhị Nhân Duyên.
Ðặc
biệt là vào thời đại thánh kinh Áo Nghĩa Thư của Ấn Ðộ,
tình trạng tâm linh con người rất đen tối, sự xáo trộn
về trật tự gia đình, xã hội, tín ngưỡng, đã bộc phát
một cách mãnh liệt ở ngay nội tâm và ngoại giới, gây ra
một chuỗi dây chuyền tác hưởng lẫn nhau. Con người lúc
ấy chỉ còn là nạn nhân của các thánh kinh và các đạo
giáo… Chính vì sự (có thể) áp dụng được một cách rộng
rãi “Pháp”[4] của đức Phật mà người Ấn Ðộ thời
thượng - từ các vị tổ sư ngoại đạo, vua chúa, phú gia
đến bình dân - đều ngưỡng mộ, tin theo và thực hành.
Thập
Nhị Nhân Duyên bác bỏ các yếu tố thần quyền can thiệp
vào các sự việc ở trần gian, đặc các vị thần linh bình
đẳng với con người, trên phương tiện luân lý và nhân quả
biện chứng.
Như
trên, cho ta thấy, pháp của đức Phật hẳn nhiên đã là Nguồn
Sống của mọi sự sống, và là Tình Thương, Ánh Sáng và
Niềm Tin là nở hao cuộc đời…
-
Một Nguồn Giáo Lý Nhân Bản Toàn Diện.
Kết
Tập Kinh Ðiển
Sau
khi đức Phật niết bàn (Nirvàna) được vài tuần[5], các
bậc trưởng lão A La Hán; chừng độ 500 vị tự động hội
họp nhau lại ở xứ Magadha (Ấn Ðộ); đồng thời suy tôn
đức Ma Ha Ca Diếp (Maha Kasyapa) làm Thượng thủ. Ngài Upali
là bậc trưởng lão uyên thâm giới luật thì trùng tuyên Luật
Tạng mà khi xưa đức Phật chế ra để răn dạy hàng thất
chúng đệ tử[6]. Còn ngài Ananda, bậc đa văn đệ nhất và
là người hầu cận (thị giả) đức Phật suốt 25 năm, có
nhiệm vụ thuyết trình về Kinh Tạng. Tôn giả Purna lĩnh trách
nhiệm trùng tụng về Luận Tạng. Kỳ kết tập này kéo dài
đúng 7 tháng thì hoàn thành. Tuy nhiên, thuở ấy vẫn chưa
chép Tam Tạng, chỉ mới có tính cách ôn lại những lời vàng
của đức Phật.
Cuộc
đại hội được mệnh danh là: “Ðại Hội Kết Tập Kỳ
Nhất”.
Cách
Phật nhập diệt khoảng 100 năm, tăng chúng thành Vesàli và
Vajji (Ấn Ðộ), vì có sự bất động ý kiến về những điều
trong Luật Tạng; đấy là nguyên nhân chính cho sự phân phái
sau này:
Trong
kinh Ðại Niết Bàn chép, đức Phật cho phép: “Nếu chư tăng
đồng ý cùng nhau, là thấy điều nào ít quan trọng, mặc
dầu Như Lai đã chế định, nhưng sau chư tăng xét rằng không
có thể thụ trì được nữa thì được phép sửa chữa”.
Căn cứ vào điều dạy này, một nhóm các thầy tỳ khưu do
Ðại đức Vajjiputra đứng đầu trong nhóm, căn bản:
Không
được trữ thức ăn từ ngày này qua ngày khác.
Phải
ăn đúng ngọ.
Ăn
rồi, đã đứng dậy, không được ngồi lại ăn nữa.
Khi
đi qua các làng mạc, có người dâng cúng các thứ vật dụng,
nếu ăn rồi không được nhận mà có nhận, phải đem cho
kẻ khó.
Quá
trưa, thì không dùng gì cả, dù là sữa hay mật ong cũng vậy.
Không
được uống rượu.
Chăn,
màn phải có kích thước nhất định, không được hẹp quá
hay rộng quá.
Ðã
xuất gia, không được đàm thoại đến những việc thế tục.
Khi
ban bố điều gì, phải được sự thỏa thuận của toàn thể
Tăng mới được thi hành.
Không
được trữ tiền bạc.[7]
Nhưng,
một nhóm khác, do các Ngài Ðại đức Yasas, Acarya, Sabbakami
và Revata lãnh đạo gồm 1.200 vị hiện diện, trong đó có
700 bậc trưởng lão xuất sắc cùng họp nhau ở thành Vaisali
để nghị định về mười điều của nhóm Vajjiputra đã cải
cách, và tất cả các vị này đều không chấp thuận. Vì,
kỳ Ðại Hội Kết Tập lần thứ nhất có đầy đủ các
vị thánh tăng, đã quyết định: “Tuy đức Thế Tôn đã
di huấn, song cũng chẳng nên sửa đổi cho sai điều luật
của Ngài đã truyền răn”.
Mặc
cho sự phản đối, nhưng ngài Vajjiputra vẫn một mực thi hành
những điều luật do nhóm đã tu chỉnh. Ðằng khác, ngài Yasas
thì nhất quyết giữ theo mười điều luật đã được các
vị thánh tăng nghị quyết, nên mới có sự chia ra hai phái:
Phái
do đại đức Yasas giữ giới luật như cũ, gọi là phái Nguyên
thủy hay Thượng tọa bộ (Thevavadins).
Phái
đại đức Vajjiputra giữ theo mười điều luật do Ðại chúng
đã tu chỉnh, tức là phái Tiến thủ, nên cũng gọi là Ðại
chúng bộ (Mahasanghikas).
Thế
là từ đấy đạo Phật chia ra hai phái rõ rệt: Hai phái này
làm cội rễ cho hai mươi bộ phái[8] sau này thành lập.
Như
ta đã hiểu kỳ Ðại Hội Kết Tập thứ nhất tại Ràjagriha
và lần thứ nhì tại Vesàli, chỉ mới trùng tụng Phật ngôn,
chứ chưa chép thành kinh điển gì cả. Kết quả “Ðại Hội
Kết Tập Kỳ II” chỉ mới giải quyết những nghi vấn trong
giới luật mà thôi.
Thuở
đạo Phật được 218 năm, Asoka (A Dục), vị vua anh hùng trị
vì toàn cõi Ấn Ðộ, đã làm cho đạo Phật sáng tỏ! Sự
nghiệp của hoàng đế Asoka có ba việc lớn đáng kể:
Lập
đại hội kết tập Tam Tạng Thánh Ðiển.
Tạo
Phật Tháp.
Ký
hiệp ước 5 năm ở Cận Ðông để truyền bá Chính Pháp.
Trong
Ðại Tạng Luật có ghi: “Khi bọn ngoại đạo thấy chư tăng
được nhà vua kính trọng, bọn họ lại giả dối len lỏi
vào hàng ngũ Giáo Hội Tăng Già để âm mưu gây rối nội
bộ, phá hoại Phật giáo, làm giảm uy tín các vị chân tu
thực học…”
Việc
xảy ra đến tai hoàng đế Asoka, Vua ra chiếu truyền cho mở
cuộc khảo hạch về giáo lý nếu vị Tỳ khưu nào đáp không
thông, phải trục xuất khỏi giáo hội. Qua một thời kỳ
chọn lọc, trong giáo hội chỉ còn lại những cao tăng tài
đức. Ðồng thời, hoàng đế Asoka còn cho triệu tập các
vị đại đức lại để kết tập kinh điển một lần nữa
tại thành Pataliputra, tức Bihar và Patna ngày nay, do ngài Moggaliputratissa,
là bậc chứng ngộ đệ nhất, thuộc lòng Tam Tạng, được
bầu làm chủ tịch. Hội thánh kỳ này gọi là “Ðại Hội
Kết Tập Kỳ III”
Truyền
rằng với kỳ kết tập này gồm có 1.000 vị đại trưởng
lão chọn lọc và kéo dài trong vòng 9 tháng. Về ngôn ngữ
thì vẫn dùng tiếng Magadha (Pali) như hai kỳ kết tập lần
trước. Nhưng có phần kết quả rực rỡ và rất long trọng.
Trải
qua ba thời kỳ ấy, nghĩa là cách 433 năm sau Phật nhập diệt,
vua Kaniska, noi gương hoàng đế Asoka, lập hội kết tập Tam
Tạng tại Malayajanapada (Tích Lan) cho chư tăng hợp nhất, nhưng
không kết quả. Chư tăng giữa hai phái vẫn duy trì theo truyền
thống riêng. Vua Kaniska liền cho phép phái Bắc hội tại thành
Purusapuri, dùng tiếng bắc Phạm (Sanskrit) để kết tập, cho
nên mới có Tam Tạng bằng tiếng Sanskrit. Còn phái Nam thì
vẫn giữ như xưa là dùng tiếng Pali để kết tập. Kỳ kết
tập này gọi là “Ðại Hội Kết Tập Kỳ IV”.
Cách
hai nghìn bốn trăm mười bốn năm (2.414) sau Phật niết bàn,
Myanmar (Miến Ðiện) cũng triệu tập một đại hội kết tập
kinh điển, nên kỳ kết tập một đại hội kết tập kinh
điển, nên kỳ kết tập này gọi là “Ðại Hội Kết Tập
Kỳ V”.
Và,
cách Phật nhập diệt 2.498 năm, tại Miến Ðiện, một Ðại
Hội Kết Tập Kỳ VI được long trọng khai mạc ngày 21.5.1954
đến ngày 25.5.1956 tại thạch động Maha Pasana Guha, cách kinh
đô Rangoon mười hai cây số. Kỳ kết tập này cả thảy có
2.500 vị tỳ khưu của hầu hết các quốc gia Phật giáo tham
dự, như: Myanmar, Sri Lanka, India, Thailand, Laos, Kampuchia, Tibet,
Chine, Japan, Việt Nam v.v…, đặt dưới sự chủ tọa của
đức Tăng thống Phật giáo Myanmar.
Thể
thức kết tập theo như kỳ nhất, ngoài vị chủ tọa có hai
vị Thượng tọa “vấn đáp” tất cả tiết mục trong các
Kinh, Luật, Luận.
“Một
vị Sư đọc từng điều luật hoặc pháp môn, trong khi ấy
những vị khác cầm bản thảo đã kiểm duyệt rồi, vị chất
vấn đứng lên hỏi; vị phúc đáp phải trả lời ngay khi
đó. Các vị thượng tọa này thuộc nằm lòng và thông hiểu
từng chi tiết ba tạng Kinh, Luật, Luận, không thể tưởng
tượng được”[9].
Ðại
Hội Kết Tập kỳ này được mệnh danh là “Kỳ kết tập
thứ VI của lịch sử truyền bá Phật giáo”[10], và chắc
chắn sẽ còn có những kỳ Ðại Hội Kết Tập khác nữa.
(Ðược biết, kỳ kết tập này do chứng thư số 56 (1950)
của chính phủ Miến Ðiện, và chư tăng Phật giáo Miến Ðiện
cùng hợp lực tổ chức, sự tổn phí trên 3.500 triệu bạc
Việt Nam).
Ðó
là một công trình đáng ghi nhớ cho toàn thể Phật giáo Thế
giới vậy.
Ba
Tạng Thánh Giáo
Trong
5 thời thuyết giáo[11] hơn 45 năm trường nói pháp, đức Phật
đã để lại những gì? Sự thật như ta đã thấy: khi Phật
ở đời chỉ là tùy bệnh cho thuốc, tùy cơ nói pháp chứ
không dùng đến kinh sách. Ðức Phật dạy: “Ta nói pháp 45
năm, nhưng thực ra chưa từng viết một chữ”[12], vì tránh
sự hiểu lầm cho chúng sinh, vì e rằng: chúng sinh phần nhiều
hay cố chấp trong những lời nói, câu văn, mà phải xa đạo!
Ðức Phật chỉ trực tiếp giáo hóa, chứ (tuyệt nhiên) không
dùng đến văn tự biên chép gì cả. Mãi về sau, khi đức
Phật nhập diệt rồi, vì sợ thất truyền… nên các đệ
tử mới họp nhau lại để ghi chép những lời vàng giáo huấn
của Phật làm thành Ba Tạng Thánh Giáo (cũng gọi là Nhất
Thiết Kinh hay Ðại Tạng Kinh). Nghĩa là, tổng quát cả toàn
bộ giáo điển đạo Phật, trong đó gồm có hai thể văn:
Pali và Sanskrit (Phạm).
“Các
kinh điển thuộc văn hệ Pali, khi truyền bá qua Nam phương,
lấy đảo Tích Lan làm trung tâm điểm, và qua Miến Ðiện,
Thái Lan, Ai Lao v.v… gọi là Nam Phương Phật Giáo.
“Kinh
điển thuộc văn hệ chữa Phạm, thì truyền bá qua Bắc phương,
lấy trung Ấn Ðộ (hiện nay là lãnh thổ Népal), Tây Tạng,
và các nước ở Ấn Ðộ, Trung Hoa làm trung tâm điểm, rồi
truyền lần đến các nước Cao Li, Nhật Bản, Việt Nam, v.v…
gọi là Bắc Phương Phật Giáo.
“Sở
dĩ gọi Nam Phương Phật Giáo, Bắc Phương Phật Giáo, là theo
địa lý mà nói, chứ không có ý nghĩa là vạch chia Nam Phương
là Tiểu Thừa, Bắc Phương là Ðại Thừa. Chẳng qua là Phật
giáo ở Bắc phương phần nhiều đi về lối tung hoành phát
triển, mà Nam phương đi về lối nguyên thủy của Phật giáo
- tức là Phật giáo lúc ban đầu. Cũng vì trong các thời kỳ
kết tập, dùng lời nói, câu văn không giống nhau, và lối
truyền bá ra các nơi khác nhau, nên đối với kinh điển kết
tập của hai bên hoặc cũng có chỗ dị đồng – tuy chỗ
nghĩa lý cốt yếu thì vẫn in nhau” – Trích Phật Giáo Khái
Luận, bản dịch của Thích Mật Thể, trang 11 – 12.
Như
chúng ta biết: Ðạo Phật là một đạo Giác Ngộ, mà giáo
lý của đạo Phật là NHƯ THẬT.
Phần
tinh ba của giáo lý ấy được xây dựng trên hai tiêu chuẩn:
Từ Bi và Trí Tuệ - một nguồn Ðạo uyên thâm, rất sống
và rất sáng, do đức Giáo chủ Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng,
cách nay trên hai thiên niên kỷ.
Những
lời vàng ngọc giáo huấn của đức Phật sau này được các
đệ tử ghi chép thành Ba Tạng Thánh Ðiển:
KINH
(Sutram), là chép những lời thuyết pháp của đức Phật về
những giáo lý căn bản, như: Tứ Diệu Ðế, Chân Như, Niết
Bàn, Phật Tính, luật Nhân Quả, Luân Hồi, Nghiệp Báo… của
chúng sinh trong ba cõi sáu đường, cùng những sự tu chứng
của chư Phật, Bồ Tát ở quá khứ, hiện tại và vị lai,
tức thuyết minh về nguyên lý Phật học, gồm Giáo, Lý, Hành,
Quả[13], đúng chân lý, khế hợp với căn cơ, trình độ của
mọi lớp người và mọi trào lưu tư tưởng thời đại.
LUẬT
(Vingayah), là trình bày những nghi thức, phương pháp, giới
luật do đức Phật chế định, nhằm hướng dẫn sự tu trì
cho các đệ tử y vào đó mà thực hành. Mà căn bản của
giới luật là:
Chấm
dứt mọi việc ác,
Nguyện
làm các việc lành,
Trong
sạch ý nghĩ, lời nói và hành động.
Luật
Thiện Kiến ghi: “Luật Tạng được coi như sinh mệnh của
Phật Pháp”.
LUẬN
(Abhidharma, hay Prajna paramita), là những tác phẩm văn chương
nghị luận do các Bồ tát, Thánh tăng trứ tác, biện giải
mọi lẽ chính tà, chân vọng, là những đạo lý nghiên cứu
về sự vật, nêu rõ Tính, Tướng[14] của các Pháp, cốt làm
hiển lộ nghĩa lý sâu xa mầu nhiệm của Kinh và Luật.
Kho
tàng Luận học rất lớn, do sự đóng góp của các triết
gia, học giả Phật tử, qua từng thời đại, khiến cho Tạng
Luận vốn dĩ đã giàu có đồ sộ lại càng thêm phong phú,
sáng, đẹp.
Và,
dưới đây, ta hãy tìm về nguồn gốc Ðại Tạng Kinh căn
bản được ghi chép bằng Phạm ngữ, văn thể Pali và Sanskrit.
Kinh
Tạng Pali (Suttapitaka) gồm có:
Luật
Tạng Vinayapitakam:
-
Parajika (Patimokha):
Căc Bản Giới.
-
Pacithiya (Suttavibhanga):
Tiểu Giới (3 quyển).
-
Parivara:
Phương Pháp Yết Ma và Truyền Giới.
-
Mahavagga:
Ðại Phẩm.
-
Cullagga:
Tiểu Phẩm.
Kinh
Tạng Suttapitaka:
- Digha
Nikàya:
Trường A Hàm.
-
Majjhima Nikàyà:
Trung A Hàm.
-
Samyutta Nikàya:
Tạp A Hàm.
-
Ànguttara Nikàya:
Tăng Nhất A Hàm.
-
Khudhaka Nikàya:
Tiểu A Hàm.
Trong
Khudhaka Nikàya có 15 quyển nhỏ:
Kệ
và văn tuyển
- Niddesa:
Nghĩa Thích.
-
Sutta Nipàta:
Kinh Tập.
-
Therègàthà:
Trưởng Lão Kệ.
-
Theragatha:
Trưỡng Lão Ni Kệ.
-
Udàna:
Tự Thuyết.
-
Dhammapada:
Pháp Cú Kinh.
-
Khuddakapàtha:
Tiểu Bộ Kinh.
-
Itivuttaka:
Như Thị Ngữ.
Loại
truyện toàn thân
- Nimànavatthu:
Thiên Cung sự.
-
Peta vatthu:
Ngã Quỉ Sự.
-
Jàtaka:
Bản Sinh.
-
Apadàna:
Thí Dụ.
-
Patisambhidàmagga:
Vô Ngại Giải Ðạo.
-
Cariyàtaka:
Sở Hành Tạng.
-
Buđhavamsa:
Phật Sự.
Luận
Tạng Abhidhammapitaka:
- Dhammasangani:
Pháp Tụ.
-
Vibhang:
Phân Biệt.
-
Dhàtukatha:
Giới Thuyết.
-
Puggalapannatti:
Nhân Thi Thiết.
-
Kathàvathu:
Biện Giải.
-
Yamaka:
Song Luận.
-
Patthàna:
Phát Thú.
Ngoài
Tam Tạng (Tripitaka) còn có các thánh điển trọng yếu:
- Dipavamsa:
Ðảo Sử (..?.)
-
Mahàvamsa:
Ðại Sử.
-
Cùlavamsa:
Tiểu Sử.
-
Visuddhimgga:
Thanh Tịnh Ðạo Luận.
-
Milindapanha:
Na Tiên Kinh.
-
Abhihammatthasangaha:
A Tì Ðạt Ma Nghĩa Luận.
Tam
Tạng Sanskrit gồm có:
Kinh
Tạng Sùtrapitakam:
- Sad
dharmapundarikam:
Diệu Pháp Liên Hoa.
-
Avatamsaka:
Hoa Nghiêm.
-
Prajãnapàramità:
Bát Nhã.
-
Lalikavistara:
Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm.
-
Suramgama:
Lăng Nghiêm.
-
Lankàvatàra:
Lăng Già.
-
Gandavjuhattathagathagunajnana: Viên
Giác.
-
Maharatnakuta:
Ðại Bảo Tích.
-
Samàdhiraja:
Tam Muội.
-
Da’sabhumis’varà:
Vô Lượng Thọ.
-
Vajirasuci:
Kim Cương.
-
Mahaparinibbana:
Ðại Niết Bàn v.v…
Luật
Tạng Vinayapitakam:
- Pràtimoksa:
Ðại Giới Bản.
-
Bodhisatvacaryànirdesa:
Bồ Tát Giới v.v…
Luận
Tạng Abhidhammapitakam:
- Prajnãparamitacastra:
Bát Nhã.
-
Mahàyãnasamparigraha:
Nhiếp Ðại Thừa.
-
Madhyamikacastra:
Tam Luận Tông.
-
Yogacaryàbhũmicastra:
Du Già Sư Ðịa.
-
Da’sabhũmikasũtrasãstra:
Thập Ðịa Kinh.
-
Abhidharmakosa:
Câu Xá.
-
Satyasiddhi:
Thành Thật.
-
Vaibhasika:
Tỳ Bà Sa.
-
Abhidharmahridaya:
A Tỳ Ðàm.
-
Dharmaskanda:
Pháp Uẩn Túc.
-
Àlambanapariksẽcastra:
Quán Sở Duyên Duyên.
-
Mahayanas’raddhoipada: Ðại
Thừa Khởi Tín.
-
Vijnãptimutratasid dhi:
Thành Duy Thức v.v…[15]
Kinh
điển đạo Phật như ta được biết – ngoài Tạng nguyên
bản ghi chép bằng hai thể văn Pali và Sanskrit -, hiện nay các
quốc gia, như: Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng, Tích Lan, Miến
Ðiện, Thái Lan, Ðức, Anh, Pháp, Mỹ, Liên Bang Nga, v.v… cũng
đã phiên dịch ra ngôn ngữ của mỗi quốc gia (hoặc dịch
trọn Tạng hay chỉ mới dịch từng phần…).
Tại
nước Việt Nam ta, đạo Phật truyền bá đến nay đã có trên
dưới XX thế kỷ thế mà cho tới ngày nay nước ta vẫn chưa
có tạng kinh bằng tiếng Việt!
Chúng
tôi đốt hương cầu nguyện Ðạo Phật Việt (sẽ) sớm có
một Ðại Tạng Kinh bằng ngôn ngữ nước mình để góp mặt
với các quốc gia Phật giáo trên thế giới, và cũng là để
xây dựng nền văn hóa dân tộc mỗi ngày thêm sáng, đẹp.
Riêng
Luận Tạng (Abhihamma pitaka) được rất nhiều học giới nghiên
cứu và thịnh hành nhất vào thế kỷ thứ II, III T.L, và qua
nhiều thế hệ tiếp nối, các học giả, văn nghệ sĩ, triết
gia Phật giáo đã đóng góp phần mình cho Luận Tạng mỗi
ngày thêm to lớn, khác nào sa mạc Sahara, tuy khô khan nhưng…
đã làm cho con người đời phải choáng ngợp, kính nể vì
cái mênh mông của nó. Những vị đại luận sư như các ngài:
Asvaghosa (Mã Minh), Vasubandhu (Thế Thân), Nãgãrjuna (Long Thọ),
Asanga (Vô Trước)… là những bậc thánh thời danh, vì chính
tên tuổi, tác phẩm của các ngài đã được các triết gia
Tây phương đặc biệt lưu tâm nghiên cứu.
Phần
tinh ba của đạo pháp đều chứa đựng trong Ba Ðại Tạng
Kinh, một nền văn hóa Nhân Bản Giác Ngộ Giải Thoát đã
hướng dẫn cho một phần ba nhân loại sống an lành, và biết
thương yêu nhau hơn.
MƯỜI
HAI BỘ KINH
Trong
Ba Tạng Kinh Ðiển của đạo Phật theo thể tài chia làm mười
hai bộ. Người Trung Hoa thường gọi Thập Nhị Phần Giáo.
Tu
Ða La (Sustram: Kinh). “Khế Kinh”: Ðức Phật thuyết pháp
dùng lối văn trường thiên cho dễ hiểu mà gọn, ta thường
gọi là tản văn hay văn xuôi, không có sự cầu kỳ hoa mỹ
như những lối văn từ phú… nhưng rất hợp thời, hợp lý,
hợp cơ.
Kỳ
Dạ (Geyam: Ứng Tụng, cũng gọi là Mỹ Âm Kinh): tổng luận,
chú thích những ý nghĩa của văn trường hàng (văn chỉnh
cú). Lối văn thuộc văn từ phú, văn biền ngẫu, có tính
cách văn chương, vì đức Phật muốn cho Chính Pháp được
truyền bá sâu rộng thì phải dùng mọi thể văn, giúp cho
đệ tử dễ ghi nhớ.
Hòa
Già La Na (Vyàkàranam: Thụ ký): Những lời truyền dạy do đức
Phật thụ ký, chứng nhận cho các vị Bồ tát, các bậc Thanh
văn, đệ tử mai sau thành Phật; và thuyết lý những việc
sẽ xảy ra…
Già
Ðà (Gàthàm: Cũng gọi là Ký Chú Kinh hay Phúng Tụng): Nghĩa
là không thuật lại văn trường hàng, mà chỉ là từng bài
kệ, tức là lối văn thi ca để nói riêng cho mỗi bộ kinh.
Ưu
Ðà La (Udànam: Tán Thán Kinh, cũng gọi là Tự Thuyết): Những
kinh do đức Phật dùng trí tuệ xem xét căn cơ chúng sinh rồi
tự nói ra các Pháp, không phải đợi có người thưa thỉnh,
yêu cầu mới nói.
Ni
Ðà Na (Nidàna: Quảng Thuyết Kinh cũng gọi là Nhân Duyên):
Những kinh văn nói về nhân duyên khi đức Phật thuyết pháp
và người nghe pháp, hoặc nói rõ những nơi có nhân duyên
mà Ngài đến hóa độ. Những kinh văn do đức Phật dạy về
“lý căn hội duyên”, khởi điểm của vũ trụ vạn hữu,
thuyết lý Nhân Duyên Sinh.
A Ba
Ðà Nà (Avadanam: Diễn Thuyết Giải Ngộ Kinh, cũng gọi là
Thí Dụ): Những pháp của Phật nói rất mầu nhiệm, người
căn cơ thấp kém khó có thể lĩnh hội, nên đức Phật cần
phải lấy sự vật hiện hữu làm tỉ dụ, chứng minh cho đạo
lý cao siêu để chúng sinh dễ hiểu. Những lời ví dụ tượng
trưng bát ngát trong các kinh điển đạo Phật.
Y Ðế
Mục Ða Gia (Itivrttakam: Như Thị Pháp Hiện Kinh cũng gọi là
Bản Sự): Những thuyết giáo của đức Phật nói về sự
tu nhân chứng quả của các vị Bồ tát, đệ tử trong các
đời quá khứ, vị lai.
Xà
Ðà Gia (Jatakam: Ðản Sinh Kinh hay gọi là Bản Sinh): Lời đức
Phật nhắc lại những công hạnh tu chứng ở đời quá khứ
của các đức Phật, Bồ tát.
Tỳ
Phật Lược (Vaipulyam: Quảng Ðại Kinh, cũng gọi là Phương
Quảng): Những Kinh, cũng gọi là Phương Quảng): Những kinh
điển thuộc Ðại Thừa Phương Quảng, với nghĩa lý rộng
lớn cao thượng và thâm thúy.
A Phù
Ðà Ðạt Ma (Addhutadharmah: Hy Pháp, cũng gọi là Vị Tằng Hữu):
Những kinh điển nói về thần lực của chư Phật thị hiện,
cùng những việc bất khả tư nghị trong những nơi nói pháp
và những cảnh giới kỳ diệu, hy hữu mà trí người phàm
không thể hiểu.
Ưu
Ba Ðề Xá (Upad’sah: Cận Sự Thỉnh Vấn Kinh cũng gọi là
Luận Nghị): Những lời văn có tính cách vấn đáp và biện
luận cho rõ các lẽ tà, chính, nghĩa là, giữa đức Phật
và các đệ tử đàm luận đạo lý bằng cách tranh luận,
giải thích từng giảng mục.
Tuy
chia ra 12 phần giáo, 3 loại trên là thể tài chính của các
Kinh; còn 9 loại sau chẳng qua theo các điều kiện chép ở
trong Kinh, lập ra.
Trong
12 phần giáo nói trên không phải Kinh nào cũng có đủ cả,
có Kinh chỉ có 5, 6 phần, ấy là tùy theo cơ duyên mà đức
Phật nói pháp có sai khác. Nhưng trong tất cả Kinh, không nhiều
thì ít, đều có ghi chép mọi kinh nghiệm về giáo lý cũng
như công hạnh tu chứng của các đức Phật và đệ tử…
ÐẠI
THỪA, TIỂU THỪA.
Ðạo
Phật bao giờ cũng chủ trương chỉ có pháp Nhất Thừa.
Trong
kinh Pháp Hoa (Saddhama – pudarikam) ghi:
“Khắp
mười phương các đức Phật, chỉ có pháp Nhất Thừa (Ekayànam),
không hai, cũng không ba; trừ khi đức Phật phương tiện nói:
“Thập phương Phật độ trung, duy hữu nhất Phật thừa,
vô nhị diệt vô tam, trừ Phật phương tiện thuyết.”
Ðức
Phật ra đời thuyết pháp ý chính là dạy cho chúng sinh Pháp
NHẤT THỪA. Nhưng vì căn cơ của chúng sinh có cao, thấp bởi
tư tưởng không đồng: nên giáo lý của Phật cũng theo đó
chia ra Ðại Thừa, Tiểu Thừa.
Kinh
Lăng Già (Lankàvatàra sutra) chép:
“Ðại
Thừa và Tiểu Thừa đều tùy tâm lượng chúng sinh mà đặt
tên vậy”.
Chữ
Thừa (Thặng): nghĩa là cổ xe để chuyên chở người ta từ
nơi này qua nơi khác. Giáo lý Phật Ðà có đủ công năng,
phương pháp dắt đường chỉ lối và chuyên chở chúng sinh
từ bến mê mờ lầm lạc tiến lên bờ giác, không còn bị
đắm chìm trong biển luân hồi sinh tử. Và, vì sự tu chứng
có khác nhau, nên đức Phật đã phương tiện đặt ra năm
thừa để hóa độ chúng sinh. Những gì gọi là Năm Thừa?
Nhân
Thừa
Thiên
Thừa
Thanh
Văn Thừa
Duyên
Giác Thừa
Bồ
Tát Thừa.
Như
trên đã nói, đấy chẳng qua vì căn tính chúng sinh không đồng,
nên đức Phật mới phương tiện nói Pháp năm thừa để tùy
cơ hóa độ chứ thực ra duy chỉ có NHẤT PHẬT THỪA .
Nói
về Tiểu Thừa (Hirayana) là những hàng đệ tử tu theo lối
“tự lợi”, mong cầu sự giải thoát trong phạm vi các nhân,
ví như cỗ xe nhỏ, sức vận tải được ít… và như vậy,
chưa thể phá trừ được “pháp chấp” (chấp vạn vật
là thực tại tuy có sai khác nhưng “pháp thể thường có”)
nên chỉ mới trừ được “ngã chấp” (cái chấp có “ta”),
bởi giới luật và cách tu của Tiểu Thừa giáo hãy còn nệ
vào hình thức (phạm vi tu trì) nên sự tu chứng cũng rất
hạn hẹp, cùng tột là chứng thành quả A La Hán; trái lại,
những người tu theo pháp môn Ðại Thừa (mahanaya) thì lại
căn cứ vào sự hiểu, làm, và thể chứng. Tuy cũng căn cứ
vào giới luật tu trì, nhưng đó chỉ là phương tiện nhằm
đạt đạo quả: tối cao Phật Ðà. Khi đã giác ngộ, không
còn câu nệ ở hình thức nữa, mà chỉ trực giác sự vật
bằng những điều mình đã chứng ngộ sự thật, đồng thời
giác ngộ mọi người, họ có tâm lượng rộng lớn bao trùm
cả thái hư, nên thường lấy việc “lợi tha” làm nhiệm
vụ chính (như đức Phật THÍCH CA tu khổ hạnh để tìm chân
lý, thấy chân lý, Phật không cần tu nữa mà chỉ cần trực
tiếp giáo hóa chúng sinh), bởi họ không còn “chấp ngã”,
“chấp pháp”. Quyền Ðại Thừa giáo (chưa hoàn toàn là
Ðại Thừa) thì nói rằng “Vạn vật sinh ra đều bởi Tâm[16],
vạn tượng trong vũ trụ đều do Tâm phát hiện”. Nên lối
kiến giải là “Ngoài Tâm không Pháp, ngoài Pháp không Tâm”.
Giáo
pháp Ðại Thừa chủ trương thuyết “không phải có, không
phải không” không phải hai (Advaya) tức là không Nhất Nguyên,
không Nhị Nguyên như triết học thuần lý chủ trương, cũng
không như cái “có” của Tiểu Thừa quan niệm, lại không
như cái “không” của Quyền Giáo Ðại Thừa. Ðó mới thực
đúng với chân lý của các pháp, vì đã vượt ra ngoài những
gì khuôn khổ nhất, cũng ví như cỗ xe lớn, sức chuyên chở
được rất nhiều… Luật phái này rộng rãi hơn, không câu
nệ, cố chấp, hẹp hòi…
Như
trên, cho ta thấy, một bên trọng hình thức, một bên trọng
tinh thần, thế tất nhiên tư tưởng không đồng, vì một
cớ rất dễ hiểu là: các bậc Trưởng Lão và Ðại Chúng
Bộ, do sự bất đồng về 10 điều luật, đã mở màn cho
cuộc phân chia thành hai phái: Ðại Thừa - Tiểu Thừa. Cuộc
phân chia này xảy ra ngay giữa thời kỳ Ðại Hội Kết Tập
Kinh Tạng kỳ II…
Nói
về giáo nghĩa, Ðại Thừa và Tiểu Thừa đều có Kinh, Luật,
Luận.
Những
kinh điển của Ðại Thừa cũng gọi là Bồ Tát Tạng (Bodhisattavapitakam).
Kinh như: HOA NGHIÊM, BÁT NHÃ, PHÁP HOA v.v… Luật có PHẠM VÕNG,
ÐẠI THỪA GIỚI KINH… Luận với những bộ A TỲ ÐẠT MA,
KHỞI TÍN, ÐẠI TRÍ ÐỘ, THÀNH DUY THỨC và NHÂN MINH…
- Những
kinh điển về Tiểu Thừa gọi là Thanh Văn Tạng (Sràvakapitakam).
Kinh như: TRƯỜNG A HÀM, TĂNG NHẤT A HÀM… Luật: TỨ PHẦN,
THẬP TỤNG… Luận có: CÂU XÁ và THÀNH THẬT…
Sở
dĩ có sự phân chia Ðại Thừa, Tiểu Thừa là do tâm lượng
chúng sinh có sai khác, nên giáo lý của Phật cũng tùy duyên
chia ra có rộng hẹp, cao thấp… nên sự tu chứng cũng do đấy
mà có sự khác biệt. Tuy nhiên, chân lý thì đồng nhất bất
biến. Tiểu Thừa cùng cực chỉ đạt đến quả vị A La Hán.
Còn Ðại Thừa thì tu lên mãi cho đến bao giờ chứng ngộ
quả vị tối cao: PHẬT ÐÀ.
Trong
kinh điển đạo Phật có chỗ gọi Nhị Thừa giáo tức chỉ
cho Thanh Văn và Duyên Giác. Song Thanh Văn lại chia làm 4 quả
vị:
Tư
Ðà Hoàn (Srotàpanma)
Tu
Ðà Hàm (Sakrdàgami)
A
Na Hàm (Arigami)
A
La Hán (Arahat)
Duyên
Giác duy chỉ có một quả vị: Thanh Văn hay là Tích Chi Phật.
- Những
người thực hành “Tam Qui”[17], Ngũ Giới[18], gọi là Nhân
Thừa.
- Những
người tu theo pháp “Thập Thiện”[19], gọi là Thiên Thừa.
- Những
người trực tiếp hay gián tiếp nghe Phật thuyết pháp, hoặc
học theo giáo lý “Tứ Diệu Ðế”[20] mà tu hành chứng ngộ,
gọi là Thanh Văn (Sràvaka).
- Những
người tự mình có đủ trí tuệ hoặc nương nơi giáo pháp
xét biết tự thân tâm mình cho đến sự vật trong vũ trụ
không cái gì không do nhân duyên sinh, theo phép quán “Thập
Nhị Nhân Duyên”[21] tu hành chứng ngộ, gọi là Duyên Giác
(Pratyckabuddhi).
- Những
người thực hành hạnh Bồ Tát (Boddhisattva) cũng phải nương
vào Tứ Diệu Ðế làm quan điểm chính, đồng thời tu các
pháp môn “Lục Ðộ[22] Vạn Hạnh[23]” để chứng quả vị
tối cao: Phật Ðà (Buddha).
(Nhân,
Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, gọi chung là năm thừa).
Ðức
Phật nói pháp năm thừa chẳng qua tùy theo tâm trí chúng sinh
có cao thấp khác nhau, kỳ thực đều qui về một Phật Thừa
cả.
Như
vậy, dù có chia giáo này giáo khác nhưng vẫn qui về một
giáo duy nhất, cũng như nước trăm sông đều chảy về biển
cả - Nhất Vị Thanh Tịnh.
ÁNH
SÁNG CHÍNH PHÁP TRUYỀN ÐI CÁC NGẢ…,
Ngược
dòng lịch sử, ta nhận thấy sau mấy kỳ Ðại Hội Kết Tập
Kinh Ðiển, đạo Phật đã chia ra hai phái: Ðại Thừa Phật
Giáo và Tiểu Thừa Phật Giáo.
Ðạo
Phật truyền ra ngoại quốc do hai ngả Nam phương và Bắc phương.
Nam
phương truyền Phật giáo Tiểu Thừa:
Những
người truyền bá Phật giáo thuộc nam Ấn Ðộ là nơi Tiểu
Thừa Phật Giáo.
Các
dân tộc chịa ảnh hưởng Tiểu Thừa như Sri Lanka, Myanmar,
Kampuchia, Lào quốc v.v…
Bắc
phương Phật giáo truyền bá Ðại Thừa:
Những
người truyền giáo thuộc bắc Ấn Ðộ, nơi phát xuất Ðại
Thừa Phật Giáo.
Các
dân tộc sớm được thấm nhuần Ðại Thừa Phật Giáo như
Trung Hoa, Tây Tạng, Mông Cổ, Nhật Bản, Việt Nam v.v…
Dù
sao, với điều này ta cũng không thể chối cãi: “Phật giáo
là một tôn giáo[24] đứng trên tất cả quốc gia, dân tộc
và ngay cả thế giới hệ. Ðó là điều mà hết thảy học
giả đông, tây đều công nhận. Do đó, sự truyền bá của
Phật giáo bắt đầu từ Á châu rồi tràn qua Âu châu, Mỹ
châu, Úc châu, gần khắp toàn thế giới. Tựu trung, người
ta lấy Á châu làm bản đồ của Phật giáo. Phật giáo đồ
Á châu, trong hơn hai nghìn năm truyền bá, từ sinh hoạt cá
nhân, đến tổ chức xã hội đều chịu ảnh hưởng của
Phật giáo. Ngoài ra, Phật giáo ở Á châu tuy phát triển, nhưng
lại có một màu sắc khác. Học giả Âu Mỹ đối với Phật
giáo chỉ có thái độ nghiên cứu học thuyết, sự tín ngưỡng
hãy còn là một vấn đề do dự, so với truyền bá Chính Pháp
ở các nước Á Tế Á thì rất kém…”[25]
Suốt
dọc dài lịch sử, cách nay ba trăm năm, đạo Phật đã thâm
nhập sâu rộng hơn ở các nước tiến bộ Tây phương: hiện
nay ở Ðức, Anh, Pháp, Mỹ… đều có Hội Nghiên Cứu Ðạo
Phật, đã thu phục (gần như hầu hết) giới thượng lưu
trí thức mà từ trước, họ thường thờ ơ nhìn đạo Phật
với cặp mắt lạnh lùng thì; ngày nay, lại tìm hiểu một
cách say sưa thích thú. Một người Mỹ, Myriam M. Salanave, trong
khi nghiên cứu đạo Phật, đã hết lời xưng tụng: “Ðạo
Phật trãi mấy nghìn năm lịch sử, không lúc nào ngừng phát
triển, vì đạo Phật không những đi song đôi với khoa học,
là vì đạo Phật lấy Chân Như làm căn bản, nên không bị
các thể tướng điên đảo phá hủy”.
Gần
đây, nơi phát tích đạo Phật đã vươn lên một cách mạnh
mẽ: Năm 1950, gần 500 đại biểu thuộc 26 quốc gia Phật giáo
qui tụ về thủ đô Sri Lanka (Ceylon) để thành lập Hội Liên
Hữu Phật giáo Thế Giới (World Fellowship of Buddhists). Ðó là
một điểm son ghi đậm nét trong trang lịch sử truyền bá
Phật giáo thế giới.
Và
dưới đây là nguyên văn Lời mở đầu bản Hiến Chương
thành lập Hội Phật Giáo Thế Giới:
“Chúng
tôi, đại biểu của nhiều nước và của một số đông tổ
chức rải rác khắp hoàn cầu, quyết định trong tinh thần
thống nhất và kết hợp lực lượng, thành lập HỘI PHẬT
GIÁO THẾ GIỚI, với chí nguyện là: hết sức tuân hành Phật
Pháp để trở nên những tấm gương huy hoàng của lòng tín
ngưỡng linh hoạt, sẽ làm những gì chúng tôi có thể làm
để tuyên dương, giáo lý vô thượng của đức PHẬT THÍCH
CA MÂU NI, tức là đạo TỪ BI HỶ XẢ có năng lực giải thoát
toàn thế giới, bằng cách cảm hóa và hướng dẫn tất cả
dân tộc và chính phủ của họ về nẻo sống đạo đức
của người Phật tử, là con đường duy nhất của bất cứ
thời đại nào, hầu tạo dựng cho nhân loại một cảnh thái
bình, một nguồn hạnh phúc vô biên. Vì vậy hôm nay, ngày
8 tháng Asadha, Phật lịch năm 2494, nhằm ngày 6 tháng 6 dương
lịch, năm 1950, chúng tôi lập quyết nghị, tự thảo và tự
ban hành bản HIẾN CHƯƠNG này”.
Sau
đó vài tháng, Hội đã liên tục phát hành khắp các quốc
gia Phật giáo trên thế giới hai tờ báo: News letter và The
Buddhist World, nội dung với những tin tức và giáo lý phổ
thông.
- Năm
1952, ở Nhât Bản cũng triệu tập một đại hội nghị kỳ
II để thảo luận về những điều quan trọng: Phát triển
đạo Phật ở các nước hội viên và toàn thế giới, theo
một thể thức chung, do đại hội ấn định.
- Năm
1954, một đại hội thứ III của Phật giáo thế giới được
long trọng khai mạc cùng lúc với Ðại Hội Kết Tập Tam Tạng
kỳ VI ở kinh thành hoa lệ Myanmar.
- Năm
1956, tại Kathmandu, thủ đô nước Népal, cũng mở Ðại Hội
Phật Giáo Thế Giới lần thứ IV, với mục đích thảo luận
các vấn đề triết lý, văn chương, nghệ thuật và khoa học…[26]
- Năm
1958, Ðại Hội Phật Giáo Thế Giới kỳ V diễn ra tại Bangkok,
thủ đô nước Thailand. Mục đích của đại hội là khai triển
Phật giáo tại các quốc gia trên thế giới. (Kỳ đại hội
này không có đại biểu Ðạo Phật Việt Nam tham dự).
- Năm
1961, Hội Phật Giáo Thế Giới lại họp đại hội lần thứ
VI tại Kampuchia, gồm 180 đại biểu của 33 quốc gia Phật
giáo trên thế giới tham dự, dưới sự điều khiển của
U Chan Thoon, trưởng phái đoàn Phật Giáo Myanmar. Hội nghị
cũng đã biểu quyết nhiều vần đề quan trọng: (1) Xây dựng
Học việc Phật giáo liên Á Châu. (2) Khuyến cáo các việc
thành lập một phong trào Thanh niên Phật tử ở khắp thế
giới. (3) Phúc quyết về ngày Phật Ðản mà Ðại Hội Phật
Giáo Thế Giới tại Nhật Bản, năm 1952, đã ấn định (hằng
năm) lấy ngày Phật Niết bàn, nhằm ngày trăng tròn tháng
5 dương lịch là ngày cử hành Phật Ðản trên toàn thế giới.
(4) Gửi thông điệp cho Liên Hợp Quốc phản đối việc thí
nghiệm nguyên tử, và yêu cầu các cường quốc trên thế
giới hoàn thành đình chỉ mọi cuộc thí nghiệm nguyên tử.
Ðặc
biệt, Hội nghị kỳ này, ngoài các nước Á châu còn có các
quốc gia xa xôi như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Hòa Lan, Sweden và nhiều
quốc gia Tây phương tham dự.
- Năm
1964, Ðại Hội Phật Giáo Thế Giới kỳ VII họp tại Sarnath
(Ấn Ðộ) với sự tham gia của trên 120 đại biểu thuộc
26 quốc gia. Ðại Hội tổ chức tại Sarnath, nơi xưa kia đức
Phật đã thuyết pháp.
Các
quốc gia có đại biểu tham dự đại hội là: Úc, Myanmar,
Tích Lan, Ðài Loan, Tiệp Khắc, Anh, Ðức, Pháp, Hương Cảng,
Ấn Ðộ, Nhật Bản, Ðại Hàn, Ðại Mã Lai, Mông Cổ, Népal,
Hồi Quốc, Phi Luật Tân, Thụy Ðiển, Thái Lan, Hoa Kỳ, Nga,
Bỉ, Gia Nã Ðại, Phần Lan, Hòa Lan, Trung Hoa Quốc Gia, Việt
Nam. Tham dự đại hội còn có sự hiện diện của đức Ðạt
Lai Lạt Ma (Tây Tạng), tổng thống Ấn Ðộ, triết gia Radakrishnan,
đã đọc diễn văn khai mạc đại hội[27]. Sau đó, đại hội
đã thảo luận và biểu quyết những phần chính được tóm
lược như sau:
…
Việc đối xử với Phật giáo ở Tây Tạng, Việt Nam và các
nước khác.
Sinh
hoạt phát triển văn hóa đạo Phật.
Hợp
tác chặt chẽ giữa hai tông phái Tiểu Thừa và Ðại Thừa.
Ngoài
ra, được biết nhân dịp đại hội này, hàng vạn du khách
từ nhiều nước đã đến Sarnath chiêm lễ thánh tích nơi
đây.
“Phật
giáo tồn tại và phát triển xuyên suốt chiều dài hơn 2500,
vượt qua những thành trì thiên kiến, đã sống trong lòng
mọi quốc gia, chủng tộc. Và ngày nay, nơi đây, mặc dầu
đã chậm chân hơn 1000 năm, trải bao thử thách của tiến
bộ tri thức, Phật giáo đã tự khẳng định mình, vươn lên
là một tôn giáo của vũ trụ một cách vẻ vang… Thật sự
là một môn triết học, tâm lý học mang hình thức tôn giáo,
đạo Phật chỉ ra những định luật khách quan mà không cần
mang tội lỗi ra dọa ai… với đường lối hỷ xả, ngoài
giáo luật và bất bạo động, với những phương pháp “hàng
phục kỳ tâm” rất tỷ mỷ, Phật giáo đã làm hơn những
lời hô hào khuyến thiện suông, về cả phương diện thế
gian và xuất thế gian, nghĩa là đời sống nội tâm và cách
ứng xử giữa con người (Ethik und Sammlung) đều được phân
tích chỉ dẫn tường tận. Trong một thế giới càng ngày
càng chật hẹp, điều đó thật sự là một bảo bối của
thời đại mới mà Ðạo Pháp (Dharma) tặng cho chúng ta vậy[28].
Tin
tưởng sự bành trướng của đạo Phật, chắc chắn trong
tương lai sẽ còn có những đại hội tương tự được diễn
ra tại các quốc gia khác nữa[29].
Chúng
ta hãy hy vọng và chờ đợi.
[1]
Cách khoảng 600 năm sau đức Phật niết bàn, Bồ tát Long Thọ
(Nagarjuna) hệ thống hóa tư tưởng Bát Nhã, đưa ra thuyết
lý “Không” nhằm xuyển dương giáo lý Trung Ðạo.
Trong
Tam Luận Tông (Madhyamika) Bồ tát đề ra 8 cái Không (Bát Bất):
“Bất
sinh, diệc bất diệt.
‘Bất
thường, diệc bất đoạn.
‘Bất
Nhất, diệc bất nhị.
‘Bất
lai, diệc bất khú.
Nguyên
văn chữ Phạm:
Anirodham
anutpàdam.
Annucikedam
ásàsvatam.
Anekàrtham
ananàrtham.
Anàgamam
anirgamam.”
Theo
thuyết “Bát Bất” trên đây, ta thấy: Vạn pháp do các nhân
duyên hội ngộ mà sinh, nên gọi là bất sinh. Khi nhân duyên
tán thì vạn pháp phải hủy diệt; nhưng đã không sinh thì
làm gì có diệt, vì thế gọi là bất diệt. Và vạn pháp
do nhân duyên sinh tất nhiên không tránh khỏi sự đổi thay,
gọi là bất thường, vì vạn pháp không thật có nên cũng
chẳng có gì là đoạn, nên gọi là bất đoạn. Vạn pháp
sinh khởi chẳng giống nhau, như mộng mạ và cây lúa, không
phải là một, nên gọi là bất nhất. Nhưng cây lúa là do
mộng mạ mà thành, nên gọi là bất dị. Vạn pháp vốn không
thật có, nên gọi là bất lai, bất khứ. Theo quan niệm mê
chấp của thế gian, người ta cho rằng vạn pháp có sinh, có
diệt, có thường, có đoạn, có một, có khác, có lại, có
đi…
Vì
muốn khai thị cho thế nhân, nên Bồ tát Long Thọ đã dùng
tám thứ không là: không sinh, không diệt, không thường, không
đoạn, không một, không khác, không lại, không đi để đả
pháp những nhận thức sai lầm của thế tục, tức phá bỏ
triệt để các chấp tướng, chứ không phải phủ nhận cái
“Thực Tướng Vô Tướng” của các pháp. Ðây là lối dùng
không môn để đi vào thực tướng Trung Ðạo vậy.
Nền
tảng Biện Chứng Pháp của Bồ tát Long Thọ là nguyên lý
nhân duyên và ngay từ đó ta đã thấy triết lý “Không”
đưa tới chân lý Trung Ðạo.
Ở
đầu cuốn Trung Luận, chép:
“Nhân
duyên sở sinh pháp
Ngã
thuyết tức thị KHÔNG
Diệc
danh vi GIẢ danh
Thị
danh TRUNG đạo nghĩa”
Vì
tính của các pháp là “Không”, chẳng phải vì lý do này
hay lý do khác mà nó lại như thế. Chỉ vì tự tính của nó
bao giờ cũng vẫn như thế (Pháp nhĩ như thị: Dharmata). Lập
thuyết của Tam Luận Tông về chữ “Không” dẫn tới chân
lý “trùng trùng duyên khởi” và “một là tất cả”, “tất
cả là một” sự sự vô ngại pháp giới của tông phái Hoa
Nghiêm…
[2]
Ngũ uẩn (Skandha) gồm có 5: Sắc (cơ thể của con người)
(thuộc vật chất), Thụ (cảm giác), Tưởng (trí thức), Hành
Tâm tư), Thức (nhận thức) (thuộc tinh thần).
1.
Sắc Uẩn (Rupaskandha) chia làm 5 căn, 5 cảnh (sắc, thanh, hương,
vị, xúc) và vô biểu sắc.
a.
Sắc là đối tượng của nhãn căn, gồm có 2 loại: 1. Hiển
Sắc như: xanh, vàng, đỏ, đỏ tím, đỏ lợt, biếc, màu lục,
vàng sẫm, trắng, ánh sáng, tối, mây, khói, mù (sương) v.v…
2. Hình sắc: Vuông, tròn, dài, ngắn, cao, thấp, thẳng, cong,
v.v…
b.
Thanh là đối tượng của nhĩ căn, chia làm 2: động vật tính
(âm thanh: trong, đục, trầm, bổng, cao, thấp, chìm, khản…
và vô động vật tính: như khả giải (hữu tình danh) và bất
khả giải (phi hữu tình danh).
c.
Hương là đối tượng của tỉ căn như: ngọt, hảo hương,
ác hương, phương hương (mùi thơm)…
d.
Xúc là đối tượng của thân căn, như cứng, ướt, ẩm, động
hoạt tính (trơn tru), sáp tính (sần sùi), trọng tính, khinh
tính, lạnh, đói và khát v.v…
2.
Thụ Uẩn (Vedanàskankandha): cảm giác, lĩnh thụ v.v…
3.
Tưởng Uẩn (Samjnàskandha): Các khái niệm, tưởng tượng phân
biệt sự vui (lạc thụ), buồn (khổ thụ), không vui không
buồn (xả thụ) v.v…
4.
Hành Uẩn (Samkarandha): Tất cả trạng thái, thái độ sinh hoạt
của tinh thần (có tất cả 51 “hành” chia làm 5 loại):
a.
Tâm Sở Biến Hành: 5
b.
Tâm Sở Biệt Cảnh: 5
c.
Tâm Sở Thiện: 11
d.
Tâm Sở Bất Thiện: 26
e.
Tâm Sở Bất Ðịnh: 4
5.
Thức Uẩn (Vijnànaskamdha): Nhận thức, phân biệt v.v…
[3]
Xem tiếp phần Nhân Sinh Quan.
[4]
Xem đạo Phật là gì?
[5]
Có chỗ nói đức Phật diệt độ được 4 tháng mới
mở Ðại Hội Kết Tập.
[6]
Tỳ khưu (Bhiksuh), Tỳ khưu ni (Bhiksuni), Thức xoa ma na (Sikkhamànà),
Sa di (Sràmanerah), Sa di ni (Sràmanerikà), Ưu bà tắc (Upasakah)
Ưu bà di (Upasikà).
[7]
Về danh mục của 10 điều luật trên, muốn rõ hơn xin xem:
- Luật
Tứ Phần q.54, phẩm Thất Bách Tập Pháp Tỳ Ni. (ÐTK, Luật
bộ, tập 212, trang 968)
- Luật
Thiện Kiến q.1, phẩm Bạt Xà Tử (ÐTK, Luật bộ, tập 214,
trang 677).
- Luật
Thập Tụng q.60, 61, phẩm Ngũ Bách Tì Khưu Kết Tập Tam Tạng
và phẩm Thất Bách Tì Khưu Tập Diệt Ác Pháp ÐTK, Luật bộ,
tập 213, các trang 450 – 542, 453 – 456).
Ở
đây, chúng tôi chỉ lược lấy ý chính mà không đi sâu vào
chi tiết.
[8]
A. ÐẠI CHÚNG BỘ (Mahasanghikàh):
I.
Nhất Thiết Bộ (Ekavyahàrikàh)
Thuyết
Xuất Thế Bộ (Lokottaravàdinàh)
Kế
Dận Bộ (Kaukutikàh)
II.
Ða Văn Bộ (Bàhusrutiyàh)
III.
Thuyết Giả Bộ (Prajnàptivàdinah)
IV.
Chế Ða Văn Bộ (Jetavaniyàh)
Tây
Sơn Trụ Bộ (Aparásaiyàh)
Bắc
Sơn Trụ Bộ (Uttarásailàh)
B.
THƯỢNG TỌA BỘ (Sthavathàh):
I.
Tuyết Sơn Bộ (Haimavathàh)
II.
Ðộc Tử Bộ (Vàtsipoutriyàh)
III.
Pháp Thượng Bộ (Dharmottaràh)
Hiển
Vũ Bộ (Bhadrayaniyàh)
Chính
Lượng Bộ (Sànnagarikàh)
Mật
Lâm Sơn Bộ (Sàmagarikayah)
IV.
Hóa Ðịa Bộ (Mahisàsakàh)
V.
Pháp Tạng Bộ (Dhamaguptàh)
VI.
Ẩm Quang Bộ (Kàsyapiyàh)
VII.
Kinh Lượng Bộ (Sautràntikàh)
Trong
20 bộ phái trên, theo Ngài Huyền Trang (Hsan Tsang 600 – 664),
đời Ðường, Trung Hoa, dịch bộ Di Bộ Tôn Luân Luận thì,
cách Phật Niết bàn chừng 100 – 200 năm, ÐẠI CHÚNG BỘ,
lần thứ: chia ra Nhất Thiết Bộ, Thuyết Nhất Thế Bộ, Kế
Dận Bộ, Lần thứ 2: Ða Văn Bộ, Lần thứ 3: chia ra Thuyết
Giả Bộ, Lần thứ 4: chia ra Chế Ða Văn Bộ, Tây Sơn Trụ
Bộ, Bắc Sơn Trụ Bộ; tức là một bộ phái căn bản, chia
thành 8 bộ phái chi mạt. Về THƯỢNG TỌA BỘ, lần thứ nhất:
chia ra Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (cũng gọi là Tuyết Sơn
Bộ). Lần thứ 2: từ Hữu Bộ chia ra Ðộc Tử Bộ, Lần thứ
3: từ Ðộ Tử Bộ chia ra làm 4 bộ: Pháp Thượng Bộ, Hiền
Vũ Bộ (có chỗ gọi là Hiền Hữu Bộ), Chính Lượng Bộ,
Mật Lâm Sơn Bộ, Lần thứ 4: Hóa Ðịa Bộ. Lần thứ 5: từ
Hóa Ðịa Bộ chia ra Pháp Tạng Bộ. Lần thứ 6: Từ Hữu Bộ
chia ra Ẩm Quang Bộ. Lần thứ 7: cũng từ Hữu Bộ chia ra Kinh
Lượng Bộ; ấy là một bộ phái căn bản chia ra 10 bộ phái
chi nhánh.
Sau
khi THƯỢNG TỌA BỘ chia ra Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ rồi,
thì thế lực có phần nào yếu kém, phải rời ra ở Tuyết
Sơn, nên cũng gọi TUYẾT SƠN BỘ. Tổng cộng cả bộ phái
căn bản lẫn chi mạt của Ðại Chúng Bộ và Thượng Tọa
Bộ, thành 20 bộ phái, như đã ghi ở trên.
[9]
Thời Luận (số đặc biệt kỷ niệm năm 2500 lịch sử Phật
giáo).
[10]
Cả thảy có đến 12 lần kết tập. Nhưng sáu lần kia có
tính cách địa phương, chẳng qua do Giáo Hội Tăng Già của
mỗi xứ họp nhau lại ở một chùa viện nào đó rồi cùng
nhau chỉnh đốn Tam Tạng và phiên dịch ra chữ của mỗi quốc
gia, như Miến Ðiện, Thái Lan, Kampuchia, Ai Lao, Trung Hoa, Nhật
Bản v.v… nên những lần ấy không được gọi là chính thức.
[11]
Năm Thời Thuyết Pháp.
Theo
Ngài đại sư Trí Khả thì đức Phật thuyết pháp chia là
5 thời kỳ:
1.
Thời kỳ Hoa Nghiêm (Avatamsaka). – Sau khi mới thành đạo,
đức Phật dùng tuệ nhãn nhìn thấy rõ tâm địa các vị
đại Bồ tát và các bậc căn trí thượng thừa đã thuần
thục, nên Phật nói kinh Hoa Nghiêm để giáo hóa và điều
ngự họ. Trong số đó cũng có những hàng tiểu căn nghe, nhưng
lại chẳng hiểu đức Phật nói gì cả.
2.
Thời kỳ A Hàm (Agamas). - Thời kỳ đức Phật nói kinh “Tứ
A Hàm”:
-
Dirghàgamsa sutra (Trường A Hàm)
-
Madhyamàgamas sutra (Trung A Hàm)
-
Ekottarikàgamas sùtra (Tăng Nhất A Hàm)
-
Samyaktàgamas sùtra (Tạp A Hàm) và
-
Khudhana sùtra (Tiểu A Hàm) (Tạp Tạng) thì gọi là “Ngũ A
Hàm”. Bộ kinh này đầu tiên đức Phật giảng tạI vườn
hoa Lộc Uyển (Sarnath), nên sau này còn gọi là Thời kỳ Lộc
Uyển, vì căn cơ của các hàng Thanh văn còn thấp kém nên
Phật nói Pháp “Tứ Diệu Ðế” (Catuariyasaca = Khổ, Tập,
Diệt, Ðạo); diễn giảng trong 4 bộ kinh A Hàm, để giáo huấn
các bậc sơ cơ Tiểu Thừa.
3.
Thời kỳ Phương Ðẳng (Vaipulya). – “Phương Ðẳng” có
nghĩa là thời kỳ thuyết giáo chung cho hết thảy chúng sinh,
gồm 4 giáo TẠNG – THÔNG - BIỆT – VIÊN. Về thời kỳ
này, đức Phật nói kinh Vimalakirti (Duy Ma Cật) để giáo hóa
các bậc Tiểu Căn, rằng giáo pháp thuộc Nhị Thừa giáo chưa
phải là chỗ rốt ráo, cùng tột, đã vội cho là đủ, tức
Phật có ý quở trách để họ tự biết hối mà ham mộ giáo
lý Thượng Thừa.
-
Tạng Giáo, tức Tam Tạng Thánh Giáo.
-
Thông Giáo, tức có nghĩa là đức Phật thuyết pháp cho mọi
hạng người đều nghe. Hàng đệ tử căn cơ ám độn khi nghe
giáo pháp ấy thì “thông” vào Tạng Giáo; bậc căn trí sáng
láng, nghe giáo pháp ấy rồi thì được “thông” vào Biệt
Giáo và Viên Giáo, nên gọi là Thông Giáo.
-
Biệt Giáo, tức là đức Phật nói phép cho hàng Bồ tát, khác
với Tạng Giáo, Thông Giáo kể trên và Viên Giáo sau này, nên
gọi là Biệt Giáo.
-
Viên Giáo, Ðức Phật đối với các bậc Bồ tát có căn trí
thông tuệ mà nói ra pháp cao siêu, mầu nhiệm, dạy đủ Viên,
Ðốn, cho nên gọi là Viên Giáo.
(Trong
4 Giáo trên, TẠNG, THÔNG BIỆT, là 3 giáo thuộc về Quyền
Giáo, VIÊN giáo thuộc về Thật Giáo).
4.
Thời kỳ Bát Nhã (Prajnãramita), tức thời kỳ đức Phật
nói các kinh Bát Nhã để mở mang kiến, văn, giải, cho hàng
Tiểu căn, có tâm hướng thượng; nhưng hãy còn có chỗ cố
chấp, chưa dứt bỏ hết được, nên Phật nói pháp “Bát
Nhã Không Tuệ” để phá chấp, giúp cho họ không đạt lý
CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU của các “Pháp”. (Ðấy chẳng qua là
“giả tướng”, chứ thực ra không có cái gì là thật thể
hiện hữu trên cõi đời này). Nhờ đó mà hàng Tiểu căn
sớm đạt được giải thoát.
5.
Thời kỳ Pháp Hoa và Niết Bàn (Saddharmapundarikam - Nirvàna),
tức thời kỳ đức Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa và kinh
Niết Bàn cho mọi căn cơ, mọi lớp người (từ thượng căn,
bậc căn trí thông tuệ, đến trung căn, bậc căn trí trung
bình và hạ căn, bậc căn trí thấp kém), tất cả đều được
nghe và hiểu, tùy mỗi căn tính chúng sinh; cũng gọi là “HộiTam
Qui Nhất” cho đến khi đã thuần thục, nên đức Phật trực
chỉ nghĩa Khai, Quyền, Hiển, Thực, tức là chỉ thẳng Thật
Tính, Thật Tướng của các “pháp”; không ngoài mục đích:
“Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật Tri Kiến” cho chúng sinh đều
được chứng đạo quả “Vô Thượng Bồ Ðề = Anuttara Samyak
Sambodhi”. Ngoài ra, cũng có những căn cơ vì quá thấp kém
thì Phật giảng kinh Niết Bàn để độ tận chúng sinh cùng
vào bể “Ðại Hải Thanh Tịnh”, chứng đạo quả “Giác
ngộ” và “Giải thoát”.
[12]
Câu này ý nói: Chân lý chỉ có một – chân lý là chân lý
– ta không thể mô tả nó trên giấy tờ chữ nghĩa, cũng
không thể đem Cái Này, Cái Kia làm tỷ dụ. Chỉ khi nào con
người trực giác mới thấu hiểu mà thôi.
- Kinh
Văn Thù chép lời đức Phật (khẳng định): “Suốt
49 năm Như Lai chưa từng nói một lời. Một lời, là pháp
chân thực thường nhiên, không thể diễn nói được, và Như
Lai ở trong trạng thái vô sinh, không từ đâu đến và không
đi về đâu…”
Ðứng
trên lập trường bản thể để xác định: “Như Lai chưa
nói một lời”. Nhưng đứng về hiện tượng giới, ta thấy
đức Phật Thích Ca, bằng thân hình loài người, đi tu, đắc
đạo và nói pháp, giáo hóa chúng sinh trong 49 năm (Kinh điển
Tiểu Thừa nói đức Phật thuyết pháp 45 năm), trụ thế 80
năm, rồi nhập Niết Bàn. Nói khác, là con người, hễ có
sinh ra là có chết đi. Thì ứng thân Thích Ca bằng thân hình
loài người cũng đã chết, cách nay 2515 – 1971. Nhưng Pháp
thân Phật (Như Lai) không chết – vì, Như Lai không từ đâu
đến và không đi về đâu (… tòng vô sở lai, diệc vô sở
khứ, cố danh Như Lai - Ðức Phật, từ bản thể hiện ra hiện
tượng nhưng vẫn không rời bản thể, siêu xuất cả hai mặt
mới gọi là Như Lai.)
[13]
Giáo: những lời dạy của Phật là Như Thật, đúng chân lý.
Lý: lý giải chân lý.
Hành: thực hành phương pháp thực hiện chân lý.
Quả: thể hiện chân lý.
[14]
Tính, Tướng của các Pháp khác nhau:
- Tính
(Svabhàva) là thể tính.
- Tướng
(Laksana) là sự tướng.
Ví
dụ: Chất ướt của nước là tính, Sóng là sự tướng.
[15]
Bảng phân phối mục lục này dựa theo cuốn tư Tưởng Phật
Giáo và bài Phật Giáo Nam Phương (Vạn Hạnh số X. tháng 2,
1966).
[16]
Chữ “TÂM”, hiểu theo nghĩa rộng, tức chỉ cho Bản Thể
Chân Không Diệu Hữu của vũ trụ vạn hữu…
[17]
TAM QUI: Qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng.
[18]
NGŨ GIỚI: không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm,
không nói dối, không uống rượu.
[19]
THẬP THIỆN: không giết hại chúng sinh, không trộm cướp,
không tà dâm, không nói những lời ác xấu, thêu dệt, dèm
pha, hung bạo, không tham, không giận, không si mê.
[20]
Tứ Diệu Ðế: Catuariyasacca
1.
Khổ Diệu Ðế (Dukkha Ariyasacca): Sự khổ ở đời.
2.
Tập Diệu Ðế (Samudayat Ariyasacca): Nguyên nhân sự khổ.
3.
Diệt Diệu Ðế (Nirodha Ariyasacca): Sự khổ tiêu diệt (giải
thoát: Apavaryah).
4.
Ðạo Diệu Ðế (Magga Ariyasacca): Phương pháp diệt trừ
nguyên nhân sự khổ gồm Tám Con Ðường Chính (Bát Chính Ðạo
Ayàstaniga Màrgamàni):
1.
Samyagdrstih : thấy biết chân chính.
2.
Samyaksamkalpah
: suy nghĩ chân chính.
3.
Samyagavàk
: lời nói chân chính.
4.
Samyagàjivàh
: nghề nghệ chân chính.
5.
Samyagvyàyàmah
: đời sống chân chính.
6.
Samyaksmrtih
: siêng năng chân chính.
7.
Samyaksmrtih
: nhớ tưởng chân chính.
8.
Samyaksamàdhih
: định tâm chân chính.
[21]
THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN = Dvàda’sàngah prtiyasamutpàdah.
(xin
xem mục Nhân Sinh Quan)
[22]
LỤC ÐỘ:
1.
Dànapàramita
: Bố Thí.
2.
Silapàramita
: Trì Giới.
3.
Ksàntiparamita
: Nhẫn Nhục.
4.
Viryanàramita
: Tinh Tấn.
5.
Dhyànapảratkita
: Thiền Ðịnh.
6.
Prajnãparamita
: Trí Tuệ.
[23]
VẠN HẠNH: làm mọi việc tốt lành có ích lợi cho bản thân
và cho chúng sinh.
[24]
Phật giáo tuy là một tôn giáo nhưng không có tính cách thần
khải, thần quyền – chú thích của người viết.
[25]
Trí Quang - Lịch Sử Truyền Bá Phật Giáo, trang VIII
[26]
Những hội nghị trên đều có phái đoàn đại diện Ðạo
Phật.
[27]
Luôn thể, tôi xin trích lược đoạn chính bài diễn văn của
Tổng Thống Ấn Ðộ, đọc trước Ðại Hội Phật Giáo Thế
kỳ VII, họp tại Sarnath từ 27 – 11
“…
Thật không có gì ý nghĩa và thích hợp đến 4 – 12 – 1964,
để cống hiến quí vị độc giả cùng thưởng lãm. hơn kỳ
hội nghị lần này tại vườn Lộc Uyển (Sarnath), truyền
thống bốn chân lý (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo) cho nhân loại.
Ðây là lần đầu tiên, một người Ấn Ðộ đã điều ngự
được lòng sùng bái của nhân loại mà không cần đến một
mũi tên, một ngọn dáo.
“Tôi
tin tưởng rằng với kỳ hội nghị này đức Phật đã truyền
giảng tại nơi đây, tượng trưng bởi “pháp luân” mà chính
phủ Ấn Ðộ đã thành kính chọn làm quốc kỳ của mình,
sẽ ngày càng sáng rỡ hầu làm ngọn đuốc dẫn dắt nhân
loại đang quờ quạng trong bóng tối dầy đặc của tham, sân,
si, đến Hòa Bình thịnh vượng.
“Ðức
Phật là lý tưởng của nhân loại, là một Người hoàn toàn
nhất trong tất cả loài người từ cổ chí kim. Ngài là biểu
tượng của những gì thanh cao, sáng suốt và tươi đẹp nhất
hiện có ở thế gian.
“GIÁO
LÝ CỦA NGÀI LÀ KẾT TINH TẤT CẢ NHỮNG GÌ GỌI LÀ TINH HOA
CỦA LOÀI NGƯỜI, NHỮNG GÌ NGÀI DẠY LÀ NHỮNG LỜI NÓI VỀ
SỰ THẬT, VỀ VŨ TRỤ VÀ VỀ CON NGƯỜI.
……….
“tôi
còn nhớ một người bạn của tôi, đại hiền triết Bertrand
RUSSELL, của Anh Quốc, đã có lần tuyên bố: “Ðạo Phật
hấp dẫn tôi chính vì khía cạnh thực tế (pragmatic), tự
do và khoan dung của nó. Nếu tôi cần theo một tôn giáo, tôi
sẽ chọn đạo Phật”. Tôi cũng còn nhớ câu chuyện Thủ
tướng Anh Winston CHURCHILL kể cho tôi nghe về ảnh hưởng tốt
đẹp của bức tượng Phật của ông trong thời đại nhị
thế chiến. Ông cho biết là suốt thời kỳ lãnh đạo cuộc
chiến tranh chống lại Hitler, bức tượng Phật gia bảo để
trên bàn trước mắt ông, đã đem lại cho ông không biết
bao nhiêu là an lạc và can đảm. Một tôn giáo như thế, với
một vị giáo chủ như thế, nhất định sẽ điều phục nhân
loại để kiến tạo Hòa Bình và xây dựng một thế an lạc
Từ Bi…”
[28]
Trích trong bản chương trình nghị sự giới thiệu sơ lược
đạo Phật của Ðại Hội Liên Ðoàn Phật Tử Châu Âu, họp
tại Berlin, 9 – 1992- Tạp chí Lotus Blatter 8/92.
[29]
“… vào cuối thời mạt pháp, đạo Phật sẽ phục hoạt
trở lại” – Kinh Bảo Tích -