Nói
đến Nguyễn Du là nói đến Truyện Kiếu trước hết và dĩ
nhiên chúng ta cũng không quên bài Văn Tế Thập Loại Chúng
Sinh của ngườì nữạ. Vậy tốt hơn hết chúng ta hãy “Cảo
thơm lần giở trước đèn” để xem đạo Phật đã thể
hiện ra sao qua nội dung truyện Kiều.
Chúng
ta hãy ôn lại Truyện Kiều từ đầu tới cuối
Vào
dịp: Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ
là tảo mộ hội là đạp thanh
Kiều
đã cùng hai em là Vương Quan và Thúy Vân đi chơi xuân, gia
nhập vào cảnh:
Dập
dìu tài tử giai nhân
Ngựa
xe như nước áo quần như nêm
Và
Kiều đã chúng kiến cảnh nấm mồ hương khói vắng tanh của
nàng Ðạm Tiên, một ca nhi tài sắc một thời. Và nàng Kiều
đã nói:
Ðã
không kẻ đoái người hoài
Sẵn
đây ta kiếm một vài nén hương
Rồi
đối cảnh sinh tình:
Rút
trâm sẵn giắt mái đầu
Vạch
da cây vịnh bốn câu ba vần
Và
Ðạm Tiên đã hiển linh để tạ lòng ngưới tri kỷ khiến
Kiều càng xúc động:
Lòng
thơ lai láng bồì hồi
Gốc
cây lại vạch một bài cổ thi.
Kế
đó là cuộc gặp gỡ Kim Trọng – (bạn của Vương Quan) –
lần đầu tiên:
Chàng
Vương quen mặt ra chào
Hai
Kiều e lệ nép vào dưới hoa
Tuy
nhiên với Kiều thì tình ý có tế nhị hơn:
Người
quốc sắc kẻ thiên tài
Tình
trong như đã mặt ngoaì còn e
Ðêm
đó Kiều mơ thấy Ðạm Tiên tới báo cho Kiều hay là:
Một
mình lưỡng lự canh chầy
Ðường
xa nghĩ nỗi sau này mà kinh
Vương
bà chợt thức giấc hỏi Thúy Kiều vì sao trằn trọc khóc
thầm trong lúc canh khuya như vậỵ, và Thúy Kiều đã thành
thực thưa với mẹ về việc Ðạm Tiên báo mộng cho biết
số kiếp đoạn trường sau này của cuộc đời nàng. Và Vương
Bà đã nói với con:
Dạy
rằng “Mộng huyễn chắc đâu
Bỗng
không mua não chuốc sầu nghĩ nao!
Trở
lại với chàng Kim thì lòng chàng cũng
Mành
tương phân phất gió đàn
Hương
gây mùi nhớ trà khan giọng tình
Bâng
khuâng nhớ cảnh nhớ người
Nhớ
nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.
Nhưng
mấy lần tới trước cổng nhà Kiều thì:
Thâm
nghiêm kín cổng cao tường
Cạn
dòng lá thắm dứt đường chim xanh
Kim
Trọng bèn thuê căn nhà của một thương gia ngay sát bên nhà
Kiều:
Lấy
điều du học hỏi Thuê
Túi
đàn cặp sách đề huề dọn sang
Nhưng
đã hai tuần trăng qua mà chàng Kim vẫn chưa có dịp đươc
thấy mặt nàng Kiềụ
Cho
đến một hôm:
Cách
tường phải buổi êm trời
Dưới
đào dường có bóng ngườì thướt tha
Buông
cầm xóc áo vội ra
Hương
còn thơm nức người đà vắng tanh
Lần
theo tường gấm dạo quanh
Trên
đào nhác thấy một cành kim thoa
Kim
Trọng đã vội lấy cành kim thoa chờ lúc Thúy Kiều từ trong
nhà trở ra tìm mới lên tiếng:
Thoa
này bắt được như không
Biết
đâu Hợp Phố mà mong châu về
Và
vào dịp Thúy Kiều xin lại cành kim thoa, Kim Trọng mới có
dịp bày tỏ nỗi lòng tương tư của chàng và xin được hứa
hôn cùng nàng. Thúy Kiều đã đáp lời chàng:
Dù
khi lá thắm chỉ hồng
Nên
chăng thì cũng tại lòng mẹ cha
Tuy
nhiên chàng Kim đã nhân dịp đó mà cùng nàng Kiều:
Sẵn
tay khăn gấm quạt qùy
Với
cành thoa ấy tức thì đôi trao
Sau
đó nhân ngày sinh nhật ngoại gia, cả nhà đi dự duy có nàng
Kiều ở nhà một mình mới có dịp
Cánh
hoa sẽ đặng tiếng vàng
Dưới
hoa đã thấy có chàng đứng trông
Và
Thúy Kiều đã gặp Kim Trọng ngay tại căn phòng thuê của
chàng, ngắm bức họa mới vẽ của chàng, và theo lời đề
nghị của chàng, Kiều đã:
Tay
tiên gió táp mưa xa
Khoảng
trên dừng bút thảo và bốn câu
Câu
chuyện cứ tiếp diễn như vậy, Kiều đã có lần đánh đàn
cho Kim Trọng nghe. Lần đó Kim Trọng đã:
Xem
trong âu yếm có chiều lả lơi
Và
Kiều đã phải cảnh giác chàng:
Thưa
rằng: Ðừng lấy làm chơi
Dễ
cho thưa hết một lời đã nao
..
Ra
tuồng trên Bộc trong dâu
Thì
con người ấy ai cầu làm chi
Rồi
sau đó Kim Trọng phải về quê Liêu Dương thọ tang chú
Vương
Ngoại bị vu oan, Thúy Kiều lâm cảnh bán mình chuộc tội
cho chạ Thế là bắt đầu 15 năm lưu lạc cuả nàng, bán mình
cho Mã Giám Sinh – tay sai cuả mụ Tú Bà. Ði một tháng tròn
mới tới Lâm Truỵ Kiều đã dùng dao tử vẫn trước
Tú Bà. Trong cơn ngất bằn bặt này, Kiều đã gặp lại Ðạm
Tiên và được nàng cho hay:
Rỉ
Rằng: “Nhân quả dở dang
Ðã
toan trả nợ đoạn trường được sao
Số
còn nặng nghiệp má đào
Nàng
dù muốn quyết trời nào đã cho
Hãy
xin hết kiếp liễu bồ
Sông
Tiền Ðường sẽ hẹn hò về sau.”
Tới
đây chúng ta mới thấy Nguyễn Du đề cập tới nhân quả
của nhà Phật, nghiệp cuả Nhà Phật
Trước
ý chí cương quyết cuả Kiều, Tú Bà nhượng bộ, và Kiều
được ra ở lầu Ngưng Bích. Tại đây Sở Khanh xuất hiện
nói là sẽ ra tay tế độ cưú nàng. Nhưng khi Kiều đã ưng
theo lời Sở Khanh thì Sở Khanh lẩn trốn và Tú Bà đã bắt
Kiều trở lại lầu xanh tại Lâm Truỵ. Nơi đây Kiều gặp
được Thúc Sinh - đã có vợ Cả là Hoạn Thư - ra tay tế
độ cứu nàng ra khỏi chốn lầu xanh. Cha mẹ Thúc Sinh nổi
giận đòi trả lại Kiều về chốn lầu xanh. Nhưng qua lời
thú thực cuả Thúc Sinh, phủ Quan được biết Thúy Kiều tài
sắc vẹn toàn, có tài làm thơ. Phủ Quan ra lệnh Kiều đề
thơ và khi xem bài thơ của Kiều phủ Quan đã phải thốt lên:
Khen
rằng giá đáng thịnh đường
Tài
này sắc ấy nghìn vàng chưa cân
Và
Thúc Ông cũng đổi thái độ mà:
Thương
vì hạnh trọng vì tài
Thúc
ông thôi cũng dẹp lời phong ba
Suốt
một năm ròng hương lửa, Kiều khuyên Thúc Sinh nên về thăm
vợ cả Hoạn Thư:
Xin
chàng kíp liệu lại nhà
Trước
người đẹp ý sau ta biết tình
Nhưng
Thúc Sinh đã không làm theo lời khuyên của nàng
Vì
nghĩ rằng “Nào ai có khảo mà mình lại xưng”
Sau
khi đã xum họp vợ Chồng với Hoạn Thư, đã tới thời Thúc
Sinh trở lại Lâm Truy gặp lại Kiềụ Thúc Sinh đi theo đường
bộ, Hoạn Thư sai gia nhân đi đường biển gần hơn tới Lâm
Truy trước đó để bắt Kiều về. Trong khi đó với Kiều
thì:
Ðêm
thu gió lọt song đào
Nửa
vành trăng khuyết ba sao trên trời
Nén
hương đến trước Phật đài
Nỗi
lòng khấn chưả cạn lời vân vân
Dưới
hoa dậy lũ ác nhân
Ầm
ầm khốc quỷ Kinh thần mọc ra
Kiều
bị tưới thuốc mê mang đi, và để khiến mọi người sau
đây tưởng lầm là Kiều đã chết bèn bày bàn thờ:
Sẵn
thây vô chủ bên sông
Ðem
vào để đó lộn sòng ai hay
Quả
Nhiên khi đám gia nhân cuả Thúc Ông tới dập tắt lưả cháy
thì:
Chạy
vào chốn cũ phòng hương
Trong
tro thấy một đống xương cháy tàn
Thì
ngay tình tin là Kiều đã chết cháỵ Thúc Ông bèn cho thu lượm
gom lại, khâm liệm làm tang lễ. Thúc Sinh cũng vừa về tới
và dĩ nhiên cũng tin là Kiều đã chết cháỵ. Nhưng gần miếu
có một Thầy “Cao tay thông huyền” Thúc Sinh bèn tìm đến
hỏi thì được Thầy cho biết: Kiều “Còn nhiều nợ lắm
sao đà thác cho”. Hãy đợi một năm nưã thì sẽ biết tin!
Và chính vào dịp này Thúc Sinh sẽ lâm vào tình trạng trớ
trêu:
Hai
bên giáp mặt triền triền
Muốn
nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay
Thúc
Sinh không tin lời ông Thầy và nghĩ rằng
Chẳng
qua đồng cốt quàng xiên
Người
đâu mà lại thấy trên cõi trần
Trong
khi đó Khuyển Ưng đã khiêng Kiều xuống thuyền và:
Buồm
cao lèo thẳng cánh suyền
Dè
chừng huyện tích băng mình vượt sang
Kiêu
bị đánh đòn rồi bị chuyển thành thị tì với tên là Hoa
Nô.
Bà
quản gia thương Kiềụ, Hoạn Thư vào dịp nghe Kiều đàn
cũng cảm thương mà nới taỵ
Thế
là Kiều không được dip gặp Thúc Sinh ở Lâm Truỵ. Thúc
Sinh đành rời Lâm Truy trở về gia hương. Hoạn Thư đón mừng
sai Kiều ra chàọ Thúc Sinh biết mình đã mắc mưu ai rồị.
Vị trí Kiều với Thúc Sinh nay đã biến đổi thành con ở
và chủ nhà. Và khi Kiều bị Hoạn Thư bắt gãy đàn thì Hoạn
Thư và Thúc Sinh ở hai tâm cảnh khác nhau:
Cũng
trong một tiếng tơ đồng
Người
ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Sau
đó Hoạn Thư nguôi ngoai cơn ghen và theo lời Thúc Sinh cho Kiều
tu tại Quan Âm Các ở ngay vườn nhà với pháp danh Trạc Tuyền:
Áo
xanh đổi lấy Cà Sa
Pháp
danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền
Nhân
dịp Hoạn Thư về nhà vấn an cha mẹ, Thúc Sinh vội tìm gặp
Kiều, khuyên Kiều hãy nên cao chạy xa bay:
Liệu
mà cao chạy xa bay
Ái
ân ta có ngần này mà thôi
Bây
giờ kẻ ngược người xuôi
Biết
bao giờ lại nối lời nước non
Dẫu
rằng sông cạn đá mòn
Con
tằm đến thác cũng còn vương tơ
Vừa
lúc đó Hoạn Thư xuất hiện, nói là:
Tìm
hoa quá bước xem người viết kinh
Nhưng
sau đó hỏi hoa tì Kiều được hoa tì cho hay:
Hoa
rằng bà đến đã lâu
Nhón
chân đứng nép độ đâu nửa giờ
Do
đó Kiều hốt hoảng tự nhủ thầm:
Thân
ta ta phải lo âu
Miệng
hùm nọc rắn ở đâu chốn này
Và
Kiều đã trốn khỏi Quan Âm Các vào khoảng canh ba mang theo
chuông vàng khánh bạc để phòng thân. Ði miệt vừa rạng
sáng thì:
Chuà
đâu trông thấy nẻo xa
Rành
rành Chiêu Ẩn Am ba chữ bài
Tại
dây Kiều đã gặp Sư Trưởng Giác Duyên nói thác là:
Tiểu
thiền quê ở Bắc Kinh
Quy
sư quy Phật tu hành bấy lâu
Bản
sư rồi cũng đến sau
Dạy
đưa pháp bảo sang hầu sư huynh
Rày
vâng diện hiến rành rành
Chuông
vàng khánh bạc bên mình giở ra
Trong
thời gian được lưu trú lại chùa Kiều đã:
Kệ
kinh câu cũ thuộc lòng
Hương
đèn việc trước trai phòng quen tay
Sớm
khuya lá bối phiến mây
Ngọn
đèn khuê nguyệt tiếng chày nện sương
Thấy
nàng thông tuệ khác thường
Sư
càng nể mặt nàng càng vững chân
Chẳng
may có người tới thăm chùa nói với sư trưởng “chuông
vàng khánh bạc sao giống loại chuông vàng khánh bạc đã mất
cắp tại chùa nhà Hoạn Thư.
Chờ
đêm thanh vắng Giác Duyên hỏi Kiều, Kiều thực tình thưa
lại sự tình. Giác Duyên khuyên Kiều hãy sang ở tạm nhà
Bạc Bà – một Phật tử thường hay lui tới chùa nàỵ
“Ai
ngờ Bạc Bà cùng với Tú Bà đồng môn”. Bạc Bà khuyên
Kiều hãy lấy cháu mình là Bạc Hạnh tính tình thực thà,
có cửa hàng buôn bán ở Châu Thai, 2 người lấy nhau rồi
sẽ trở về Châu Thaị
Ngay
phút đầu gặp mặt Kiều đã sinh nghi:
Thiếp
như con én lạc đàn
Phải
cung rày đã sợ làm cây cong
Quả
thực sau này vỡ lẽ: Bạc Hạnh cũng là người buôn người
và y đã bán Kiều vào lầu xanh. May thay lần này Kiều gặp
được Từ Hải và được Từ Hải chuộc ra khỏi lầu xanh
để:
Trai
anh hùng gặp gái thuyền quyên
Phỉ
Nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng
Nhưng:
Nửa
năm hương lửa đương nồng
Trượng
phu thoắt đã động lòng bốn phương
Thế
là Từ Hải lại ra đi mong sớm thực hiện chí lớn. Ở lại
một mình Kiều nhớ nhà, nhớ các em, nhớ chàng Kim.
Từ
Hải đã thành công. Binh tướng cuả Từ Hải tới đón Kiều
để làm lễ vu quy. Ðây là dịp để Kiều trả ân báo oán.
Trước hết Kiều báo ân Thúc Sinh, Giác Duyên…sau đó báo
oán: Bạc Hạnh , Bạc Bà, Sở Khanh, Khuyển, Ưng, Tú Bà, Mã
Giám Sinh.
Giác
Duyên – Vì trước đó đã được gặp sư Tam Hợp có tài
tiên tri nên khi từ biệt Thúy Kiều đã khẳng định với
Kiều là trong 5 năm nữa sẽ lại gặp nhaụ.
Hồ
Tôn Hiến thuyết Từ Hải hãy quy hàng triều đình để được
hưởng công danh phú quý. Từ Hải không muốn hàng, nhưng Kiều
nhẹ dạ cả tin cố thuyết phục Từ Hải. Vì nghe theo Kiều,
Từ Hải đã mắc mưu Hồ Tôn Hiến. Từ Hải chết đứng
vì uất ức. Kiều gắng xin Hồ Tôn Hiến một mảnh đất
để chôn Từ Hải:
Xin
cho tiện thổ một đời
Gọi
là đắp điếm lấy người tử sinh
Tối
hôm đó vào lúc tiệc mừng chiến thắng Hồ Tôn Hiến đã
ép Kiều phải vào đánh đàn:
Trong
quân mở tiệc hạ công
Xôn
xao tơ trúc hội đồng quân quan
Bắt
nàng thị yến dưới màn
Dở
say lại ép cung đàn nhặt tâu
Một
cung gió thảm mưa sầu
Bốn
dây nhỏ Máu năm đầu ngón tay
Ve
ngâm vượn hót nào hay
Lọt
tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu
Và
Hồ hỏi Kiều có muốn làm lại cuộc đời kết duyên cầm
sắc với ai không? Kiều đã trả lời:
Thưa
rằng: chút phận lạc loài
Trong
mình nghĩ đã có người thác oan
Còn
chi nữa cánh hoa tàn
Tơ
lòng đã đứt dây đàn Tiểu Lâm
Rộng
thương còn mảnh hồng quần
Hơi
tàn đuốc thấy gốc phần là may
Ðến
lúc rạng ngày Hồ Công hối hận việc ép Kiều đánh đàn
cho mình nghe hôm trước:
Nghĩ
mình phương diện quốc gia
Quan
trên nhắm xuống người ta trông vào
Bèn
gán ép Kiều cho một người thổ quan:
Kiệu
hoa áp thẳng xuống thuyền
Và:
Triều
đâu nổi tiếng đùng đùng
Hỏi
ra mới biết rằng sông Tiền Ðường
Kiều
sực nhớ lại lời Ðạm Tiên xưa đã nói với mình trong mộng:
Sông
Tiền Ðường sẽ hẹn hò về sau
Thế
là Kiều quyết định ngay:
Thôi
thì 1 thác cho rồi
Tấm
lòng phó mặc trên trời dưới sông
Trông
vời non nước mênh mông
Ðem
mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang
Thổ
quan theo vớt vội vàng
Thì
đà đắm ngọc chìm hương mất rồi
Trở
lại với Giác Duyên, từ thuở giã biệt Kiều để tiếp tục
trên đường vân du, Sư bà đã có dịp gặp Tam Hợp đạo
cô bèn hỏi Ðạo cô về trường hợp của Kiều:
Người
sao hiếu nghĩa đủ đường
Kiếp
sao rặt những đoạn trường thế thôi
Sư
bà được đạo cô cho hay là:
Thúy
Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô
duyên là phận hồng nhan đã đành
Lại
mang lấy một chữ tình
Khư
khư mình buộc lấy mình vào trong
Khi
thầy Giác Duyên nghe nói rụng rời đạo cô bèn trấn an ngay:
Sư
rằng song chẳng hề chi
Nghiệp
duyên cân lại nhắc đi còn nhiều
Xét
trong tội nghiệp Thúy Kiều
Mắc
điều tình ái khỏi đường tà dâm
Lấy
tình thâm trả nghĩa thâm
Bán
mình đã động hiếu tâm đến trời
Hại
một người cứu muôn người
Biết
đường khinh trọng biết lời phải chăng
Thửa
công đức ấy ai bằng
Túc
khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi
Như
vậy là Kiều đã “đức năng thắng số”. Ðạo cô khuyên:
Giác
Duyên dù nhớ nghĩa nhau
Tiền
đường thả một bè lau rước người
Giác
Duyên làm đúng theo lời chỉ dẫn của Tam Hợp đạo cô
Vì
vậy đã cứu được Thúy Kiều khi nàng gieo mình xuống sông
Tiền Ðường và mời Kiều về thảo lư ở với mình:
Một
nhà chung chạ sớm trưa
Gió
trăng mát mặt muối dưa chay lòng
Bốn
bề bát ngát mênh mông
Triều
dâng hôm sớm mây lồng trước sau
Trở
về chuyện chàng Kim. Chàng ở Liêu Dương nửa năm, khi chàng
trở về chốn cũ mới hay Kiều đã bán mình chuộc tội cho
cha Vương Quan với Thúy Vân sống nghèo túng, may thuê viết
mướn kiếm ăn lần hồi. Ông bà Viên ngoại còn sống. Thấy
chàng Kim thương nhớ Kiếu, Vương Ông quyết định vội vàng
sắm sưả chọn ngày để:
Duyên
Vân sớm đã se dây cho chàng
Sau
đó Vương Quan, Kim Trọng thi đỗ. Kim Trọng đi nhậm chức
tại Lâm Truy, gặp Thúc Sinh mới hay về chuyện Từ Hải chết
đứng. Và Kim Trọng quyết định đi tìm Kiều:
Rắp
mong treo ấn từ quan
Mấy
sông cũng lội mấy ngàn cũng pha
Dấn
mình trong áng can qua
Vào
sinh ra tử họa là có nhau
Vừa
lúc đó có chiếu vua cải nhận Kim Trọng tới Nam Bình, Vương
Quan tới Phú Dương. Hai chàng cùng chuẩn bị lên đường thì
vưà hay thế giặc đã tan:
Sóng
êm Phúc Kiến lửa tàn Chiết Giang
Và:
Ðược
tin Kim mới rủ Vương
Tiện
đường cùng lại tìm nàng sau xưa
Tới
Hàng Châu tìm hỏi tin tức mới hay chuyện Từ Hải chết đứng,
Thúy Kiều bị ép duyên cho thổ quan đã trầm mình xuông sông
Tiền Ðường. Thật tội nghiệp: cả nhà vinh hiển riêng oan
một nàng! Hai chàng bèn làm lễ chiêu hồn giải oan ngay bên
bờ sông Tiền Ðường thì may sao:
Cơ
duyên đâu bỗng lạ Sao
Giác
Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi
Vì
gặp Giác Duyên mọi người mới biết Thúy Kiều còn sống.
Kiều gặp đủ mặt người thân:
Tưởng
bây giờ là bao giờ
Rõ
ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao
Nhưng
khi Vương Ông bảo Kiều hãy theo mọi người cùng về thì
Kiều đã thưa lại:
Nàng
rằng: Chút phận hoa rơi
Nửa
đời nếm trải mọi mùi đắng cay
Tính
rằng mặt nước chân mây
Lòng
nào còn tưởng có rày nữa không
Ðược
rày tái thế tương phùng
Khát
khao đã thỏa tấm lòng lâu nay
Ðã
đem mình bỏ am mây
Tuổi
này gởi với cỏ cây cũng vừa
Mùi
thiền đã bén muối dưa
Màu
thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng
Sự
đời đã tắt lửa lòng
Còn
chen vào chốn bụi hồng làm chi
Vương
Ông vẫn khuyên Kiều hãy quay về xum họp, vì chấp kinh cũng
phải tòng quyền rồi:
Ðộ
Sinh nhờ đức cao dày
Lập
am rồi sẽ rước Thầy ở chung
Và
Kiều đã:
Nghe
lời nàng phải chiều lòng
Giã
sư giã cảnh đều cùng bước ra
Về
tới nhà trong bữa tiệc xum họp nàng Vân tuyên bố là xưa
vì nạn nhà mà mối duyên của chị với chàng Kim nàng phải
đứng ra thay chị nhưng:
Bây
giờ gương vỡ lại lành
Khuôn
thiêng lừa lọc đã đành có nơi
Còn
duyên may lại còn người
Còn
vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa
Kiều
gạt phắt lời em, vì nghĩ thân mình dãi gió dầm mưa đã
nhiều
Chàng
Kim khăng khăng góp ý với Kiều:
Một
lời đã chót thâm giao
Dưới
dày có đất trên cao có trời
Dẫu
rằng vật đổi sao dời
Tử
Sinh cũng giữ lấy lời tử Sinh
Kiều
vẫn cương quyết khước từ và thưa thẳng với chàng Kim:
Thiếp
từ ngộ biến đến giờ
Ong
qua bướm lại đã thừa xấu xa
Bấy
chầy gió táp mưa sa
Mấy
trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn
Và
nàng đề nghị hãy từ tình duyên đổi sang tình bạn:
Chàng
dù nghĩ đến tình xa
Ðem
duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ
Chàng
Kim vẫn cương quyết nói với nàng là chữ trinh kia cũng có
ba bảy đường:
Như
nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi
nào cho đục được mình ấy vay
Trời
còn để có hôm nay
Tan
sương đầu ngõ vén mây giữa trời
Hoa
tàn mà lại thêm tươi
Trăng
tàn mà lại hơn mười rằm xưa
Cả
Vương Ông, Vuơng Bà cùng chàng Kim dồn Thúy Kiều vào thế
hết lời khôn lẽ chối lời
Cúi
đầu nàng những ngắn dài thở than
Và
nàng chịu làm lễ đủ đôi với chàng.
Nhưng
đêm hôm đó trong phòng chỉ còn riêng hai người nàng mới
thỏ thẻ nói lại với chàng lý lẽ của mình. Em Vân đã
thay nàng trả nợ tình xưa, còn mình thì:
Chữ
trinh còn một chút này
Chẳng
cầm cho vững lại giày cho tan
Còn
nhiều ân ái chan chan
Hay
gì vẫy cánh hoa tàn mà chơi
Sau
cùng Kim Trọng hoàn toàn đồng ý với nàng đem duyên cầm
sắt ra duyên cầm kỳ. Chàng cũng khẳng định là
Bấy
lâu đáy bể mò kim
Là
nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa
Ai
ngờ lại họp một nhà
Lọ
là chăn gối mới ra sắt cầm
Và
Kiều đã sửa áo cài trâm khấn đầu lạy tạ Chàng Kim:
Thân
này gạn đục khơi trong
Là
nhờ quân tử khác lòng người ta
Sau
đó Kim Trọng lại yêu cầu cho nghe lại tiếng đàn xưa của
nàng. Nàng thuận tình chiều ý chàng nhưng lần này thì
Khúc
đâu đầm ấm dương hòa
Ấy
là hồ điệp hay là Tráng sinh
Khúc
đâu êm ái xuân tình
Ấy
hồn Thục đế hay mình Ðỗ Quyên
Trông
sao châu nhỏ duềnh quyên
Ấm
sao hạt ngọc Lam Ðiền mới đông
Thúy
Kiều cũng không quên
Nhớ
lời lập một am mây
Khiến
người thân tín rước Thầy Giác Duyên
Nhưng:
Ðến
nơi đóng cửa cài then
Rêu
trùm kẽ ngạch cỏ lên mái nhà
Sư
đà hái thuốc phương xa
Mây
bay hạc lánh biết là tìm đâu
Nặng
vì chút nghĩa bấy lâu
Trên
am cứ giữ hương dầu hôm mai
Thúy
Kiều tiếp tục cuộc sống thảnh thơi hạnh phúc của kẻ
đã trả nợ xong nghiệp cũ:
Một
nhà phúc lộc gồm hai
Nghìn
năm dằng dặc quan giai lần lần
Thừa
ai chẳng hết nàng Vân
Một
cây cù mộc một sân quế hòe
Và
Nguyễn Du đã kết thúc Truyện Kiều với những lời thơ đề
cập tới chữ tài, chữ mệnh , chữ tâm, thiện căn và nghiệp
nơi con người:
Ngẫm
hay muôn sự tại trời
Trời
kia đã bắt làm người có thân
Bắt
phong trần phải phong trần
Cho
thanh cao mới được phần thanh cao
Có
đâu thiên vị người nào
Chữ
tài chữ mệnh dồi dào cả hai
Có
tài mà cậy chi tài
Chữ
tài liền với chữ tai một vần
Ðã
mang lấy nghiệp vào thân
Cũng
đừng trách lẫn trời gần xa
Thiện
tâm ở tại lòng ta
Chữ
tâm kia mới bằng ba chữ tài
Lời
quê chắp nhặt dông dài
Mua
vui cũng được một vài trống canh
Như
vậy là đọc lại từ đầu đến cuối Truyện Kiều, chúng
ta thấy cụ Tiên Ðiền đã 6 lần đề cập đến đạo Phật
hoặc qua nhân vật hoặc qua tình tiết truyện.
Lần
thứ nhất: Khi Kiều dùng dao tự vẫn trước Tú Bà, trong cơn
ngất bằn bặt Kiều đã được Ðạm Tiên báo cho hay:
Rỉ
Rằng: Nhân quả dở dang
Ðã
toan trốn nợ đoạn truờng được sao
Số
còn nặng nợ má đào
Người
dù muốn quyết trời nào đã cho
Hãy
xin hết kiếp liễu bồ
Sông
Tiền Ðường sẽ hẹn hò về sau
Như
vậy là lần thư nhất này qua lời báo mộng của Ðạm Tiên
, Nguyễn Du đã đề cập đến luật nhân quả và chữ nghiệp
cuả nhà Phật
Lần
thứ hai: Khi biết Thúc Sinh “vườn mới thêm hoa” (gian díu
với Thúy Kiều), Hoạn Thư đã:
Lửa
tâm càng dập càng nồng
Trách
người đen bạc ra lòng trăng hoa
Hai
chữ lửa tâm trên đây cũng đượm phần giáo lý cuả Nhà
Phật
Lần
thứ ba: Khi Thúc Sinh trở lại Lâm Truy bằng đường bộ để
gặp lại Thúy Kiều thì Hoạn Thư đã sai lũ gia nhân đi bằng
đuờng biển gần hơn bắt Thúy Kiều
Trong
khi đó với Kiều khi chưa bị lũ gia nhân cuả Hoạn Thư tới
bắt thì
Ðêm
thu gió lọt song đào
Nửa
vành trăng khuyết ba sao trên trời
Nén
hương đến trước Phật đài
Nỗi
lòng khấn chửa cạn lời vân vân
Theo
lời bàn xưa thì hình ảnh “nửa vành trăng khuyết ba sao
trên trời cũng là gián tiếp nhắc đến chữ Tâm của đạo
Phật
Lần
thứ tư: Khi Kiều đã bị bán mình cho Mã Giám Sinh tay sai của
Mụ Tú Bà, tới đây Nguyễn Du qua lời Ðạm Tiên nói với
Thúy Kiều đã đề cập tới Luật nhân quả và chữ Nghiệp
trong đạo Phật:
Rỉ
Rằng: Nhân quả dở dang
Ðã
toan trả nợ đoạn trường được sao
Số
còn nặng nghiệp má đào
Nàng
đà muốn quyết trời nào đã cho
Lần
thứ năm: Khi Kiều trầm mình xuống sông Tiền Ðường nàng
được sư bà Giác Duyên cứu sống và Kiều đã theo về thảo
lư chung sống với sư bà.
Lần
thứ sáu: Với sáu câu sau cùng cuả Truyên Kiều cụ Nguyễn
Du đã dùng đến chữ Nghiệp và chữ Tâm cuả Nhà Phật để
hàm ý khuyên chúng ta một nếp sống tâm linh lành mạnh:
Ðã
mang lấy nghiệp vào thân
Cũng
đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện
căn ở tại lòng ta
Chữ
tâm kia mới bằng ba chữ tài
Lời
quê chắp nhặt dông dài
Mua
vui cũng được một vài trống canh.
Nam
Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni,