MỤC
LỤC
Đôi
dòng tri ân
A
- DẪN NHẬP
1)
Mục đích và ý nghĩa của đề tài
2)
Giới hạn phạm vi đề tài
B
- NỘI DUNG
I)
Các thuật ngữ được xử dụng trong truyện Kiều
II)
Ðịnh luật vô thường hữu hạn của vũ trụ nhân sinh
III)
Thuyết nghiệp báo biểu hiện trong truyện Kiều
IV)
Thuyết Nhân Quả
V)
Những vần thơ đầy đạo vị trong thi ca truyện Kiều
VI)
Giáo lý Tứ Ðế
VII)
Ý nghĩa của chữ Tâm
VIII)
Một vài triết lý khác bàng bạc qua thi phẩm Kiều
C
- KẾT LUẬN
ÐÔI
DÒNG TRI ÂN
“Ơn
giáo dưỡng một đời nên huệ mạng
Nghĩa
ân sư muôn kiếp khó đáp đền’
Bốn
năm qua tại trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam chúng con đã
được ban Giám Hiệu, Chư Tôn Ðức và chư vị giảng sư trong
Ban Giảng Huấn với tất cả thiện tâm thiện chí, đã tân
tụy truyền trao kiến thức cho hàng hậu học chúng con.
Trí tuệ chúng con ngày thêm tỏa sáng thì công ơn của chư
vị ân sư càng thêm sâu nặng chẳng biết bao giờ có thể
đền đáp được.
Tập
tiểu luận này đánh dấu một bước trưởng thành của chúng
con trong việc bắt đầu tập nghiên cứu một vấn đề liên
quan Phật học, tuy rất đơn sơ nhưng gói trọn trong tâm tư,
những thao thức của con về một kiếp người và hơn hết
là gói trọn tấm chân tình và lòng thành kính của con đối
với quý Ngài.
Do
khả năng có hạn nên những sơ sót không bao giờ tránh khỏi,
con xin quý Ngài chỉ giáo cho con.
Hoàn
thành tiểu luận này con xin thành kính tri ân Ban Giám hiệu,
chư vị giáo sư và đặc biệt là giáo sư Minh Chi, người
thầy khả kính với kiến thức Phật Học uyên thâm đã tận
tình hướng dẫn con trong quá trình thực hiện đề tài.
Cũng xin tri ân quý vị tác giả, dịch giả những tác phẩm
mà người viết tham cứu, trích dẫn trong khi thực hiện tiểu
luận này. Xin cám ơn tất cả quý vị thiện hữu tri
thức, các bạn đồng phạm hạnh đã có nhiều ý kiến trao
đổi hữu ích trong suốt thời gian học tập.
Chân
thành tri ân
T.P.
Hồ Chí Minh
A.
DẪN NHẬP
Nếu
như ‘Thơ là người’ thì qua tác phẩm truyện Kiều, chúng
ta có thể thấy được một Nguyễn Du đầy kinh nghiệm lịch
lãm trên đường đời, một Nguyễn Du dồi dào tình thương
và ý chí dù phải gặp bao nhiêu trở ngại, gian truân và thử
thách.
Cái
hay cái đẹp của truyện Kiều không những ở chỗ ngôn từ
hoa lệ, văn chương thẩm mỹ, ý tứ thâm trầm phong phú, mà
còn ở chỗ tác giả đã mượn cốt người trong truyện để
miêu tả một cách khéo léo tài tình những thăng trầm vinh
nhục của cuộc đời, những vui buồn thương ghét của con
người, và những tan hợp bèo mây của thực trạng xã hội.
Cao xa hơn nữa, Nguyễn Du đã dùng truyện Kiều để diễn
đạt một quan niệm triết lý nhân sinh, một giá trị triết
học tôn giáo, theo ý của người viết điểm đặc sắc của
truyện Kiều là ở đó, và có lẽ vì thế nên quần chúng
Việt Nam, nhất là các giới bình dân đã đón nhận truyện
Kiều như một vật thương yêu nếu không phải là chính của
lòng mình, đời mình.
Cổ
nhân nói: ‘Dĩ nhân tải đạo’ (lấy văn chương mà chở
đạo lý). Câu nói ấy rất thích hợp cho truyện Kiều.
Vì lẽ ấy nên người viết không đồng ý với quan điểm
khe khắt của một số người đã phê bình: ‘Truyện Kiều
là một tác phẩm khêu gợi lòng tà dâm, dục vọng, là vi
phạm đến luân lý đạo đức.’ Trái lại đọc truyện
Kiều chúng ta thấy bàng bạc trong văn, trong lời, những đức
tính hy sinh vô cùng, những kham nhẫn tột độ của kiếp nhân
sinh thống khổ.
Khi
đọc truyện Kiều dù tâm hồn có sắt đá bao nhiêu ta cũng
không thể dằn lòng rung cảm, thương cho nàng Kiều vì ‘tài
hoa bạc phận’, thương cho Nguyễn Du ‘sinh bất phùng thời’,
thương cho ta, thương cho những người đã sinh ra trong cuộc
đời phù du ảo mộng! Lòng thương ấy là gì? Nếu không
phải là chữ ‘Nhân” của Khổng Tử, chữ ‘Kiêm ái’
của Mặc Tử, chữ ‘Bác ái’ của Ðức Chúa, và chữ ‘Từ
Bi’ của Ðức Phật.
Tuy
nhiên ở đây người viết không có ý đề cao giá trị văn
chương nghệ thuật của truyện Kiều, cũng không có ý so sánh
Nguyễn Du với những nhà đại văn hào của nhân loại.
Thiết nghĩ việc ấy coi như thừa, vì chính tác phẩm và tác
giả đã tự chứng minh cho giá trị của mình trong quá trình
văn học sử Việt Nam và thế giới.
Vì
vậy ở đây người viết chỉ có ý khai thác một khía cạnh
triết học tôn giáo trong truyện Kiều, hầu góp một vài nhận
xét về truyện Kiều trong văn đàn Việt Nam. Ðứng về
khía cạnh triết học tôn giáo, chúng ta thấy : tư tưởng
triết học tôn giáo nổi bật nhất trong truyện Kiều là tư
tưởng triết học của Phật giáo. Ðiều này cũng không
lấy gì làm lạ, vì như chúng ta đã biết Nguyễn Du là một
nhà nho học uyên thâm và ở nước ta thời ấy từ Nho học
bước qua Phật học rất gần, bởi lẽ hầu hết kinh điển
của Phật giáo đều viết bằng chữ Hán. Vả lại trong
mảnh đất ’đất lành chim đậu’ với truyền thống ‘tam
giáo đồng nguyên’ nầy, thì không những một mình Nguyễn
Du mà đến cả các nhà văn hóa đương thời hầu hết
cũng đều ảnh hưởng bởi tinh thần nầy.
Tuy
nhiên, riêng về truyện Kiều thì chúng ta thấy, dù trong đó
có nhiều đoạn đề cập đến những đạo nghĩa luân thường
của Nho học và những ước vọng tiêu dao phóng khoáng của
Lão Trang, nhưng kỳ thật thì ảnh hưởng của Phật giáo bao
giờ cũng sâu đậm hơn cả.
Thật
vậy, điểm độc đáo của triết học Phật giáo là ở chỗ
coi nhân sinh và vũ trụ là vô thường, giả huyễn, hữu hạn
và đau khổ để xây dựng cốt truyện và diễn đạt tình
cảm cuộc đời của các nhân vật trong truyện. Sau đây
chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ ràng về nỗi đau khổ của
kiếp người theo quan điểm của nhà Phật.
1)Mục
đích và ý nghĩa của đề tài:
Thi
phẩm truyện Kiều là tác phẩm nổi tiếng nhất trong thi đàn
Việt Nam vào thế kỷ thứ mười tám. Thi phẩm đã chuyên
chở nhiều tư tưởng Phật học có giá trị sâu sắc, nhưng
thực tế trong các tài liệu nghiên cứu văn học Việt Nam
đã có nhiều cái nhìn khác nhau. Vì thế người
viết trong phần biên khảo luận văn này đã nổ lực đi tìm
giá trị đích thực của triết học Phật giáo trong thi phẩm
nói trên.
Giá
trị triết học Phật giáo đã biểu hiện khác nhau qua các
giai đoạn của cuộc sống mười lăm năm đoạn trường của
Thúy Kiều. Người viết cố gắng phân tích đạo Phật
trong nhận thức của Nguyễn Du và ảnh hưởng của đạo Phật
trong văn chương truyện Kiều.
2)Giới
hạn phạm vi đề tài:
Trong
phần biên soạn nầy, người viết chỉ đề cập đến một
số nét nổi bật sau đây:
a)
Các thuật ngữ Phật giáo được xử dụng trong truyện Kiều
b)
Thuyết nghiệp báo biểu hiện trong thi phẩm
c)
Giáo lý nhân quả
d)
Ý nghĩa chữ tâm
e)
Giáo lý Tứ Ðế
f)
Ðịnh luật vô thường hữu hạn của vũ trụ nhân sinh
g)
Các triết lý khác bàng bạc qua thi phẩm
B.
NỘI DUNG
I-
CÁC THUẬT NGỮ ÐƯỢC XỬ DỤNG TRONG TRUYỆN KIỀU
Trong
truyện Kiều có rất nhiều thuật ngữ liên hệ đến đạo
Phật được tác giả xử dụng với thâm ý chuyên chở
một nội dung đạo vị. Những thuật ngữ này phần nhiều
xuất xứ từ các kinh Ðịa Tạng, Phổ Môn, Thủy Sám, Chẩn
Tế khoa nghi ... Nhưng ở đây người viết chỉ bàn đến một
số thuật ngữ ít được lưu ý.
1)
Ðoạn
trường: Có thể đã được rút từ kinh Ðại báo
phụ mẫu trọng ân: ‘Như viên đề ái tử, thốn thốn đoạn
can trường (như vượn khóc con yêu, đứt ra từng khúc ruột)’.
Lấy tích con vượn mẹ yêu con bị thương không nỡ rời,
người ta bắn cả hai mẹ con về làm thịt. Khi mổ bụng
ra vượn con tuy bị thương mà ruột vẫn lành lặn, còn vượn
mẹ vì quá thương con nên ruột đã bị đứt ra từng khúc.
2)
Trạc
tuyền: là pháp danh của Thúy Kiều khi xuất gia. Tên
này lấy tích từ văn Thủy sám, bài tựa có câu: ‘Nhạn
hạ hữu tuyền, minh đán trạc chi tức dũ’ (dưới núi có
dòng suối, sớm mai xuống rửa mụt ghẻ sẽ khỏi ngay).
Cụ Nguyễn Du đặt cho Kiều cái pháp danh ấy, phải chăng
dụng ý nói Kiều cũng có một oan hồn theo báo đời như kiểu
oan hồn của Triệu Thố mười đời theo dõi Ngộ Ðạt quốc
sư để báo thù? Và oan hồn theo báo nàng Kiều không
ai khác hơn là Ðạm Tiên vậy. Cái suối giải oan cho
Kiều chính là sông Tiền Ðường, nơi nàng nhảy xuống từ
trần, và hồn ma Ðạm Tiên đã đến tỉ tê khi nàng vừa
được vớt lên đang còn ‘mơ màng phách quế hồn mai’.
‘Rằng
tôi đã có lòng chờ
Mất
công mười mấy năm thừa ở đây’
Rõ
ràng là hồn ma Ðạm Tiên vẫn theo báo Kiều cho đến bây
giờ khi nàng sạch nghiệp mới chịu buông tha. Nó còn
muốn cho Kiều phải chết trong tủi nhục và sống trong đọa
đày. Lần đầu tiên khi Kiều toan tự sát bằng con dao
để khỏi rơi vào tay tú bà, thì hồn ma ấy lại hiện lên
răn đe:
‘Số
còn nặng nợ má đào
Người
dù muốn thác trời nào đã cho
Hãy
xin hết kiếp liễu bồ
Sông
Tiền Ðường sẽ hẹn hò về sau’
Nghĩa
là khi Kiều đáng chết để khỏi nhục thì hồn ma Ðạm Tiên
cản ngăn, làm cho nàng phải sống nhục.
3)
Am
mây: thường dùng trong truyện Kiều ‘am mây quen lối đi
về đời hương’. Do chữ trong Cao tăng truyện, thiền
sư Nhất Biến cất am trên núi cao, tu thiền có để lại bốn
câu thơ:
‘Thiên
phong đãnh thượng nhất gian ốc
Lão
tăng bán gian, vân bán gian
Tạc
dạ vân tùng phong vũ khứ
Ðáo
đầu bất tợ lão tăng nhân’
(Trên
đỉnh núi cao cất một gian nhà, lão tăng nửa gian, mây nửa
gian. Ðêm qua mây theo mưa gió đi mất. Rốt cuộc
không bằng lão tăng nhàn.)
4)
Phiến
mây: khi Kiều ở Chiêu Ẩn am với Giác Duyên, Nguyễn
Du tả:
‘Sớm
khuya lá bối phiến mây
Ngọn
đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương’
Hai
chữ phiến mây thường được viết sai là phướng mây, chữ
phướng giải thích là cái tràng phan treo trong, chứ không được
giải thích. Kỳ thực, phiến mây mới đúng hoặc đọc
miếng mây theo tự dạng chữ Nôm. Như ta biết lúc bấy
giờ, Kiều đang ở chùa làm chú tiểu. Công việc một
chú tiểu vào buổi đại hồng chung. Thứ tự công việc
của chú tiểu được diễn tả đầy đủ trong câu thơ trên.
Ban ngày (sớm) thì chép kinh trên lá bối, khuya dậy thì đánh
mộc bảng hay ‘mộc ngư’ (tấm bảng bằng gỗ mít thường
khắc hình con cá tượng trưng sự tỉnh thức, vì cá rất
ít ngủ) để làm hiệu lệnh khi thức dậy, kế đến là khêu
đèn cho sáng (ngọn đèn khêu nguyệt) rồi dóng đại hồng
chung (tiếng chảy nện sương) không ai mò tới những tấm
phướng làm gì vào giờ ấy. Bởi vậy, phiến mây chỉ có
thể là tấm ‘mộc ngư’ hay tấm bảng bằng gỗ mít đánh
lên để thức chúng dậy buổi khuya. Chữ ‘mây’ rút
từ bài tựa Kinh Ðịa Tạng và nhiều kinh khác. Chư Bồ
tát tụ hội đông như mây, nên có danh từ ‘vân tập’.
Tấm bảng bằng gỗ mít thường gọi chung là ‘ngọc bảng’,
khi được dùng để đánh hiệu lệnh ở phòng ăn gọi là
‘phạn bảng’, ở phòng tắm gọi là ‘thủy bảng’, treo
ở chánh điện triệu tập tăng chúng thì gọi là ‘vân bảng’.
Chữ phiến mây xuất phát từ chữ ‘vân bảng’ nầy.
‘Ngọn đèn khêu nguyệt’ rút từ khoa Mông sơn thí thực;
‘Kinh
song lãnh tống tam canh nguyệt
Thiền
thất hư minh toán dạ đăng’
(Cửa
kính trăng thảm lạnh lùng, nhà thiền leo lét đèn chong canh
dài)
‘Tiếng
chày nện sương’ xuất xứ từ bốn câu thơ của Trương
Kế:
‘Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô
Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền’
Tản
Ðà dịch:
‘Trăng
tà tiếng quạ kêu sương
Lửa
chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền
ai đậu bến Cô Tô
Nửa
đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San’
5)
Nhồi
tâm hương: Lúc ở Quan Âm Các nhà Hoạn Thư, công
việc của nàng được Nguyễn Du tả như sau:
‘Ngày
phô thủ tự, đêm nhồi tâm hương’
‘Ngày
phô thủ tự’ nghĩa là ban ngày bày ra chép kinh.‘đêm nhồi
tâm hương’ thường đọc sai là ‘nồi’ giảng sai thành
đồt lò hương trầm .. kỳ thực ‘tâm hương’ ở đây là
ngũ phần hương, năm thứ hương của pháp thân là: giới,
định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến. ‘nhồi
tâm hương’ là ngồi thiền, tĩnh lự (làm lắng dịu những
lo nghĩ) để tô bồi năm phần hương của pháp thân.
6)
Giọt
nước cành hương: khi tả tâm trạng Kiều ở Quan
âm các, Nguyễn Du đã viết:
‘Cho
hay giọt nước cành dương
Lửa
lòng rưới tắt mọi đường trần duyên’
Bốn
chữ ‘giọt nước cành dương’ rút từ khoa Mông sơn
thí thực và khoa nghi chẩn tế:
‘Bồ
tát liễu đầu cam lồ thủy
Năng
linh nhất trích biến thập phương
Tinh
chuyên cấu uế tạn quyên trừ
Phổ
sái đạo tràng tất thanh tịnh’
(Nước
cam lồ đầu cành dương của Bồ Tát có thể làm cho một
giọt rưới khắp được cả mười phương có thể trừ sạch
hết những nhiễm ô, rưới khắp cả đạo tràng được thanh
tịnh)
7)
Quan
phòng: cuối cùng hai chữ bí hiểm chưa ai giải đúng là
hai chữ ‘quan phòng’ trong câu:
‘Quan
phòng then nhặt lưới mao
Nói
lời trước mặt rơi châu vắng người’
Ðây
là giai đoạn Kiều tu ở Quan âm các: ‘Tam quy ngũ giới cho
nàng xuất gia’. Thật ra tam quy thập giới mới đúng.
Có lẽ những người sao chép không rành giới luật trong đạo
Phật mà chỉ quen danh từ tam quy ngũ giới nên đã tự tay
sửa lại tưởng cụ Nguyễn Du viết lầm, nhưng ông,
một người am tường Phật giáo sâu sắc, một người đã
từng đọc kinh Kim Cang cả ngàn lần (xem thơ chữ Hán Nguyễn
Du ) và khi chết đã chết tỉnh giác như một thiền sư thì
không thể nào không biết đến giới luật sơ đẳng của
người xuất gia là tam quy thập giới. Chính chữ Quan
Phòng chỉ cho mười giới ấy. Chữ Quan có nghĩa là quan
bế
(đóng cửa) có thể tìm thấy trong từ ngữ Bát quan trai giới
(giới để đóng tám cửa) ’Phòng’ là phòng phi chỉ ác,
tức là đề phòng việc sai trái, dứt hẳn điều ác, chỉ
cho luật. Như vậy chữ ‘quan’ chỉ cho bốn giới trọng
trong mười giới Sa di, được ví như cửa phải đóng, không
thể khai mở được. Ðó là bốn giới ‘sát, đạo,
dâm, vọng’. ‘Phòng’ chỉ cho sáu giới khinh tiếp theo.
‘Then nhặt’ (then cài kỹ đóng chốt) là bổ túc cho ý nghĩa
chữ ‘quan’, bốn giới không thể vi phạm. ‘Lưới
mao’ (mao là lông, nhẹ như lông). Ðọc ‘mau’ là sai, bổ
nghĩa cho chữ phòng chỉ sáu giới nhẹ, có thể du di, chẳng
hạn giới không ăn chiều.
II.
ÐỊNH LUẬT VÔ THƯỜNG, HỮU HẠN CỦA VŨ TRỤ NHÂN SINH:
Theo
triết học Phật giáo thì vũ trụ nhân sinh đều là do nhân
duyên hòa hợp với nhau mà sanh, không có một vật nào thật
có cả. Nhân duyên hòa hợp ở đây là chỉ cho trạng
thái hòa đồng tương hợp giữa hai phần thể chất và tinh
thần (con người) vật thể và hình thể (sự vật) hay nói
đúng theo danh từ của Phật giáo là tứ đại và ngũ uẩn.
Vì vũ trụ nhân sinh là do tứ đại và ngũ uẩn hòa hợp lại
thành, nên tất cả đều là vô thường, giả huyễn, hữu
hạn và đau khổ.
Dựa
vào quan điểm này của Phật giáo, nên cụ Nguyễn Du trong
truyện Kiều, cũng được gọi là ‘Ðoạn Trường Tân Thanh’
đã mở đầu cho cuốn truyện của mình bằng bốn câu thơ
sau:
‘Trăm
năm trong cõi người ta
Chữ
tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải
qua một cuộc bể dâu
Những
điều trông thấy mà đau đớn lòng’
Trong
bốn câu thơ mở đầu này, chúng ta thấy tác giả đã phác
họa ra trước mắt ta một cảnh đời đau thương áo não của
những vô thường biến đổi,những thăng trầm vinh nhục,
những bãi bể nương dâu của cuộc đời. Vì thế đã
sinh ra kiếp người không ai có thể tránh khỏi cảnh vô thường,
đau khổ và chết chóc. Chết trẻ, chết già, chết bịnh,
chết hoạn, chết vì bao nhiêu thử thách gian truân của cuộc
đời, ít người sống vượt khỏi giới hạn 100 năm.
Ðối với kiếp người ba vạn sáu ngàn ngày, tuy là dài, nhưng
đối với thời gian vô tận thì nó ngắn ngủi làm sao!
Vì
cảm nhận sâu sắc định lý vô thường nầy của kiếp người,
nên có một triết gia Âu tây đã nói: ‘Không có ai được
diễm phúc đặt chân hai lần trên một dòng sông.’ (One can
not step twice in the same river) Vâng! Không ai có thể tắm được
một dòng sông hai lần, vì nước sông luôn luôn lưu động
di chuyển, vì các tế bào trong con người luôn luôn sinh diệt,
diệt sinh. Con người ngày hôm qua không phải là con người
ngày hôm nay. Dòng sông của giờ phút trước không đồng
với dòng sông của giờ phút sau, thay đổi khác nhau từng
tích tắc sát na, như thế thì làm sao mà đặt chân được
hai lần trên một dòng sông?
Tuy
nhiên, cũng nên nhớ thêm rằng: chính nhờ những trạng thái
sinh diệt lưu động ấy kế tục chuyền nối nhau, nên đã
tạo ra kiếp sống hiện hữu của con người và sự tồn tại
của dòng sông riêng về kiếp người với những vô thường
biến đổi của nó, cụ Nguyễn Du đã diễn tả nhận thức
của mình qua lời than của nàng Kiều sau đây:
‘Ðau
đớn thay phận đàn bà!
Lời
rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Phủ
phàng chi bấy hóa công
Ngày
xanh mòn mỏi má hồng phôi pha’
Và
kết quả của kiếp người vô thường biến đổi ấy,cụ
Nguyễn Du trong lời thuật chuyện của Vương Quan, gia
nhân của họ Vương đã cho ta hay:
‘Ðạm
Tiên nàng ấy xưa là ca nhi
Nổi
danh tài sắc một thì
Xôn
xao ngoài cửa hiếm gì yến anh,
Phận
hồng nhan có mỏng manh
Nửa
chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương’
Một
người con gái đã mang nặng kiếp ‘hồng nhan bạc mệnh’
đã chịu chung số phận ‘Trâm gãy bình rơi ở giữa chừng
xuân’ thì làm gì có chồng con gia đình, lấy ai mà săn sóc
hương khói, sớm viếng tối thăm? Ðứng trước cảnh
tượng vắng vẻ quạnh hiu của nấm mồ bạc mệnh ấy, tác
giả viết:
‘Sè
sè nấm đất bên đường
Dàu
dàu ngọn cỏ, nửa vàng nửa xanh’
Rồi
thì:
‘Trải
bao thỏ lặn ác tà
Ấy
mồ vô chủ ai mà viếng thăm!’
Thật
là thê lương áo não,buồn thảm đau thương cho số phận của
con người! Mà không phải chỉ để dành riêng cho kẻ hồng
nhan bạc mệnh.
Không
những chỉ có những người con gái chịu số phận ‘trâm
gãy bình rơi ở nửa chừng xuân’ như Ðạm Tiên mới lâm
vào cảnh ấy khi từ giã cuộc đời. Ðến như cả những
người đàn bà khi sống nào chồng, nào con, nào gia đình thân
thuộc, nhưng khi chết đi rồi thì cũng chỉ một mình một
bóng, chôn vùi dưới ba thước đất lạnh lẽo cô đơn mà
thôi! Câu ca dao sau đây đã diễn tả cho số phận của
những người đàn bà ấy:
‘Sống
thì làm vợ con anh,
Một
mai thác xuống,
Núi
rậm rừng xanh một mình’
Nhưng
nếu suy nghĩ cho kỹ thì cảnh ‘Núi rậm rừng xanh một mình’
ấy nào phải để dành riêng cho số phận của những người
đàn bà con gái mà thôi đâu, nó còn là định mệnh chung của
mọi người nữa. Xưa nay các vị công hầu vương bá,
các bậc nam nhi tài tử có ai tránh được cái chết đâu?
Và khi đã chết thì không còn phân biệt nữa. Mọi người
đều giống nhau trong cảnh trạng ‘Núi rậm rừng xanh một
mình’. Suy người rồi ngẫm đến ta, ai mà không chạnh
lòng nghĩ đến số phận mình trong những giờ phút tử biệt
ấy? Nhưng định lý vô thường của cuộc đời không
những chỉ hiển hiện trong lúc tử biệt mà thôi, nó còn
đến với ta trong từng giờ từng phút, trong những cảnh sinh
ly nữa. Trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã lấy Thúy
Kiều và Kim Trọng làm điển hình để diễn tả cảnh sinh
ly ấy qua hai câu thơ sau:
‘Ông
tơ gàn quải chi nhau
Chưa
vui sum họp đã sầu chia phôi!’
Rồi
khi nhìn thấy cảnh tai trời vạ gió, oan ức phân ly của gia
đình, em gái Kiều là Thúy Vân cũng đã buột miệng than rằng:
‘Cơ
trời dâu bể đa đoan
Một
nhà để chị riêng oan một mỉnh!’
Cuối
cùng cái gì sẽ đến đã đến với gia đình họ Vương.
Cụ Nguyễn Du đã dệt vào trong cảnh sinh ly ấy giữa nàng
Kiều với những người thân thích trong gia đình bằng mấy
câu thơ sau:
‘Ðau
lòng kẻ ở người đi
Lệ
rơi thắm áo, tơ chia rũ tằm
Trời
hôm mây kéo tối rầm
Dàu
dàu ngọn cỏ, đầm đầm canh sương’
Và
sau đó thì những người thân thích trong gia đình ‘hết cơn
bỉ cực, đến thời thái lai’, các tai biến hoạn nạn đều
tiêu tan, mọi người đều được đoàn tụ vui vầy trong vinh
hiển thì riêng chỉ có một nàng Kiều còn lận đận, lao
đao,chìm nổi phiêu bạt trong bể khổ mênh mông không bờ
bến:
‘Thương
ôi! Không hợp mà tan
Một
nhà vinh hiển riêng oan một nàng!’
Dựa
vào những nguyên tắc trên chúng ta thấy: vì có gây ra nguyên
nhân đau khổ nên phải chịu quả đau khổ. Và kết quả
khổ đau ấy được biểu hiện rõ ràng nhất ở kiếp người
vô thường giả huyễn này,vì đã có thân thì không ai tránh
khỏi được khổ.
III
. THUYẾT NGHIỆP BÁO BIỂU HIỆN TRONG TRUYỆN KIỀU;
Giáo
lý nhà Phật khẳng định rằng :’Nước bao giờ cũng chảy
xuống, tham muốn và tình dục sẽ đưa con người vào vòng
trầm luân đau khổ.’ Vâng, chính tham muốn và tình dục
là một sức mạnh đẩy con người vào trong vòng trầm luân
đau khổ, hay nói theo triết lý của nhà Phật là ‘nghiệp
báo luân hồi’.
Là
một nhà Nho, học vấn thâm sâu, thông hiểu Phật lý, cụ
Nguyễn Du đã một cách sâu sắc thuyết nghiệp báo luân hồi
nầy. Cho nên chúng ta thường thấy bàng bạc tản mác
trong truyện Kiều những câu thơ như sau:
‘Kiếp
xưa đã vụng đường tu
Kiếp
này chẳng kẻo đến bù mới xuôi
Dẩu
sao bình đã vỡ rồi
Lấy
thân mà trả nợ đời cho xong!’
Hay
câu:
‘Người
này nặng kiếp oan gia
Còn
nhiều nợ lắm sao đà thác oan!’
Hoặc
là:
‘Làm
cho sống đọa thác đày
Ðoạn
trường cho hết kiếp này mới thôi!’
Hay
câu:
‘Cũng
là oan nghiệp chi đây,
Sa
cơ mới đến thế này chẳng dưng!
Kiếp
này duyên đã phụ duyên
Dạ
đài còn biết sẽ đền lai sanh!
Ðã
đành túc trái triền oan
Cũng
liều ngọc nát hoa tàn mà chi!’
Dựa
vào thuyết luân hồi nghiệp báo của nhà Phật, chúng ta thấy
rằng chết không phải là hết, chết chi là một sự thoát
xác, thay đổi từ một trạng thái sinh hoạt này qua trạng
thái sinh hoạt khác, đau khổ hoặc sung sướng hơn, tùy nghiệp
nhân mình gây tạo ra ở kiếp trước. Người Việt Nam
chúng ta nói riêng, các dân tộc Á đông nói chung phần nhiều
đều hấp thụ theo tư tưởng nghiệp báo luân hồi này của
Phật giáo, nên không bao giờ chúng ta tin rằng chết là hết,
chết là mất hẳn.
Thật
thế, một tiếng trống còn gây được vang âm trong những
buổi chiều thâm trầm ở những chốn núi rừng thung
lũng; một viên đá rơi vào mặt nước còn khuấy động lên
được những làn sóng lăn tăn, lan dần đến nơi vô tận,
huống nữa là một kiếp người, kết tinh của nhiều động
tác gây nên bởi hai phần vật chất và tinh thần.
Có
lẽ, vì lẽ ấy nên người Việt Nam chúng ta thường có thói
quen tin rằng: con người sau khi chết, thể chất tan rã nhưng
linh hồn vẫn còn tồn tại. Nàng Kiều cũng đã tin như
thế trong lời thơ sau:
‘Kiều
rằng những đấng tài hoa
Thác
là thể phách, còn là tinh anh’
Ðể
chứng minh cho lòng tin ấy, Nguyễn Du đã cụ thể hóa sự
kiện xuất hiện mờ ảo linh thiêng của Ðạm Tiên trong buổi
chiều Thanh minh, bên nấm mồ vô chủ của người con gái bạc
mệnh ấy. Sau đó, tiên sinh lại diễn tả thêm những
phút ứng hiện gặp gỡ trong mộng và những phút trùng phùng
tái ngộ ở sông Tiền Ðường giữa nàng Kiều và Ðạm Tiên.
Ðiều này lại một lần nữa chứng minh cho ta thấy chết
không phải là hết là chấm dứt với cuộc đời. Nhất
là những người chết oan, chết ‘bất đắc kỳ’, chưa
trả xong món nợ trần duyên, ở cuộc thế thì lại càng không
phải là hết hơn nữa. Phần còn lại ấy của con người
sau khi chết, chúng ta thường gọi là tinh anh, là linh hồn.
Và linh hồn ấy thường tồn tại ở thế giới vô hình, u
linh, hiển hách, phảng phất trong hương khói và thường hay
trở về trần thế để viếng thăm những nơi có nhiều liên
hệ với mình trong khi còn sống, nhứt là ở những ngày húy
kỵ, chạp giỗ v.v. Cũng vì tin như thế, nên các gia đình
ở Việt Nam và ở các nước Á Ðông thường có tục lệ
tổ chức những cuộc tế lễ đình đám linh đình trong những
ngày kỵ giỗ.
Cụ
Nguyễn Du đã diễn tả tập quán và lòng tin ấy của giới
bình dân Việt Nam qua lời căn dặn của nàng Kiều đối với
em là Thúy Vân:
‘Mai
sau dầu có bao giờ
Ðốt
lò hương ấy so tơ phím nầy
Trông
ra ngọn cỏ lá cây
Thấy
hiu hiu gió là hay chị về
Hồn
còn mang nặng lời thề
Nát
thân bồ liễu đền nghì trúc mai
Dạ
đài cách mặt khuất lời
Rảy
xin chén nước cho người thác oan !’
Thúy
Kiều đã có cái nghiệp nặng nằm sẵn ở trong mình, cho nên
từ lời nói cho đến tiếng đàn đánh ra, đều có giọng
đau đớn sầu khổ. Người đã có nghiệp như thế tức
đa sầu, đa cảm. Hai cái đó là cái mồi vô hình, cái
dây vô tướng, để giữ người ta vào chỗ đúng với cái
nghiệp của mình. Theo triết lý nhà Phật thì ở đời
không có cái gì là không có nhân duyên, mà cái nhân duyên
ấy kết thành cái nghiệp. Cái phần tốt, phần hay của
Kiều là ở chỗ dù khổ sở thế nào, cũng giữ được tâm
trong sạch, lòng nhân nghĩa và sức phấn đấu với nghiệp
chướng của mình. Giá trị của con người ở đời cốt
ở chỗ ấy, mà cái nhân cách con người ta rõ rệt là cũng
ở chỗ ấy.
Cái
nghiệp đã định đi đến đâu mới hết, thi cứ phải đi
cho đến cùng, chứ không sao trốn được. Chẳng khác
gì người có tội phải bị đọa trong một kỳ hạn đã định,
nửa chừng người kia muốn trốn, quan tư pháp không cho trốn,
bắt phải chịu hết tội mới tha.
Cái
thuyết luân hồi nghiệp báo của nhà Phật có vẻ giống như
cái thuyết định mệnh (déterminisme) của triết học phương
Tây. Nhưng thực ra thì cái định mệnh của triết lý
nhà Phật do ở tự mình định ra chứ không phải do sức ngoài
sai khiến. Cái nghiệp tự mình gây ra cho mình chứ không
phải là cái nghiệp từ đâu gây ra mà bắt mình phải chịu.
Vì cái nghiệp bó buộc nàng Kiều chặt chẽ như thế, cho
nên cô phải chịu những sự đắng cay, như gặp sở khanh
đánh lừa, bị tú bà bắt ra tiếp khách. Thôi thì ‘cũng
liều mặt phấn cho rồi ngày xanh’. Ðến khi gặp Thúc
lang, tưởng thoát khỏi chỗ lửa hồng, ai ngờ lại bị Hoạn
Thư hành hạ. Trốn nhà Hoạn Thư đi ở chùa, tưởng
là trút được nợ duyên, không may lai gặp bọn họ Bạc đem
về Châu Thai. Cứ hết chìm lại nổi, nổi rồi lại chìm.
Ở Châu Thai gặp được Từ Hải trong mấy năm nguôi nguôi,
nhưng lại nghĩ đến việc binh đao hại người, xui Từ về
hàng ngờ đâu lại bị Hồ Tôn Hiến đánh lừa đem gả cho
Thổ quan, giắt nàng đến sông Tiền Ðường là hết đời
cô Kiều. Nhưng đời cô đến đó hết thì cái nghĩa
chữ nghiệp không rõ là cái nghiệp do việc đã làm trước
mà thành. Vậy nên tác giả làm nối thêm đoạn tái hợp và
đem lời sư Giác Duyên nói chuyện với sư Tam Hợp để định
rõ chỗ nghiệp nọ chuyển sang nghiệp kia. Việc cô Kiều
hưởng thụ cái nghiệp khác, đã rõ ra ở lời Ðạm Tiên
báo mộng cho Kiều ở sông Tiền Ðường khi mới vớt lên,
Ðạm Tiên nói:
‘Rằng
tôi đã có lòng chờ
Mất
công mười mấy năm thừa ở đây
Chị
sao phận mỏng đức dầy
Kiếp
xưa đã vậy lòng nầy dễ ai
Tâm
thành đã thấu đất trời
Bán
mình là hiếu, cứu người là nhân
Một
niệm vì nước vì dân
Âm
công cất một đồng cân đã già
Ðoạn
trường sổ rút tên ra
Ðoạn
trường thơ, phải đem mà trả nhau
Còn
nhiều hưởng thụ về sau
Duyên
xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào’
Khi
nàng Kiều còn đang phải chịu cái nghiệp trước, thì từ
lời nói đến tiếng đàn, cái gì cũng có cái giọng sầu
khổ đau đớn. Thế mà Kiều đã trút hết cái nghiệp
trước, bước sang chịu cái nghiệp khác, thì trong lòng thư
thái, không bồn chồn như trước nữa, ngay tiếng đàn có
đánh ra lúc ấy người ta nhận ra rằng: ‘Xưa sao sầu thảm,
nay sao vui vầy?’
IV-
Thuyết Nhân Quả:
Theo
triết lý của nhà Phật thì ở giữa đời này không có một
cái gì tự nhiên mà có, ngẫu nhiên mà sanh. Nàng Kiều
sở dĩ mang lấy nghiệp báo ‘sống đọa, thác đày’ như
thế cũng không phải ngẫu nhiên mà có, tự nhiên mà sanh.
Chính là do một túc duyên tiền định, hay nói đúng theo
danh từ Phật học là ‘luật nhân quả’ tức là gây nhân
gì thì phải chịu quả ấy. Nhân lành thì quả an vui,
hạnh phúc:
Luật
nhân quả này được Nguyễn Du diễn đạt qua lời báo mộng
cho Kiều:
‘Rỉ
rằng nhân quả dở dang
Ðã
toan trốn sự đoạn trường được sao?
Số
còn nặng kiếp má đào
Người
dù muốn quyết trời nào đã cho?’
Ở
đoạn khác cụ Du lại diễn tả đạo lý nhân quả như sau:
‘Vả
trong thần mộng mấy lời
Túc
nhân âu cũng có trời ở trong
Kiếp
này nợ trả chưa xong
Làm
chi thêm một nợ chồng kiếp sau ?’
Rồi
thì:
‘Cho
hay muôn sự tại trời
Phụ
người chẳng bỏ khi người phụ ta
Mấy
người bạc ác tinh ma
Mình
làm mình chịu kêu mà ai thương ?’
Cũng
cùng một quan điểm như trên, ở một đoạn khác, Nguyễn
Du lại trình bày thuyết nhân quả một cách giản dị và phổ
thông hơn nữa qua hai câu thơ sau:
‘Nàng
rằng: lồng lộng trời cao
Hại
nhân nhân hại sự nào tại ta ?’
Ðấy
là gì nếu không phải là trình bày một cách khác đi thuyết
‘thiện giả thiện báo, ác giả ác báo’ (làm lành được
quả tốt, làm ác thì chịu quả báo xấu) của Nho học.
Có
nhiều người nghĩ rằng: nếu đúng như thuyết ‘nhân quả’
gây nhân gì chịu quả ấy của Phật giáo và thuyết ‘thiện
nhân, thiện báo, ác nhân, ác báo’ của Nho giáo thì tại
sao ở đời này có nhiều người độc ác thất nhân mà vẫn
được giàu sang, sung sướng, cũng như có những người hiền
lành lương thiện mà vẫn gặp bao điều oan trái đắng cay
(như trường hợp của nàng Kiều chẳng hạn) ? Như thế luật
nhân quả phải chăng là mâu thuẫn nhau? Muốn giải thích nghi
vấn này, ta phải dựa vào tiêu chuẩn sau đây:
Có
thứ nhân quả trực tiếp dễ thấy, có thứ nhân quả gián
tiếp khó thấy, có thứ nhân quả hiển hiện báo ứng trong
hiện kiếp và cũng có những thứ nhân quả báo ứng qua nhiều
đời cách biệt thời gian và kiếp sống. Ở đây cũng
thế, nàng Kiều dù hiện tại là một người con gái hiếu
nghĩa, biết hy sinh cho cha mẹ, gia đình, nhưng biết đâu ở
quá khứ nàng đã gây ra các ác nghiệp? Những ác nghiệp ấy
đã đến lúc thuần thục thì phải chịu quả báo đau khổ,
về sau mới được thoát ly mà hưởng thọ mọi điều an lạc
phước báo nhờ nhân thiện ở đời này. Cho nên triết
lý nhân quả của nhà Phật có chia thành nhiều thứ như :
nhân quả hiện tại, nhân quả nhiều đời, nhất thế nhân
quả, và tam thế nhân quả v.v..
Ðể
giải thích về đạo lý tam thế nhân quả này, trong các kinh
luận của Phật giáo có chép:
‘Dục
tri tiền thế nhân
Kim
sanh thọ giả thị
Dục
tri lai thế quả
Kim
sanh tác giả thị’
Nghĩa
là:
‘Muốn
biết nghiệp nhân ở thời quá khứ
Xem
quả báo hưởng thọ ở đời này
Muốn
biết kết quả ở đời vị lai
Xem
hành vi tạo tác ở hiện tại’
Những
câu văn trên, ngoài việc chứng minh thuyết nhân quả hiển
hiện báo ứng qua nhiều đời ở quá khứ, hiện tại và vị
lai, nó còn có tác dụng chứng minh cho ta thấy thêm một lần
nữa về định lý nghiệp báo luân hồi của đạo Phật vậy.
Ở
đây có điều chúng ta cần nghĩ rằng: đọc truyện Kiều
và qua những câu thơ đã trích dẫn trên cho thấy quan điểm
nhân quả nghiệp báo của cụ Nguyễn Du không những chỉ ảnh
hưởng với thuyết ‘Nhân quả nghiệp báo’ của Phật giáo,
mà còn ảnh hưởng mật thiết với thuyết ‘Thiên mệnh’
của Nho giáo nữa. Thật vậy, chữ ‘Trời’ trong truyện
Kiếu có nhiều nơi cụ Nguyễn Du đã thay thế cho chữ ‘Thiên
mệnh’ của Nho học và cũng có nhiều lúc đã thay thế cho
chữ ‘nhân quả’ của Phật học. Vì tin ở ‘trời’
ở ‘thiên mệnh’ và ở luật ‘nhân quả’ nên nhân vật
chính trong truyện là nàng Kiều luôn tin rằng họa hay phúc,
may hay rủi, vui hay buồn, tất cả đều do thiên mệnh tiền
định. Nàng cũng đã tự bào chữa cho cái tính đa sầu
đa cảm của mình bằng hai câu thơ sau:
‘Rằng
quen mất nết đi rồi
Tẻ
vui thôi cũng tính trời biết sao’
Ðối
với giới bình dân, không những tính tình là do thiên mệnh
tiền định mà người ta còn tin rằng mọi thăng trầm vinh
nhục của kiếp người, mọi thay đổi biến thiên của trời
đất muôn vật, tất cả đều do thiên định. Có lẽ
cũng vì thế nên mỗi khi có các tai nạn bất ngờ xảy đến
như thiên tai, thủy nạn, hỏa hoạn, bệnh tật, mất
mùa.. họ thường tổ chức những cuộc sám tạ tế lễ, hay
ăn chay nằm đất để cầu trời khấn Phật. Có một
điều lạ ở đây là dù Nguyễn Du là một nhà Nho học uyên
bác nhưng ông không chịu dừng lại ở thuyết ‘thiên mệnh’,
hoàn toàn phó mặc số phận con người cho tha lực như quan
niệm của Nho giáo; trái lại, ông còn tiến xa hơn về phương
diện tư tưởng để đến gần với thuyết ‘nhân quả’,
đưa con người đến tiêu chuẩn tự túc tự cường của Phật
giáo.
Thật
ra, Kiều với ‘oan nợ túc khiên’ do tiền định và với
những đọa đày lao khổ muốn chấm dứt cuộc đời của
nàng trong một kết luận buồn thảm đau thương và bất công
như thế. Ông đã muốn thể hiện đạo lý ‘thiện nhân
thiện báo, ác nhân ác báo’ của Nho giáo và Phật giáo trong
hiện kiếp qua cuộc đời của nàng Kiều chứ không phải
chờ đợi đến lai thế như thuyết ‘tam thế nhân quả’
nữa.
Vì
muốn chứng minh một cách rõ ràng rằng thuyết nhân quả báo
ứng là một định lý hiển nhiên thật có, và mọi người
kể cả nàng Kiều đều có thể được đáp ứng tương ứng
với những hành vi, ngôn ngữ và ý nghĩ của mình đã tạo
ra trong kiếp sống hiện tại nên tác giả của truyện Kiều
đã làm cho Kiều sống lại thoát ly mọi oan khiên tiền định
ở sông Tiền Ðường.
Dựa
vào sự kiện này ta có thể quan niệm rằng: đối với nàng
Kiều, sông Tiền Ðường là một kết chung của cuộc đời
hồng nhan bạc mệnh, cuộc đời phó mặc cho rủi may tiền
định, bất lực trước mọi hoàn cảnh éo le thử thách, nhưng
đồng thời sông Tiền Ðường đối với Kiều cũng là khởi
điểm cho một cuộc đời mới, cuộc đời hướng tới tự
lực nội tâm, rưới tắt những trần duyên tục lụy và ngày
đêm trau giồi đức hạnh giải thoát. Cuộc đời ấy
theo Nguyễn Du là:
‘Phật
tiền thảm lấp sầu vùi
Ngày
pho thủ tự đêm nhồi tâm hương
Cho
hay giọt nước cành dương
Lửa
lòng rưới tắt mọi đường trần duyên’
Ðiểm
đặc biệt của đạo Phật là ở chỗ phàm là con người
dù tội lỗi bao nhiêu, nhơ nhớp đến bực nào, nhưng nếu
biết thành tâm sám hối, ăn năn tội lỗi thì cũng có thể
trở thành người lương thiện trong sạch được. Bởi
vì theo Phật giáo thì cái tôi nhơ nhớp của con người không
phải hoàn toàn do ở ngoại diện, mà lại căn cứ vào những
ý niệm tiềm tàng trong tâm thức của người ấy. Cho nên
có người dù có một bề ngoài hiền lành sang trọng, nhưng
nếu trong lòng ẩn chứa những bất lương gian ác thì đó
là tội lỗi sâu xa, và trái lại, dù có một bề ngoài thấp
kém thô bạo, nhưng nếu trong lòng ẩn chứa những đức tính
hiền lương thiện mỹ thì đó vẫn là người trong sạch
cao quý. Ðức Phật ngày xưa cũng đã từng độ cho một
người chuyên làm nghề gánh phân, ở giai cấp hạ tiện bần
cùng nhất của xã hội Ấn Ðộ. Trong lịch sử Phật
giáo Trung Hoa cũng thường kể lại câu chuyện có một người
suốt đời làm nghề đồ tể chuyên bán thịt heo, nhưng khi
sắp lâm chung, biết hồi tâm hướng thiện ăn năn sám hối
nên cuối cùng cũng được giải thoát.
V.
NHỮNG VẦN THƠ ÐẦY ÐẠO VỊ TRONG THI CA TRUYỆN KIỀU:
Ngoài
việc chịu ảnh hưởng thuyết nhân quả và nghiệp báo nhà
Phật, Nguyễn Du còn viết ra những vần thơ đầy đạo vị
Phật giáo. Ngôn ngữ thi ca vốn đã là rất biểu tượng,
ngôn ngữ thi ca Nguyễn Du còn biểu hiện trừu tượng hơn.
Nguyễn Du, ngoài rung cảm thi ca còn rung cảm trí tuệ Phật
giáo. Nhà thơ núi Hồng Lĩnh đã nói đạo Phật bằng
tiếng nói của trái tim trần thế. Vần thi gợi lên ý
ấy trong cảm nhận của người viết trước tiên là:
‘Ai
ngờ lại hợp một nhà
Lựa
là chăn gối mới ra sắt cầm’
Mười
lăm năm đoạn trường là một bài học về ‘Khổ đế’
mà nguyên nhân của nó, vừa hợp với giáo lý Tứ đế vừa
hợp với tinh thần giới luật nhà Phật, là lòng khát ái,
dục ái:
‘Xót
trong tội nghiệp Thúy Kiều
Mắc
điều tình ái, khỏi điều tà dâm’
Với
Phật giáo (tiêu biểu như các câu 1 và 2 trong kinh Pháp cú)
thì tâm làm chủ, tâm tạo các nghiệp thiện và ác và sẽ
nhận lấy quả báo tương ứng về sau. Với Kiều, tâm
cũng quyết định vui buồn và giá trị của đời sống:
‘Ngưòi
buồn cảnh có vui đâu bao giờ’
‘Chữ
trinh còn một chút này
Chẳng
cầm cho vững, lại dày cho tan’
Hay
‘Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài’
Với
Phật giáo, người phật tử mộ đạo, mến đạo quyết tâm
sống đạo mà nếu không hiểu đạo, không có chánh kiến
thì càng làm cô phụ giáo lý giải thoát mà thôi. Âm
hưởng giáo lý đó lại vọng vào trong vần thơ tái hợp mà
không tác hợp với Kiều:
‘Người
yêu ta xấu với người
Yêu
nhau thì lại bằng mười phụ nhau’
Ngay
cả giáo lý Phật giáo minh bạch thế mà nếu hành giả chấp
thủ nó (chấp giới, định, tuệ như kinh Xà dụ trình bày)
thì sẽ rơi ngay vào cảnh: ‘Yêu nhau thì lại bằng mười
phụ nhau’.
Phật
giáo, tiêu biểu như phẩm Kinh Hạt Muối, Tương Ưng Bộ kinh,
bảo rằng người với tâm từ bi rộng lớn thì hầu như không
chịu hậu quả của các việc làm nhỏ bị sai trái. Với
Kiều thì Nguyễn Du xác định:
‘Như
nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi
nào cho đục được mình ấy vay’
Kinh
Kim Cang Bát Nhã, một bộ kinh nổi tiếng của Ðại Thừa,
thì nhìn mọi hiện hữu đều do duyên sinh, chúng không có
tự ngã, thực sự ở ngoài các giá trị cấu, tịnh, thiện,
ác, thị, phi... chúng thực sự không gây trở ngại đến
vấn đề tự do, giải thoát của con ngưòi. Trở ngại giải
thoát nằm ở tâm con người, ở lòng tham ái, chấp trước
của con người. Tư tưởng này như là có chuyển âm hưởng
của nó vào vần thi”
‘Duyên
kia có phụ chi tình
Mà
toan chia gánh chung tình làm đôi’
Với
người con Phật, khi tâm tham ái, chấp trước được khoá
chặt, được kiểm soát, thì các hành động thân, khẩu, ý
trở thành các hành động giải thoát hết thảy. Với
Kiều, sau những ngày tháng đoạn trường thì:
‘Từ
ngày khép cửa phòng thu
Chẳng
tu thì cũng như tu mới là’
Người
tu tập đạo Phật, đặc biệt là các bậc Thánh hữu học,
dù tâm đã tỏ tường đạo lý, sự thật mọi hiện hữu,
những tập quán sinh tử vẫn còn vương vấn thân sắc và
cõi lòng. Nguyễn Du lại diễn đạt một tâm trạng của Kiều
sao mà nghe như động đến tâm hồn của một thiền sư vậy,
khi nhà thơ viết:
‘Tiếc
thay chữ nghĩa cũ càng
Dù
lìa ngó ý, còn vương tơ lòng’
Nhưng
khi thiền sư đã hất đổ hết các vọng tưởng, đốt cháy
hết sầu bi thì quả là giờ phút đại phúc, nghe như vừa
dựng đứng dậy cả khung trời giải thoát, bởi vì bấy giờ
Thiền sư đã phá tan hết sương vô minh đã nhiều đời che
khuất ngõ ý và làm tan hết mây dục vọng đã nhiều đời
giăng bít trời tâm. Nguyễn Du đã chuyển qua Kiều một
cảm xúc của thời kỳ hội ngộ như là cảm xúc một thiền
sư đang đối diện với giải thoát:
‘Trời
còn để có hôm nay
Tan
sương đầu ngõ, vén mây giữa trời’
Thư
của Nguyễn Du nghe ra vừa thơ vừa đạo suốt cả tâm sự
Thúy Kiều. Nếu ai đó tìm hiểu kỹ giáo lý nhà Phật
rồi đọc lại thi phẩm tuyệt tác Kim Vân Kiều thì sẽ bắt
gặp rất nhiều, nhiều lắm các vần thơ lồng ý đạo.
Thi ca của thiên tài Nguyễn Du như hình thành một lúc hai bè
nhạc: một bè của khúc đoạn trường, bè kia là âm vang của
trí tuệ giải thoát.
VI.
GIÁO LÝ TỨ ÐẾ:
Ðạo
Phật khi nói đến khổ chính là đang vẽ lại bức tranh hiện
thực mà cuộc đời vốn sẵn có. Cái sẵn có ở đây,
thế nhân từ bao đời cũng tốn biết bao nhiêu giấy mực
để nghiên cứu và tìm hiểu. Nhưng chỉ hiểu mơ hồ
mông lung .. Người đời thấy khổ khi phải tiếp cận
với nó để rồi than khóc rầu buồn mà vẫn không dứt ra
được lòng chấp chặt theo nhân tình thế sự. Nguồn
gốc sâu xa của khổ được giáo lý nhà Phật đề cập tới
trong Tứ Ðế rất rõ ràng và khúc chiết. Sở dĩ có
đau khổ (khổ đế) là vì đã gây ra nguyên nhân khổ đau
(tập đế). Ngược lại cũng thế, sở dĩ có quả vị
Niết ban an vui (diệt đế) vì đã thực hành theo phương pháp
chánh đạo (đạo đế).
Triết
lý về khổ xuất hiện rất đậm nét và đa dạng qua thi phẩm
truyện Kiều, ở đó Nguyễn Du đã xây dựng rất công phu
về nhận vật Kiều. Và ông đã thành công khi biết xử
dụng cả ngôn từ lẫn ý nghĩa của đạo Phật để làm nổi
bật tính cách của nhân vật và cũng từ đó tác phẩm đã
trở thành một kiệt tác trong thiên hạ. Mượn thân phận
của người con gái, một thành phần hứng chịu nhiều bất
công và đau khổ nhất của thời phong kiến xa xưa. Cái
khổ ấy là do xã hội và con người mang lại cho nàng, nhưng
sâu xa hơn hết, chính là do bởi nơi nàng tự chuốc lấy bao
phiền muộn cho mình, để rồi phải chịu kiếp long đong truân
chuyên qua mười lăm năm đoạn trường. Nguyên nhân tạo
ra bao cảnh đoạn trường cho nàng là do ‘từ ái sanh ưu,
từ ưu sanh khổ’ tình ái vốn là điều tất nhiên của con
người, nhưng điều tất nhiên ấy đã khiến cho con người
phải chìm nổi mãi trong sóng gió ba đào. Nếu Kiều không
vì tấm lòng thương cảm một nấm mồ bên đường, không
nặng mối tình si với chàng Kim và hơn thế nửa là tình thương
của nàng đối với gia đình cha mẹ thì nàng có thể bước
qua cuộc đời một cách ung dung tự tại hơn, trên bước đường
phong trần dày dạn và chữ tình cũng đã bao lần chịu cảnh
thương sâu khóc hận cho một kiếp hồng nhan.
‘Vẽ
chi chút phận bèo mây
Làm
cho bể ái khi đây khi vơi
‘Hương
càng đậm lửa càng nồng
Càng
sôi vẻ ngọc càng lồng màu đen’
Rõ
ràng hai chữ tình ái đã buộc chặt nàng với Thúc Sinh rồi
Từ Hải, cuộc đời nàng rơi vào ngõ cụt của trò đời
‘cởi ra rồi lại buộc vào như chơi’! Mấy phen những
tưởng đã thoát ra được hang hùm miệng cọp nhưng rồi lại
cứ mắc vào. Rồi trên bước đường dày dạn sương
gió gặp được đấng anh hùng hào kiệt, tưởng đâu ngàn
đời gắn bó để tìm chữ sắt son với đời, nào ngờ tình
tri kỷ đã biến thành thiên trường hận, bên dòng sông Tiền
Ðường, Kiều những muốn dứt cho rồi vòng dây oan nghiệt
của kiếp người. Ðến đây, Kiều cũng đã trả xong
giai đoạn của kiếp hồng nhan đa truân. Sợi dây tình
ái cũng không buộc ràng nàng nữa, khi gặp lại Kim Trọng,
tình xưa dẫu nặng, nhưng nghiệp ái thì lòng đã tắt lịm,
từ đây cõi lòng nàng mới thực sự hưởng được những
giây phút bình an nhất của cuộc đời.
‘Từ
đây khép cửa phòng thu
Chẳng
tu thì cũng như tu mới là’
Nếu
khổ đế của Phật giáo là chơn lý nói về cơ cấu khổ
đau của con người: oán tăng hội (thù oán mà phải gặp),
ái biệt ly khổ (yêu thương mà phải xa lìa), cầu bất đắc
(mong cầu mà không được) v.v. thì hình ảnh Kiều qua mười
lăm năm gian truân chính là hình ảnh của khổ đế. Kết
thúc truyện Kiều bằng hành động trầm mình, có nghĩa là
thú nhận sự thất bại của con người và sự nghiệt ngã
tất yếu dưới hình thức số và mệnh.
Thật
ra chính Kiều đã nuôi dưỡng ‘số và mệnh’ trong máu huyết
của mình. Tiếng đàn bạc mệnh cứ ngân lên từ đầu
cho đến cuối truyện. Từ khi nàng băng lối vườn khuya
tìm Kim Trọng, khi gặp Thúc Sinh trước mặt Hoạn Thư, sau
khi ôm thây Từ Hải khóc ngất và khi tái ngộ với người
tình cũ. Khi Kiều dứt bỏ khổ đau thì đấy chính là
lúc nàng tìm được giải thoát (diệt đế). Ở đây
Phật giáo giúp ta soi chiếu rõ cuộc đời Kiều qua cung cách
trình bày dưới ngòi bút Nguyễn Du. Vì ái nghiệp nên
chúng sanh tự ràng buộc mình trong vòng đau khổ triền miên.
Ðạo Phật nói đến khổ không phải là khiến cho chúng ta
buồn chán mà xa lánh cuộc đời. Ở đây, nói đến khổ
là muốn chỉ ra những nguyên nhân tập khí mà con người đã
gây ra (tập đế) để tự tạo lấy mọi đau khổ cho mình.
Vì vậy muốn dứt khổ phải tìm hiểu nguyên nhân, tâm ý
luôn hướng về một lý tưởng đó là chân lý giải thoát.
Một khi tâm thể được lặng yên thì nguồn ái ân tham đắm
sẽ khô kiệt. Và khi gặp được Giác Duyên chính là
nàng đã kiếm được hướng cởi trói cho mình, nhưng phải
đến lần thứ hai, lòng nàng mới thực sự dứt hết những
bợn trần u ám. Khi gặp Kim Trọng, lòng luyến ái chỉ còn
là tri kỷ. Con đường đạo lý đã lộ ra tuy chưa được
đậm nét nhưng ta thấy Kiều đã thực sự tìm lại chính
mình cội nguồn bình an của tự tâm kinh Phật dạy: ‘Ai có
một tình yêu thì có một đau khổ, một trăm tình yêu thì
có một trăm đau khổ, và nếu ai không có tình yêu thì không
có đau khổ’. Tình yêu đó là lòng chấp ngã, luyến
ái mà chúng sanh muôn đời cột chặt. ‘Tu là cội phúc, tình
là dây oan’.
Quan
điểm của Nguyễn Du có phần hạn chế, nhất là khi tác giả
đem giáo lý nhà Phật mô phỏng cho nhân vật chính chưa lột
hết mọi chân lý nhiệm mầu, nhưng ta không đòi hỏi gì hơn
ở một nhà Nho như ông. Và tác phẩm ấy dựa trên tình
tiết của tiểu thuyết Tàu, ở đây không nói đến giá
trị của nó, mà chỉ phân tích từng khía cạnh về khổ,
mà tác giả đã ứng dụng triết lý của nhà Phật vào đó.
Từ nguồn gốc truy tìm ra nguyên nhân khổ, cho đến phương
hướng đi tìm con đường diệt khổ, tác giả hơn ai hết
đã khéo dẫn dụ để tác phẩm đi vào lòng người bằng
cảm quan về cái đẹp của văn chương, bằng sự ngộ nhập
một chân lý trên lý thuyết để làm nổi bật một bức tranh
về khổ khá toàn vẹn sâu sắc.
VII.
Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM
Trong
kinh luận Phật giáo thường chép: ‘Tam giới duy tâm, vạn
pháp duy thức’ (ba cõi dục giới, sắc giới, và vô sắc
giới là do tâm, vạn pháp hữu hình, vô hình, tâm pháp, sắc
pháp đều do thức tạo ra). Vì thế nên theo đạo Phật
thì tâm là chủ tể của muôn sự muôn vật. Ở giữa
đời này, sở dĩ có muôn vạn sai biệt, có những màu sắc,
âm thanh khác nhau, tất cả đều do tâm. Riêng đối với
con người ta, tâm là động cơ chính thúc đẩy ta đến hành
động, mà hành động ấy thiện hay ác, tốt hay xấu, một
phần lớn cũng phải căn cứ vào tâm.
Tâm
thiện thì dù bề ngoài có vẻ độc ác thô động, như trường
hợp cha mẹ đánh đập đứa con hư, thầy giáo trừng phạt
cậu học trò lười nhác .v.v. đều thuộc về thiện.
Ngược lại nếu tâm ác thì dù bề ngoài có vẻ êm dịu ngọt
ngào, như trường hợp người gian tham rình mò lén lút để
đánh cắp của người, kẻ nịnh thần dùng lời xảo quyệt
ngon ngọt để lung lạc tâm vua .v.v. cũng đều thuộc về ác.
Do đó muốn phê phán một việc làm thiện hay ác, tốt hay
xấu, chúng ta cần phải căn cứ vào tâm niệm và kết quả
việc làm ấy, chứ không thể hoàn toàn dựa vào những động
tác bên ngoài được.
Ở
đây nàng Kiều cũng thế. Muốn xét giá trị của nàng
Kiều, nhất là phê phán việc làm của nàng. Chúng ta
cần phải dựa vào tâm niệm và kết quả của việc làm ấy
mới khỏi thiên lệch, cố chấp và bất công. Số phận
của Kiều, cũng như việc làm của nàng, cụ Nguyễn Du miêu
tả như sau:
‘Xưa
nay trong đục đàn bà
Chữ
‘trinh’ kia cũng có ba bảy đường.
Có
khi biến có khi thường
Có
quyền nào phải một đường chấp kinh
Như
nàng lấy ‘hiếu’ làm trinh
Bụi
nào cho đục được đường ấy vay ?’
Người
nội cuộc như Kim Trọng mà còn có thái độ và nhận xét
ấy đối với nàng Kiều, thì những người như chúng ta trong
khi phê phán tìm hiểu nàng Kiều, cũng như tác giả của nó,
có nên có một thái độ quá khe khắt gò bó chăng ?
Như
chúng ta biết tâm giữ một vai trò đặc biệt trong việc quyết
định những hành vi thiện ác, tốt xấu của con người.
Nhưng chúng ta cũng nên nhớ thêm rằng: tâm còn có những sức
mạnh khác nữa, đó là sức mạnh chế tác của tâm.
Chế tác bằng tư tưởng, bằng khái niệm, và bằng tâm tính.
Sức mạnh của tư tưởng đã làm cho con người vượt hẳn
các loài động vật, đồng thời tư tưởng cũng là một yếu
tố cần thiết để làm cho con người khác biệt với các
loài thực vật khác qua lời nói của một triết gia Âu Tây
sau đây: ‘Con người là một cây sậy có tư tưởng’.
Riêng về sức mạnh của khái niệm thì các vị học giả
tiền bối đã diễn tả qua các câu thơ sau đây:
‘Nhất
nhật tại tù
Thiên
thu tại ngoại’
(Một
ngày ở trong tù
Bằng
ngàn ngày ở ngoài)
Hoặc
câu:
Nhất
nhật bất kiến
Như
tam thu hề’
(Một
ngày không thấy mặt
Trông
dài như ba năm)
Thời
gian tâm lý nầy được cụ Nguyễn Du diễn đạt trong truyện
Kiều qua hai câu thơ sau:
‘Sầu
đong càng khắc càng đầy
Ba
thu dọn lại một ngày dài ghê !’
Còn
sức mạnh của tâm lý thì được thể hiện trong những câu
thơ sau :
‘Cảnh
nào cảnh chẳng gieo sầu
Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ’
Thật
vậy, cùng một cảnh ấy nhưng có vui, có buồn, vì lòng người
có khi buồn, có khi vui. Cũng như cùng một bàn tay, một
cung đàn của nàng Kiều, nhưng có khi buồn thảm thê lương
nhuốm màu tang tóc, có khi vui vầy thanh thoát như hoa nở chim
hót suối reo. Qua những thay đổi ấy của tiếng đàn,
đến khi nghe xong Kim Trọng cũng phải buột lời khen ngợi:
‘Chàng
rằng: phổ ấy tay nào
Xưa
sao sầu thảm nay sao vui vầy ?
Tẻ
vui bởi tại lòng này
Hay
là khổ tận, đến ngày cam lai ?’
Ngoài
những khía cạnh tư tưởng, tâm lý trên, trong truyện Kiều
cụ Nguyễn Du còn diễn tả sức mạnh của tâm, tức là triết
lý duy thức của Phật giáo qua hai câu thơ tuyệt tác sau đây
nữa. Ðó là:
‘Xĩnh
lời nàng mới theo sang
Biết
đâu địa ngục, thiên đàng là đâu !’
Vâng,
đúng như thế. Thiên đường và địa ngục không phải
ở đâu xa lạ, mà chính ngay ở trước mắt ta, bên cạnh ta,
bàng bạc khắp trong cõi đời này, không biết đâu mà phân
biệt được. Hạnh phúc và đau khổ cũng thế. Về
vấn đề này đức Phật có dạy:
Tri
túc chi nhơn
Tuy
ngọa địa thượng
Nhi
vi an lạc
Bất
tri túc giả
Tuy
xử thiên đường
Nhi
bất xứng ý
(Người
mà biết đủ
Dù
nằm trên đất
Cũng
được an lạc
Người
không biết đủ
Dù
ở thiên đường
Vẫn
không vừa ý)
Căn
cứ vào thuyết này chúng ta thấy hạnh phúc hay đau khổ, đầy
đủ hay thiếu thốn, tất cả đều do lòng mình. Thiên
đường và địa ngục, cũng như âm và dương, tối và sáng,
ngày và đêm không có phương hướng, cũng không có ranh giới
nhất định. Ở đâu cũng có thể hiện thành thiên đường
hoặc là địa ngục được cả. Ngay ở trong kiếp sống
của con người và ở trong thế giới nhân gian nầy cũng thế.
Ðể
diễn đạt tư tưởng của mình về vấn đề ‘thiên dường
và địa ngục’ nầy, trong truyện Kiều Nguyễn Du đã viết:
‘Nước
trôi hoa rụng đã yên
Hay
đâu địa ngục ở miền nhân gian’
Nếu
đem hai câu thơ trên của Nguyễn Du so sánh với hai câu danh
ngôn sau đây của Trung Hoa:
‘Ngưu
ẩn thủy thành nhủ
Xà
ẩm thủy thành độc’
Trâu
uống nước thành sữa
Rắn
uống nước thành độc
Rồi
đem so sánh với mấy câu thơ sau đây của thi sĩ Milton:
‘The
mind is its own place and in its self,
Can
make a heaven of hell
A
hell of haven’
(Tâm
có vị trí và đặc tính riêng của nó, tâm có thể tạo thiên
đường trong địa nguc, và tạo cảnh địa ngục trong thiên
đường)
Thì
chúng ta sẽ thấy điểm ‘không hẹn mà gặp’ giữa nguồn
cảm hứng của các thi nhân Ðông và Tây trong những cố gắng
diễn đạt triết học duy tâm, duy thức của Phật giáo. Vì
chủ trương ‘Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức’ nên Phật
giáo phủ nhận mọi sức mạnh siêu nhiên và tự nhiên ở
bên ngoài. Phật giáo qui định mọi khía cạnh, mọi giá
trị của cuộc đời về sức mạnh của tự tâm. Tâm tạo
thiên đường địa ngục, tâm tạo Niết bàn sanh tử, tâm
tạo Phật chúng sanh, hạnh phúc hay đau khổ. . Nói một
cách khác, tâm (cũng có thể gọi là nghiệp lực) tạo ra tất
cả và tâm là chủ động lực của đời mình. Tổng
hợp cả hai quan niệm của Phật giáo và Nho giáo về sức
mạnh của tự tâm, cụ Nguyễn Du trong truyện Kiều đã diễn
đạt tư tưởng của mình qua lời của sư cô Tam Hợp như
sau:
‘Sư
rằng : phúc họa đạo Trời
Cội
nguồn cũng ở lòng người mà ra
Có
Trời mà lại có ta
Tu
là cõi phúc tình là dây oan’
Và
sau khi phác họa đầy đủ mọi khía cạnh của cuộc đời,
mọi thay đổi biến thiên của nhân sinh vũ trụ, và mọi thăng
trầm vinh nhục của nàng Kiều, ở đoạn kết của cuốn ‘Ðoạn
Trường Tân Thanh’, cụ Tiên điền Nguyễn Du đã viết:
“Ðã
mang lấy nghiệp vào thân
Cũng
đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện
căn ở tại lòng ta
Chữ
tâm kia mới bằng ba chữ ‘tài’ “
VIII.
MỘT VÀI TRIẾT LÝ KHÁC BÀNG BẠC QUA THI PHẨM KIỀU :
1)Lòng
từ bi hiếu thảo:
Số
phận của người con gái ‘bán mình chuộc cha’ nhu nàng Kiều
đã chịu trămcay ngàn đắng, trải qua mấy lần gác tía lầu
xanh. Nàng đã chán chê với cuộc sống ấy, nên đã nhiều
lần lập mưu tính kế, cố gắng tìm cách thoát ly ra ngoài.
Nhưng người con gái thơ ngây đã ‘chạy trời không khỏi
nắng’, vừa mới thoát ly vòng vây nầy thì bị mắc vào
vòng vây khác, tủi nhục và đau khổ hơn.
Ðể
hiểu rõ tâm trạng của nàng Kiều trong những giai đoạn ‘kiết
phược’ ấy, chúng ta hãy đọc đoạn thơ sau:
‘Chém
cha cái số hoa đào
Gỡ
ra rồi lại buộc vào như chơi
Nghĩ
đời mà ngán cho đời
Tài
tình chi lắm cho trời đất ghen !
Tiếc
thay nước đã phủ phèn,
Mà
cho bùn lại vẩy lên mấy lần’.
Nếu
chúng ta căn cứ vào ý niệm bất đắc dĩ của nàng Kiều
trong khi ‘chấp kinh tùng quyền’ rồi căn cứ vào ý nghĩa
‘gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’, nhất là căn cứ
vào niệm ‘thỉ chung như nhất’ của nàng trong khi bán mình
chuộc cha :
‘Tái
sinh chưa dứt hương thề
Làm
thân trâu ngựa đền nghì trúc mai
Nợ
tình chưa trả cho ai,
Khối
tình mang xuống tuyền đài chưa tan !’
Thì
chúng ta có thể dễ dàng hiểu được cảnh ngộ và tâm tình
của Kiều hơn nữa. Không những đối với Kim Trọng,
chàng trai đã chiếm trọn tình yêu của nàng, nàng mới có
một niềm thỉ chung như thế. Ðến như đối với Từ
Hải, người gá nghĩa trên bước đường luân lạc, nàng cũng
giữ được một lòng trung chánh tương tợ. Có người
cho rằng Kiều là người ‘môt dạ hai lòng, mưu mô phản
trắc’ vì Kiều đã đưa Từ Hải vào cảnh sa cơ thất mạng.
Muốn hiểu rõ ràng Kiều có phải là một dạ hai lòng hay
không, chúng ta phải căn cứ vào tấm lòng của nàng trong bài
thơ sau rồi sẽ phê phán :
Khóc
rằng : trí dũng có thừa
Bởi
nghe lời thiếp đến cơ hội này
Mặt
nào trông thấy nhau đây
Thà
liều sống chết một ngày có nhau
Rồi
ở một đoạn khác:
‘Khi
nàng gieo ngọc trầm châu
Ðón
nhau, tôi đã gặp nhau rước về
Cùng
nhau nương cửa Bồ đề
Thảo
am đó cũng gần kề chẳng xa’
Vâng,
nhờ công đức hy sinh cho cha mẹ, nhờ tấm lòng thỉ chung
trung chánh đối với tình quân, nhờ nước sông Tiền Ðường
rửa sạch bụi trần tơ duyên, nhất là nhờ ý nguyện thành
tâm sám hối, cắt đứt duyên nợ ba sinh, nên từ đó Kiều
đã trở thành một con người trong sạch từ thân đến tâm,
từ trong ra ngoài. Vì thế ta cũng không ngạc nhiên đến
lòng từ bi quảng đại của đạo Phật qua hành vi cứu độ
của Ni sư Giác Duyên. Thật là một nghĩa cử cao đẹp
! Cửa Bồ đề quả là quảng đại vô biên ! Nếu Nguyễn
Du cũng như các nhà cổ Nho khác không ảnh hưởng theo với
tinh thần từ bi cứu thế của đạo Phật, không chịu đưa
tay tế độ những kẻ trầm luân khổ hải. Ðây không
như thế, Nguyễn Du đã không cố chấp vào những giáo điều
khô cứng, không câu nệ bảo thủ theo những lề lối thông
thường, và do đó cụ đã linh động khai thông ra để cứu
độ một linh hồn đau khổ, bằng cách làm cho Ni sư Giác Duyên
thuê người tìm kiếm và cứu vớt nàng ở sông Tiền Ðường.
Cũng do tinh thần từ bi cứu thế ấy của đạo Phật, nên
không những một mình Kiều, đến cả gia đình của nàng (và
có lẽ của chúng ta nữa) đã thọ ơn Phật pháp. Họ
đã:
‘Quay
nhau lạy trước Phật đài
Tái
sinh trần tạ lòng người từ bi’
2)Về
tòa án nhân dân đầu tiên ở Việt Nam:
Sự
xuất hiện của nhân vật anh hùng Từ Hải như là một sự
xuất hiện của một tòa án nhân dân xử phạt các tội phạm
phong kiến và các tội phạm do chế độ phong kiến thối nát
đẻ ra. Trong phiên tòa xử Tú bà, Mã Giám Sinh, và Hoạn
Thư, Kiều vốn là nạn nhân trở thành quan tòa. Tiếng
nói của quan tòa này hẳn là chính xác, công minh. Ðây
là tiếng nói đích thực của nhân dân vừa công bình, vừa
nhân ái. Với Hoạn Thư, Kiều phán:
‘Tha
ra thì cũng may đời
Làm
ra thì cũng ra người nhỏ nhen
Ðã
lòng tri quá thì nên
Truyền
quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay’
Với
tú bà và Mã Giám Sinh, nàng truyền:
‘Tú
bà cùng Mã Giám Sinh
Các
tên tội ấy đáng tình còn sao
Lệnh
quân truyền xuống khai đao
Thề
sao thì lại cứ sao gia đình’
Với
hai phiên tòa nhân dân ấy, Nguyễn Du, một thiên tài thi ca
và tư tưởng đã nói lên khát vọng thống thiết về một
xã hội nhân bản, hợp lý xây trên công bằng, nhân ái, trên
nền tảng giá trị con người vì an lạc và hạnh phúc cao
cả của loài người - mỗi người và mọi người.
3)Triết
lý giải phóng phụ nữ:
Với
quan niệm của các nhà Nho xưa, người phụ nữ bị đóng khung
trong ‘Tam tòng’ (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu
tử tòng tử. Nghĩa là ở nhà thì theo cha, đi lấy chồng
thì theo chồng, chồng chết thì theo con) và tứ đức : công,
dung, ngôn, hạnh. Nguyễn Du đã phá đổ chiếc khung cũ
kỷ ấy, giới thiệu nàng Kiều, người đẹp giỏi cầm, kỳ,
thi, họa và kiêm thạo cả tửu, giới thiệu Hoạn Thư khôn
nước hơn Thúc Sinh:
‘Anh
hoa phát tiết ra ngoài
Tài
tình chi lắm cho trời đất ghen’
‘Thấp
cơ thua trí đàn bà
Trông
vào đau ruột nói ra ngại lời’
Hoặc
là:
‘Người
đâu sâu sắc nước đời
Mà
chàng Thúc phải ra người bó tay’
Nhà
thơ lỗi lạc ấy đã muốn giải phóng phụ nữ, giới thiệu
phụ nữ đi vào nhiều lãnh vực của xã hội. Và đã
tháo gỡ cái quan niệm chật hẹp, phi lý về chữ trinh cũ:
‘Xưa
nay trong đạo đàn bà
Chữ
trinh kia cũng có ba bảy đường’
Hay
là:
‘Như
nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi
nào cho đục được mình ấy vay’
Với
cái nhìn nhân ái và trí tuệ ấy của Nguyễn Du là cái nhìn
giá trị mới đầy tính người, giải phóng con người ra khỏi
vùng giá trị cũ kỹ của Nho học.
4)Nỗi
đau đứt ruột:
Sau
khi thoát ra khỏi thanh lâu và được làm phu nhân của tướng
công Từ Hải, Thúy Kiều đã mời sư chị tới để tỏ lòng
trân trọng và biết ơn. Sau đó sư chị Giác Duyên tạ
từ về chùa, vì sư chị không muốn ở lâu chỗ quân trường.
Trên con đường về, sư cô gặp một đạo cô tên là Tam Hợp,
một người tu theo đạo Lão nhưng có kiến thức rất sâu
sắc về đạo Bụt. Thời đó ba tôn giáo đã sống chung và
có ảnh hưởng lẫn nhau, ta gọi là ‘tam giáo tịnh lập’.
Biết rằng Kiều sẽ còn gặp nhiều khổ đau nên sư Giác
Duyên mới hỏi đạo cô Tam Hợp về tương lai của nàng.
Họ bảo là Kiều còn phải gặp nhiều tai nạn và đau khổ
nữa trước khi được giải thoát. Qua những lời này
ta thấy đạo cô Tam Hợp là một nhà phân tâm học. Thấy
được cái bản chất của con người Kiều và cũng thấy được
tương lai của Kiều:
‘Thúy
Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô
duyên là phận hồng nhan đã đành’
Vô
duyên đây là thiếu phúc duyên, không có phúc duyên, không
đủ điều kiện căn bản để có hạnh phúc, nói khác là
điều kiện của sự tu học, của sự giác ngộ. Vô duyên
đây không có nghĩa là thiếu sự duyên dáng, vô duyên đây
là thiếu may mắn, để thấy được sự thật và thấy rằng
mình đang đi vào một con đường không sáng sủa”
‘‘Thúy
Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô
duyên là phận hồng nhan đã đành
Lại
mang lấy một chữ tình
Khăng
khăng mình buộc lấy mình vào trong
Vậy
nên những chốn thong dong
Ở
không yên ổn, ngồi không vững vàng
Ma
đưa lối quỷ đưa đường
Lại
tìm những chốn đoạn trường mà đi’
Những
chốn mà người khác đi đứng thong dong, khỏe khoắn và hạnh
phúc, mình tuy ở chung nhưng vẫn không được như người ta.
Ðáng lý được thong dong mà mình không được, vậy nên những
chốn thong dong, ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.
Mình ngồi cũng không yên, đi cũng vậy, mình đi trên chông
gai, bước trên than hồng trong khi người khác có sự thanh
thản bình an. Dầu cho có vào chùa đi nữa thì mình cũng
tiếp tục ngồi trên đống lửa mà không được ngồi trên
hoa sen. Dầu cho đang được cùng đi thiền hành với tăng
thân và khi tăng thân thực tập từng bước nở hoa sen, mình
vẫn dẫm trên lửa nóng. Vào chùa mình cũng chẳng có
sự thanh tịnh vì mình đã tự buộc mình vào vòng nghiệp
chướng.
‘Ma
dẫn mình đi’, ma đây tức là ma thất niệm, sự vắng mặt
của chánh niệm. Ma quỷ tức là sự tối tăm, là vô
minh, là tình trạng không thấy được sự thật, là tình trạng
đang đi trên con đường khổ đau và đen tối. Mình không
tìm con đường an lành mà đi, trái lại đã tìm chốn đoạn
trường mà đi. Vì thế Ðoạn Trường Tân Thanh cũng chính
là nỗi đau đứt ruột:
‘Hết
nạn ấy đến nạn kia
Thanh
lâu hai lượt, thanh y hai lần
Trong
vòng giáo dựng gươm trần
Kề
lưng hùm xói gửi thân tôi đòi
Giữa
dòng nước dẫy sóng dồi
Trước
hâm rồng cá gieo mồi vắng tanh
Oan
kia theo mãi với tình
Một
mình mình biết, một mình mình hay’
Chỉ
có mình mới thấy được cái khổ đau cùng cực của mình.
Người ngoài nhìn vào không thể thấy và biết hết được.
Một mình mình biết, một mình mình hay. Câu thơ nầy thâm
trầm hết sức. Rồi đạo cô nói tiếp:
‘Làm
cho sống đọa thác đày
Ðoạn
trường cho hết kiếp này mới thôi’
C. KẾT LUẬN
Truyện
Kiều hàm chứa nhiều quan niệm nhân sinh, triết học tôn giáo,
thực trạng xã hội và khía cạnh tâm lý của con người,
đầy đủ các phương tiện tốt xấu, khen chê, vinh nhục,
thịnh suy, thiện ác v.v.. muôn màu muôn sắc, không làm sao
diễn tả hết trong phạm vi bài viết. Vì thế người
viết khi thực hành đề tài nầy không thể nào không thổn
thức cho kiếp đọa đày lao khổ của Kiều. Chính tâm
trạng này đưa đến cho chúng ta một liên tưởng ‘suy người
rồi nghĩ đến ta’ trong thân phận của kiếp người trầm
luân đau khổ:
‘Nghĩ
thân phù thế mà đau
Bọt
trong bể khổ bèo đầu bến mê !’
(Ôn
Như Hầu)
Và
từ đó, tự nhiên trào dậy trong lòng ta một tình thương
man mác. Thương cho số kiếp đào hoa bạc phận của Kiều
chăng ? Thương cho Cụ Nguyễn Du lận đận trên đường công
danh sự nghiệp của thời Lê mạt Nguyễn sơ chăng ? Hay thương
cho ta, cho mọi người đang sống trong cảnh bèo mây mộng ảo
chốn trầm luân khổ hải này chăng ? Không, tình thương ấy
không có thời gian và định hướng. Ta thương cho tất
cả. Tình thương ấy là gì nếu không là một biểu hiện
lòng từ bi của đạo Phật ?
Thực
tế cho ta thấy tình thương là một sợi dây vô hình nối
liền giữa mình và người, giữa hiện tại, quá khứ và tương
lai. Qua tình thương ấy, giữa thi hào Nguyễn Du với nàng
Kiều lao đao lận đận trong cuốn ‘Ðoạn Trường Tân
Thanh’, và với chúng ta trong cuộc đời trầm luân ảo mộng
này nghe như có cái gì đồng điệu nên giữa chúng ta - người
còn kẻ mất, người mộng kẻ thực - sẽ không còn ai khóc
cho ai nữa và không phải hỏi rằng:
‘Bất
tri tam bách dư niên hậu
Thiên
hạ hà nhân khấp Tố Như?’
(Không
biết rồi đây ba trăm năm sau, trong thiên hạ còn ai khóc Tố
Như?) mà chính là ta khóc cho thân phận con người của chúng
ta vậy.
Song
song với ý niệm và tình thương ấy, khi đọc truyện Kiều
chúng ta cảm thấy: con người trước hết là một vật yếu
hèn bất lực, nhưng nhờ ‘thiện căn’ sẵn có trong lòng,
kèm theo ý chí liên tục phấn đấu, nên cuối cùng con người
sẽ thắng được định mệnh, vượt khỏi mọi bất công
thử thách của cuộc đời để xây dựng tương lai của mình.
Câu châm ngôn của Tây phương: ‘thất bại là mẹ của thành
công’ và câu phương ngôn của Ðông phương (Nhật Bản) “Ngã
xuống bảy lần, lần thứ tám đứng dậy’ đã được thể
hiện hoàn toàn trong nhân vật chính của truyện Kiều, đó
là nàng Kiều. Ðấy là gì nếu không phải là triết
lý nhân bản, truyền thống bất khuất của các dân tộc Á
Ðông?
Thêm
một điều nữa, đọc truyện Kiều chúng ta thấy tác phẩm
này đã vượt lên trên tất cả những quan niệm chật hẹp
tầm thường của đương thời để thể hiện một tinh thần
tổng hợp linh động của các nền tư tưởng Ðông phương
là Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo. Ba nền triết học
Phật, Lão, Nho ấy đã dung hòa đẹp đẽ trong công cuộc đúc
kết thành sắc thái đặc biệt và phong phú của nền văn
hóa Việt Nam với mấy nghìn năm lịch sử. Chính sắc
thái này đã tạo ra truyền thống dung hòa, nhưng không nô
lệ, mềm dẻo nhưng bất khuất của dân tộc Việt Nam trải
qua bao cuộc chống xâm lăng, dành độc lập của ông cha chúng
ta từ xưa, và ngay cả thế hệ của chúng ta bây giờ nữa.
Có
lẽ vì những lý do trên, nên đại đa số quần chúng Việt
Nam từ giới cần cù lao động ở nông thôn cho đến các hàng
trí thức ở thị thành đều thích đọc truyện Kiều, công
nhận giá trị của truyện Kiều, nhất là giá trị đóng góp
của nó trong các lãnh vực văn chương, triết lý nghệ thuật
và tư tưởng, có lẽ cũng vì thế nên như người Ba tư đối
với bản trường ca Rubaiyat, người Ấn độ với bản tình
thơ Bhavagad, Cita .. người Việt Nam chúng ta đón nhận tác
phẩm truyện Kiều như một vật thân yêu, phản chiếu từ
lòng mình, đời mình vậy.