PHẦN
THỨ NHẤT
I
POMONA
là cái tên cái nhà gỗ trong rừng của tôi đang ở. Nguyên
Hưng cứ tưởng tượng một buổi sáng thức dậy ở Phương
Bối Am, lúc bảy giờ. Chim chóc hát vang rừng và ánh sáng
tràn vào thành từng vũng lớn. Tôi đến đây vào một buổi
tối; xe hơi len lỏi trên những con đường rừng thành ra không
thấy gì. Sáng dậy, tôi giật mình vì tiếng chim hót, vì căn
nhà gỗ và sự yên tĩnh mà đã hơn một năm nay tôi thiếu
thốn. Ở Nữu Ước dù thức dậy lúc ba giờ khuya ta cũng
vẫn nghe tiếng xe cộ đi lại. Tôi nhớ hồi mới về Nữu
Ước, suốt một tuần lễ tôi không ngủ được. Tôi than
phiền với một người quen. Anh ta mua biếu tôi một thứ bông
sáp để nhét vào tai khi đi ngủ. Cố nhiên là đỡ ồn rồi,
nhưng tôi vẫn không ngủ được bởi vì không thể quên được
vì không thể quên được cái cảm giác là lạ trong hai tai.
Mãi mấy hôm sau tôi mới làm quen với tiếng ồn và mới ngủ
được. Thực ra, tất cả chỉ là vấn đề thói quen. Có người
đã quen với tiếng tích tắc của đồng hồ, thiếu nó thì
cũng không ngủ được. Nguyên Hưng không nhớ hồi anh Cường
lên chơi và ngủ lại Phương Bối Am sao. Đã quen với tiếng
xe cộ đường Hồng Thập Tự nên nằm ở Phương Bối anh
ấy cũng không ngủ được vì cái yên tĩnh kỳ lạ của núi
rừng Đại Lão.
Tôi
thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng
chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại
càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.
Tôi khoác chiếc áo nhật bình đi ra ngoài. Thật ra một cảnh
tượng thần tiên. Tôi có ngờ đâu căn nhà gỗ này nằm bên
một chiếc hồ lớn - lớn hơn cả hồ Dalat. Mặt hồ sáng
loáng phản chiếu nắng buổi mai, đẹp rực rỡ như tranh thần
thoại. Bờ hồ là cây rừng; lá cành mang nhiều mầu sắc.
Trời sắp ngả sang thu rồi đó, Nguyên Hưng.
Tai
tôi thoáng nghe tiếng cười đùa. Tôi vừa đi vào con đường
mòn vừa gài khuy áo, tìm tới gần chỗ phá xuất ra tiếng
nói cười trẻ em. Đi chừng hai trăm thước tôi thấy hiện
ra một khu có sân rộng, có tới mấy chục ngôi nhà gỗ như
Pomona, nhưng bé hơn Pomona. Bọn trẻ con đang rửa mặt, đánh
răng. Đây là là Cherrokees, trại của các em nhỏ từ bảy
đến mười một tuổi. Rải rác trong rừng còn có năm hay
sáu làng nữa, của những lứa tuổi lớn hơn. Khu rừng mấy
trăm mẫu này hiện dùng làm trại hè - trại Ockanickon, cho
học sinh. Để trốn nắng thành phố, tôi đã về đây, sống
với thiên nhiên, với rừng xanh, hồ biếc và trẻ thơ. Tôi
sẽ ở lại đây vài ba tuần nữa trước khi trở về lo công
việc mùa thu.
Ngay
đầu tôi đã ở chơi suốt ngày với các cậu bé làng Cherrokees.
Các cậu bắt đâu được một chú nai con mới sinh được
ba bốn ngày. Mẹ nó đã bỏ nó đi đâu mất. Các cậu bé
đem nó về trại nuôi. Ban giám đốc trại làm cho các cậu
ấy một cái nhà lưới rộng, có hai phòng, để nuôi chú nai
con. Chúng đặt tên con nai là Datino. Datino có bộ lông mầu
vàng điểm nhiều chấm sao trắng rất đẹp. Datino được
các cậu bé cho ăn cháo tấm trộn với sữa tươi, và bắp
cải non. Sống được tám tuần lễ ở trong trại rồi, Datino
đã lớn. Nhờ sự chăm sóc của các cậu bé, nó đã cao chừng
bốn tấc tây. Tôi cũng hay quanh quẩn với các em chung quanh
cái nhà lưới của Datino và hay hái những cành có lộc non
cho Datino gặm. Pomona thanh tịnh quá khiến tôi ít ưa đi đâu
nữa. Tôi có đem về đây mấy cuốn sách nhưng không đọc.
Nguyên Hưng nghĩ đọc làm sao được khi rừng cây thanh tịnh
như thế kia, hồ nước xanh mát như thế kia, tiếng chim hót
trong trẻo thế kia. Có những buổi sáng tôi đi vào trong một
khu rừng thưa và ở lại đó một mình cho đến chiều. Tôi
đi thơ thẩn trong rừng hay nằm dài trên những thảm rêu mềm
mại, khoanh tay nhìn trời xanh, mây trắng. Những lúc như thế
này tôi thấy tôi đổi khác. Có thể nói là tôi tìm thấy
rõ mặt mũi chân thực của tôi thì đúng hơn. Những nhận
xét, những cảm nghĩ, những quan niệm không còn giống như
những nhận xét những cảm nghĩ những quan niệm hồi tôi
còn ở Nữu Ước. Tôi thấy sự vật sáng hơn, khỏe hơn và
ít tầm thường hơn. Chiều hôm qua tôi ngồi trên một chiếc
thuyền con và tự chèo lên phía Bắc của hồ, trên một cây
số. Tôi ngồi chơi giữa những bông súng cho tới khi trời
nhuộm mầu tím mới bơi về. Tối quá, tí nữa thì không tìm
ra được cái bến xinh xắn của Pomona.
Rừng
ở đây không có sim như ở Phương Bối nhưng có một thứ
trái cũng tìm và ngọt như sim, gọi là blueberries. Sáng hôm
nay tôi đưa hai chú bé chừng tám tuổi vào hái blueberries ăn
đến chát cả mồm cả miệng. Hai cậu bé nói chuyện huyên
thuyên không ngớt. Một cậu nói chuyện ông Ba Bị mà cậu
trông thấy hồi hôm. Ông kẹ của cậu có sừng trên trán
và đang lúc cậu ngủ, trong một chiếc lều ở Cherokees, thọc
tay vào cửa sổ lều định bắt cóc cậu. Cậu nói chuyện
một cách say sưa, thành thực. Có lẽ có một ông Kẹ giả
nào đó thì mới khiến cậu tin chắc như vậy được. Tôi
vừa nghe vừa cười, vừa lo hái blueberries. Hồi lâu, không
thấy phản ứng chi, cậu tức quá, dừng lại, nói một cách
thất vọng: “Ông không tin lời của em”. Tôi trả lời:
“Có chứ, tôi tin, nhưng tin vừa vừa thôi”. “Tại sao?”
“Tại vì khó tin quá, tôi cố gắng mới có thể tin em một
ít như vậy”. Cậu buồn xo. Chiều đến, cậu dắt tới Pomona
một cậu bé để làm chứng. Cậu này cũng kể chính cậu
cũng thấy ông Ba Bị. Hai cậu tranh nhau hùng biện, cố làm
cho tôi tin. Cuối cùng tôi phải gật đầu công nhận “Thôi
được, tôi tin lời hai cậu”. Tôi nhói như vậy và đứng
dậy đưa hai cậu về trại Cherrokees.
Nguyên
Hưng, trong những ngày như ngày hôm nay tôi nhớ Phương Bối
quá đi. Có phải là thỉnh thoảng đến Phương Bối, ngày
xưa, chúng ta cũng hay mang một vài em bé đi thám hiểm núi
rừng Đại Lão hay không? Rừng Đại Lão Sơn hoang vu rậm rạp
và nguy hiểm hơn đây nhiều. Chẳng thế mà có bận chúng
ta đã gặp cả cọp. Tôi nhớ Phương Bối Am quá cho đến
nỗi nhiều đêm nằm mơ thấy về Phương Bối. Nhưng tội
nghiệp chưa, chẳng bao giừo về tới được Phương Bối cả.
cứ về gần tới Phương Bối thì y như là có một trở lực
gì ngăn chận lại. Vì thế càng nhớ, càng xót xa thêm. Quê
hương chúng ta đã không phải là Phương Bối sao? Nguyên Hưng
thường nói: “Phương Bối không thuộc về chúng ta. Chính
chúng ta thuộc về Phương Bối”. Phải có những ràng buộc
mật thiết lắm với Phương Bối mới có thể nói những câu
tương tợ như vậy. Phải có những gốc rễ ăn sâu vào Phương
Bối lắm mới có thể biểu lộ được tình cảm như thế
ấy. Tôi biết lắm. Người ta thường nói chỉ có những kỷ
niệm đau buồn mới ở lâu với con người. Sự thực không
hẵn như vậy. Nguyên Hưng, có phải những ngày sung sướng
nhất của chúng ta là những ngày ở Phương Bối không? Và
có phải vì những ngày đáng ghi nhớ ấy mà chúng ta hướng
về Phương Bối từ bất cứ phương trời nào, nhưng những
bông hoa hướng dương kia không?
Những
ngày khai sinh của Phương Bối không có mặt Nguyên Hưng. Hồi
dó Nguyên Hưng còn ở Dalat. Chúng ta đã đi từ thất vọng
này sang thất vọng khác trong niềm ao ước tìm một lối thoát
cho chúng ta, cho thế hệ những người trẻ tuổi muốn đem
lý tưởng đạo Phật làm đẹp cho cuộc đời. Nguyên Hưng
trẻ hơn tôi đến gần mười tuổi, nhưng mà Nguyên Hưng cũng
đã chịu biết bao nhiêu nỗi thảm nhục rồi. Chúng ta đã
đau khổ vì tình trạng chính trị của đất nước. Chúng
ta lại còn đau khổ vì tình tdrạng của đạo Phật. Hồi
ấy chúng ta đã nói tới vấn đề hiện đại hóa đạo Phật.
Hồi ấy chúng ta đã cố gắn mọi cách gây ý thức về một
nền Phật giáo dân tộc để mong phục hồi sinh lực dân tộc
trong ước vọng xây dựng xứ sở. Tôi dã làm báo đã viết
sách. Nào báo Hướng Thiện, nào báo Liên Hoa, nào báo Sen Hái
Đầu Mùa. Năm 1955, chắc Nguyên Hưng còn nhớ, tôi được
Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam giao cho chủ bút tờ Phật Giáo
Việt Nam. Lúc đó, tôi đã có dịp gây ý thức về một nền
Phật giáo nhân bản và dân tộc. Tôi cũng đã thấy rõ tính
cách rời rạc phân tán của tổ chức đạo Phật, nên đã
cố gắng viết tất cả những gì tôi nghĩ về một nền Phật
giáo thống nhất toàn vẹn. Tôi chắc Nguyên Hưng biết rõ
những nguyên do gần xa trong ngoài của sự rời rạc. Hơn hai
năm sau, tờ báo bị đình bản. Lý do là hết tiền. Nhưng
kỳ thực, đó là vì các nhà lãnh đạo Phật giáo miền Trung
và miền Nam không chịu đựng được những lọat bài nói
về vấn đề thống nhất thực sự. Trong một buổi họp,
họ đã lấy cớ hết tiền để kết liễu sinh mệnh của
tờ báo. Họ có nói: “Ai lại tờ báo của Tổng hội mà
đi dạy Tổng hội về vấn đề thống nhất bao giờ”.
Nguyên
Hưng, thế là chúng ta mất khí giới cuối cùng. Chính trị
thì khôn ngoan, tìm đủ mọi cách cho tiềm lực dân tộc không
có cơ phát hiện. Tổ chức Phật giáo thì thủ cựu, chia rẽ.
Chúng ta, những người trẻ tuổi, không có tiền bạc. Không
có uy thế, không có một “miếng đất để cắm dùi”, làm
sao thực hiện được ước mộng? Sau một thời gian ốm đau
tưởng chết, tôi rút về nằm ở ngôi chùa nhỏ bé và an
tĩnh ở Blao. Còn Nguyên Hưng và các bạn thì mỗi người phiêu
lưu một ngả. Lần thất bại này có lẽ là lần thất bại
to lớn nhất có phải không Nguyên Hưng?
Tôi
về nằm ở chùa Blao, nhưng cũng không được yên ổn mấy,
bởi vì đây là chùa quận hội Phật giáo. thỉnh thoảng có
chị Diệu Âm ở Djiring vào đem cho thuốc men, và một ít trái
cam tươi. Chị Diệu Âm, mà công trình đối với Phương Bối
không phải là nhỏ, nay đã nằm yên dưới lòng đất rồi.
Có phải chính nhờ chị mà chúng ta có đủ can đảm và kiên
nhẫn để tạo dựng nên Phương Bối phải không Nguyên Hưng?
Tôi
xin trở lại câu chuyện những ngày đầu tiên khai sanh Phương
Bối. Ấy là vào khoảng Vu Lan năm 1957. tôi có nói với chị
Diệu Âm: “Chúng tôi mất chiếc neo cuối cùng rồi. Có lẽ
đức chúng tôi đang còn mỏng quá. Chúng tôi phải trở về
trong một cái vỏ cứng để tu luyện trong một thời gian đã.
Chị kiếm cho chúng tôi một nơi ẩn dật đi”.
Chị
Diệu Âm hồi ấy trú tại Djiring trong một tịnh xá tên là
Mai Lâm. Mai lầm tức là Rừng Mai. Chính vì vậy mà hồi chị
mất, để nhớ chị chúng ta đồng ý đặt tên cho chiếc cầu
gỗ phía trước cửa rừng Phương Bối là Cầu Mai. Cầu Mai
bây giờ có lẽ đã mục nát rồi. Lâu nay, từ Huế, có khi
nào Nguyên Hưng lăn lội về ghé thăm Phương Bối và chiếc
cầu xinh đẹp đó không?
Chị
Diệu Âm nói: “Tôi tiếc không nhường Mai Lâm lại cho các
chú được, bởi vì tôi không có thẩm quyền. Chớ nếu tôi
nhường được tôi sẽ nhường ngay. Tôi về Huế, ở chùa
Thiên Minh”. Quý hóa thay tấm lòng của chị Diệu Âm. Tôi
cười, trả lời: “Chị mà về Thiên Minh thì còn tệ hơn
là chúng tôi không có chỗ ở”. Và Nguyên Hưng ơi, chính
trong những giờ đàm luận ấy mà chúng tôi thấy nẩy sinh
trong óc các ước muốn và dự định thành lập một khu tĩnh
cư trên rừng Đại Lão. Khu ấy sẽ rất yên tĩnh, sẽ ít
ai đến được. Khu ấy sẽ rộng, sẽ có đru núi đồi, suối,
vườn, tĩnh đường, thư viện, thiền thất. Chúng ta cần
một nơi như thế, có phải không Nguyên Hưng. Chúng ta phải
có một nơi như thế để quay về. Để chữa cho lành những
vết thương rướm máu. Để nuôi dưỡng bồi đắp lại những
gì mà chúng ta đã phí phạm. Để chuẩn bị cho một cuộc
hành trình khác. Niềm tin, sự trong trắng của tâm hồn chúng
ta đã bị hao tổn một cách nặng nề. Chúng ta nhận thức
được điều đó, và chúng ta quyết định tìm con đường
phải đi. Phải trị liệu, phải bồi đắp, phải nuôi dưỡng
trước đã. Nếu không, chúng ta sẽ mất chúng ta. Tôi đã
ước ao có một nơi do chúng ta mới thực hiện được công
trình “tu luyện” cần thiết. Bởi vì chúng ta sẽ không
thể lmà được gì nếu vẫn phải sống mãi cái đời ăn
gửi, nằm nhờ.
Nguyên
Hưng biết, hồi đó, chúng ta đã có vào khoảng trên hai vạn
cuốn sách. Núi rừng, cây, suối, thiền thất và thư viện
hấp dẫn chúng ta như một dòng nước mát đối với kẻ bộ
hành trong sa mạc, như gói quà trong rổ chợ của bà mẹ đối
với đưa con thơ. Tôi đã bàn với Thanh Tuệ, với chị Diệu
Âm. Thế là chúng tôi nhất định thực hiện cho kỳ được.
Cái đời bấp bênh của chúng ta phải được rẽ qua một
hướng mới.
Đại
Lão Sơn vốn là một khu rừng núi phía trên đèo Blao, cách
đèo chừng sáu cây số. Từ Saigon lên bằng quốc lộ số
20 đến cây số 180, nhìn sang tay trái về phía những núi đồi
cao nhất: đó là rừng Đại Lão. Muốn tới Phương Bối Am,
ta phải từ Blao đi về phía đèo bằng quốc lộ. Đến cây
số 180, ta phải bỏ quốc lộ băng qua chừng ba cây số đường
rừng. Hồi ấy, đất rừng ở đây được xem như là vật
sở hữu của những người Thượng. Những khu đất gần hai
bên quốc lộ thì hoặc đã được khai thác trồng trọt, hoặc
đang còn là đất rừng - nhưng là thứ đất rừng của người
Kinh đã mua lại từ người Thượng. Người Thượng thường
chịu bán đứt đất rừng cho người Kinh bằng một giá hạ.
Vượt ba cây số đường rừng, chị Diệu Âm, tôi và một
người bạn tên là anh Điều làm trắc nghiệm viên dừng lại
để nhìn ngắm khu rừng núi hùng vĩ và huyền bí trước mặt.
Đó là Phương Bối tương lai. Phương là thơm, là quý. Bối
là lá bối đa, một thứ palmier lá dài. Ngày xưa chưa có giấy
người ta viết kinh trên thứ lá ấy. Phương Bối nói lên
được ý hướng quý trọng và phụng sự nền văn học đạo
Phật của chúng ta. Phương Bối là lý tưởng của chúng ta
có phải vậy không Nguyên Hưng?
Khu
rừng núi kia nằm trong địa hạt làng B’su Danglu của người
Thượng. Sau mấy tuần khó nhọc chị Diệu Âm, anh Điều và
tôi tìm được vị trí và được bản đồ của khu dất chúng
tôi muốn mua lại của người Thượng. Khu đất rộng 25 ha
9525, như vậy là gần hai mươi sáu mẫu tây đất rừng. Mà
Nguyên Hưng có biết hồi đó chúng tôi mua với giá bao nhiêu
không? Hai trăm năm mươi đồng bạc Việt Nam một mẫu. Giá
của khu rừng gần hai mươi sáu mẫu là sáu ngàn năm trăm
đồng. Nguyên Hưng đừng tưởng chúng tôi bắt ép người
Thượng hiền lành để mua đất của họ bằng một giá rẻ
đâu nhé. Bởi vì đấy là giá chính thức họ bán cho mọi
người. Hồi ấy, chúng tôi có tặng thêm cho những người
Thượng kia ba ngàn rưỡi bạc nữa đấy.
Nguyên
Hưng có biết chúng tôi mua bán với ai không? công tác mua bán
với hai người Thượng hiền lành. Một người tên là K’Briu.
Người kia tên là K’Brôi. Cả hai đều không biết chữ. Nhưng
vị chánh tổng của họ. Chánh tổng Mã Blao, tên là K’bres
và vị quận trưởng Thượng của họ, tên K’Dinh thì biết
chữ và ký bằng bút máy. Một buổi sáng tháng tám trời nắng
ấm, Tuệ và tôi đi vào quận để làm giấy. Gặp các ông
K’Briu, K’Brôi, và vài người nữa. Rồi tôi ký tên vào
mua cái văn tự bán đất (Sao lại bán nhỉ. Phải là mua mới
đúng chứ?) đầu tiên trong đời. Văn tự đó như sau:
VĂN
TỰ BÁN ĐẤT
Giữa
hai đàng,
Những
người Thượng tên K’Briu, tên K’Brôi dân làng B’su Danglu,
tổng Mã Blao quận Blao, tỉnh Đồng Nai Thượng, bên này, và
tăng sĩ Nhất Hạnh, nhà ở chùa Phật Học, bên kia.
Đã
thỏa thuận như sau: Những người Thượng, chiếu thượng,
do văn tự nầy, đã bằng lòng bán đứt cho tăng sĩ Nhất
Hạnh một khoảnh đất kê khai như sau:
VỊ
TRÍ: Một khoảnh đất diện tích 25ha 9525 (hai mươi lăm mẫu
tây chín ngàn năm trăm hai mươi lăm thước vuông) tọa lạc
tại làng B’su Danglu quận Blao, tỉnh Đồng Nai Thượng, ngang
cây số 180-/-900, quốc lộ 20, Bắc giáp đất ông Trương Út
và đất rừng, Nam giáp đất rừng và đất ông Trần Ngọc
Quýnh.
Đông
giáp đất rừng và đất ông Trần Ngọc Quýnh, Tây giáp đất
ông Đặng Văn Lân và đất ông Trương Út. (bản đồ đính
hậu).
NGUỒN
GỐC: Những người Thượng tên K’Briu, K’Brôi trước sự
hiện diện của ông Phó Lý làng B’su Danglu cam kết rằng
khoảnh đất trên hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của họ,
chưa hề cầm cố, để đương hay sai áp, và cũng không phải
là công điền công thổ của làng.
QUYỀN
SỞ HỮU: Văn tự đoạn mãi này xác nhận sự di chuyển quyền
sở hữu và tăng sĩ Nhất Hạnh được trọn quyền sở hữu
trên khoảnh đất trên, kể từ ngày thành lập văn tự này.
GIÁ
CẢ: Khoảnh đất này đã thỏa thuận đoạn mãi với giá
là 6.500đ00 (sáu ngàn năm trăm đồng bạc chẵn) và đã giao
trước sự hiện diện ông Đại Diện Hành Chánh Blao, ông
Chánh Tổng Mã Blao và ông Quận trưởng đồng bào Thượng
chứng kiến cho các người bán đất đã lãnh đủ số tiền
và điểm chỉ vào văn tự này vì không biết chữ, không biết
ký.
Bên
mua phải đăng bộ thổ, đóng bách phần cùng các thứ thuế
khác tại bộ điền địa Đà Lạt.
Làm
tại Blao ngày mùng 7 tháng 8 năm 19…
Dưới
văn tự, có dấu điểm chỉ của K’Briu, K’Brôi của phó
lý làng B’su Danglu, có chữ ký của Chánh tổng Mã Blao và
K’Bres của quận trưởng Thượng K’Dinh và của ông Quận
trưởng quận hành chánh Blao nữa. Bên cạnh chữ ký của K’Brôi,
K’Briu, là chữ ký của tôi, tăng sĩ Nhất Hạnh. Thế là,
Nguyên Hưng ơi, tôi đã trở thành địa chủ rồi đó. Địa
chủ của gần hai mươi sáu mẫu tây đất rừng. Tha hồ sau
này cho cộng sản tố khổ. Biết đâu trong khu rừng núi gần
hai mươi sáu mẫu ấy, lại không có vài vị chúa sơn lâm
lưu trú. Ở nông trại Đại Hà các ông Ba Mươi dã chẳng
thỉnh thoảng về chơi ban đêm đó sao?
Hết
chương 1