c
Nam
Tuyền Ngữ Lục
(Trích
dịch trong Chỉ Nguyệt Lục)
Dịch
giả: Thích Duy Lực
Trì
Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư quê ở Tân Trịnh, Trịnh
Châu, họ Vương, theo Đại Hoè Sơn, Đại Huệ thiền sư xuất
gia, đến Tung Nhạc thọ giới cụ túc. Ban sơ theo Pháp Tướng
Tông, học giáo lý và giới luật, sư đi các nơi nghe giảng
Kinh Pháp, như kinh Lăng Già, kinh Hoa Nghiêm v.v. rồi đi sâu
vào
Trung Quán
Luận, Bách Môn Luận, sư thấu suốt diệu nghĩa của tất
cả kinh luận. Sau cùng đến Thiền hội của Mã Tổ Đạo
Nhất Thiền Sư tham vấn, bỗng nhiên được khai ngộ, đắc
du hý tam muội. Sư làm hành đơn (chức làm trong phòng ăn)
nơi thiền hội Mã Tổ. Một ngày kia, sư đang dọn cháo cho
chư tăng,
Mã Tổ hỏi:
"Trong thùng (đựng cháo) là cái gì?" Sư đáp: "Ông già này,
bịt miệng đi, nói lời thế này!" Mã Tổ bèn thôi. Từ đó,
các đồng tham chẳng ai dám cật vấn sư.
Năm mười
một niên hiệu Trinh Quang nhà Đường, sư làm trụ trì ở
Trì Dương, ba mươi mấy năm chẳng xuống núi Nam Tuyền. Các
tòng lâm tôn ngài là một vị thiền sư nổi bật.
Dưới núi
Nam Tuyền có một am chủ; có người nói với am chủ rằng:
"Gần đây có hòa thượng Nam Tuyền ra đời, tại sao không
đi để yết kiến." Vị am chủ nói: "Chẳng những Nam Tuyền
ra đời, dẫu cho ngàn Phật ra đời, tôi cũng không đi." Sư
nghe rồi, sai đệ tử là Triệu Châu đi khám xét. Triệu Châu
đi từ đông qua tây, từ tây qua đông, am chủ cũng chẳng
màng. Châu nói: "Thảo tặc đại bại", rồi buông rèm xuống
đi về, kể lại với sư, sư nói: "Xưa nay ta nghi ông này."
Ngày hôm sau, sư cùng sa di đem một bình trà với ba cái chén
đến am, liệng xuống đất, rồi nói: "Hôm qua đó, hôm qua
đó." Am chủ hỏi: "Hôm qua đó là gì?" Sư đánh vào lưng vị
sa di một cái và nói: "Chớ gạt ta! Chớ gạt ta!" Và liền
quay đầu trở về. Sư thượng đường (thăng tòa) rằng: "Phật
Nhiên Đăng đã nói rồi, nếu do tâm thức suy nghĩ sanh ra các
Pháp, đều hư giả chẳng thật. Tại sao? Vì tâm còn chẳng
có, làm sao sanh ra các Pháp, giống như lấy hình ảnh để
phân biệt hư không, như lấy âm thanh để trong rương, cũng
như thổi mạng lưới muốn cho đầy." Nên Lão Túc (Mã Tổ)
nói: "Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật,
để dạy các anh em thực hành. Căn cứ lời Phật, thập địa
bồ tát trụ Thủ Lăng Nghiêm tam muội, đắc pháp tạng bí
mật của chư Phật, đắc tất cả thiền định giải thoát,
thần thông diệu dụng, đến tất cả thế giới phổ hiện
sắc thân, thị hiện thành Đẳng Chánh Giác, chuyển đại
Pháp luân, nhập niết bàn, đem vô lượng nhập vào một lỗ
chân lông, giảng một câu kinh trải qua vô lượng kiếp, nghĩa
cũng chưa hết, giáo hóa vô lượng chúng sanh, đắc vô sanh
pháp nhẫn, còn bị gọi là sở tri ngu, cực vị tế sở tri
ngu, toàn trái với đạo, thực khó! thực khó! Trân trọng
(cáo biệt)."(Nếu chấp theo những lời kể trên làm sở tri,
thì bị gọi là sở tri ngu)
Sư thượng
đường rằng: "Các ông, lão tăng từ 18 tuổi đã biết cách
làm kế sống, nay hễ có kẻ nào cũng biết cách làm kế sống
thì ra đây cùng nhau thương lượng. Phải là người trụ núi
mới được." (Người trụ núi nghĩa là người sau khi ngộ).
Lương cửu (cách một lát sau), sư nhìn khắp đại chúng, hiệp
chưởng (chắp tay) nói: "Trân trọng, vô sự hãy mỗi mỗi
tự tu hành đi." Đại chúng đứng yên chẳng giải tán. Sư
nói: "Thánh quả rất đáng sợ, người siêu việt số lượng
còn chẳng nại hà (giống như không có cách nào đối phó),
ta lại chẳng phải nó, nó lại chẳng phải ta - nó làm sao
nại hà ta - những nhà kinh luận nói pháp thân là cùng tột,
gọi là lý tận tam muội, nghĩa tận tam muội. Như lão tăng,
khi xưa bị người dạy cách phản bổn hoàn nguyên, hiểu theo
như thế là việc tai họa. Các anh em, gần đây thiền sư quá
nhiều, muốn tìm một người ngu độn chẳng thể được.
Chẳng phải hoàn toàn không có, nhưng mà rất ít, nếu có
thì ra đây cùng ta thương lượng. Như thời không kiếp, có
người tu hành hay không? Có hay không? Sao chẳng ai đáp? Các
ông bình thường lưỡi như dao bén (biện luận rất hay), nay
ta hỏi đều không mở miệng, tại sao không ra đây nói? Các
anh em, chẳng kể việc lúc Phật ra đời. Mọi người hiện
nay cứ gánh Phật trên vai mà đi, nghe lão tăng nói: "Tâm chẳng
phải Phật, Trí chẳng phải Đạo. Bèn tụ nhau suy đoán. Lão
tăng chẳng có chỗ để các ông suy đoán, nếu các ông rút
hư không làm cây gậy, đánh được lão tăng, thì mặc kệ
các ông suy đoán. Lúc ấy có tăng hỏi, từ xưa chư tổ cho
đến Giang Tây Mã Tổ đều nói: "Tức tâm là Phật, bình thường
tâm là Đạo." Nay hòa thượng nói Tâm chẳng phải Phật, Trí
chẳng phải Đạo, khiến học nhơn rất sanh nghi hoặc, xin
hòa thượng từ bi chỉ dạy." Sư lớn tiếng đáp rằng: "Ông
nếu là Phật, thì còn gì để nghi Phật như thế. Lão tăng
chẳng phải Phật, cũng chẳng gặp Tổ Sư, ông nói như thế
hãy tự tìm Tổ Sư đi." Tăng nói: "Hòa thượng dạy thế này,
bảo học nhơn làm sao hộ trì được", sư nói: "Ông mau dùng
tay nâng hư không đi."
Tăng nói:
"Hư không chẳng tướng động làm sao nâng?" Sư nói: "Ông nói
chẳng tướng động đã là động rồi, hư không làm sao biết
nói chẳng tướng động, đây đều là kiến giải, tình chấp
của ông thôi."
Tăng nói:
"Hư không chẳng tướng động còn là tình chấp, vậy hồi
nãy bảo con nâng vật gì?"
Sư nói: "Ông
đã biết chẳng nên nói nâng, còn tính ở đâu hộ trì nó?"
Tăng hỏi:
"Tức Tâm là Phật, Tâm ấy làm Phật được chăng?" Sư đáp:
"Tức Tâm là Phật, Tâm ấy là Phật thuộc về tình chấp,
đều do suy tưởng mà thành. Phật là trí nhơn, tâm là chủ
chiêu tập nghiệp. Lúc đối vật mới có diệu dụng, Đại
đức chớ nhận tâm nhận Phật. Nếu nhận được là cảnh,
bị gọi là sở tri ngu. Nên Giang Tây Mã Tổ nói, chẳng phải
Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật để dạy người
đời sau thực hành. Hiện nay kẻ học đạo đắp y đi khắp
nơi, nghi việc không đáng kể như thế này còn được chăng?"
Tăng nói:
"Đã chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật,
nay hòa thượng còn nói Tâm chẳng phải Phật, Trí chẳng phải
Đạo, thật chưa rõ là thế nào?"
Sư nói: "Ông
chẳng nhận tâm là Phật, Trí là Đạo, lão Tăng thì chẳng
đắc tâm, vậy còn dính mắc chỗ náo?"
Tăng nói:
"Thảy đều không được, đâu khác gì thái hư."
Sư nói:
-Đã chẳng
phải vật, so thái hư cái gì? Lại bảo khác hay chẳng khác.
Tăng nói:
-Chẳng lẽ
cũng không có "chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật chẳng phải
Vật" luôn chăng?
Sư nói:
-Ông nếu
nhận cái này thì lại thành Tâm thành Phật rồi!
Tăng nói:
-Xin Hòa thượng
giải thích.
Sư nói:
-Lão tăng
tự chẳng biết.
Tăng nói:
-Tại sao
chẳng biết?
Sư nói:
-Bảo ta nói
gì?
Tăng nói:
-Chẳng lẽ
không cho học nhân hội đạo?
Sư nói:
-Hội đạo
nào? Làm sao mà hội?
Tăng nói:
-Con không
biết!
Sư nói:
-Không biết
thì tốt. Nếu chấp lấy lời lão tăng thì gọi là người
y thông (y là dựa theo). Nếu gặp Di Lặc ra đời, thì sẽ
bị ngài nắm tóc.
Tăng nói:
-Làm sao dậy
kẻ hậu học đời sau?
Sư nói:
-Ông hãy
tự khán, chớ lo người đời sau!
Tăng nói:
-Hồi nãy
không cho con hội đạo, nay lại bảo con tự khán, thực con
chưa rõ.
Sư nói:
-Âm thầm
hội, diệu hội. Cho ông hội thế này.
Tăng nói:
-Thế nào
là diệu hội?
Sư nói:
-Còn muốn
học lời lão tăng! Dẫu nói được, cũng là lời của lão
tăng, ông còn muốn làm sao?
Tăng nói:
-Con nếu
tự hội được thì chẳng phiền hòa thượng. Nay con xin hòa
thượng dậy bảo.
Sư nói:
-Chẳng lẽ
chỉ đông chỉ tây để gạt người. Lúc ông còn mới bập
bẹ sao không đến hỏi lão tăng, nay lại làm tài khôn nói
ta chẳng hội, mong muốn cái gì?
-Ông ló đầu
ra nói ta xuất gia làm thiền sư, vậy lúc chưa xuất gia đã
từng làm cái gì? Hãy thử nói xem, ta sẽ cùng ngươi thương
lượng.
Tăng nói:
-Lúc bấy
giờ con không biết.
Sư nói:
-Đã không
biết thì nay nhận được này nọ là phải chăng?
Tăng nói:
-Nhận được
đã chẳng phải, chẳng nhận phải chăng?
Sư nói:
-Nhận với
chẳng nhận là lời nói gì?
Tăng nói:
-Đến chỗ
này con càng chẳng hội được.
Sư nói:
-Ông nếu
chẳng hội ta còn chẳng hội hơn.
Tăng nói:
-Con là học
nhân nên chẳng hội, còn hòa thượng là thiện tri thức thì
phải hội.
Sư nói:
-Ông này!
Đã nói với ông chẳng hội thì còn ai mà luận thiện tri
thức. Chớ làm tài khôn! Xem khi Mã Tổ còn tại thế, có một
học sĩ hỏi "Như nước không gân xương, nâng ghe muôn ngàn
tấn. Lý này là thế nào? Mã Tổ nói: Ở đây chẳng nước
cũng chẳng ghe, luận gì gân xương." Học sĩ liền thôi. Như
thế phải ít phí sức không? Cho nên ta thường nói: "Phật
chẳng hội đạo, ta tự tu hành, vậy cần biết làm gì?
Tăng nói:
-Thế thì
làm sao tu hành?
Sư nói:
-Không thể
suy lường được. Nói với ngươi tu như vậy, hành như vậy,
thực khó.
Tăng nói:
-Vậy còn
cho học nhân tu hành hay không?
Sư nói:
-Lão tăng
chẳng thể chướng ngại ngươi.
Tăng nói:
-Con làm sao
tu hành?
Sư nói:
-Muốn hành
thì hành, cứ tìm hỏi người khác.
Tăng nói:
-Nếu chẳng
nhờ thiện tri thức chỉ thị, làm sao hội được. Như hòa
thượng thường nói tu hành cần phải hiểu mới được. Nếu
không hiểu thì e lọt vào nhân quả, chẳng có phần tự do.
Chưa rõ tu hành thế nào mới khỏi lọt vào nhân quả.
Sư nói:
-Chẳng cần
thương lượng. Nếu nói đi tu hành, chỗ nào không đi được.
Tăng nói:
-Làm sao đi
được?
Sư nói:
-Chẳng lẽ
tùy người mà tìm được.
Tăng nói:
-Hòa thượng
chưa nói, bảo con làm sao tìm?
Sư nói:
-Dẫu cho
nói, đi chỗ nào tìm? Như ông từ sáng tới chiều đi đông
đi tây, thương lượng với ai? Được hay không được. Người
khác làm sao mà biết.
Tăng nói:
-Lúc đi đông
đi tây đều không suy nghĩ, phải chăng?
Sư nói:
-Lúc ấy
ai nói phải với chẳng phải.
Tăng nói:
-Hòa thượng
thường nói "Ta ở tất cả nơi mà vô sở hành, tất cả nơi
câu thúc ta chẳng được, gọi là biến hành tam muội, phổ
hiện sắc thân", tức là lý này chăng?
Sư nói:
-Nếu kẻ
tu hành chỗ nào chẳng đi được, chẳng nói câu với bất
câu, cũng chẳng nói tam muội.
Tăng nói:
-Vậy khác
gì có pháp để đắc bồ đề đạo?
Sư nói:
-Chẳng kể
khác hay chẳng khác.
Tăng nói:
-Cái thuyết
tu hành của hòa thượng siêu việt và khác với đại thừa,
chưa rõ thế nào?
Sư nói:
-Chẳng quản
khác hay chẳng khác. Ta chưa từng học. Nếu muốn xem giáo
thì có tọa chủ, kinh luận. Các nhà giáo môn thật rất đáng
sợ. Ông hãy đi nghe tốt hơn.
Tăng nói:
-Rốt cuộc
khiến học nhân làm sao mà hội.
Sư nói:
-Theo sự
hỏi của ông vốn chỉ ở bên nhân duyên, thấy ông còn chẳng
nại hà. Duyên là nhận được vật trên sáu cửa. Ông hãy
hội bên Phật rồi đến thương lượng với ta. Chớ truy tìm
thế này, chẳng phải thế này, chớ lấy lời cổ nhân hành
hạnh bồ tát. Duy có một người hành thiền, ma Ba Tuần lãnh
các quyến thuộc thường theo dõi sau lưng bồ tát, tìm chỗ
tâm hành khởi lên liền chộp ngã. Nhưng trải qua vô lượng
kiếp tìm chỗ một niệm khởi cũng chẳng thể được, mới
cùng quyến thuộc lễ tạ, tán thán cúng dường, ấy còn là
cấp bậc tiến tu, người trung hạ căn lại chẳng nại hà,
huống là chỗ tuyệt công dụng, như Văn Thù, Phổ Hiền thì
khỏi cần nói. Thế nào là đạo hành của ông? Là có hay
không? Tìm người hành một ngày cũng chẳng thể được. Hiện
nay cứ từ đầu năm đến cuối năm đi khắp nơi chỉ là
tìm cứu cánh làm cái gì? chỉ là đầu môi chót lưỡi sinh
ra kiến giải.
Tăng nói:
-Lúc bấy
giờ chẳng tên Phật, chẳng tên chúng sanh, khiến con làm sao
suy nghĩ thực hành.
Sư nói:
-Ông nói
chẳng tên Phật chẳng tên chúng sanh đã là suy nghĩ rồi,
cũng là nhớ lời người khác.
Tăng nói:
-Nếu như
thế tất cả đều thuộc về việc lúc Phật ra đời, chẳng
thể không nói.
Sư nói:
-Ông làm
sao nói?
Tăng nói:
-Giả sử
nói, nói cũng không tới.
Sư nói:
-Nếu nói
là nói không tới, là lời tới. Ông uổng công truy tìm, ai
làm cảnh cho ông tìm.
Tăng nói:
-Đã không
vì làm cảnh, ai là người bên kia?
Sư nói:
-Nếu ông
không dẫn chứng giáo lý thì nơi nào để luận Phật. Đã
chẳng luận Phật, lão tăng luận với ai mà nói bên đây bên
kia.
Tăng nói:
-Quả dù
chẳng trụ đạo, nhưng đạo hay làm nhân, là nghĩa thế nào?
Sư nói:
-Ấy là lời
cổ nhân. Hiện nay không thể không trì giới. Ta chẳng phải
nó, nó chẳng phải ta. Cứ làm theo như con trâu con chồn! Hễ
nổi lên một niệm thấy khác thì khó mà tu hành.
Tăng nói:
-Một niệm
thấy khác thì khó mà tu hành là thế nào?
Sư nói:
-Mới một
niệm thấy khác liền có hai gốc tốt xấu. Chẳng phải tình
kiến đuổi theo nhân quả họ, lại còn có phần tự do gì?
Tăng nói:
-Thường
nghe hòa thượng dậy Báo thân Hóa thân đã chẳng phải Phật
thật, vậy Pháp thân là Phật thật chăng?
Sư nói:
-Đã là Ứng
thân rồi!
Tăng nói:
-Nếu như
thế này thì Pháp thân cũng chẳng phải Phật thật.
Sư nói:
-Pháp thân
là thật hay chẳng thật, lão tăng không lưỡi, không nói được,
ông bảo ta nói là được thì được.
Tăng nói:
-Ngoài lìa
tam thân, pháp nào là Phật thật.
Sư nói:
-Ông này!
Cùng ông già tám chín chục tuổi chửi lộn, nói với ông
rồi đó, còn hỏi gì lìa, chẳng lìa, bộ muốn đem đinh đóng
hư không hay sao?
Tăng nói:
-Theo kinh
Hoa Nghiêm là Pháp thân Phật thuyết, là thế nào?
Sư nói:
-Ông vừa
nói lời gì?
Tăng nhắc
lại.
Sư nhìn qua
nhìn lại rồi than:
-Nếu là
Pháp thân thuyết, ông hướng vào chỗ nào để nghe?
Tăng nói:
-Con chẳng
hội.
Sư nói:
-Thực khó,
thực khó. Ông xem Tọa chủ Lượng là người Tứ Xuyên biết
giảng ba mươi hai bộ kinh luận, lúc đang giảng ở tỉnh Giang
Tây, có dịp đến tham vấn Mã Tổ trong Khai Nguyên Tự. Mã
Tổ hỏi: "Nghe nói Tọa chủ hay giảng kinh, phải chăng?" Tọa
chủ nói: "Không dám". Mã Tổ nói: "Đem cái gì để giảng?"
Tọa chủ nói: "Đem tâm để giảng". Mã Tổ nói: "Tâm như
người múa rối, ý như người hòa nhạc, làm sao giảng được?"
Tọa chủ nói: "Vậy có lẽ hư không giảng được chăng?"
Mã Tổ nói: "Đúng là hư không giảng được". Tọa chủ quay
lưng đi liền. Mã Tổ lớn tiếng gọi: "Tọa chủ!" Tọa chủ
quay đầu lại.
Mã Tổ lớn
tiếng: "Là cái gì?", tọa chủ liền khai ngộ. Ông xem thử,
mau không?
Tăng nói:
-Căn cứ
lời hòa thượng tức là Pháp thân thuyết pháp.
Sư nói:
-Nếu hội
như thế đã là Ứng thân rồi.
Tăng nói:
-Đã là Ứng
thân há chẳng có người thuyết pháp?
Sư nói:
-Ta không
biết.
Tăng nói:
-Con không
hội.
Sư nói:
-Không hội
thì tốt, khỏi cùng nó phân giải nữa.
Tăng hỏi:
-Trong kinh
nói chỗ Pháp thân Đại Sĩ hội ngộ tức thấy Pháp thân
Phật. Địa vị bồ tát tức thấy Báo thân Phật. Nhị thừa
chỉ thấy Hóa thân Phật là lý này chăng?
Sư nói:
-Mắt ta chưa
từng xem kinh giáo, lỗ tai cũng chưa từng nghe. Ông tự xem
lấy. Nếu ghi nhớ như thế thì sau này mới chẳng nại hà.
Giống như người chơi hạt châu, nói ánh sáng hạt châu chiếu
cùng khắp, có đĩa vàng thì phản chiếu được, bỗng bị
lấy mất đĩa vàng thì chỗ nào chơi châu, chỗ nào tìm ánh
sáng khắp với chẳng khắp.
Tăng lễ
bái.
Sư cười
rằng:
-Thực khó,
thực khó. Cổ nhân mắng ông là hạng thợ săn ngư phủ, cũng
là người đem phẩn vào. Trân trọng.
Triệu Châu
hỏi:
-Đạo chẳng
phải ngoài vật. Ngoài vật chẳng phải đạo. Thế nào là
đạo ngoài vật?
Sư liền
đánh. Triệu Châu nắm lấy gậy rằng:
-Về sau chớ
đánh lầm người.
Sư nói:
-Rồng rắn
dễ phân biệt. Nạp tử (tu sĩ) khó lừa gạt.
Bình: Tuyết
Đậu Hiển thiền sư nói: "Triệu Châu như rồng không sừng,
như rắn có chân. Lúc ấy không kể "tận pháp vô dân", cần
phải cho ăn gậy rồi đuổi ra".
*
* *
Lúc đang
thưởng trăng, tăng hỏi:
-Bao giờ
được giống như cái này?
Sư nói:
-Vương lão
sư hai mươi năm trước cũng như thế này.
Tăng nói:
-Vậy hiện
nay thì làm sao?
Sư bèn về
phương trượng.
*
* *
Một hôm
sư hỏi Huỳnh Bá:
-Vàng vòng
làm thế giới. Bạc trắng làm vách tường. Đấy là chỗ
người gì ở?
Bá nói:
-Là chỗ
thánh nhân ở.
Sư nói:
-Còn có một
người ở quốc độ nào?
Bá Khoanh
tay đứng yên. Sư nói:
-Nói chẳng
được sao không hỏi Vương lão sư?
Bá hỏi lại:
-Còn có một
người ở quốc độ nào?
Sư nói:
-Đáng tiếc
thay!
*
* *
Sư hỏi Huỳnh
Bá:
-Định huệ
đẳng học, minh kiến Phật tánh, lý này thế nào?
Bá nói:
-Trong mười
hai thời chẳng y dựa một vật.
Sư nói:
-Ấy là chỗ
thấy của Trưởng lão chăng?
Hoàng Bá
nói:
-Không dám.
Sư nói:
-Tiền nước
tương tạm gác một bên. Tiền dép cỏ bảo ai trả?
Bình: Diệu
Hỷ Đại Huệ thiền sư nói:
-Không thấy
lời rằng "Lộ phùng Kiếm Khách tu trình Kiếm, Bất thị thi
nhân mạc hiến thi".
*
* *
Sư tham vấn
Bá Trượng Niết Bàn hòa thượng. Trượng hỏi:
-Từ xưa
chư thánh còn có pháp nào chẳng vì người mà thuyết chăng?
Sư nói:
-Có.
Trượng nói:
-Thế nào
là Pháp chẳng vì người mà thuyết?
Sư nói:
-Chẳng phải
tâm, chẳng phải Phật chẳng phải Vật.
Trượng nói:
-Đã thuyết
rồi đó.
Sư nói:
-Con chỉ
biết như thế. Hòa thượng làm thế nào?
Trượng nói:
-Ta chẳng
phải Đại thiện tri thức, đâu biết thuyết hay chẳng thuyết.
Sư nói:
-Con chẳng
hội.
Trượng nói:
-Ta đã quá
sức vì ngươi mà nói rồi vậy.
Bình: Tuyết
Đậu Hiển thiền sư tụng rằng:
Phật Tổ
từ xưa chẳng vì người.
Nạp tăng
xưa nay đua nhau chạy.
Trên đài
gương sáng tượng khác biệt
Mỗi mỗi
hướng Nam nhìn Bắc Đẩu
Chuôi Bắc
Đẩu
Không chỗ
thảo (thảo nghĩa là tìm lấy)
Bắt được
lỗ mũi lại mất khẩu
*
* *
Sư và Lỗ
Tổ, Qui Tông, Sam Sơn bốn người lìa nơi Mã Tổ, mỗi người
đều muốn đi tìm nơi ở. Nửa đường chia tay, Sư cắm cây
gậy xuống nói:
-Nói được
cũng bị cái này chướng ngại, nói không được cũng bị
cái này chướng ngại.
Qui Tông nhổ
cây gậy lên, đánh Sư rồi nói:
-Cũng chỉ
là Vương lão sư này thôi. Nói gì ngại, chẳng ngại.
Lỗ Tổ nói:
-Chỉ một
lời nói này, truyền bá khắp thiên hạ.
Qui Tông nói:
-Còn có kẻ
không truyền bá chăng?
Lỗ Tổ nói:
-Có!
Qui Tông nói:
-Thế nào
là kẻ không truyền bá. Lỗ Tổ làm thế muốn bạt tai.
*
* *
Sư cùng Lỗ
Tổ, Sam Sơn, Qui Tông đang uống trà. Lỗ Tổ giơ chén trà
lên nói:
-Lúc thế
giới chưa thành đã có cái này.
Sư nói:
-Người thời
nay chỉ biết cái này, chưa biết thế giới.
Qui Tông nói:
-Phải!
Sư nói:
-Bộ Sư huynh
đồng ý kiến này chăng?
Qui Tông lại
nâng chén trà lên nói:
-Hướng vào
lúc thế giới chưa thành, nói được chăng?
Sư giơ tay
làm thế muốn bạt tai. Qui Tông đưa mặt làm thế muốn nhận.
*
* *
Ma Cốc cầm
tích trượng đến Chương Kỉnh, nhiễu thiền sàng ba vòng
rồi dộng tích trượng một cái, nghiêm mặt đứng thẳng.
Chương Kỉnh nói:
-Phải! Phải!
Bình: Tuyết
Đậu nói:
-Sai!
Ma Cốc lại
đến chỗ Sư, cũng nhiễu thiền sàng ba vòng rồi cũng dộng
tích trượng một cái, nghiêm mặt đứng thẳng. Sư nói:
-Chẳng phải!
Chẳng phải!
Bình: Tuyết
Đậu nói:
-Sai!
Ma Cốc nói:
-Chương Kỉnh
nói phải, tại sao hòa thượng lại nói chẳng phải?
Sư nói:
-Chương Kỉnh
thì phải, là ông chẳng phải. Đó là sức gió sở chuyển,
chung qui bại hoại.
Bình: Tuyết
Đậu tụng:
Này sai
kia sai
Rất kî liệng
bỏ
Bốn biển
sóng yên
Trăm sông
triều xuống
Cổ sắc
phong cao thập nhị môn
Môn môn hữu
lộ không tiêu điều.
Phi tiêu điều
Trăm năm
ham cầu thuốc không bịnh
*
* *
Viên Ngộ
Cần thiền sư rằng:
-Cần phải
nhận lấy hai "Sai" mới được. Tuyết Đậu muốn đề chỗ
hoạt bát nên như thế. Nếu mà thằng dưới da có máu, tự
nhiên chẳng hướng vào ngôn cú để hiểu. Có người nói
Tuyết Đậu thay cho Ma Cốc dùng hai chữ "Sai" này, có dính
dáng gì đâu! Đâu biết cổ nhân dùng lời nói là khóa chặt
quan ải. Bên đây cũng phải, bên kia cũng phải, rốt cuộc
chẳng ở hai đầu này.
Khánh tạng
chủ nói:
-Cần tích
trượng nhiễu thiền sàng như phải và chẳng phải đều sai.
Kỳ thực ý cũng chẳng ở đây.
Quy Sơn Mai
thiền sư rằng:
-Chương Kỉnh
nói "phải" cũng lọt vào trong vòng của Ma Cốc. Nam Tuyền
nói "chẳng phải" cũng lọt vào trong vòng của Ma Cốc. Đại
Quy thì không như vậy. Bỗng có người cầm tích trượng,
nhiễu thiền sàng ba vòng, nghiêm mặt đứng thẳng, chỉ hướng
họ rằng:
-Khi chưa
đến đây, nên cho ba chục gậy.
*
* *
Diêm Quan
thiền sư dậy chúng rằng:
-Hư không
làm trống, tu di làm chùy. Người nào đánh được?
Không ai trả
lời.
Có tăng kể
lại với Sư. Sư nói:
-Vương lão
sư không đánh cái trống bể này!
Bình: Pháp
Nhân thiền sư nói cách khác rằng:
-Vương lão
sư không đánh.
Huỳnh Long
Tâm thiền sư rằng:
-Nam Tuyền
Pháp Nhân chỉ biết nhìn trước, chẳng biết dòm sau. Cũng
như Diêm Quan nói hư không làm trống Tu Di làm chùy, chỗ nào
là chỗ bể. Còn kiểm điểm ra được chăng? Dẫu cho kiểm
điểm được chỗ bể rõ ràng, ta còn muốn hỏi ngươi tìm
trống đó!
*
* *
Sư với Qui
Tông, Ma Cốc cùng nhau đi tham lễ Nam Dương quốc sư. Sư ở
trên đường vẽ một vòng tròn, rằng:
-Nói được
thì đi.
Qui Tông liền
ngồi trong vòng tròn Ma Cốc bèn lạy kiểu người nữ. Sư
nói:
-Thế này
thì không đi.
Qui Tông nói:
-Là tâm hạnh
gì?
Sư liền
rủ tất cả quay về, không đi tham lễ quốc sư nữa.
Bình: Tuyết
Đậu tụng rằng:
Dưỡng
Do Cơ bắn vượn
Nhiễu cây
sao quá thẳng!
Ngàn con và
muôn con
Ấy là ai
bi trúng?
Gọi nhau,
rủ nhau
Đi về đi!
Trên đường
Tào Khê chớ leo dốc.
Lại nói
đường Tào Khê bằng phẳng
Tại sao chớ
leo dốc.
*
* *
Có một tọa
chủ từ giã Sư. Sư hỏi:
-Đi chỗ
nào?
Đáp:
-Đi dưới
núi.
Sư nói:
-Đệ nhất
không được báng Vương lão sư?
Đáp:
-Đâu dám
báng hòa thượng!
Sư làm bộ
hắt xì, hỏi:
-Bao nhiêu?
Tọa chủ
bèn ra đi.
Bình: Vân
Cơ Ân thiền sư rằng:
-Phi Sư bổn
ý
Tiên Tào
Sơn rằng:
-Lì!
Thạch Sơn
thiền sư rằng:
-Chẳng vì
người thương lượng.
Trường Khánh
thiền sư rằng:
-Xin lãnh
lời.
Vân Cơ Tích
thiền sư rằng:
-Tọa chủ
lúc ấy ra đi là hội hay chẳng hội?
*
* *
Ngài khai
thị rằng:
-Chân lý
nhất như (bất nhị) mạc hạnh, mạc dụng, chẳng có người
biết gọi là vô lậu trí, cũng là tánh bất động, vô lậu
bất khả tư nghì, tánh không v.v...
Chẳng phải
dòng sanh tử, đạo là đại đạo vô ngại niết bàn, diệu
dụng tự đầy đủ mới được chỗ hành khắp nơi mà được
tự tại. Nên nói nơi chư hành xứ mà vô sở hành, cũng gọi
là biến hành tam muội, phổ hiện sắc thân.
Chỉ vì chẳng
có người biết chỗ dụng của nó vốn chẳng có tông tích,
chẳng thuộc kiến văn giác tri, chân lý tự thông, diệu dụng
tự đầy đủ. Đại đạo vô hình, chân lý vô đối, nên
chẳng thuộc kiến văn giác tri, chẳng có tư tưởng thô hay
tế, như nói chẳng nghe mà nghe là đại niết bàn. Cái việc
này chẳng phải nghe hay không nghe.
Tăng hỏi:
-Đại đạo
chẳng thuộc kiến văn giác tri, vậy làm sao khế hội (lãnh
hội)
Ngài đáp:
-Cần âm
thầm khế hội thì tự thông. Cũng nói liễu nhân chẳng từ
kiến văn giác tri mà có, kiến văn giác tri thuộc về duyên,
đối vật mới có, Đại đạo linh diệu, bất khả tư nghì,
chẳng phải có đối nên nói diệu dụng tự thông, chẳng
y dựa vật nào, cho nên đạo thông chẳng phải y thông. Y thông
phải nhờ vật mới được sự thấy, đại đạo thì chẳng
nhờ vật.
Nên nói đạo
chẳng phải pháp sáng tối, lìa có lìa không, lý tiềm ẩn
âm thầm tự thông, chẳng có người biết, cũng nói thầm
hội chân lý, chẳng phải kiến văn giác tri. "Tâm ngưng (thôi
nghỉ) đặc bổn nguyên, nên gọi như như Phật, là người
tự tại cứu cánh vô y cũng gọi là bổn quả, chẳng từ
nhân sanh mà sanh. Văn thù nói: "Chỉ (duy nhất) liễu nhân mà
liễu, chẳng từ nhân sanh mà sanh" (liễu nhân là chẳng có
nhân sanh khởi, sanh nhân là có cái nhân sanh khởi). Sư
Nam Tuyền
nói tiếp: Từ xưa đến nay chỉ bảo người ngộ đạo, chớ
nên cầu cái khác. Nếu suy nghĩ ra được đạo lý cao siêu
đều thuộc về cú nghĩa (nghĩa chữ).
Nghĩa lý
tam thừa ngũ tánh là chỗ hành, nói chỗ thọ dụng hằng ngày
đầy đủ thì được, nói đạo thì chẳng phải. Nếu chấp
thật thì bị ý thức trói buộc, gọi là thế gian trí. Theo
giáo môn nói: nếu học giả cứ chấp thật tam tạng giáo
điển (kinh luật luận) thì thành thợ săn, ngư phủ vì lợi
dưỡng mà tổn hại đại thừa, cũng là tập khí tham dục.
Cho nên Cổ Đức nói: Phật chẳng hội đạo ta tự tu hành,
ta tự có diệu dụng cũng gọi là chánh nhân, liễu sáu ba
la mật đều không, cảnh vật lôi cuốn ta chẳng được.
Tổ Sư từ
Tây Trúc đến, e sợ các ngươi mê chấp nhân quả, địa vị,
nên "Truyền pháp cứu mê tình, đốn ngộ hoa tình vĩ (vĩ tức
là xong)". (Tánh là chủng tánh hoa, cũng là bồ đề hoa), nên
Mã Tổ nói: Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải
vật; dù Tổ trước kia từng nói: Tức tâm, tức Phật. Ấy
là lời phương tiện tạm thời như dùng nắm tay không, lá
cây vàng để dụ con nít nín khóc. Nhưng hiện nay có người
gọi Tâm là Phật, gọi trí là Đạo, cho kiến văn giác tri
cũng là đạo. Nếu hội đạo như thế khác gì Diễn Nhã Đạt
Đa mê đầu nhận bóng, phát điên bỏ chạy. Dẫu cho nhận
được bóng cũng chẳng phải cái đầu bổn lai của mình.
Nên Duy Ma Cật quở Ca Chiên Diên dùng tâm sanh diệt thuyết
pháp thực tướng, ấy đều là tình chấp kiến giải. Nếu
nói: tức tâm tức Phật, cũng như nói: Thỏ ngựa có sừng;
nói: phi tâm phi Phật, như nói trâu dê không sừng. Tâm ngươi
nếu là Phật, thì đâu cần phải "tức nó hay là phi nó".
Hình tướng có hay không, lấy tướng gì làm đạo? nên giáo
môn cũng chẳng cho.
"Thà làm
thầy cho tâm, chẳng cho tâm làm thầy". "Tâm như đóng vai chánh,
ý như đóng vai phụ", nếu nói Phật có tâm đạo, ấy là
chẳng lìa được kiến văn giác tri, là do nhân duyên mà có,
đều là soi vật mới có chẳng thể thường soi, cho nên tâm
trí đều chẳng phải đạo, lại đại đạo chẳng phải pháp
sáng tối, lìa số hữu vô, số lượng chẳng thể đến, như
lúc kiếp không (chưa có trời đất), chẳng có tên Phật,
chẳng có tên chúng sanh, ngay lúc ấy chính là đạo. Chỉ là
không ai biết, không ai thấy, số lượng chẳng tiếp xúc nó
được, gọi là vô danh đại đạo. Nói vậy đã lọt vào
danh cú rồi! Cho nên chân lý nhất như, chẳng có tư tưởng,
vừa có tư tưởng liền bị ấm (ngũ ấm) trói, sau đó mới
có tên chúng sanh, mới có tên Phật. Phật ra đời gọi là
tam giới trí nhân, khi Phật chưa ra đời gọi là gì? Phật
ra đời chỉ khiến người ngộ đạo, bản thể chẳng phải
thánh phàm, gọi là "hoàn nguyên qui bổn, thể giải đại đạo".
Hôm nay đã ngộ đạo như thế, tức từ vô lượng kiếp đến
nay, lục đạo tứ sanh đều có khứ lai, là chỗ hành tạm
thời.
Bản Hành
Tập của bậc Thánh xưa có nói: Ta vô sở bất hành. Tất
cả chúng sanh dù đang ở chỗ hành như thế vì không biết
liễu nhân, nên sinh ra tham dục, đó chỉ là tạm thời lạc
đường ở nơi trói buộc, chẳng được tự tại. Thật ra
cũng như thấy mây trôi cho là trăng động, thấy thuyền xuôi
cho là bờ chuyển. Chúng sanh vọng tưởng, vật vốn vô trụ,
huống là có lý hay biến đổi. Nay đã ngộ như thế, cứ
theo đó thực hành, chẳng giống như lúc xưa, vì nay đã ngộ
liễu nhân bản quả, nên liễu được ngũ ấm không, thập
bát giới không, sáu ba la mật đều không, cho nên được tự
tại. Nếu chẳng theo đó thực hành, làm sao thải trừ năm
thứ tham, hai thứ dục. Chẳng trụ thanh văn, chẳng tùy số
kiếp, vì chư Phật, Bồ Tát đầy đủ phúc trí. do liễu nhân,
liễu sáu ba la mật không, theo thọ dung này, chẳng còn tri
kiến mới được tự tại. Nếu có tri kiến thì lọt vào
địa vị ( có giai cấp), bèn có ngằn mé của tâm lượng,
bị nhân quả ngăn cách, gọi là thù nhân đáp quả Phật,
chẳng được tự tại. Đại thánh quở là: nội kiến ngoại
kiến, tình lượng chưa sạch. Kẹt nơi nhị chướng nhị ngu,
cho nên dòng sông kiến chấp hay trôi hương tượng; chân lý
vô hình làm sao thấy biết, đại đạo vô hình, lý tuyệt
suy lường. Hôm nay hành sáu ba la mật, trước tiên dùng liễu
nhân ngộ bản quả, biết liễu vật này chỉ là phương tiện
thọ dụng, mới được tự do, đi ở tự tại vô chướng
ngại, cũng gọi là phương tiện cần trang nghiêm, cũng là
vi diệu tịnh pháp thân, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt,
chỉ là không cho có ngằn mé của tâm lượng. Nếu chẳng
có tâm như thế thì tất cả chỗ hành, cho đến búng tay hiệp
chưởng đều là chánh nhân, muôn thiện thảy đồng vô tắc,
vậy mới được tự tại, cho nên thiên ma ngoại đạo tìm
ta chẳng thể được, gọi là vô trụ tâm, cũng là vô lậu
trí, diệu dụng tự tại bất khả tư nghì, bồ đề niết
bàn! đều là cảnh giới của người tu hành đều thuộc danh
cú. Nếu ngộ bổn lai chẳng phải vật phàm, thì như nước
chẳng thể rửa nước. Tại sao vậy? Vì vốn chẳng có vật.
Như kinh nói: Trong kho vua thật chẳng có dao này; cũng nói:
đối với công đức thiên, hắc ám nữ, vị chủ nhân có
trí, cả hai đều không nhận. Vì đạo chẳng phải sáng tối,
nên nói tánh phải chẳng hải giác hải, giác hải thuộc duyên
cần phải đối vật, tánh hải luôn luôn diệu dụng chẳng
có ai biết, gọi là cực vi tế thấu kim sắc thủy trần (nghĩa
là không bị vật nào chướng ngại). Sở nhân của bồ tát
gọi là đồ thọ dụng, nếu nước chẳng rửa nước, tức
bản thể chẳng phải sáng tối, cũng gọi là vô lậu trí,
vô ngại trí. Nếu như thế thì chỗ nào cũng câu thúc ta chẳng
được.
Hiện nay
lại đuổi theo tri giải ngữ ngôn, kiến lập nghĩa cú để
tìm hơn thua, cho là chúng sanh hạ liệt, nói có Phật Thánh
cứu độ chúng sanh, cho đến cầu Phật Bồ đề, đều thuộc
tham dục, cũng là tỳ kheo phá giới, cách xa với đạo. Đại
đạo chẳng có sáng cũng chưa từng có tối, chẳng thuộc
tam giới, chẳng quá khứ hiện tại vị lai. Như lai tạng thực
chẳng che lấp, sư tử đâu từng ở hang, ngũ ấm vốn không,
đâu có xứ sở, lại pháp thân vô vi, chẳng đọa số lượng.
Pháp chẳng lay động, chẳng dựa lục trần, nên kinh mới
nói: Phật tánh là thường, tâm là vô thường, cho nên trí
chẳng phải đạo, tâm chẳng phải Phật. Nay chớ nên gọi
tâm là Phật, chớ hiểu theo kiến văn giác tri. Vật này vốn
chẳng danh tự, diệu dụng tự thông, số lượng hạn chế
nó chẳng được, gọi là đại giải thoát. Đạo nhân tâm
vô sở trụ, dấu tích chẳng thể tìm, nên gọi vô lậu trí
là trí bất tư nghì.
Thôi sứ
quân hỏi Ngũ Tổ rằng: "Năm trăm tăng chúng tại sao chỉ
có Huệ Năng đại sư được truyền y bát, còn những người
khác đều chẳng được?" Ngũ Tổ đáp: "Bốn trăm chín mươi
chín người kia đều hiểu Phật pháp, chỉ có Huệ năng là
người siêu việt số lượng nên được truyền y bát". Thôi
nói: Vậy nên biết đạo chẳng trí ngu và liền bảo đại
chúng: "Trọn phải ghi nhớ!"
Ngài Nam Tuyền
nói: "Ghi nhớ thuộc thức thứ sáu, dùng không được!" Lại
nói:
-Tạm thời
đắp y cấu bản, vì các ngươi nói trắng ra, chẳng phải
vật thánh phàm, đâu có làm nhân cho người cũng đâu có làm
quả cho người. Nếu làm nhân cho người thì chẳng tự tại,
bị nhân quả trói buộc, chẳng được tự do. Khi Phật chưa
ra đời không ai hiểu được, sau Phật ra đời mới cho hiểu
được ít phần, hễ thầm hội chí lý thì vô sư tự thông,
biết vốn tự vô vật, nếu hiểu theo kiến văn giác tri, tức
là báo thân hóa thân, vì có ba mươi hai tướng khác nhau. Nếu
báo, hóa đều lìa hết, chẳng còn chỗ kiến lập, tức đồng
Như Lai. Thực chẳng phải không cho kiến lập, cũng như Di
Lạc trở lại làm phàm phu, nhưng Ngài vẫn hành sáu ba la mật,
gặp cái nào cũng chẳng chướng ngại, sao mà chẳng cho kiến
lập? Ngài chưa từng kẹt nơi thánh phàm, ở bên kia ngộ rồi
qua bên này thực hành mới được phần tư do. Hiện nay người
học Phật phần nhiều xuất gia không chịu nhập gia, chỗ
tốt thì nhận, chỗ xấu thì không nhận, như thế làm sao
được!
Bồ tát hành
nơi phi đạo, ấy là thông đạt Phật đạo. Họ đi ở tự
do là thế nào? Nếu biết thì bị chỗ biết sở trói, nếu
không như vậy thì làm sao chẳng cho! cái định của họ không
có biến đổi. Nếu không định thì thuộc về tạo hóa rồi!
Vì ta không bao giờ biến đổi nên mười hai phần giáo quyết
định chẳng phải ta, nhưng ta lại hướng vào mười hai phần
giáo mà thực hành. Nếu mười hai phần giáo là ta thì phải
chịu biến đổi rồi!
Nói đại
đạo nhất như, vô sư tự như thế, vì như như bất biến
nên chưa từng mê, báo thân hóa thân chẳng phải chân Phật,
chớ lầm nhận pháp thân. Quả báo thánh phàm đều là bóng,
nếu nhận lấy thì thuộc sanh diệt vô thường rồi. Theo thô
tế mà nói thì mảy may chẳng lập. Lý cùng tánh tận thì
tất cả đều không, như lúc thế giới chưa thành, hư vô
trống rỗng, chẳng tên Phật, chẳng tên chúng sanh. Như vậy
mới có phần tương ứng, ở bên kia ngộ rồi thì ở bên
nầy thực hành, chẳng chứng quả thánh phàm. Theo căn bản
mà nói, thực chẳng có pháp nào để đắc, huống là có những
tên gọi sai biệt như tam thừa ngũ tánh ư! Hễ có nhân có
quả đều thuộc sanh diệt vô thường, tâm như cây khô mới
có ít phần tương ưng.
Phải biết
từ vô lượng kiếp đến nay tánh không biến đổi tức là
tu hành, diệu dụng mà chẳng trụ là hạnh bồ tát. Thông
đạt các pháp không, diệu dụng tự tại là sắc thân tam
muội, luôn luôn hành sáu ba la mật không, nơi nào cũng vô
ngại, dạo nơi địa ngục cũng như vườn hoa, chẳng thể
nói họ không có tác dụng.
Chúng sanh
từ vô lượng kiếp đến nay, mê tự bản tánh, chẳng tự
liễu ngộ, bị mây trần che khuất, dính mắc các thứ ác
dục, cũng như thấy mây bay cho là trăng động, thấy thuyền
xuôi cho là bờ chuyển, tạm thời lạc đường chẳng được
tự tại, chịu đủ thứ khổ mà chẳng tự biết. Nay nếu
ngộ được thì bản tánh xưa nay chẳng khác".
Ngài sắp
tịch, thủ tọa hỏi: "Hòa thượng trăm năm sau đi về đâu?"
Ngài nói:
"Đi dưới núi làm một con trâu."
Thủ tọa
nói: "Con theo hòa thượng đi được chăng?"
Ngài nói:
"Nếu theo ta thì phải ngặm một cọng cỏ lại đây!"
Xong, Ngài
thị hiện có bệnh, ngày 25 tháng chạp, năm Giáp Dần, thuộc
năm thứ tám niên hiệu Đại Hòa. Tảng sáng, bảo môn đồ
rằng: "Cái thân huyển hóa đã lâu rồi, đừng cho ta có khứ
lai!" nói xong, Ngài liền tịch, tuổi đời tám mươi bảy,
tuổi tăng năm mươi tám.
Hết
|