Lời
người dịch
Năm
1946, Jean Cocteau (1889-1963) dựng phim Giai Nhân và Ác Thú (La
Belle et La Bête). Năm 1954, Mishima Yukio cho đăng lần đầu tiên
Mối Tình Của Vị Cao Tăng Chùa Shiga (Shigadera Shônin no Koi).
Cả hai đều khai triển đề tài tình yêu tuyệt đối qua sự
hòa điệu giữa những đối tượng mà bản chất vốn không
thể hòa điệu nếu không nói là tương phản. Dựa trên một
chi tiết nhỏ từ pho sách cũ, Mishima đã khéo dàn dựng rồi
miêu tả biến chuyển bên trong tâm lý hai nhân vật chính,
đúng ra hai tượng trưng. Điều đó làm cho bối cảnh của
đoản thiên này giống như thế giới quan niệm có tính phổ
quát thấy trong lớp lang một vở tuồng Nô hiện đại mà
ông thường viết.
Trong
cuộc đời, có những mối tình ngắn ngủi thoáng đến thoáng
đi, hoặc kéo dài "trong một tháng trong một năm" như cách
nói của nhà văn nữ F. Sagan. Cũng có những mối tình lâu
dài " tưởng trong giây phút mà thành thiên thu" hay "đem xuống
tuyền đài chưa tan". Nhưng tất cả không biết đáng kể hay
không nếu đem đặt bên cạnh mối tình lạ lùng của vị
cao tăng chùa Shiga.
Ảnh
Editions Gallimard
- 1 -
Chưa
chịu bỏ công khảo chứng gì cả mà đã bắt đầu vào chuyện,
tôi xin chịu mang tiếng là người không chuẩn bị kỹ càng.
Căn cứ duy nhất tôi có hiện nay chỉ là truyền thuyết chép
lại trong Thái Bình Ký [1] quyển 37. Và như quí vị đều biết,
nếu đem so sánh với câu truyện đời xưa liên quan đến ông
tiên Nhất Giác [2] bên Thiên Trúc thì chi tiết về mối tình
của vị cao tăng chùa Shiga [3]trong quyển sách vừa nhắc đến
chỉ có thể xem như là quá sơ sài.
Trong
thâm tâm, tôi thực tình không định tìm hiểu sự thể mối
tình lạ lùng đó mà chỉ đơn thuần muốn biết biến chuyển
tâm lý của các nhân vật thế nào thôi. Trong lòng họ, lúc
ấy chắc có sự rối ren do xung khắc giữa tình yêu và tín
ngưỡng. Bên trời Tây, không thiếu gì trường hợp như vậy
nhưng ở Nhật Bản, chuyện đó kể ra rất hiếm. Trong yếu
tố tình yêu của kiếp này rõ ràng đã thấy chen vào vấn
đề những kiếp về sau. Cuộc sống hiện tại và những kiếp
tương lai tranh giành chỗ đứng không những trong tâm trí của
vị lão tăng mà của cả người đàn bà được ông yêu. Phóng
đại một chút thì câu chuyện tình của họ được thành
hình đúng vào thời điểm cấu trúc của cái thế giới hai
người tưởng tượng đang ở trong một trạng thái chênh vênh,
chưa biết sẽ sụp đổ hay không. Nếu nói cho chính xác thì
vào thời của hai người nghĩa là khoảng giữa triều Heian
[4] về sau, tư tưởng Tịnh Độ [5] rất phổ biến trong
dân chúng nhưng chưa hẳn là một tín ngưỡng mà chỉ là sự
khám phá một thế giới vô cùng rộng lớn bằng tâm trí.
Theo
sách Vãng Sinh Yếu Tập [6] của đức tăng thống Huệ Tâm
[7] thì cho dù có nói đến thập lạc tức mười điều vui
thỏa để ca ngợi cõi Tịnh Độ thì chỉ mới làm cái việc
kể sơ sơ về một sợi lông trên chín bộ lông bò [8]. Mười
điều vui thỏa ấy là cái vui “thánh chúng lai nghênh”, cái
vui “liên hoa sơ khai”, cái vui “thân tướng thần thông”,
cái vui “ngũ diệu cảnh giới”, cái vui “khoái lạc vô
thoái”, cái vui “dẫn tiếp kết duyên”, cái vui “thánh
chúng câu hội”, cái vui “kiến Phật văn pháp”, cái vui
“tùy tâm cúng Phật” và cái vui “tăng tiến Phật đạo”.
Đất trên cõi Tịnh Độ là lưu ly, đường trên Tịnh Độ
do những sợi dây vàng dệt lại mà thành. Mặt đất tiếp
liền nhau, không thấy bến bờ. Mỗi một khu vực trên đó
đều có năm trăm ức cung điện lâu đài làm bằng bảy thứ
quí giá : kim, ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, san hô, mã não [9]
mỗi giường nằm cẩn đầy châu báu đều có những lớp
vải vóc tuyệt đẹp trải lên. Trong điện trên lầu có không
biết cơ man nào các vị thần tiên đang cùng nhau tấu nhạc,
cất tiếng ca hát tán tụng công đức của Như Lai. Trong sân
những giảng đường, tinh xá, cung điện, lầu gác đều có
hồ tắm mát. Hồ bằng hoàng kim thì dưới đáy trải một
lớp cát bằng bạch ngân còn hồ lưu ly thì có cát thủy tinh.
Mặt trước hồ bao phủ bằng một vùng sen lấp lánh ánh sáng,
khi gặp làn gió nhẹ lại lay động và sinh ra muôn màu muôn
vẻ. Thêm vào đó, những loài chim như vịt trời, ngỗng, uyên
ương, hạc, khổng tước, anh vũ, già-lăng-tần-gia [10] (loài
chim có khuôn mặt mỹ nhân và giọng ca thánh thót) cũng như
những giống chim có trăm sắc quí, ngày đêm không ngừng cất
tiếng lảnh lót để ngợi ca Đức Phật. Thế nhưng cho dù
tiếng hát có ngọt ngào đến đâu, nếu trên đó tập họp
đông đảo chim chóc như thế này thì quả là có hơi ồn ào.
Những
khoảnh rừng bên hồ hay cạnh bờ sông toàn loại cây quí
giá. Lùm cây bằng vàng tía, cành bạch ngân, hoa san hô, tất
cả soi bóng trên mặt nước trong như gương. Trên tầng trời
rộng, không có gì ngoài những sợi dây báu đong đưa không
biết bao nhiêu là quả chuông cũng là báu vật, vang vọng thanh
âm của Phật pháp nhiệm mầu. Ngoài ra còn biết bao nhiêu
nhạc khí lạ lùng, không cần người đánh cũng phát ra tiếng
và lan mãi về xa trên bầu trời trong vắt, hư không.
Nếu
khi bụng đói muốn ăn gì tự nhiên sẽ thấy hiện ra trước
mắt mình không biết bao nhiêu thứ kỳ trân mỹ vị trên mặt
bàn thất bảo và trong những mâm bát cũng bằng thất bảo.
Nhìn màu sắc, ngửi thấy mùi hương thôi bỗng cảm thấy
trở nên thanh khiết, no lòng và thân thể như được nuôi
dưỡng đầy đủ. Sau khi không cần phải ăn gì mà đã xong
bữa cơm thì cả mâm bát lẫn bàn ăn thoắt cái đã biến
mất.
Quần
áo cứ thế phủ lên người mình một cách tự nhiên, chẳng
cần may khâu, giặt giũ, nhuộm màu hay tu sửa gì cả. Chẳng
có đèn đuốc mà lúc nào ánh sáng cũng theo đến bên người.
Không cần chi phòng ấm phòng lạnh, nhiệt độ trong năm luôn
luôn thích ứng với thân thể. Trên cõi cực lạc đó lúc
nào cũng tràn ngập trăm ngàn loại hương thơm dịu dàng và
có những cánh sen không ngừng bay lả tả.
Vẫn
theo chương nhan đề Quan Sát Môn trong Vãng Sinh Yếu Tập, những
kẻ đến chiêm bái lần đầu sẽ không được phép vào sâu
tận bên trong, họ chỉ được phép đứng ở bên ngoài và
phải tập trung tất cả tinh thần cũng như trí tưởng tượng
để hình dung ra cái bao la vô hạn của cõi Tịnh Độ. Dựa
vào sự tưởng tượng để thoát ra khỏi giới hạn của tục
giới là con đường ngắn nhất để lên đến nơi đó. Nếu
ta có trí tưởng tượng phong phú, trước hết chỉ cần tập
trung tinh thần vào một cọng sen. Từ đó, cọng sen sẽ mở
cho ta những chân trời bát ngát.
Đóa
sen, nếu nhìn dưới kính hiển vi và suy luận theo thiên văn
học, là nền tảng của vũ trụ và cũng là một phương tiện
giúp ta khám phá vũ trụ. Đầu tiên, trên mỗi một cánh hoa
đã có sẵn tám vạn bốn nghìn đường gân, mỗi đường
gân lại tỏa ra tám vạn bốn nghìn tia sáng. Hơn thế nữa,
cho dầu đóa sen kia nhỏ bé thế nào, đường kính của nó
không thể dưới hai trăm năm mươi du-tuần [11]. Nếu ta đồng
ý với thuyết xem mỗi du-tuần là ba mươi dặm thì một đóa
sen với đường kính bảy nghìn năm trăm dặm chỉ là một
cái hoa thuộc loại nhỏ mà thôi.
Một
đóa sen có tám vạn bốn nghìn cánh, giữa mỗi cánh lại có
một trăm ức hạt trân châu phát ra mỗi viên cả ngàn tia
sáng. Trên mỗi cái đài trưng bày những đóa hoa mỹ lệ như
thế đều có bốn cột báu được dựng lên cao vút, từng
trụ một giống như một ngàn vạn ức núi Tu Di [12]. Bức
màn che trên mỗi trụ có dát năm trăm ức hạt ngọc quí,
mà mỗi hạt đó lại chiếu rọi tám vạn bốn nghìn tia sáng,
mỗi tia lại sinh ra tám vạn bốn nghìn màu vàng khác nhau,
và mỗi màu vàng lại còn biến ảo khôn lường.
Sự
tập trung tâm trí để khám phá được hình ảnh đó gọi
là Hoa Tọa Tưởng (Trầm tư về tòa sen nơi Phật ngự) và
thế giới quan niệm, bối cảnh cho câu chuyện tình sau đây,
cũng có qui mô ngang với thế giới tưởng tượng đó.
- 2 -
Sư
cụ chùa Shiga là một vị lão tăng đạo đức cao dày.Mày
cụ trắng như tuyết, thân hình già nua mảnh khảnh đến nỗi
phải dựa vào thiền trượng mới lê chân đi được.Trong
ánh mắt của con người đã dày công tu hành như cụ, cái
gọi là cuộc sống trong kiếp hiện tại không có gì khác
hơn là bụi bặm rác rưởi. Cây tùng con cụ tự tay trồng
từ ngày mới về sống ở cái am này nay đã cao vút tận trời
xanh, cành trên ngọn vi vu đón gió. Nhà tu hành xa lánh cõi
đời ô trọc này đã lâu như thế thì có lẽ trong lòng cũng
tưởng đã an nhiên, và thầm nghĩ không còn điều gì đủ
làm mình lo lắng nữa.Cho nên khi nhìn những kẻ giàu sang,
vị lão tăng không khỏi nở một nụ cười thương cảm và
thầm hỏi tại sao họ không ý thức được rằng những khoái
lạc mình đang tìm đến chỉ là mộng ảo. Khi giáp mặt một
người đàn bà dung nhan xinh đẹp, ngài chỉ thấy tội nghiệp
cho mấy gã đàn ông còn vướng vào vòng phiền não, nổi trôi
trong chốn mê lầm.Nếu như con người không còn có một sự
đồng cảm nào với động cơ đang xoay vần sự sống của
kiếp hiện tại thì kể từ giây phút đó, cuộc đời trở
thành bất động. Trong con mắt của vị lão tăng, ông chỉ
thấy cái tướng bất động của cuộc đời. Nó vỏn vẹn
là bức tranh vẽ trên mặt giấy hay bức địa đồ của miền
đất xa lạ nào đó. Khi con người đạt đến chỗ dứt bỏ
được mọi đam mê phiền não, sẽ không còn biết cả sợ
hãi. Do đó, vị lão tăng không hiểu vì cớ gì lại phải
có địa ngục nữa. Cụ biết rõ là, trong mọi tình huống,
cái kiếp hiện tại không còn có uy quyền gì đối với mình
cả nhưng vốn là người khiêm tốn, không bao giờ cụ nghĩ
rằng ấy là kết quả công đức tu hành.Nói về thân thể
thì cụ hầu như gầy rạc. Khi có dịp nhìn lại mình, những
lúc như khi tắm rửa, cụ lấy làm vui sướng khi thấy chỉ
còn lớp da khô đét bọc lấy bộ xương mảnh mai. Thân thể
đến mức này thì có thể coi như đã thuộc về người nào
khác và cụ có thể sống một cách hòa hợp bình yên với
nó. Để nuôi thân, có lẽ thức ăn ở cõi Tịnh Độ thích
hợp cho cụ hơn hơn là đồ ăn thức uống ở chốn trần
gian.Đêm đêm nằm ngủ, cụ chỉ mơ mình đang ở trong cõi
Tịnh Độ. Thế rồi khi choàng mình tỉnh giấc, cụ cảm thấy
buồn vì hiểu rằng sống trong kiếp hiện tại chỉ là vướng
mắc vào một giấc mộng đầy những biến đổi đau thương.Vào
xuân, gặp tiết thưởng hoa, người kinh đô đổ xô đến
thôn Shiga. Điều đó không phiền hà gì cho vị lão tăng bởi
vì từ lâu, cái tâm cụ đã an nhiên không còn bị dao động
trước người đời. Một buổi chiều nọ, cụ lê thiền trượng,
từ thảo am lần bước xuống ven hồ. Lúc đó bóng tối đã
len vào những tia nắng yếu, mặt hồ không thoáng gợn. Một
mình bên bờ nước, vị lão tăng thực hành phép Thủy Quán
Tưởng (Trầm Tư Về Nước) [13]. Cũng vào lúc ấy, có chiếc
xe bò kéo của một nhà quyền quí đang đi vòng hồ, tiến
gần và ngừng lại bên cạnh chỗ vị lão tăng đang đứng.
Đó là chiếc xe ngự của hoàng phi Kyôgoku (14). Nàng đến
Shiga để thưởng thức tiết xuân và trên đường về, như
muốn chào từ biệt cảnh hồ, đã cho xe ngừng lại, vén bức
rèm tò vò bên song lên ngắm cảnh.
Vị
lão tăng bất giác nhìn về hướng đó. Và vẻ yêu kiều của
bà phi bỗng đập vào mắt cụ! Trong một giây, ánh mắt của
vị lão tăng và hoàng phi gặp nhau. Vì đôi mắt của vị cao
tăng vẫn đăm đăm không rời nên bà phi cũng không tránh né.
Tuy không thể khoan dung trước những cái nhìn vô lễ nhưng
người đứng trước mặt mình là một nhà sư già khổ hạnh
nên nàng không thấy trong ánh mắt kia có một động cơ trần
tục của thường nhân.
Bà
phi vội rủ rèm cửa xuống và chiếc xe bò lại bắt đầu
chuyển bánh. Xe qua khỏi ngọn đèo Shiga rồi mất hút trên
con đường về hướng kinh đô. Có lẽ khi trời chập tối,
xe sẽ nương theo con đường qua Ngân Các Tự để vào thành.
Vị lão tăng vẫn đứng lặng nhìn theo cho đến khi cỗ xe
nhỏ dần và khuất bóng sau những lùm cây.
Cái
kiếp hiện tại bị cụ khinh rẻ chỉ cần một nháy mắt
đã đủ sức để trả thù vị cao tăng bằng cái sức mạnh
khủng khiếp của nó. Kẻ tưởng mình đã bình yên chân vại
nay sắp sửa thành trúc chẻ ngói tan.
Khi
trở về am, vị lão tăng ra trước Phật đường, cố niệm
danh hiệu Đức Thế Tôn nhưng chỉ thấy hình ảnh của những
vọng tưởng ngoi lên khuấy phá. Cụ tự nhủ hình dáng đẹp
đẽ kia chỉ là một ảo ảnh, xác thịt đó hiện ra trong
chốc lát nhưng rồi sẽ bị hủy diệt. Tuy đã hết sức chống
chế nhưng vẻ đẹp không diễn tả nỗi của bà phi vừa đánh
gục cụ trong một khoảnh khắc bên hồ đã ràng buộc tâm
hồn cụ bằng một sức mạnh chưa từng thấy và đến từ
một chốn xa vời. Mặt khác, dù trên phương diện nào, cụ
cũng không còn trẻ nữa để có thể đinh ninh rằng cảm xúc
đang có là một trò đùa ranh mãnh của xác thịt đối với
mình. Xác thịt là cái không thể thay hình đổi dạng một
sớm một chiều như thế. Chỉ có thể hiểu là tinh thần
của cụ đã biến chất như vừa ngâm trong một thứ độc
dược mạnh như thần và hiệu lực tức khắc.
Vị
lão tăng biết giữ giới, cụ chưa từng đụng đến thân
xác phụ nữ. Nhờ sự chiến đấu với bản thân để tránh
điều đó tự thời trẻ, cụ đã hiểu rằng xác thịt đàn
bà không có gì khác hơn là đối tượng của nhục dục. Xác
thịt thuần túy duy nhất chỉ có trong trí tưởng tượng.
Bởi vì xem xác thịt là một cái gì trừu tượng chứ không
hiện thực cho nên cụ đã dựa vào sức mạnh của tinh thần
để chiến thắng được nó. Cụ đã thành công, và cho đến
nay, trong số những người quen biết với cụ, không có một
ai bợn chút nghi ngờ về sự thành công đó.
Thế
nhưng khuôn mặt của người đàn bà đã vén rèm cánh cửa
tò vò để nhìn quanh hồ, tuy là xác thịt đấy nhưng có một
vẻ hồn nhiên sáng ngời mà cụ không biết đặt cho nó cái
tên nào. Để một thoáng hi hữu này hiện ra trước mắt,
chỉ có lối suy nghĩ duy nhất là trong chốn sâu thẳm của
tâm hồn cụ, phải có cái gì ngầm ngầm ẩn núp và đánh
lừa được cụ từ lâu lắm rồi nhưng nay mới xuất đầu
lộ diện. Chính nó, cái kiếp hiện tại này, vốn yên tĩnh
từ bấy nhiêu lâu, đã đột ngột bước ra từ một tấm
tranh và bắt đầu khuấy động.
Cụ
thấy mình như người hai tay bịt tai và đứng giữa đường
lớn trong kinh đô, nơi ngựa xe qua lại đông đúc. Thế rồi
người đó bất chợt buông tay. Lúc ấy, tiếng động ồn
ào trên đường phố sẽ đùng đùng nhất loạt bao vây. Cảm
thấy cuộc sống chuyển động, nghe được âm thanh của nó
bên tai tức là đã nhập sâu vào vòng trong của kiếp hiện
tại vậy. Đối với một người đã đoạn tuyệt với cuộc
đời như vị lão tăng, đây là giây phút cụ tìm về mối
liên hệ cũ.
Giờ
đây, giữa khi đang đọc kinh, nhiều khi cụ bắt gặp mình
đang buông tiếng thở dài não nuột. Tưởng rằng phong cảnh
thiên nhiên làm mình chia trí, cụ bèn đưa mắt ra ngoài cửa
am nhìn mây bay trên rặng núi chiều nhưng cụ không còn thưởng
thức được vẻ đẹp mà chỉ thấy tâm hồn mình cũng đang
bồng bềnh và rối bời như đám mây bay. Lúc ngắm vầng trăng,
tâm trí cụ cũng thường lạc qua hướng khác, còn khi đứng
trước Phật đài những mong lòng được thanh tĩnh thì khuôn
mặt của Đức Phật bỗng biến dạng và mang toàn đường
nét của bà phi. Thế giới của vị lão tăng trở thành một
vòng tròn chật hẹp: trong đó, vị lão tăng ở phía này và
đối mặt với cụ là người đẹp cung đình.
-
3 -
Hoàng
phi Kyôgoku quên bẵng chuyện vị lão tăng chăm chú ngắm mình
bên bờ hồ Shiga. Chỉ được ít lâu, tiếng đồn rồi cũng
lọt vào tai, lúc ấy nàng mới chợt nhớ. Thì ra có người
trông thôn bắt gặp cảnh nhà sư già đưa mắt nhìn theo chiếc
xe ngự của hoàng phi và biết rằng kể từ ngày đó cụ không
còn bình thường nữa, mới đem báo lên một vị quan trong
triều đang đến Shiga xem hoa.
Đối
với tin đồn này, dĩ nhiên hoàng phi phản ứng bằng cách
giả tảng như không. Nhưng vì lão tăng nổi tiếng là người
đức độ trong triều, nếu tin đồn này là sự thực, kể
ra nó cũng vuốt ve chút lòng tự ái của nàng. Nhất là khi
mà nàng đã chán ngấy sự đeo đuổi của đám đàn ông phàm
tục.
Hoàng
phi thừa biết là mình đẹp nhưng xưa nay nàng vẫn bị thu
hút bởi những sức mạnh mạnh hơn nhan sắc ví dụ tôn giáo,
vốn xem địa vị cao sang và nhan sắc của nàng là đồ bỏ
đi. Vì lý do đó, nàng hết sức mộ đạo. Đã chán cõi đời
tục lụy nên nàng đặt lòng tin vào giáo lý Tịnh Độ bởi
vì nó dạy rằng tất cả những cái hoa mỹ của kiếp hiện
tại đều là nhơ bẩn đáng tránh. Tôn giáo đã đem được
nguồn an ủi đến cho một người mỏi mệt vì cuộc đời
hào nhoáng cực điểm của thời mạt pháp.
Bọn
vương tôn công tử chạy theo phụ nữ thường tôn sùng hoàng
phi như hiện thân của tất cả cái tao nhã của thế giới
cung đình. Nhân vì người đàn bà quí phái này chưa từng
ban bố tình yêu cho một ai cho nên họ nhận xét như thế cũng
đáng. Dưới mắt mọi người, hoàng phi tuy làm tròn phận
sự người vợ nhưng không tỏ vẻ yêu hoàng đế tự đáy
lòng. Hình như nàng chỉ mơ tưởng đến một thứ tình yêu
không thể có trong cõi đời này.
Nhà
sư chùa Shiga được tiếng là con người đức độ. Tuổi
tác lại cao. Việc cụ hoàn toàn xa rời thế tục thì khắp
nơi trong kinh thành, không ai không biết. Nếu như tin đồn
cho rằng cụ đắm đuối nhan sắc của bà phi là sự thật,
có nghĩa là cụ sẽ hy sinh tất cả những kiếp về sau trên
cõi tây thiên cực lạc đã đến trong vòng tay mình. Không
thể có sự mất mát nào to tát hơn nhưng cũng không có món
quà tặng nào vĩ đại hơn.
Hoàng
phi không hề bị quyến rũ bởi những khách phong lưu trong
cung đình, ngay cả trước những chàng trai trẻ đẹp, nàng
cũng dửng dưng. Diện mạo của bọn đàn ông đó không có
gì đáng kể. Phải là một người nào đó đem được cho
nàng một tình yêu mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất. Nàng chỉ
quan tâm đến con người như thế. Chỉ người đó may ra mới
làm rung động trái tim nàng.
Đàn
bà khi đã nuôi trong lòng một mục đích gì rồi thì quả
là con vật đáng gờm. Nếu là một khách buôn hương bán phấn,
nàng ta sẽ thỏa mãn nếu có ai đem của cải vật chất đời
này đến cung phụng. Thế nhưng hoàng phi là người đã có
đủ mọi thứ của cải, nàng chỉ đợi mỗi người đàn
ông dám dâng hiến cho nàng của cải những cuộc đời sau.
Trong
triều, tiếng đồn về sự si mê của vị cao tăng ngày càng
lan rộng, đến nỗi hoàng đế cũng nhắc tới với giọng
nửa đùa nửa thật. Hoàng phi không tỏ ra vui vẻ gì trước
những lời bóng gió ấy, nàng chỉ giữ một thái độ lạnh
lùng. Nàng biết rằng có hai lý do cho phép người trong triều
có thể an tâm đùa cợt về một điều chính ra họ không
được phép. Một là khi nói về sự si mê của vị lão tăng,
họ muốn ca tụng cái nhan sắc đã đưa một nhà tu hành đạo
đức cao vời đến chỗ lầm lạc, hai là họ tin rằng, trên
thực tế, người đàn bà quí phái như nàng làm gì lại đi
đáp lại mối tình của một cụ già.
Hoàng
phi mường tượng ra khuôn mặt của vị lão tăng mà nàng đã
nhìn qua khung cửa chiếc xe nhưng khuôn mặt ấy không giống
bất cứ khuôn mặt người đàn ông nào đã tỏ lòng yêu thương
nàng từ trước đến nay. Sao tình yêu có thể nẩy mầm từ
trái tim của một người không có chút hy vọng gì để được
ai yêu, đó là điều nàng không hiểu nổi! Nàng nhớ lại
lối diễn tả kiểu “tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu”
mà các thi nhân cung đình đã viết ra hòng gợi được chút
yêu thương trong lòng người đẹp đang thờ ơ với họ. Nếu
đem so sánh với hoàn cảnh của vị lão tăng đang yêu, thì
số phận của những anh chàng này còn khá hơn, dầu nàng không
khỏi cảm thấy thơ phú họ viết chỉ là khuôn mòn sáo rỗng.
Chắc
quí vị khi đọc đến đoạn này đều ý thức rằng hoàng
phi không phải là hiện thân cho sự tao nhã cung đình mà chỉ
là người mong chờ một mối tình lớn để đời mình có
phần nào ý nghĩa. Cho dù ở địa vị cao sang, nàng chỉ là
một người đàn bà, nếu không được yêu thì tất cả quyền
lực trên đời chỉ là trống rỗng. Trong khi đàn ông chung
quanh nàng dùng chiến tranh để tranh đoạt thì nàng cũng có
cách của mình, cách thức rất đàn bà, để chinh phục thế
giới. Nàng cười những người đàn bà quen biết đã xuống
tóc đi tu bởi vì một người đàn bà tiếng là từ bỏ cuộc
đời, làm sao có thể quay mặt lại với những gì mình đang
có. Nàng nghĩ may ra đàn ông mới có thể vứt bỏ những gì
họ có mà thôi.
Vị
lão tăng đã một lần vứt bỏ cuộc đời. Cụ ta còn đáng
mặt đàn ông hơn tất cả bọn công khanh. Và cũng như đã
từng vứt bỏ cái kiếp hiện tại, lần này vì hoàng phi,
cụ sẵn sàng vứt bỏ những kiếp tương lai.
Người
đàn bà quyền quí và mộ đạo này nhớ đến Liên Hoa Tưởng,
phép tu cho nàng hình dung ra đóa hoa sen có bề rộng đến hai
trăm năm mươi du-tuần. Thay vì một đóa sen nhỏ nhìn thấy
trước mắt, chỉ có đóa sen vĩ đại như thế mới cân xứng
với nguyện vọng của nàng. Cũng giống như khi nghe tiếng
cây ngoài vườn thì thào trong gió, nàng thấy nó không có
nghĩa lý gì đối với âm nhạc trên cõi Tịnh Độ lúc những
hàng cây báu reo lên trước trận gió lành. Khi nàng nghĩ về
những nhạc khí treo trên thượng giới, không người đánh
cũng vang lên, mới thấy những loại đàn cầm hay sáo trong
cung chỉ vây quanh mình toàn thứ âm thanh buồn bã, tẻ nhạt.
- 4 -
Vị
lão tăng chùa Shiga đang chiến đấu.
Suốt
thời trẻ, trong khi còn phải chế ngự xác thịt, cụ có mục
đích làm sao đạt đến cõi cực lạc trong một kiếp sau.
Thế nhưng nay tuổi đã cao, trong cuộc chiến tuyệt vọng này,
cái tình cảm cho rằng mình đã có những mất mát không thể
nào tìm lại được không hề rời khỏi cụ.
Mối
tình của cụ đối với bà phi không thể nào thành, sự thể
đã rõ như ban ngày. Có còn gì để nghi ngờ! Mặt khác, cụ
cũng hoàn toàn ý thức nếu còn vương vấn nàng, cụ chẳng
thể nào siêu sinh Tịnh Độ. Vị lão tăng trong bao nhiêu năm
sống cuộc đời an nhiên tự tại, nay chỉ vì một hành động
xảy ra trong chớp mắt, đã bị bóng tối bủa vây, không thấy
được tương lai.
Có
thể lòng can đảm là cái từng giúp cụ trong quá khứ chiến
thắng hồi trai trẻ đã bắt nguồn từ sự tự tin và lòng
tự hào. Nó giúp cụ từ khước tất cả những khoái lạc
mà nếu muốn, chỉ cần đi tìm là có ngay. Nhưng vị lão tăng
giờ đây đã đánh mất lòng can đảm. Trước khi chiếc xe
ngự của bà phi tiến đến bên hồ Shiga, cụ những tưởng
Niết Bàn của kiếp lai sinh đã đến trong vòng tay. Nay chợt
tỉnh ra, cụ chỉ thấy chung quanh màn đen của kiếp hiện
tại và không biết cái gì sẽ chờ đợi mình nếu còn muốn
tiến thêm bước nữa.
Rồi
những phép tu Hoa Tọa Tưởng, Tổng Tưởng Quán, Tạp Lược
Quán đều trở thành vô dụng. Mỗi lần cụ bắt đầu tập
trung tâm trí thì khuôn mặt mỹ miều của bà phi lại hiện
ra. Đứng trước hồ, cụ đã thử lại phép Thủy Quán Tưởng
nhưng cũng bằng thừa. Từ phía dưới làn sóng lăn tăn, khuôn
mặt đẹp như ngọc của bà phi chập chờn nổi lên.
Có
thể suy ra đây là hậu quả tự nhiên của trạng thái yêu
đương. Nó đã làm sự tập trung tư tưởng của vị lão tăng
không những chẳng có lợi mà còn có hại. Cụ bèn thử làm
cho lòng mình lắng lại bằng cách để tản mạn sự suy nghĩ.
Nếu cụ ngạc nhiên vì sự tập trung tư tưởng đã làm cho
lòng mình mê lầm hơn, thì khi cố gắng chia trí để thoát
ra khỏi nó, vô hình chung cụ đã chấp nhận sự mê lầm là
có thật. Cụ cảm thấy bị đè bẹp dưới một sức ép,
và thay vì chiến đấu chống lại nó trong tuyệt vọng, thì
cứ từ bỏ chuyện chạy trốn nó mà tập trung tư tưởng
để nghĩ về hình bóng của bà phi thì có khi còn khỏe đầu
hơn.
Vị
lão tăng tìm ra được niềm vui khi tô điểm chung quanh cái
khuôn mặt huyền ảo của bà phi những hình ảnh tôn nghiêm
như thể đang trang trí một pho tượng Phật. Làm như thế,
đối tượng tình yêu của cụ mỗi lúc càng huy hoàng rực
rỡ, mỗi lúc càng xa vời, càng khó có thể đụng đến. Thế
nhưng điều đó làm lòng cụ tràn ngập niềm vui. Sao lại
như thế? Đáng lý ra phải tạo ra hình ảnh bà phi trong thân
xác một người đàn bà phàm tục, gần gũi với đời phàm
tục mới là chuyện tự nhiên. Như thế thì cho dù chỉ là
ảnh ảo, ít nhất nó cũng đem lại cho người đang yêu một
đôi điều hữu ích.
Suy
nghĩ về điều đó, vị lão tăng chợt nhận rằng hình ảnh
bà phi mà cụ đã tô vẽ không chỉ hoàn toàn là vật chất
và cũng không phải hoàn toàn là một hình ảnh chỉ có trong
đầu. Cụ chỉ vẽ lại cái yếu tính của nàng đấy thôi.
Tìm được cái yếu tính ấy trong hình ảnh người đàn bà
là một điều hết sức lạ lùng nhưng không phải là chuyện
bất khả. Cho dù vướng vào lưới tình, vị lão tăng đạo
đức
kia vẫn còn có khả năng đi tìm cái yếu tính bằng cách trừu
tượng hóa sự vật, vì trong quá khứ cụ đã dày công tu
hành. Hình dáng bà phi giờ đây đã nhập lại làm một với
hình ảnh đóa hoa sen vĩ đại rộng đến hai trăm năm mươi
du-tuần. Ngả lưng trên mặt nước và được vô vàn đóa
sen nâng lên, thân hình của bà trải ra bao la, rộng hơn cả
ngọn núi Tu Di, rộng hơn diện tích một vương quốc.
Vị
lão tăng càng tạo ra hình ảnh một bà phi khó đạt đến
chừng nào thì cụ càng phản bội giáo lý Đức Phật một
cách lộ liễu chừng nấy. Lý do là nếu mối tình là một
vật không thể đạt tới thì sự giải thoát linh hồn cũng
không thể nào đạt tới, bởi vì hai điều này đã buộc
chặt với nhau. Vị lão tăng càng tuyệt vọng trong tình yêu
bao nhiêu thì tâm trí cụ còn đâm rễ sâu vào trong những
vọng tưởng và tà niệm. Chỉ có khi cụ còn coi tình yêu,
cho dù xa vời, là một vật có thể đạt được thì cụ mới
còn khả năng từ bỏ nó. Mối tình vô vọng đối với một
đối tượng không đạt đến được như bà phi sẽ bất động,
muốn bỏ cũng không được, khác gì một hồ nước đọng
bao trùm cả mặt đất, không thể đổ đi đâu.
Không
hiểu vì sao vị lão tăng mong mỏi được nhìn khuôn mặt của
bà phi một lần nữa nhưng cụ chỉ sợ rằng khi nhìn khuôn
mặt nay đã nhập lại làm một với đóa hoa sen vĩ đại,
nó sẽ sụp đổ, tan biến mất đi chăng! Nếu chuyện đó
xảy ra thì cụ nhất định sẽ ngộ đạo và lần này được
giải thoát. Nhưng chính viễn tượng này cũng làm cho cụ sợ
hãi.
Tình
yêu vô vọng của vị lão tăng bắt đầu tìm đủ mọi mưu
mẹo kỳ lạ giúp cụ tự đánh lừa. Cuối cùng, khi lấy quyết
định lên đường đến gặp bà phi, cụ những tưởng đã
chữa trị được phần nào chứng bệnh xâm nhập và hành
hạ mình bấy lâu. Cái niềm vui khó tả đã đến khi lấy
được quyết định chỉ là kết quả sự ngộ nhận là mình
đã có thể thoát ra khỏi nanh vuốt của tình yêu.
- 5 -
Không
một ai trong đám hầu cận của hoàng phi tỏ ý hoài nghi về
hành vi của nhà sư già mệt nhọc dựa vào thiền trượng
có đầu hình chim câu [15] đứng trầm ngâm ở một góc vườn
trong ngự sở. Bóng dáng những nhà tu hành hay bọn khất thực
đến bên vườn để cầu xin bố thí không phải là chuyện
lạ lùng.
Một
thị nữ vào bẩm với hoàng phi. Nàng hững hờ nhìn qua bức
mành về hướng đó. Dưới bóng những chùm lá non, nhà sư
già tiều tụy trong lớp áo tu đen sờn với dáng ủ rủ. Nhìn
một đỗi, hoàng phi nhận ra người đang đứng đó đúng là
vị lão tăng có lần bắt gặp bên bờ hồ Shiga, nàng mới
biến sắc.
Sau
một lúc chần chờ không biết phải xử trí thế nào, nàng
ra lệnh cho mọi người không cần phải để ý làm gì tới
người đang đứng trong vườn. Bọn thị nữ vâng lời, để
mặc nhà sư.
Lòng
hoàng phi dậy lên một nỗi lo lắng. Lần đầu tiên nàng cảm
thấy như vậy.
Trong
cuộc đời mình, nàng đã từng gặp biết bao người chối
từ cuộc sống hiện tại nhưng chưa bao giờ giáp mặt một
người dám vứt bỏ những kiếp tương lai. Gặp người đó
cũng như thấy một điềm gở. Điều này khiến nàng đâm
ra sợ hãi. Tất cả những khoái cảm nàng tưởng tượng ra
khi nghĩ về mối tình của vị lão tăng bỗng tan biến đâu
mất. Nếu mối tình ấy trọn vẹn đến nỗi cụ dám từ
chối và dâng cho nàng tất cả những kiếp về sau thì những
kiếp lai sinh đó cũng không thể lọt vào tay nàng mà không
tì vết.
Bà
phi ngắm nghía y trang hoa lệ và hai bàn tay đẹp đẽ của
mình rồi nhìn nhà sư già nua xấu xí trong manh áo sờn rách
đang đứng bên một góc vườn. Kết hợp được hai thứ hoàn
toàn đối nghịch như thế thì chỉ có thể là nhờ hấp lực
của địa ngục. Hình ảnh đó không giống chút nào với những
gì đã xảy ra trong một giấc mộng huy hoàng từng đến với
nàng. Giờ đây vị lão tăng là một người ngoi lên từ đáy
âm ty chứ không có dung nghi đức độ cao dày và quầng ánh
sáng của cõi Tịnh Độ tỏa sáng sau lưng như nàng từng mơ.
Cái ánh sáng tượng trưng cho cõi Tịnh Độ toát ra từ con
người ấy nay hoàn toàn mất dạng. Không thể nhầm lẫn được,
đó vẫn là vị lão tăng nàng đã thấy bên bờ hồ Shiga,
nhưng cớ sao, nay lại giống một người hoàn toàn khác.
Cũng
như tất cả những người sống trong cung cấm, hoàng phi Kyôgoku
có khuynh hướng dè dặt đối với cả tình cảm của mình.
Khi có cái gì lý ra làm cho mình cảm động hiện ra trước
mắt, nàng vẫn giữ thái độ e dè đó. Cho dầu nhìn rõ bằng
chứng mối tình của vị lão tăng, một mối tình không gì
cao cả hơn mà nàng đã ước mơ tự thuở nào, hoàng phi chỉ
cảm thấy thất vọng vì không dè nó chỉ biểu hiện dưới
dáng dấp quá đỗi tầm thường.
Dựa
vào thiền trượng lê bước tới được kinh đô, vị cao tăng
chùa Shiga hầu như quên hết mệt mỏi. Khi lén đến khu vườn
gần nơi ngự sở của hoàng phi Kyôgoku và nghĩ rằng người
đàn bà yêu dấu có lẽ đang ở phía sau rèm, cụ như người
vừa bước ra từ những cơn mộng ảo.
Bây
giờ, khi tình yêu của cụ trở thành thanh khiết vô trần,
hình ảnh kiếp lai sinh bắt đầu lôi cuốn cụ trở lại.
Vị lão tăng có cảm tưởng cụ chưa bao giờ tưởng tượng
cõi Tịnh Độ có thể mang một hình thái cụ thể đơn thuần
như thế này. Sự mong ngóng được về cõi Tịnh Độ ai ngờ
cũng giống như tình yêu nhục cảm. Giờ đây, cụ chỉ còn
cần làm một thủ tục sau cùng là đến gặp bà phi để thổ
lộ tình yêu của mình thì đủ xóa sạch được những vọng
tưởng mê lầm của kiếp hiện tại bấy lâu gây chướng
ngại không cho cụ đạt đến những kiếp lai sinh. Chỉ cần
có bấy nhiêu thôi!
Khom
tấm thân già trên thiền trượng để đứng cho vững, đối
với cụ bây giờ cũng là chuyện nặng nhọc. Ánh nắng chói
chang của một ngày tháng năm xen qua kẽ lá đổ xuống đỉnh
đầu. Cụ thấy choáng váng, bao nhiêu lần phải bám chặt
lấy cây gậy. Nếu bà phi sớm nhận ra điều đó và mời
cụ vào thì có thể thủ tục sẽ hoàn thành chóng vánh. Và
lúc đó, cánh cửa của cõi Tịnh Độ cực lạc sẽ mở ra
chờ đón cụ. Vị lão tăng trông đợi mỗi điều ấy. Cụ
mệt đến gần lả nhưng vẫn ráng tựa vào cây gậy mà chờ.
Mãi đến khi trời đã về chiều. Thế rồi bóng tối dâng
lên. Dù vậy vẫn chưa có tín hiệu gì từ phía bà phi.
Dĩ
nhiên hoàng phi làm thế nào biết được vị lão tăng đã
nhìn thấy cõi Tịnh Độ đằng sau hình ảnh của nàng và
thông qua nàng. Nàng nhìn về mảnh sân đằng trước xuyên
qua bức rèm. Nhà sư già vẫn đó. Ánh nắng chiều xế xuống
sân. Cụ hãy trơ trơ.
Hoàng
phi bỗng cảm thấy sợ hãi. Bà ngỡ người đứng trước
mặt mình chính là hồn oan của những vọng tưởng mê lầm
mà kinh kệ nhiều lần nhắc tới. Bà cảm thấy nỗi lo âu
bị đọa địa ngục dâng lên trong người. Làm cho vị cao
tăng đạo đức như thế vướng vào mối mê lầm thì nhất
quyết cõi Tịnh Độ sẽ không bao giờ tiếp nhận nàng. Chỉ
có địa ngục với những cảnh tượng khủng khiếp của nó
thường ngày vẫn nghe nói sẽ đến với nàng thôi. Lúc này
thì hình ảnh của tình yêu tuyệt đỉnh mà nàng ao ước đã
bị phá vỡ. Được người khác yêu như trường hợp của
nàng chỉ là chịu sự đọa đày trong địa ngục. Khác hẳn
viễn tượng đẹp đẽ về nàng mà vị lão tăng nhìn thấy,
cái mà nàng thấy chỉ là sự khủng khiếp của địa ngục
xuyên qua nhà sư già.
Thế
nhưng là con người kiêu hãnh, bà phi không dễ dàng gì để
cho nỗi sợ hãi đó khuất phục. Mặc kệ, nhà sư già có
đợi chờ đến lúc ngã quị thì đã sao! Khi đưa mắt nhìn
ra ngoài qua tấm rèm và thấy hình dáng nhà sư đáng lẽ đã
ngã gục vẫn còn lặng lẽ trơ ra đó, bà không khỏi cảm
thấy bực bội.
Màn
đêm rơi xuống. Thêm có ánh trăng dọi vào, dáng gầy guộc
của nhà sư đang chầu chực trông chẳng khác nào một bộ
hài cốt.
Hoàng
phi Kyôgoku lo âu đến nỗi không tài nào nhắm mắt. Chẳng
thèm nhìn ra ngoài rèm nữa, nàng quay lưng lại hướng ấy.
Tuy nhiên nàng vẫn cảm thấy tia nhìn của vị sư già. Ôi
thôi, mối tình này không phải là một mối tình tầm thường.
Thế nhưng sự sợ hãi được yêu và sự sợ hãi phải bị
đọa địa ngục, ngược lại đã làm cho bà tập trung được
tâm trí khấn nguyện để được thác sinh vào cõi Tịnh Độ.
Đó là cõi Tịnh Độ mà bà ấp ủ trong lòng và quyết tâm
giữ gìn cho nó không bị tổn hại. Cõi Tịnh Độ của bà
không giống cái cõi Tịnh Độ của vị cao tăng vì nó không
can dự gì đến mối tình của cụ đối với nàng. Nàng nghĩ
rằng nếu như mình cất tiếng gọi nhà sư, cái cõi Tinh Độ
nàng đang khấn nguyện tìm về sẽ bị sụp đổ tan tành.
Nàng
tự nhủ tình yêu một chiều của vị cao tăng đâu có liên
hệ gì đến mình. Cụ ta tự ý yêu như thế mặc cụ. Đâu
có chút lý do nào ngăn cản được con đường đi về cõi
Tịnh Độ của mình!
Dù
suy nghĩ như vậy, khi đêm càng khuya và trời càng thấm lạnh
thì bà phi cũng mất dần tự tin. Mới đây thôi, bà còn nghĩ
nếu nhà sư già có kiệt lực, ngã lăn ra chết, bà cũng chẳng
đoái hoài.
Vị
cao tăng vẫn đứng như thế trong vườn. Khi ánh trăng lẩn
khuất, bóng của cụ hiện ra kỳ quái như một ngọn cây khô
quắt.
”
Không, không, ta với cái bóng kia không liên can gì với nhau
hết!”. Bà phi gào lên trong lòng. Cơ sự xảy ra vượt ra
ngoài tầm suy nghĩ của nàng. Có thể là điều hiếm có nhưng
trong một thoáng như thế này, bà phi quên quấy mình là một
mỹ nhân. Bảo rằng lúc đó bà cố ý quên đi thì có vẻ
đúng hơn.
Cuối
cùng, bầu trời xen một vài vệt trắng. Trong cái lờ mờ
của buổi hừng đông, vị lão tăng vẫn còn đứng nguyên
đấy.
Hoàng
phi thua cuộc. Bà đành lên tiếng gọi thị nữ ra ngoài vườn
mời nhà sư đến trước rèm.
Vị
lão tăng đã đạt đến mức độ vong ngã, không biết xác
thịt mình hãy còn hay đã bị hủy diệt. Cụ hết phân biệt
nổi kẻ đang chờ đợi mình là bà hoàng phi hay là kiếp lai
sinh. Khi nhận ra bóng người thị nữ bước xuống khu vườn
nửa sáng nửa tối để đến kề bên, cụ cũng không hình
dung ra được những gì sẽ xảy ra tiếp đó.
Thị
nữ truyền lại lời mời của hoàng phi. Lão tăng đáp lại
bằng một âm thanh giống như tiếng kêu kinh hãi, không phải
tiếng người.
Phía
trong bức rèm chỗ bà phi ngồi tối đen, người từ bên ngoài
không thể nhìn được hình dáng của bà.Vị lão tăng quì
xuống trước bà, hai tay bưng mặt khóc.
Cụ
khóc một hồi lâu, không có lấy một lời. Khóc và chỉ biết
khóc, tưởng như tiếng khóc sẽ không bao giờ dứt.
Trong
lúc đó, bên dưới bức rèm và từ trong chỗ bóng tối lờ
mờ, một bàn tay trắng muốt như tuyết đang chìa ra phía ngoài.
Vị
cao tăng chùa Shiga đưa hai tay ra đón nhận và ấp ủ bàn tay
của người mình yêu thương. Cụ áp bàn tay đó lên trán mình,
rồi lên má.
Hoàng
phi Kyôgoku cảm được cái lạnh từ bàn tay thô kệch đang
chạm đến tay mình. Sau một lúc, bàn tay đó bỗng nóng lên
rồi dần dần ướt đẫm. Bà cảm thấy không chút thoải
mái khi bàn tay của mình đang thấm ướt nước mắt của ai
đó.
Thế
nhưng bầu trời đã trắng bạch và khi hoàng phi nhận ra ánh
sáng bắt đầu len vào sau rèm, trong lòng người đàn bà có
con tim đạo hạnh này bỗng nhiên một linh cảm lạ lùng từ
đâu đến xâm chiếm: không còn nghi ngờ gì nữa, cái bàn
tay không quen biết đã ấp ủ tay ta bên kia tấm rèm chỉ có
thể là bàn tay của chính Đức Thế Tôn.
Một
cảnh tượng huyền ảo như sống dậy trong lòng hoàng phi.
Đó là khung cảnh cõi Tịnh Độ với nền bằng lưu ly, với
vô số lâu đài cung điện bằng thất bảo, với bóng dáng
những vị thần tiên đang tấu nhạc, với những khu hồ hoàng
kim trải cát thủy tinh có muôn nghìn đóa hoa sen lấp lánh
ánh sáng, với lũ chim gia-lăng-tần-la ríu ra ríu rít… tất
cả đều như vừa được tái sinh. Nếu trên thực tế đó
là quang cảnh của cõi Tịnh Độ mà hoàng phi tin rằng mình
sẽ thừa hưởng thì kể từ nay, nàng có thể sẳn sàng chấp
nhận tình yêu của vị lão tăng. Hoàng phi chỉ còn đợi người
đàn ông có bàn tay của Đức Phật lên tiếng gọi: “Hãy
vén rèm lên!” mà thôi. Vị lão tăng có thể cầu xin nàng
điều đó. Có thể nàng sẽ vén rèm cho cụ. Cũng như trong
buổi gặp gỡ bên bờ hồ Shiga, có thể hoàng phi Kyôgoku sẽ
cho phép nhà sư già được nhìn thấy khuôn mặt tuyệt mỹ
của nàng. Và nàng cũng có thể mời cụ bước vào bên trong
nữa…
Hoàng
phi Kyôgoku chờ đợi.
Thế
nhưng vị lão tăng chùa Shiga không thốt lên lấy một lời.
Cụ không cầu xin điều gì cả. Bàn tay già nua đang nắm chặt
lấy bàn tay của người đẹp cuối cùng rồi cũng buông ra.
Cụ để bàn tay trắng muốt như tuyết đó trơ trọi trong
ánh sáng của buổi bình minh.
Vị
cao tăng đi khuất. Hoàng phi cảm thấy tim mình buốt giá.
Vài
ngày sau, có tin đưa đến là vị cao tăng đã viên tịch trong
thảo am của người. Từ đó, hoàng phi Kyôgoku bắt đầu ngồi
nắn nót chép những trang kinh để tiến cúng nhà chùa. Đó
là Vô Lượng Thọ Kinh, Pháp Hoa Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, toàn những
bản kinh quí hiếm.
(Dịch
xong tại Tokyo, ngày 17/09/2007.)
Tham
khảo
1)
Aury, Dominique, 1983, Le prêtre du temple de Shiga et son amour (dịch
Mishima theo The Priest and His Love), trong Yukio, Mishima, La Mort en
Eté, Gallimard, Paris.
2)
Mishima, Yukio, 1978, Shigadera shônin no koi, trong Mishima Yukio, Misaki
nite no Monogatari, Shinchô Bunko, Tôkyô.
3)
Morris, Ivan, 1962, The Priest and His Love (dịch Shigadera shônin no
koi), trong Morris, Ivan chủ biên, Modern Japanese Stories, An Anthology,
Charles Tuttle Co, Tokyo, bản in lần thứ 23, 1997.
Chú
Thích
[1]-
Taiheiki, tiểu thuyết lịch sử Nhật Bản ghi lại giai đoạn
biến loạn tranh giành vào thời trung cổ Nhật Bản. Gồm 40
quyển, tương truyền do một nhà sư, Kojima Hôshi viết. Sáng
tác khoảng 1368-75 hay 1375-79.
[2]-
Ikkaku Sennin (Nhất Giác Tiên Nhân), còn gọi là Ikkasen (Nhất
Giác Tiên) hay Dokkakusen (Độc Giác Tiên), người được xem
như là một tiền thân của Đức Phật. Người nước Bà La
Nại bên Ấn Độ, vốn do nai sinh ra trong rừng, đầu có một
sừng. Tu thiền định lâu năm nên có pháp thuật. Vì oán hận
nhà vua nên vị này làm cho trời hạn hán. Sau bị một dâm
nữ do nhà vua gữi đến quyến rũ làm mất phép thần thông.
Từ đấy mưa lại chan hòa. Sự tích này đã thành đề tài
của tuồng Nô của Konparu Zenchiku (1405- khoảng 1470).
[3]-
Còn gọi là Suufukuji (Sùng Phúc Tự) một ngôi chùa cổ xây
từ năm 668 bên cạnh kinh đô khi đó còn là Nara. Một trong
mười ngôi chùa lớn đương thời nhưng nay không còn dấu
tích.
[4]-
Triều đại trung cổ Nhật Bản dài khoảng 400 năm.
[5]-
Tư tưởng cho rằng có một thế giới thanh tĩnh cực lạc
thiên biến vạn hóa ở Tây Phương, nơi có Phật A Di Đà và
chư Phật. Con người nếu tu hành có thể thác sanh về đấy.
Bắt đầu ở Trung Quốc, sau trở thành một phái tôn giáo
ở Nhật với giáo tổ là tăng Hônen (Pháp Nhiên, 1133-1212).
[6]-
Ôjô Yôshuu, sách nhà Phật, 3 quyển do tăng Genshin (Nguyên Tín,
942-1017) trứ tác, hoàn thành năm 986, khuyên người niệm Phật
để được vãng sinh cực lạc.
[7]-
Hay Eshin Sôzu, tên thường dùng để gọi tăng Genshin, cao tăng
phái Tendai (Thiên Thai), từng du học bên Trung Quốc.
[8]-
Cữu ngưu nhất mao, chữ của Tư Mã Thiên trong bức thư gữi
cho bạn là Nhiệm Thiếu Khanh.”Phản lệnh bộc phục pháp
thụ hình,nhược cữu ngưu vong nhất mao”. Ý nói là “một
chuyện nhỏ không thấm vào đâu”.
[9]-
Thất bảo. Còn gọi là thất trân.
[10]-
Theo âm Phạn ngữ Kalavinka, thú đầu người mình chim, có giọng
hát ngọt ngào, ở trên đỉnh Tuyết Sơn hay cõi cực lạc.
[11]-
Theo âm Phạn ngữ Yojana, đơn vị đo lường thời cổ Ấn
Độ. Một Yojana rộng đến 7 đến 9 dặm Anh.
[12]-
Tức Tu Di Sơn (Shumisen) do chữ Phạn Sumeru là đỉnh núi ở
trung tâm thế giới của nhà Phật, có Đế Thích và Tứ Thiên
Vương cai trị, vây xung quanh bởi bát sơn bát hải.Mặt trời,
mặt trăng và các ngôi sao lại quay vòng bên ngoài.
[13]-
Thủy Quán Tưởng, chữ nhà Phật để chỉ sự tập trung tinh
thần để suy nghĩ về dòng nước trong trên cõi Tịnh Độ.
Đây là quán tưởng thứ 2 trong số 16 phép (thập lục quán)
được giảng trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh.
[14]-
Kinh Cực, tên một khu vực và cung điện trong thành Kyôto.
Thường ám chỉ gia đình quyền thần và ngoại thích Fujiwara
no Michinaga, đời đời có nhiều con gái gả cho các thiên hoàng.
[15]-
Trượng có hình đầu chim bồ câu (câu trượng) để mừng
người trên 80 tuổi vì bồ câu là giống chim ăn không bị
hóc.
Nguồn:
http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=16550&chapter=1
http://www.japanest.com/forum/showthread.php?t=10475
| Mishima
Yukio (bút hiệu của Hiraoka Kimitake, 1925-1970) là một trong những
văn sĩ đương đại Nhật Bản nổi tiếng. Năm 1947, ông tốt
nghiệp phân khoa Luật tại Ðại học Tokyo, rồi sau đó cống
hiến cả đời mình cho một sự nghiệp văn học dồi dào
và đa dạng: tiểu luận, sân khấu, tiểu thuyết, truyện ngắn,
du ký... Ông đã được ba giải văn học lớn của Nhật. Truyện
ngắn "Ưu Quốc" (Yukoku) dưới đây mở đầu có nhắc tới
ngày 26 tháng 2, một ngày máu đã đổ trên đất Phù Tang nhưng
bản tiếng Pháp không chú dẫn. Văn hữu Nguyễn Nam Trân (Tokyo)
đã giải thích liên hệ giữa Ưu Quốc với ngày lịch sử
này như sau:
Biến
cố 26 tháng 2 là cuộc đảo chánh năm Chiêu Hòa 11 (1936) của
một nhóm sĩ quan lục quân trẻ tuổi phái bảo hoàng nhằm
lật đổ chính phủ (theo họ là một chính quyền thối nát,
làm kinh tế suy sụp, gây nạn đói), để lập một nội các
mới. Nhóm sĩ quan này dẫn khoảng 1400 phần lớn là tân binh
đi vây các dinh thự và giết chết năm Bộ trưởng phái dân
sự, nhưng lại để Thủ tướng thoát được. Tuy họ ủng
hộ Thiên hoàng, đòi ông ra thân chính, song Thiên hoàng Chiêu
Hòa (Showa hay Hirohito) lại không chấp nhận phiến loạn, đã
sát hại các đại thần do mình bổ nhiệm nên ra lệnh cho
hải quân tiêu trừ. Ðiều này đưa đến nghịch cảnh là
một số quân nhân phái bảo hoàng được lệnh nổ súng vào
những người cùng chung chí hương. Sau đó, loạn quân đã
phải quay về doanh trại, và các sĩ quan cầm đầu bị hành
quyết ngay giữa Tokyo. Tuy thất bại kỳ đó, nhưng sau này
thế lực quân phiệt càng ngày càng mạnh, dần dà họ nắm
trọn chính quyền với tướng Tojo Hideki (Ðông Ðiều Anh Cơ),
và nhảy vào đại chiến thứ hai.
Mishima
rất ngưỡng mộ lý tưởng của cuộc binh biến ngày 26-2 này,
mà ông cho là "biểu tượng của tình yêu nước trong trắng,
không vụ lợi ". Năm 1970, ông cùng 30-40 người đồng chí
trong Câu lạc bộ Cái Khiên (Tate No Kai, Club of Shield, một binh
đội tư nhân do ông thành lập) đã gây một vụ "đảo chính"
tương tự ngay doanh trại Bộ Quốc phòng Nhật, nhưng không
ai theo mà còn chế nhạo, nên đã mổ bụng tự sát, lúc đó
mới 45 tuổi. Truyện ngắn này đã được dựng thành một
cuốn phim ngắn, rất diễm tình, do Mishima đóng vai chính.
Xin
cám ơn văn hữu Nguyễn Nam Trân đã vui lòng đọc lại bản
dịch so với bản gốc Nhật ngữ. Bản tiếng Pháp dịch từ
Anh ngữ, vài chỗ khá tối nghĩa và không lột tả được
những nét đặc thù rất Nhật. Nguồn: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.a...3237nvn&cochu=
|
The
Priest of Shiga Temple and His Love
by
Yukio Mishima, translated by Ivan Morris
ACCORDING
TO ESHIN’S “Essentials of Salvation,” the Ten Pleasures are but a
drop in the ocean when compared to the joys of the Pure Land. In that Land
the earth is made of emerald and the roads that lead across it are lined
by cordons of gold rope. The surface is endlessly level and there are no
boundaries. Within each of the sacred Precincts are fifty thousand million
halls and towers wrought of gold, silver, lapis lazuli, crystal, coral,
agate, and pearls; and wondrous garments are spread out on all the jeweled
daises. Within the halls and above the towers a multitude of angels are
forever playing sacred music and singing paeans of praise to the Tathagata
Buddha. In the gardens that surround the halls and the towers and the cloisters
are great gold and emerald ponds where the faithful may perform their ablutions;
and the gold ponds are lined with silver sand, and the emerald ponds are
lined with crystal sand. The ponds are covered with lotus plants which
sparkle in variegated colors and, as the breeze wafts over the surface
of the water, magnificent lights crisscross in all directions. Both day
and night the air is filled with the songs of cranes, geese, mandarin ducks,
peacocks, parrots, and sweet-voiced Kalavinkas, who have the faces of beautiful
women. All these and the myriad other hundred-jeweled birds are raising
their melodious voices in praise of the Buddha. (However sweet their voices
may sound, so immense a collection of birds must be extremely noisy.)
The
borders of the ponds and the banks of the rivers are lined with groves
of sacred treasure trees. These trees have golden stems and silver branches
and coral blossoms, and their beauty is mirrored in the waters. The air
is full of jeweled cords, and from these cords hang the myriad treasure
bells which forever ring out the Supreme Law of Buddha; and strange musical
instruments, which play by themselves without ever being touched, also
stretch far into the pellucid sky.
If
one feels like having something to eat, there automatically appears before
one’s eyes a seven-jeweled table on whose shining surface rest seven-jeweled
bowls heaped high with the choicest delicacies. But there is no need to
pick up these viands and put them in one’s mouth. All that is necessary
is to look at their inviting colors and to enjoy their aroma: thereby the
stomach is filled and the body nourished, while one remains oneself spiritually
and physically pure. When one has thus finished one’s meal without any
eating, the bowls and the table are instantly wafted off.
Likewise,
one’s body is automatically arrayed in clothes, without any need for
sewing, laundering, dyeing, or repairing.
Lamps,
too, are unnecessary, for the sky is illumined by an omnipresent light.
Furthermore, the Pure Land enjoys a moderate temperature all year round,
so that neither heating nor cooling is required. A hundred thousand subtle
scents perfume the air and lotus petals rain down constantly.
In
the chapter of the Inspection Gate we are told that, since uninitiated
sightseers cannot hope to penetrate deep into the Pure Land, they must
concentrate, first, on awakening their powers of “external imagination”
and, thereafter, on steadily expanding these powers. Imaginative power
can provide a short cut for escaping from the trammels of our mundane life
and for seeing the Buddha. If we are endowed with a rich, turbulent imagination,
we can focus our attention on a single lotus flower and from there can
spread out to infinite horizons.
By
means of microscopic observation and astronomical projection the lotus
flower can become the foundation for an entire theory of the universe and
an agent whereby we may perceive the Truth. And first we must know that
each of the petals has eighty-four thousand veins and that each vein gives
off eighty-four thousand lights. Furthermore, the smallest of these flowers
has a diameter of two hundred and fifty yojana. Thus, assuming that the
yojana of which we read in the Holy Writings correspond to seventy-five
miles each, we may conclude that a lotus flower with a diameter of nineteen
thousand miles is on the small side.
Now
such a flower has eighty-four thousand petals and between each of the petals
there are one million jewels, each emitting one thousand lights. Above
the beautifully adorned calyx of the flower rise four bejeweled pillars
and each of these pillars is one hundred billion times as great as Mount
Sumeru, which towers in the center of the Buddhist universe. From the pillars
hang great draperies and each drapery is adorned with fifty thousand million
jewels, and each jewel emits eighty-four thousand lights, and each light
is composed of eighty-four thousand different golden colors, and each of
these golden colors in its turn is variously transmogrified.
To
concentrate on such images is known as “thinking of the Lotus Seat on
which Lord Buddha sits”; and the conceptual world that hovers in the
background of our story is a world imagined on such a scale.
THE
GREAT PRIEST of Shiga Temple was a man of the most eminent virtue. His
eyebrows were white, and it was as much as he could do to move his old
bones along as he hobbled on his stick from one part of the temple to another.
In
the eyes of this learned ascetic the world was a mere pile of rubbish.
He had lived away from it for many a long year and the little pine sapling
that he had planted with his own hands on moving into his present cell
had grown into a great tree whose branches swelled in the wind. A monk
who had succeeded in abandoning the Floating World for so long a time must
feel secure about his future.
When
the Great Priest saw the rich and the noble, he smiled with compassion
and wondered how it was that these people did not recognize their pleasures
for the empty dreams that they were. When he noticed beautiful women, his
only reaction was to be moved with pity for men who still inhabited the
world of delusion and who were tossed about on the waves of carnal pleasure.
From
the moment that a man no longer responds in the slightest to the motives
that regulate the material world, that world appears to be at complete
repose. In the eyes of the Great Priest the world showed only repose; it
had become a mere picture on a piece of paper, a map of some foreign land.
When one has attained a state of mind from which the evil passions of the
present world have been so utterly winnowed, fear too is forgotten. Thus
it was that the priest no longer could understand why Hell should exist.
He knew beyond all peradventure that the present world no longer had any
power left over him; but, as he was completely devoid of conceit, it did
not occur to him that this was the effect of his own eminent virtue.
So
far as his body was concerned, one might say that the priest had well-nigh
been deserted by his own flesh. On such occasions as he observed it—when
taking a bath, for instance—he would rejoice to see how his protruding
bones were precariously covered by his withered skin. Now that his body
had reached this stage, he felt that he could come to terms with it, as
if it belonged to someone else. Such a body, it seemed, was already more
suited for the nourishment of the Pure Land than for terrestrial food and
drink.
In
his dreams he lived nightly in the Pure Land, and when he awoke he knew
that to subsist in the present world was to be tied to a sad and evanescent
dream.
In
the flower-viewing season large numbers of people came from the Capital
to visit the village of Shiga. This did not trouble the priest in the slightest,
for he had long since transcended that state in which the clamors of the
world can irritate the mind. One spring evening he left his cell, leaning
on his stick, and walked down to the lake. It was the hour when dusky shadows
slowly begin to thrust their way into the bright light of the afternoon.
There was not the slightest ripple to disturb the surface of the water.
The priest stood by himself at the edge of the lake and began to perform
the holy rite of Water Contemplation.
At
that moment an ox-drawn carriage, clearly belonging to a person of high
rank, came around the lake and stopped close to where the priest was standing.
The owner was a Court lady from the Kyogoku district of the Capital who
held the exalted title of Great Imperial Concubine. This lady had come
to view the springtime scenery in Shiga and now on her return she had stopped
the carriage and raised the blind in order to have a final look at the
lake.
Unwittingly
the Great Priest glanced in her direction and at once he was overwhelmed
by her beauty. His eyes met hers and, as he did nothing to avert his gaze,
she did not take it upon herself to turn away. It was not that her liberality
of spirit was such as to allow men to gaze on her with brazen looks; but
the motives of this austere old ascetic could hardly, she felt, be those
of ordinary men.
After
a few moments the lady pulled down the blind. Her carriage started to move
and, having gone through the Shiga Pass, rolled slowly down the road that
led to the Capital. Night fell and the carriage made its way toward the
city along the Road of the Silver Temple. Until the carriage had become
a pinprick that disappeared between the distant trees, the Great Priest
stood rooted to the spot.
In
the twinkling of an eye the present world had wreaked its revenge on the
priest with terrible force. What he had imagined to be completely safe
had collapsed in ruins.
He
returned to the temple, faced the Main Image of Buddha, and invoked the
Sacred Name. But impure thoughts now cast their opaque shadows about him.
A woman’s beauty, he told himself, was but a fleeting apparition, a temporary
phenomenon composed of flesh—of flesh that was soon to be destroyed.
Yet, try as he might to ward it off, the ineffable beauty which had overpowered
him at that instant by the lake now pressed on his heart with the force
of something that has come from an infinite distance. The Great Priest
was not young enough, either spiritually or physically, to believe that
this new feeling was simply a trick that his flesh had played on him. A
man’s flesh, he knew full well, could not alter so rapidly. Rather, he
seemed to have been immersed in some swift, subtle poison which had abruptly
transmuted his spirit.
THE
GREAT PRIEST had never broken his vow of chastity. The inner fight that
he had waged in his youth against the demands of the flesh had made him
think of women as mere carnal beings. The only real flesh was the flesh
that existed in his imagination. Since, therefore, he regarded the flesh
as an ideal abstraction, rather than as a physical fact, he had relied
on his spiritual strength to subjugate it. In this effort the priest had
achieved success—success, indeed, that no one who knew him could possibly
doubt.
Yet
the face of the woman who had raised the carriage blind and gazed across
the lake was too harmonious, too refulgent, to be designated as a mere
object of flesh, and the priest did not know what name to give it. He could
only think that, in order to bring about that wondrous moment, something
which had for a long time lurked deceptively within him had finally revealed
itself. That thing was nothing other than the present world, which until
then had been at repose, but which had now suddenly lifted itself out of
the darkness and begun to stir.
It
was as if he had been standing by the highway that led to the Capital,
with his hands firmly covering both ears, and had watched two great oxcarts
rumble past each other. All of a sudden he had removed his hands and the
noise from outside had surged all about him.
To
perceive the ebb and flow of passing phenomena, to have their noise roaring
in one’s ears, was to enter into the circle of the present world. For
a man like the Great Priest, who had severed his relations with all outside
things, it was to place himself once again into a state of relationship.
Even
as he read the Sutras he would time after time hear himself heaving great
sighs of anguish. Perhaps nature, he thought, might serve to distract his
spirits, and he gazed out of the window of his cell at the mountains that
towered in the distance under the evening sky. Yet his thoughts, instead
of concentrating on the beauty, broke up like tufts of cloud and drifted
away. He fixed his gaze on the moon, but his thoughts continued to wander
as before; and when once again he went and stood before the Main Image
in a desperate effort to regain his purity of mind, the countenance of
the Buddha was transformed and looked like the face of the lady in the
carriage. His universe had been imprisoned within the confines of a small
circle: at one point was the Great Priest and opposite was the Great Imperial
Concubine.
THE
GREAT IMPERIAL Concubine of Kyogoku had soon forgotten about the old priest
whom she had noticed gazing so intently at her by the lake at Shiga. After
some time, however, a rumor came to her ears and she was reminded of the
incident. One of the villagers happened to have caught sight of the Great
Priest as he had stood watching the lady’s carriage disappear into the
distance. He had mentioned the matter to a Court gentleman who had come
to Shiga for flower-viewing and had added that since that day the priest
had behaved like one crazed.
The
Imperial Concubine pretended to disbelieve the rumor. The virtue of this
particular priest, however, was noted throughout the Capital, and the incident
was bound to feed the lady’s vanity.
For
she was utterly weary of the love that she received from the men of this
world. The Imperial Concubine was fully aware of her own beauty, and she
tended to be attracted by any force, such as religion, that treated her
beauty and her high rank as things of no value. Being exceedingly bored
with the present world, she believed in the Pure Land. It was inevitable
that Jodo Buddhism, which rejected all the beauty and brilliance of the
visual world as being mere filth and defilement, should have a particular
appeal for someone like the Imperial Concubine who was thoroughly disillusioned
with the superficial elegance of Court life—an elegance that seemed unmistakably
to bespeak the Latter Days of the Law and their degeneracy.
Among
those whose special interest was love, the Great Imperial Concubine was
held in honor as the very personification of Courtly refinement. The fact
that she was known never to have given her love to any man added to this
reputation. Though she performed her duties toward the Emperor with the
most perfect decorum, no one for a moment believed that she loved him from
her heart. The Great Imperial Concubine dreamt of a passion that lay on
the boundary of the impossible.
The
Great Priest of Shiga Temple was famous for his virtue, and everyone in
the Capital knew how this aged prelate had totally abandoned the present
world. All the more startling, then, was the rumor that he had been dazzled
by the charms of the Imperial Concubine and that for her sake he had sacrificed
the future world. To give up the joys of the Pure Land which were so close
at hand—there could be no greater sacrifice than this, no greater gift.
The
Great Imperial Concubine was utterly indifferent to the charms of the young
rakes who flocked about the Court and of the handsome noblemen who came
her way. The physical attributes of men no longer meant anything to her.
Her only concern was to find a man who could give her the strongest and
deepest possible love. A woman with such aspirations is a truly terrifying
creature. If she is a mere courtesan, she will no doubt be satisfied with
worldly wealth. The Great Imperial Concubine, however, already enjoyed
all those things that the wealth of the world can provide. The man whom
she awaited must offer her the wealth of the future world. The rumors of
the Great Priest’s infatuation spread throughout the Court. In the end
the story was even told half jokingly to the Emperor himself. The Great
Concubine took no pleasure in this bantering gossip and preserved a cool,
indifferent mien. As she was well aware, there were two reasons why the
people of the Court could joke freely about a matter which would normally
have been forbidden: first, by referring to the Great Priest’s love they
were paying a compliment to the beauty of the woman who could inspire even
an ecclesiastic of such great virtue to forsake his meditations; secondly,
everyone fully realized that the old man’s love for the noblewoman could
never possibly be requited.
The
Great Imperial Concubine called to mind the face of the old priest whom
she had seen through her carriage window. It did not bear the remotest
resemblance to the face of any of the men who had loved her until then.
Strange it was that love should spring up in the heart of a man who did
not have the slightest qualification for being loved. The lady recalled
such phrases as “my love forlorn and without hope” that were widely
used by poetasters in the Palace when they wished to awaken some sympathy
in the hearts of their indifferent paramours. Compared to the hopeless
situation in which the Great Priest now found himself, the state of the
least fortunate of these elegant lovers was almost enviable, and their
poetic tags struck her now as mere trappings of worldly alliance, inspired
by vanity and utterly devoid of pathos.
At
this point it will be clear to the reader that the Great Imperial Concubine
was not, as was so widely believed, the personification of Courtly elegance,
but, rather, a person who found the real relish of life in the knowledge
of being loved. Despite her high rank, she was first of all a woman; and
all the power and authority in the world seemed to her empty things if
they were bereft of this knowledge. The men about her might devote themselves
to struggles for political power; but she dreamt of subduing the world
by different means, by purely feminine means. Many of the women whom she
had known had taken the tonsure and retired from the world. Such women
struck her as laughable. For, whatever a woman may say about abandoning
the world, it is almost impossible for her to give up the things that she
possesses. Only men are really capable of giving up what they possess.
That
old priest by the lake had at a certain stage in his life given up the
Floating World and all its pleasures. In the eyes of the Imperial Concubine
he was far more of a man than all the nobles whom she knew at Court. And,
just as he had once abandoned this present Floating World, so now on her
behalf he was about to give up the future world as well.
The
Imperial Concubine recalled the notion of the sacred lotus flower, which
her own deep faith had vividly imprinted upon her mind. She thought of
the huge lotus with its width of two hundred and fifty yojana. That preposterous
plant was far more fitted to her tastes than those puny lotus flowers which
floated on the ponds in the Capital. At night when she listened to the
wind soughing through the trees in her garden, the sound seemed to her
extremely insipid when compared to the delicate music in the Pure Land
when the wind blew through the sacred treasure trees. When she thought
of the strange instruments that hung in the sky and that played by themselves
without ever being touched, the sound of the harp that echoed through the
Palace halls seemed to her a paltry imitation.
THE
GREAT PRIEST of Shiga Temple was fighting. In the fight that he had waged
against the flesh in his youth he had always been buoyed up by the hope
of inheriting the future world. But this desperate fight of his old age
was linked with a sense of irreparable loss.
The
impossibility of consummating his love for the Great Imperial Concubine
was as clear to him as the sun in the sky. At the same time he was fully
aware of the impossibility of advancing toward the Pure Land so long as
he remained in the thralls of this love. The Great Priest, who had lived
in an incomparably free state of mind, had in a twinkling been enclosed
in darkness and the future was totally obscure. It may have been that the
courage which had seen him through his youthful struggles had grown out
of self-confidence and pride in the fact that he was voluntarily depriving
himself of pleasure that could have been his for the asking.
The
Great Priest was again possessed by fear. Until that noble carriage had
approached the side of Lake Shiga, he had believed that what lay in wait
for him, close at hand, was nothing less than the final release of Nirvana.
But now he had awaked into the darkness of the present world, where it
is impossible to see what lurks a single step ahead.
The
various forms of religious meditation were all in vain. He tried the Contemplation
of the Chrysanthemum, the Contemplation of the Total Aspect, and the Contemplation
of the Parts; but each time that he started to concentrate, the beautiful
visage of the Concubine appeared before his eyes. Water Contemplation,
too, was useless, for invariably her lovely face would float up shimmering
from beneath the ripples of the lake.
This,
no doubt, was a natural consequence of his infatuation. Concentration,
the priest soon realized, did more harm than good, and next he tried to
dull his spirit by dispersal. It astonished him that spiritual concentration
should have the paradoxical effect of leading him still deeper into his
delusions; but he soon realized that to try the contrary method by dispersing
his thoughts meant that he was, in effect, admitting these very delusions.
As his spirit began to yield under the weight, the priest decided that,
rather than pursue a futile struggle, it were better to escape from the
effort of escaping by deliberately concentrating his thoughts on the figure
of the Great Imperial Concubine.
The
Great Priest found a new pleasure in adorning his vision of the lady in
various ways, just as though he were adorning a Buddhist statue with diadems
and baldachins. In so doing, he turned the object of his love into an increasingly
resplendent, distant, impossible being; and this afforded him particular
joy. But why? Surely it would be more natural for him to envisage the Great
Imperial Concubine as an ordinary female, close at hand and possessing
normal human frailties. Thus he could better turn her to advantage, at
least in his imagination.
As
he pondered this question, the truth dawned on him. What he was depicting
in the Great Imperial Concubine was not a creature of flesh, nor was it
a mere vision; rather, it was a symbol of reality, a symbol of the essence
of things. It was strange, indeed, to pursue that essence in the figure
of a woman. Yet the reason was not far to seek. Even when falling in love,
the Great Priest of Shiga had not discarded the habit, to which he had
trained himself during his long years of contemplation, of striving to
approach the essence of things by means of constant abstraction. The Great
Imperial Concubine of Kyogoku had now become uniform with his vision of
the immense lotus of two hundred and fifty yojana. As she reclined on the
water supported by all the lotus flowers, she had become vaster than Mount
Sumeru, vaster than an entire realm.
The
more the Great Priest turned his love into something impossible, the more
deeply was he betraying the Buddha. For the impossibility of this love
had become bound up with the impossibility of attaining enlightenment.
The more he thought of his love as hopeless, the firmer grew the fantasy
that supported it and the deeper-rooted became his impure thoughts. So
long as he regarded his love as being even remotely feasible, it was paradoxically
possible for him to resign himself; but now that the Great Concubine had
grown into a fabulous and utterly unattainable creature the priest’s
love became motionless like a great stagnant lake which firmly, obdurately,
covers the earth’s surface.
He
hoped that somehow he might see the lady’s face once more, yet he feared
that when he met her, that figure, which had now become like a giant lotus,
would crumble away without a trace. If that were to happen, he would without
doubt be saved. Yes, this time he was bound to attain enlightenment. And
the very prospect filled the Great Priest with fear and awe.
The
priest’s lonely love had begun to devise strange, self-deceiving guiles,
and when at length he reached the decision to go and see the lady, he was
under the delusion that he had almost recovered from the illness that was
searing his body. The bemused priest even mistook the joy that accompanied
his decision for relief at having finally escaped from the trammels of
his love.
NONE
OF THE GREAT Concubine’s people found anything especially strange in
the sight of an old priest standing silently in the corner of the garden,
leaning on a stick and gazing somberly at the residence. Ascetics and beggars
frequently stood outside the great houses of the Capital and waited for
alms. One of the ladies in attendance mentioned the matter to her mistress.
The Great Imperial Concubine casually glanced through the blind that separated
her from the garden. There in the shadow of the fresh green foliage stood
a withered old priest with faded black robes and bowed head. For some time
the lady looked at him. When she realized that this was without any question
the priest whom she had seen by the lake at Shiga, her pale face turned
paler still.
After
a few moments of indecision, she gave orders that the priest’s presence
in her garden should be ignored. Her attendants bowed and withdrew.
Now
for the first time the lady fell prey to uneasiness. In her lifetime she
had seen many people who had abandoned the world, but never before had
she laid eyes on someone who had abandoned the future world. The sight
was ominous and inexpressibly fearful. All the pleasure that her imagination
had conjured up from the idea of the priest’s love disappeared in a flash.
Much as he might have surrendered the future world on her behalf, that
world, she now realized, would never pass into her own hands.
The
Great Imperial Concubine looked down at her elegant clothes and at her
beautiful hands, and then she looked across the garden at the uncomely
features of the old priest and at his shabby robes. There was a horrible
fascination in the fact that a connection should exist between them.
How
different it all was from the splendid vision! The Great Priest seemed
now like a person who had hobbled out of Hell itself. Nothing remained
of that man of virtuous presence who had trailed the brightness of the
Pure Land behind him. The brilliance which had resided within him and which
had called to mind the glory of the Pure Land had vanished utterly. Though
this was certainly the man who had stood by the Shiga Lake, it was at the
same time a totally different person.
Like
most people of the Court, the Great Imperial Concubine tended to be on
her guard against her own emotions, especially when she was confronted
with something that could be expected to affect her deeply. Now on seeing
this evidence of the Great Priest’s love, she felt disheartened at the
thought that the consummate passion of which she had dreamt during all
these years should assume so colorless a form.
When
the priest had finally limped into the Capital leaning on his stick, he
had almost forgotten his exhaustion. Secretly he made his way into the
grounds of the Great Imperial Concubine’s residence at Kyogoku and looked
across the garden. Behind those blinds, he thought, was sitting none other
than the lady whom he loved.
Now
that his adoration had assumed an immaculate form, the future world once
again began to exert its charm on the Great Priest. Never before had he
envisaged the Pure Land in so immaculate, so poignant, an aspect. His yearning
for it became almost sensual. Nothing remained for him but the formality
of meeting the Great Concubine, of declaring his love, and of thus ridding
himself once and for all of the impure thoughts that tied him to this world
and that still prevented him from attaining the Pure Land. That was all
that remained to be done.
It
was painful for him to stand there supporting his old body on his stick.
The bright rays of the May sun poured through the leaves and beat down
on his shaven head. Time after time he felt himself losing consciousness
and without his stick he would certainly have collapsed. If only the lady
would realize the situation and invite him into her presence, so that the
formality might be done with! The Great Priest waited. He waited and supported
his ever-growing weariness on his stick. At length the sun was covered
with the evening clouds. Dusk gathered. Yet still no word came from the
Great Imperial Concubine.
She,
of course, had no way of knowing that the priest was looking through her,
beyond her, into the Pure Land. Time after time she glanced out through
the blinds. He was standing there immobile. The evening light thrust its
way into the garden. Still he continued standing there.
The
Great Imperial Concubine became frightened. She felt that what she saw
in the garden was an incarnation of that “deep-rooted delusion” of
which she had read in the Sutras. She was overcome by the fear of tumbling
into Hell. Now that she had led astray a priest of such high virtue, it
was not the Pure Land to which she could look forward, but Hell itself,
whose terrors she and those about her knew in such detail. The supreme
love of which she had dreamt had already been shattered. To be loved as
she was—that in itself represented damnation. Whereas the Great Priest
looked beyond her into the Pure Land, she now looked beyond the priest
into the horrid realms of Hell.
Yet
this haughty noblewoman of Kyogoku was too proud to succumb to her fears
without a fight, and she now summoned forth all the resources of her inbred
ruthlessness. The Great Priest, she told herself, was bound to collapse
sooner or later. She looked through the blind, thinking that by now he
must be lying on the ground. To her annoyance, the silent figure stood
there motionless.
Night
fell and in the moonlight the figure of the priest looked like a pile of
chalk-white bones.
The
lady could not sleep for fear. She no longer looked through the blind and
she turned her back to the garden. Yet all the time she seemed to feel
the piercing gaze of the Great Priest on her back.
This,
she knew, was no commonplace love. From fear of being loved, from fear
of falling into Hell, the Great Imperial Concubine prayed more earnestly
than ever for the Pure Land. It was for her own private Pure Land that
she prayed—a Pure Land which she tried to preserve invulnerable within
her heart. This was a different Pure Land from the priest’s and it had
no connection with his love. She felt sure that if she were ever to mention
it to him it would instantly disintegrate.
The
priest’s love, she told herself, had nothing to do with her. It was a
one-sided affair, in which her own feelings had no part, and there was
no reason that it should disqualify her from being received into her Pure
Land. Even if the Great Priest were to collapse and die, she would remain
unscathed. Yet, as the night advanced and the air became colder, this confidence
began to desert her.
The
priest remained standing in the garden. When the moon was hidden by the
clouds, he looked like a strange, gnarled old tree.
That
form out there has nothing to do with me, thought the lady, almost beside
herself with anguish, and the words seemed to boom within her heart. Why
in Heaven’s name should this have happened?
At
that moment, strangely, the Great Imperial Concubine completely forgot
about her own beauty. Or perhaps it would be more correct to say that she
had made herself forget it.
Finally,
faint traces of white began to break through the dark sky and the priest’s
figure emerged in the dawn twilight. He was still standing. The Great Imperial
Concubine had been defeated. She summoned a maid and told her to invite
the priest to come in from the garden and to kneel outside her blind.
The
Great Priest was at the very boundary of oblivion when the flesh is on
the verge of crumbling away. He no longer knew whether it was for the Great
Imperial Concubine that he was waiting or for the future world. Though
he saw the figure of the maid approaching from the residence into the dusky
garden, it did not occur to him that what he had been awaiting was finally
at hand.
The
maid delivered her mistress’s message. When she had finished, the priest
uttered a dreadful, almost inhuman cry. The maid tried to lead him by the
hand, but he pulled away and walked by himself toward the house with fantastically
swift, firm steps.
It
was dark on the other side of the blind and from outside it was impossible
to see the lady’s form. The priest knelt down and, covering his face
with his hands, he wept. For a long time he stayed there without a word
and his body shook convulsively.
Then
in the dawn darkness a white hand gently emerged from behind the lowered
blind. The priest of the Shiga Temple took it in his own hands and pressed
it to his forehead and cheek.
The
Great Imperial Concubine of Kyogoku felt a strange cold hand touching her
hand. At the same time she was aware of a warm moisture. Her hand was being
bedewed by someone else’s tears. Yet when the pallid shafts of morning
light began to reach her through the blind, the lady’s fervent faith
imbued her with a wonderful inspiration: she became convinced that the
unknown hand which touched hers belonged to none other than the Buddha.
Then
the great vision sprang up anew in the lady’s heart: the emerald earth
of the Pure Land, the millions of seven-jeweled towers, the angels playing
music, the golden ponds strewn with silver sand, the resplendent lotus,
and the sweet voices of the Kalavinkas—all this was born afresh. If this
was the Pure Land that she was to inherit—and so she now believed—why
should she not accept the Great Priest’s love?
She
waited for the man with the hands of Buddha to ask her to raise the blind
that separated her from him. Presently he would ask her; and then she would
remove the barrier and her incomparably beautiful body would appear before
him as it had on that day by the edge of the lake at Shiga; and she would
invite him to come in.
The
Great Imperial Concubine waited.
But
the priest of Shiga Temple did not utter a word. He asked her for nothing.
After a while his old hands relaxed their grip and the lady’s snow-white
hand was left alone in the dawn light. The priest departed. The heart of
the Great Imperial Concubine turned cold.
A few
days later a rumor reached the Court that the Great Priest’s spirit had
achieved its final liberation in his cell at Shiga. At this news the lady
of Kyogoku set to copying the Sutras in roll after roll of beautiful writing.
02-12-2008
05:23:14