PHẨM
9
NHẬP
BẤT NHỊ PHÁP MÔN
I.
LƯỢC VĂN KINH
Duy
Ma Cật hỏi các Bồ tát : “Theo các Ngài, thế nào là Bồ
tát nhập pháp môn bất nhị ?”.
Bồ
tát Pháp Tự Tại trả lời : “Thừa, diệt là hai, pháp vốn
không sanh cũng không diệt, được vô sanh diệt, là nhập bất
nhị pháp môn”.
Bồ
tát Ðức Thủ nói : “Ngã, ngã sở là hai. Nhân có ngã mới
có ngã sở. Nếu không có ngã thì không có ngã sở. Ðó là
nhập bất nhị pháp môn”
Bồ
tát Thiện Túc nói : “Ðộng, niệm là hai. Không động thì
không niệm, không niệm thì không phân biệt, thông suốt lý
ấy, là nhập bất nhị pháp môn”.
Bồ
tát Sư Tử Ý nói : “Hữu lậu, vô lậu là hai. Nếu chứng
được
các pháp bình đẳng thì không có tướng hữu lậu và vô lậu.
Không chấp có tướng, cũng không chấp vô tướng. Ðó là
nhập bất nhị pháp môn”.
Bồ
tát Tịnh Giải nói : “Hữu vi, vô vi là hai. Nếu lìa tất
cả thì tâm như hư không, dùng tuệ thanh tịnh không có chướng
ngại. Ðó là nhập bất nhị pháp môn”.
Bồ
tát Thiện Ý nói : “Sanh tử, Niết bàn là hai. Nếu thấy
được tánh sanh tử thì không có sanh tử, không buộc không
mở, không sanh không diệt. Hiểu như thế là nhập bất nhị
pháp môn”.
Bồ
tát Nguyệt Thượng nói : “Tối, sáng là hai. Không tối, không
sáng, thì không có hai. Vì sao? Như vào định, diệt thọ tưởng
thì không có tối, không có sáng. Tất cả pháp tướng cũng
như thế. Bình đẳng vào chỗ ấy là nhập bất nhị pháp
môn”.
Bồ
tát Châu Ðảnh Vương nói : “Chánh đạo, tà đạo là hai.
Ở chánh đạo thì không phân biệt thế nào là tà, thế nào
là chánh. Lìa hai món phân biệt, đó là nhập bất nhị pháp
môn”.
Bồ
tát Nhạo Thật nói : “Thực, không thực là hai. Thực thấy
còn không thấy, huống là không thực thấy. Vì sao ? Không
phải mắt thịt mà thấy được, chỉ có mắt tuệ mới thấy
được. Nhưng mắt tuệ không có thấy mà chỗ nào cũng thấy
cả. Ðó là nhập bất nhị pháp môn” v.v...
Các
Bồ tát nói như thế rồi, hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng
: “Thế nào là Bồ tát nhập bất nhị pháp môn ?”.
Ngài
Văn Thù Sư Lợi nói : “Như ý tôi, đối với tất cả pháp
không nói, không rằng, không chỉ, không biết, xa lìa các vấn
đáp. Ðó là nhập bất nhị pháp môn”.
Khi
đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi Duy Ma Cật : “Chúng tôi nói
rồi, đến lượt Ngài cho biết thế nào là Bồ tát nhập
bất nhị pháp môn”.
Duy
Ma im lặng không nói. Ngài Văn Thù Sư Lợi khen rằng : “Hay
thay, cho đến không có văn tự, ngữ ngôn. Ðó mới thật là
nhập bất nhị pháp môn”.
Khi
nói phẩm này, trong chúng có năm ngàn Bồ tát nhập bất nhị
pháp môn, chứng vô sanh pháp nhẫn.
II.
GIẢI THÍCH
Tất
cả pháp được đề cập ở phần trước phẩm 8 là phương
tiện để phá vọng thức hay chẻ hiểu biết phân biệt sai
lầm của chúng ta, mà tìm cái chân thật sâu kín bên trong;
chẻ cho đến tận cùng mới thấy Thiên nữ xuất hiện ở
cuối phẩm Phật đạo. Từ đây đưa đến kết luận phá
vỡ ngũ uẩn thân mới bắt gặp chơn tâm; hay Phật dạy áng
mây phiền não tan, mặt trăng giác ngộ hiện ra.
Ðó
là quá trình tu xóa sạch vọng thức để chơn tâm hiển hiện,
quy tất cả pháp tu nhị nguyên có trước về thế giới nhất
nguyên. Ở đây gọi là bất nhị pháp môn.
Từ
trước phẩm 8 thuộc thế giới nhị nguyên hay tương đối
pháp. Theo đó, chúng ta sinh hoạt, tồn tại trong cái tương
đối, chấp cái này, ghét cái kia. Thí dụ như người lớn
ghét trẻ con. Theo kinh Pháp Hoa, muốn an lành đừng thân với
Sa di nhỏ tuổi, đừng có chung Thầy với nó. Và ngược lại
trẻ con ngán ông già khó chịu. Ðó là tương đối pháp.
Ðến
phẩm này thành bất nhị. Theo đó, đứng lập trường trẻ
nhìn người già, thì nhận biết đó là tương lai của mình.
Ở vị trí người già thấy trẻ, biết nó là quá khứ của
mình. Hai phần trẻ và già đều là một dưới mắt chúng
ta. Cho đến các loài hữu tình tuy đa nguyên đa dạng, nhưng
nương Phật huệ thấy tất cả đều tiến lần về Vô thượng
đẳng giác; còn chúng ta thấy tất cả đều chui xuống nấm
mồ. Về Vô thượng đẳng giác nghĩa là về cõi sống vĩnh
viễn ở Niết bàn, hoặc về cõi chết, tùy chúng ta chọn.
Phẩm
này muốn kiểm chứng toàn bộ Bồ tát tiến về Vô thượng
đẳng giác bằng cách nào, hay tu cách nào.
Ở
đây chỉ đề cập đến người tu có kết quả, tiêu biểu
bằng 42 Bồ tát. Tôi cũng chưa hiểu con số 42 này mang ý nghĩa
gì, nhưng có cảm nghĩ đó là 42 kiểu mẫu tu đưa hành giả
đến thế giới bất tử.
Phẩm
này mở đầu với 42 vị Bồ tát trình bày trường hợp vào
Phật đạo là vào cửa bất nhị của các Ngài. Mỗi vị vào
cửa đạo khác nhau và 42 vị phát biểu về sự tu chứng đều
bị Duy Ma xem như chưa đạt đến lý bất nhị hay quả vị
Phật.
Ðối
trước sự lầm lỗi của các Bồ tát thượng thủ này, chúng
ta tự nghĩ thân phận của mình như thế nào mà bước vào
cửa bất nhị được ?
Cảnh
giới bất nhị hay cảnh giới chân thật của Như Lai hoàn
toàn nằm ngoài ngôn ngữ phàm phu, như chúng ta sẽ thấy Ngài
Văn Thù trình bày ở phần sau. Tuy nhiên, muốn truyền thông
tư tưởng giữa con người phàm phu chúng ta với nhau, không
còn cách nào khác hơn là sử dụng ngôn từ.
Hơn
nữa, chính tôi cũng chưa đạt tới trạng thái yên lặng tịch
tĩnh có tác dụng làm mọi người giải thoát như Ngài Duy
Ma. Vì thế, tôi phải dùng ngôn ngữ và ngôn ngữ của tôi
chắc chắn tầm thường hơn sự biểu lộ của 42 Bồ tát.
Các Ngài là thượng nhân đã thể nghiệm trình độ tu
chứng ở mức độ cao, vượt ngoài sự hiểu biết hạn hẹp
của chúng ta.
Vì
vậy, phần diễn đạt vấn đề nhập cảnh giới bất nhị,
một vấn đề trọng yếu của kinh Duy Ma, chúng tôi chỉ nhằm
gợi ý để mỗi người tùy phước đức nhân duyên mà tự
thâm nhập vào cảnh giới này.
Sau
khi dẫn dắt đại chúng phương cách của Bồ tát quán chúng
sanh như thế nào và hành Phật đạo ra sao, giúp cho đại
chúng thấy được tu hành theo Phật đạo. Lúc ấy, Duy Ma hỏi
lại các Bồ tát làm sao nhập bất nhị pháp môn, nghĩa là
tu thế nào để thành Phật. Mỗi Bồ tát diễn tả cách vào
đạo, nhưng tựu trung cách tu của 42 vị Bồ tát đều tìm
bất nhị trong nhị nguyên hay tìm tuyệt đối thể trong pháp
tương đối; nghĩa là mỗi vị đều có đối tượng tu hành.
Chúng
ta thực dạ tu hành cũng phải dựng lên thế giới nhị nguyên
để tu. Pháp môn tu thật nhiều, nhưng chúng ta chỉ chọn một
pháp thích hợp và khi giải thoát đều đồng nhau.
42
Bồ tát đều tu pháp tương đối, ở trong tương đối quán
sát chuyển biến của nó, để tiến đến thế giới tuyệt
đối nhất nguyên.
Ða
số đệ tử Phật chọn cách tu này. Thật vậy, thông thường
chúng ta đến với đạo thấy hai thái cực. Một bên là thế
giới an lành của Phật và một bên là thế giới đau khổ
của chúng sanh.
Vì
chúng ta ở địa ngục, nên ước mơ về thiên đường, đang
khổ mong ước được an lành, đang ở thế giới nhiễm ô
muốn về thế giới thanh tịnh. Ðiều này tất yếu như vậy,
không có cách nào khác.
Từ
thế giới chúng sanh đau khổ nhiễm ô nhìn về Phật, thấy
thanh tịnh an vui. Chúng ta hướng tâm về đó, từng bước
quên mất khổ đau, cảm thấy an lành.
Tôi
đã chứng nghiệm pháp này sâu sắc. Có những lúc cuộc sống
quá khó khăn thiếu thốn, nhưng tâm tôi hướng một cách mãnh
liệt về thế giới Phật an lành mà quên mất thực tế bức
ngặt này. Ðó là thế giới của tâm hay thế giới tinh thần
hoàn toàn khác thế giới vật chất. Tuy vật chất thiếu thốn,
nhưng thế giới tâm phong phú. Thế giới tâm an lành nằm trong
thế giới vật chất đau khổ.
Ngược
lại, có người vật chất quá dư thừa mà vẫn thấy thiếu
thốn, vẫn bị đau khổ dằn vặt. Riêng Duy Ma có thân vật
chất già bệnh, nhưng tinh thần Ngài rất khỏe, hoàn toàn
sáng suốt.
Trên
bước đường tu, chúng ta cần lưu ý nếu chỉ lo phần vật
chất, không có phần tâm chứng, coi như công phu tu hành bỏ
đi. Ngược lại, vật chất hao hụt, thân bệnh hoạn, mà tinh
thần thanh tịnh đầy đủ, chắc chắn khi từ bỏ thân này,
ta sẽ bước về thế giới Phật.
Từ
thế giới Ta bà nhìn thấy được bằng mắt, Phật chỉ cho
chúng ta thế giới Phật A Di Ðà ở phương Tây và thế giới
Phật Vô Ðộng ở phương Ðông.
Hành
giả tu pháp môn Tịnh độ, thân ở thế giới nhiễm ô, tâm
hướng về Tịnh độ như Ngài Vĩnh Gia có dạy : “Tam giới
du hỏa trạch, bát đức bản thanh lương. Dục ly kham nhẫn
độ, thê tâm an dưỡng hương”. Thực tế chúng ta đang sống
trong thế giới Ta bà đau khổ mà kinh Pháp Hoa diễn tả thân
tâm chúng ta đang bị thiêu đốt trong nhà lửa tam giới.
Tuy
nhiên, trong thế giới đau khổ này, chúng ta còn cách tu hướng
tâm về thế giới không đau khổ, thân Ta bà, tâm Tịnh độ.
Sống trong khổ nghĩ đến vui, sống trong hẩm hiu hình dung
lầu các, là cách tu để quên khổ của thế gian.
Chúng
ta dại khờ hướng về trần gian mà cầu giải thoát, chẳng
bao giờ có. Nhưng nay đặt tâm vào thế giới an tịnh, chúng
ta liền được an tịnh.
Lúc
trẻ tôi thường hình dung cảnh giới Tây phương Cực Lạc
của Phật A Di Ðà để sống. Dù chỉ tưởng tượng cũng
cảm thấy hạnh phúc thanh thản. Ở đó có ao thất bảo, nước
bát công đức, nghe chim nói tiếng Phật, nghe gió reo pháp âm
v.v...
Tôi
hình dung mình vào sống trong nước bát công đức nhẹ như
hư không. Nằm bằng tâm nên muốn nổi thì nổi, muốn chìm
tự chìm, muốn xa tự nhảy vọt. Ðây là thế giới tâm đem
gắn vào Cực Lạc được những cảm nhận đó. Trong bể nước
bát công đức có hoa sen nổi lên, sáng như gương. Trong sen
búp có Bồ tát nhỏ, Bồ tát lớn ở trong hoa sen nở và Bồ
tát đứng trên gương sen. Toàn là bậc thượng thiện nhân
không làm mất lòng ta. Tôi cảm thấy an lành thật sự, mới
hiểu được nghĩa “Thê tâm an dưỡng hương”. Nghĩa là
sống trong cuộc đời mệt mỏi, chúng ta tìm được một phút
giây an lành ở Tây Phương Cực Lạc.
Từ
khởi đầu tu, chúng ta phân rõ thế giới nhị nguyên là hai
phần tốt và xấu, Phật và chúng sanh. Như vậy, chúng ta có
thân phàm, thân thánh, tâm phàm, tâm thánh.
Chúng
ta đứng ở thế giới này hướng về thế giới thánh thiện.
Vì thế, tuy có thân phàm, nhưng tâm chúng ta đã nằm trong
thế giới an lành của chư Phật.
Gá
tâm nơi thế giới Phật lâu ngày, hành giả trở thành dễ
thương, vì quen tiếp xúc với thượng thiện nhân nên thân
khổ mà tâm an lành. Phàm tâm đã rời bỏ phàm xác biến thành
tâm thánh, trở thành Bồ tát nhân gian hay mẫu người thân
phàm tâm thánh.
Từ
tâm thánh an lành, chúng ta bắt tâm trở vềâ thân đau khổ
này. Lúc ấy, thân đau khổ đã được tâm cải tạo một
phần. Vì vậy, chúng ta xả Thiền thì thân hiện hảo tướng,
mắt sáng hơn, mặt vui hơn. Ðó là cách tu có kết quả, thân
tâm đều thăng hoa.
Như
vậy, trải qua quá trình tu, tâm phàm đã trở thành tâm thánh.
Và tâm thánh hồi nhập lại thế giới Ta bà nằm trong thân
phàm, tạo thành thế giới phàm thánh là một, tức thế giới
bất nhị.
Trên
thực tế, chúng ta thấy rõ Ðức Phật Thích Ca có một quá
trình tu như vậy. Ngài cũng khởi đầu bằng thân người như
chúng ta, nhưng không thích những tạm bợ này. Ngài hướng
tâm tìm đạo. Trong 49 ngày tham Thiền, Ngài bắt đầu tham
quan thế giới Phật, cho xác phàm tạm nghỉ, để tâm Ngài
vân du mười phương. Ngài thấy được Cực Lạc ở phương
Tây, thế giới Tịnh Lưu Ly ở phương Ðông và tự chọn cho
Ngài một Tịnh độ.
Ðêm
mùng 7 rạng mùng 8 tháng chạp, tâm thánh hồi nhập trở lại
thân phàm. Tất cả tham lam ích kỷ xấu xa đều hiện đủ
trong tâm ông Thánh và đánh nhau một trận cuối cùng giữa
hai tâm thánh phàm, để lột bỏ hoàn toàn tâm phàm.
Chưa
đắc đạo, hành giả với ma là đồng minh. Nay từ thế giới
Phật trở lại, hành giả là Thánh, đương nhiên nó là ma,
nên trở thành thù. Nói cho dễ hiểu, khi chúng ta xấu chơi
với người xấu, cùng làm việc xấu, ta và nó là bạn. Nhưng
khi chúng ta không làm ác, không chơi chung với xấu, tất yếu
có vấn đề đặt ra gọi là ma, chắc chắn nó phải ghét
ta.
Ðức
Phật đắc đạo đầu hôm chứng được Túc Mạng Minh. Ngài
quán sát trở lại ngũ ấm thân, thấy đủ nghiệp chướng
tức thế lực vô minh giở mọi thủ đoạn. Nhưng thực sự
kẻ thù đó chính là ngũ ấm của chúng ta, không phải ai xa
lạ.
Thật
vậy, trước kia vì vô minh lầm tưởng sáu căn, sáu thức
là TA thực. Nó ở với ta lâu ngày, chiếm lĩnh toàn bộ thân
ta làm cứ địa. Chúng ta phải đấu tranh với nó, một cuộc
đấu tranh nội bộ giữa tham ái và tri thức.
Vì
thế, chứng Túc Mạng, Ngài tìm cách hóa giải thân ngũ ấm,
bắt đầu thu phục ngũ ấm của chính mình, không làm việc
gì khác. Từ thế giới Thiền định, bằng Phật huệ, Ngài
chiếm lại sáu cửa thành quan trọng của ngũ uẩn là sáu
giác quan hay sáu căn. Và Ngài bắt đầu sử dụng sáu căn
này quan sát trở lại, thấy được túc mạng là nghiệp theo
chúng ta nhiều đời. Nó mang đủ các loại hình, đủ loại
tánh, từ thân người, thân trời đến súc sanh, ngạ quỷ.
Sau
khi đã hoàn toàn làm chủ sáu căn, đến nửa đêm, Ngài chứng
Thiên Nhãn Minh thấy hoàn toàn khác. Ðó là cách quán sát theo
Phật, không phải theo chúng sanh. Kinh Pháp Hoa diễn tả là
“Bất như tam giới kiến ư tam giới”.
Thiên
Nhãn Minh hay cái thấy của người giác ngộ, sự vật thế
nào thấy đúng như vậy, thấy rõ không sai lầm quá trình
của nó từ khởi thủy đến hiện tại cho đến muôn kiếp
về sau.
Bấy
giờ Ðức Phật vẽ ra lộ trình truyền bá giáo pháp của
Ngài và chương trình tu học cho mọi người. Ðó là giai đoạn
ba từ nửa đêm đến sao mai mọc, Ngài chứng Lậu Tận Minh.
Sáng
mùng 8, Ðức Phật hoàn toàn làm chủ bản thân, làm chủ xã
hội và thiên nhiên. Không làm chủ một ngày một kiếp, nhưng
làm chủ muôn đời. Còn chúng ta nay làm chủ, mai bị truất
quyền.
Ðạo
Phật tồn tại hàng bao thế kỷ, nghĩa là Ðức Phật làm
chủ cả mấy ngàn năm, một thọ mạng dài nhất trong các
vị Thánh.
Chỉ
trong vòng 49 ngày ngắn ngủi tư duy dưới cội Bồ đề, Ðức
Phật thấy rõ quá trình diễn tiến từng người, từng sự
kiện, từng chặng đường Bồ tát phải làm gì, ở đâu.
Vì vậy, người nào bước đúng lộ trình do Ngài vạch ra,
đều tiến đến Vô thượng đẳng giác.
42
Bồ tát diễn tả nhiều cách khác nhau, nhưng chung quy từ nhị
nguyên phát triển khả năng, thăng hoa để nhập bất nhị
pháp môn hay nhất nguyên.
42
Bồ tát trình bày đều đúng, vì các Ngài đã đắc đạo.
Tuy nhiên, Văn Thù sợ chúng ta chấp pháp, không được giải
thoát. Ngài nhắc nhở chúng ta đừng chấp giữ cái đúng của
mình và đem dạy mọi người để họ thấy pháp của người
khác sai.
Tất
cả những gì Phật dạy là phương tiện. Tuệ giác của Phật
Thích Ca và của các nhà truyền giáo đều đúng, nhưng sinh
hoạt tất yếu phải khác.
Hành
giả theo giáo nghĩa Ðại thừa là theo Văn Thù hay theo cách
sống của Phật, không lập y lời Phật.
Dưới
kiến giải của Duy Ma, sống theo Phật nghĩa là người đời
sống thế nào, hành giả sống y hệt họ; nếu khác trở thành
đối lập. Ðiều này gợi cho chúng ta ý thức đừng tạo
mẫu hình cố định ràng buộc làm chúng ta khổ.
Triển
khai tư tưởng này, Phật giáo Ðại thừa không theo hình thức,
nhưng chủ yếu phát huy đạo đức và trí tuệ để thuyết
phục người. Ðức Phật cũng e ngại chúng ta mắc bệnh chấp
pháp, trở thành sai lầm. Thể hiện ý này, kinh Văn Thù
xác định 49 năm Phật chưa nói lời nào.
Về
vấn đề này, tôi nhận thấy một số chùa không cho Tăng
trẻ đi học, sợ học giỏi không tu nữa. Ðây là quan niệm
nguy hiểm. Như vậy hóa ra đạo Phật làm cho người thành
ngu dốt hay sao.
Theo
tôi, phải khuyến khích người phát triển, dùng trí khôn xử
trí theo Phật. Trí khôn là tùy cơ ứng biến. Kinh Pháp Hoa
diễn tả rằng Phật dùng vô số phương tiện thuyết pháp
lợi ích chúng sanh, không nên ở trong khuôn cứng nhắc thủ
tiêu trí khôn.
Ðức
Phật chứng Lậu Tận Minh phác họa con đường sáng cho chúng
ta phát triển. Theo tinh thần này, giáo nghĩa Ðại thừa vô
cùng tận, trí Bát Nhã được diễn dịch qua biết bao nhiêu
sách vở.
Trở
lại vấn đề Văn Thù luận bàn về pháp tu của 42 Bồ tát.
Theo Ngài, sự tu chứng của 42 Bồ tát còn thuộc pháp tương
đối, nằm trong vòng đối đãi thiện ác, phải trái, nhơ
sạch, động tịnh, tội phước, hữu lậu vô lậu, hữu vi
vô vi, sắc không, minh vô minh, ngã vô ngã, sanh tử Niết bàn
v.v...
Và
hai cái đối sau cùng là thế gian và xuất thế gian. Trong xuất
thế gian cũng có tam thừa và Phật thừa đối nhau.
Giai
đoạn đầu, thực hành pháp tương đối, ta phân ra hai phần
rõ rệt : ta làm lành người làm ác, ta là Thánh người là
phàm, ta giỏi người dở.
Khi
có quan niệm ta tốt người xấu, ta sẽ sanh ý niệm ghét người
và khinh người. Nghĩa là từ đây đã sanh ra trong ta hai tâm
xấu : ghét người và khinh người. Dù người có xấu, có
dở thật chăng nữa, họ vẫn trở thành đối tượng thù
nghịch của ta.
Khi
dở và xấu của người phát huy trong tâm ta càng cao, thì mặt
đối tượng thù nghịch càng tăng trưởng. Như vậy tốt của
ta là tốt tương đối, được Văn Thù ví như hoa sen mọc
trong bùn, vì có người xấu ta mới ngát hương.
Trên
bước đường tu phàm thánh phân minh hay thế giới nhị nguyên
tồn tại, đối với chúng ta là điều tất yếu. Thật vậy,
trước mắt người trí luôn luôn hiện hữu phải trái tốt
xấu. Và chắc chắn ta sẽ chọn điều tốt, điều phải.
Từ đó cứ tiến dần đến một lúc chúng ta bị lệch đường.
Làm thiện càng nhiều, ta thấy cuộc đời càng ác gấp bội.
Ðứng bên này cái tốt nhìn qua thái cực xấu kia, ta bực
không nhịn được. Hoặc ta thẳng tay với người ác hoặc
ta khiếp sợ nó, sanh tâm chán nản đến độ buông xuôi, để
nó hại ta.
Vì
vậy, mặt đối nghịch càng lớn khi ta càng đi xa trên đường
giải thoát theo mô hình phân biệt phải trái này.
Ðức
Phật thuyết kinh Duy Ma để phá vỡ kiến chấp thiện ấy
và nhắc nhở chúng ta đừng cho lòng ác tăng trưởng
theo việc làm thiện.
Trong
thế giới tâm thức ta thấy rõ điều này. Khi chưa tu, thiên
hạ giết người, ta cũng giết người. Thiên hạ giả dối,
ta cũng giả dối. Nhưng ta điều chỉnh mình trở thành tốt.
Lúc ấy, cái xấu của người sẽ trở thành đối nghịch
với ta. Ta thánh thiện để tạo thành tương phản ác lớn
hơn, là tu sai pháp.
Từ
đó, Ðức Phật mới đặt vấn đề hành phi đạo tức thông
đạt Phật đạo, để chúng ta hóa giải thánh thiện của
chúng ta. Nghĩa là cởi bỏ phần thánh thiện trong tâm, tạo
thế giữa ta và ác không căng thẳng, không đập mạnh vào
tâm ta nữa. Không vì thánh thiện của ta mà thấy người ác.
Không thấy họ ác, thì thiện của ta mới thành thiện độc
nhất hay độc thiện.
Khởi
đầu tu có thiện ác đối nhau và tiến đến phá bỏ cái
ác đối lập với thiện. Làm cho thiện không có đối nghịch
ác, mới thông đạt Phật đạo. Từ đó, đi suốt cuộc đời
với cái nhìn sáng suốt và giải quyết việc không theo quyết
định cái thiện chủ quan của mình.
Từ
góc độ nhìn của Bồ tát thông đạt Phật đạo thấy khác,
không thông đạt làm việc trong thế đối lập. Ngược lại,
thông đạt làm việc trong thế hòa giải, càng làm việc thiện
càng dìu dắt theo nhiều người cùng làm thiện với mình.
Không phải càng làm thiện càng tạo thế đối lập, chống
đối.
Ðiển
hình như tiền thân Phật hành Bồ tát đạo, Ngài giết tên
cướp để cứu 500 lái buôn. Ngài đã hóa độ được 500
người này và cả tên cướp trở thành Bồ tát bất thoái
chuyển. Ðây là mẫu tiêu biểu cao nhất mà Ðức Phật đã
thể hiện tinh thần hành phi đạo tức thông đạt Phật đạo.
Không
đạt đến chứng ngộ này, chúng ta vẫn là chúng sanh đứng
ở lập trường sanh tử giáo hóa chúng sanh sanh tử, chỉ là
việc vô ích.
Bồ
tát quán sát chúng sanh dưới dạng thể tánh đồng với Phật
mà kinh Hoa Nghiêm đưa đến kiến giải cao nhất, theo đó không
có gì không phải là Phật mới thật là Phật. Vì nếu không
có chúng sanh, Phật cũng không tồn tại, chúng sanh bị triệt
tiêu thì Phật cũng mất.
Dưới
góc độ này, Duy Ma xác định việc làm phi đạo của Bồ
tát mới thông đạt Phật đạo nhằm mục đích phá bỏ hạn
hẹp cục bộ của những người chấp pháp. Hành phi đạo
nghĩa là không theo mẫu cố định có sẵn. Thí dụ như chư
Tăng ở thành Tỳ Da Ly cất chùa, giữ tiền bị Da Xá cho là
phi đạo. Nhưng phi đạo này, dưới mắt Phật giáo Ðại Thừa,
là Phật đạo; vì nó đóng góp cho nhân sinh lợi lạc, giúp
cho đạo Phật tồn tại, phát triển.
Phi
đạo được Bồ tát đem ứng dụng tùy chỗ, tùy thời, có
lợi ích khác nhau, không phải theo một khuôn mẫu cố định,
mà có nhiều mô hình khác nhau. Nghĩa là trở lại thuyết tương
đối : cái này có cái kia có, cái này sanh cái kia sanh. Bồ
tát kết hợp hai phần thuận nghịch đối nhau để hành đạo.
Bồ
tát hành đạo trên lập trường bất nhị pháp môn, tùy theo
yêu cầu mà giải quyết. Gặp hoàn cảnh thuận tốt, Ngài
vận dụng pháp thuận để làm. Gặp nghịch cảnh, Ngài nương
theo pháp đối nghịch tu tập giáo hóa. Bồ tát sống trên
cuộc đời không bị đời làm ô nhiễm. Ngài cỡi thuyền
Bát Nhã, lướt trên sóng phiền não, dùng trí tuệ soi rọi
vào đời mà lướt đi nhẹ nhàng, ngược xuôi trên dòng thuận
nghịch của sanh tử.
42
Bồ tát tiêu biểu đều khởi tu từ pháp tương đối, làm
thiện tránh ác. Nhưng sang giai đoạn hai, không tránh ác, mà
hóa giải được ác, nên có thêm một Bồ tát đồng hành
làm pháp lữ.
Cũng
vậy, trên bước đường tu, chúng ta bắt đầu thực hiện
từng pháp tương đối, dẫn đến thể hiện thập thiện đạo,
37 phẩm trợ đạo, sáu pháp ba la mật. Tuy làm những việc
thuần thiện, nhưng hoàn toàn xả bỏ tâm chấp thiện chấp
ác. Không có gì tồn tại trong lòng để tâm hồn hoàn toàn
giải thoát, bước vào cảnh giới bất nhị, mới thực sự
tác động cho người thánh thiện.
Tóm
lại, trên dòng sanh diệt của cuộc đời, luôn luôn có hai
pháp đối nghịch. Bồ tát thông đạt Phật đạo rồi, nhập
bất nhị pháp môn, không còn vướng mắc trong thiện ác. Bồ
tát đã thoát vòng tương đối để đi vào tuyệt đối, trở
về bản thể sự vật mà Bát Nhã gọi là “BÁT BẤT” thuộc
chặng đường sau cùng của lộ trình Bồ tát. Ðó cũng là
ý chính của phẩm này.
Văn
Thù kết thúc 42 ý kiến của các Bồ tát rằng bất nhị pháp
môn là pháp tuyệt đối của Bồ tát. Không thể lý luận,
không tranh cãi được và cũng không chỉ dạy được pháp
này. Người nào tự chứng nghiệm sẽ biết hương vị giải
thoát như các Bồ tát trình bày.
Văn
Thù không phủ nhận thuyết của 42 Bồ tát là sai. Ngài khuyên
chúng ta làm tất cả việc như 42 Bồ tát đã làm, nhưng không
được để vướng mắc trong trường hợp nào. Vì đạo Bồ
tát chẳng những xa rời ngôn ngữ, mà còn không có phạm trù.
42
sở đắc của Bồ tát trình bày là 42 dị kiến. Mỗi vị
chỉ hiểu một khía cạnh riêng; trong khi chân lý tròn đầy
tự sáng, khỏi cần nhờ ai bênh vực, bào chữa. Vì vậy,
Duy Ma lặng thinh không nói, mà Duy Ma vẫn tiêu biểu cho sự
sống trên nhân gian, làm được tất cả và được mọi người
kính trọng.
42
kiến giải của Bồ tát là 42 phương cách, 42 con đường dẫn
đến thế giới bất nhị lặng thinh. Nếu bỏ 42 cách này,
hành giả cũng không thể bước vào thế giới bất nhị.
Cánh
cửa bất nhị mở ra cho hành giả thấy rõ ÐẠO không phải
là Chân đế của hàng Thanh văn, cũng không phải là Tục đế
của hàng phàm phu thế tục.
Những
bộ kinh trước kinh Duy Ma ca ngợi đạo xuất thế của Thanh
văn tu không dính líu cuộc đời mới thực sự là chân đạo.
Nhưng kinh Duy Ma phủ nhận chân đạo của Thanh văn và lập
luận đảo ngược lại, lấy pháp tu xả thân vào đời làm
lợi ích chúng sanh.
Tuy
nhiên đến phẩm này, Duy Ma đưa ra pháp bất nhị để giải
thích con đường Trung đạo nhằm giúp cho hành giả khỏi hiểu
lầm pháp tu của Thanh văn. Ðừng nghĩ rằng pháp Thanh văn
không ích lợi cho đời, để rồi chúng ta chống lại Thánh
đạo và thế tục hóa đạo Phật.
Bất
nhị pháp môn của Duy Ma đưa ra là mô hình Phật đạo để
phá bỏ thế giới nhị nguyên đối đãi và đưa đến con
đường nhị đế dung thông. Thật vậy, hành giả làm đạo
trên thế gian lợi lạc chúng sanh, vẫn không rời bản vị
giải thoát của mình. Bấy giờ, Thánh phàm, hữu tình vô tình,
hữu vi vô vi,... tất cả sự vật trên cuộc đời, không có
gì mà Bồ tát không thông đạt, không tác dụng lợi ích.
Bồ
tát ảnh hưởng tất cả loài chúng sanh, chứng tỏ Bồ tát
có làm, nhưng không tồn tại việc làm trong tâm Bồ tát và
việc làm này cũng không thể giải thích cho người biết.
Tác dụng của Bồ tát vào sáu đường chúng sanh làm cho họ
giải thoát. Tuy nhiên, những chúng sanh này cũng không kẹt
trong tâm Bồ tát, nên gọi là rời hý luận. Hý luận để
hiểu còn nằm trong tương đối pháp, không phải là Bồ tát
độc thiện.
Bồ
tát làm được tất cả, nhưng không ai có thể hiểu được
sự thể nhập cửa bất nhị của Bồ tát. Cảnh giới bất
nhị thuộc tuyệt đối thể, Thiền gọi là ly văn tự, ly
ngôn thuyết, ly tâm duyên. Kinh Pháp Hoa cũng thể hiện ý này
rằng “Các pháp tướng thường tự vắng lặng, Bồ tát hành
đạo sẽ thành Phật”.
Văn
Thù hỏi tiếp Duy Ma vào bất nhị bằng cách nào? Duy
Ma hoàn toàn yên lặng, từ thái độ cho đến trạng thái nội
tâm và được Văn Thù tán thán tuyệt diệu. Các Bồ tát giải
thích đủ cách, không được Văn Thù chấp nhận.
Tuy
Duy Ma lặng thinh, nhưng tác động vào tâm thánh chúng không
ít, họ hiểu được việc làm của Duy Ma tại thành Tỳ Da
Ly.
Chúng
ta lặng thinh, thân không động mà dòng tư duy vẫn diễn biến
không ngừng. Ðiển hình như trường hợp Phật Ấn chỉnh
Tô Ðông Pha về cái gọi là không động tâm của ông.
Tô
Ðông Pha tự cho rằng ông không động tâm trước tám việc
của thế gian như yêu thương, ghét bỏ, buồn vui, mừng giận,
khen chê v.v... nên thốt lên câu đầy tự hào :
Bát phong xuy bất động
Tuy
nhiên, Ngài Phật Ấn thấy được động loạn biến chuyển
tận trong tâm của Tô Ðông Pha nên cảnh giác ông bằng hai
câu :
Hữu phong bất động, vô phong động
Bất động vô phong, động hữu phong
Khi
có phong trần bên ngoài tác động mà ta nói rằng ta không
động, ta biết ta không động là đã động rồi. Và tệ hơn
nữa, không có gió bên ngoài tác động, không có người nói,
mà tâm ta vẫn động. Sự khởi niệm động tâm này tràn ngập
trong lòng, vì ý thức có trước, cảnh vật mới tùy đó sanh.
Ðộng từ gốc, từ trong tâm, nên cảnh mới hiện. Sự việc
đến với ta là tự biết gió nghiệp ta có. Nghiệp bên trong
thôi thúc làm cho cảnh hiện lên.
Sự
lặng thinh của Duy Ma tiêu biểu cho yên lặng như chánh pháp.
Ngài hoàn toàn yên lặng, không có khởi niệm mà mọi vật
đều chịu sự tác động của Ngài.
Bồ
tát đến dự hội thâm nhập vào sự lặng thinh tịch tĩnh
của Duy Ma, cũng đạt được vô sanh pháp nhẫn.
Bồ
tát an trụ trong tuyệt đối thể, vẫn thể hiện đầy đủ
lợi ích trên sanh diệt môn, nhưng không bị vướng mắc điều
gì trong tâm. Các Ngài tự tại ra vào cảnh giới bất nhị
tùy theo bản nguyện và yêu cầu của chúng sanh.