MỤC LỤC
Lời
giới thiệu
Lời
nói đầu
01
Nguồn gốc Tịnh độ
02
Sự biến đổi tư tưởng Tịnh độ
03
Lược sử Tịnh độ giáo Trung Quốc
04
Sơ lược lịch sử Tịnh độ tông Trung Quốc
05
Lịch sử Tịnh độ tông Trung Quốc
06
Diễn biến Tịnh độ tông Trung Quốc
07
Sự phát triển Tịnh độ tông của Phật giáo Trung Quốc
08
Cuộc đời và tư tưởng niệm Phật của đại sư Huệ Viễn
09
Phụ lục niên phổ đại sư Huệ Viễn
10
Đàm Loan và Đạo Xước
11
Sự tích và học thuyết của đại sư Thiện Đạo
12
Phụ lục về đại sư Thiện Đạo và nghệ thuật Tịnh độ
13
Luận Thiền, Tịnh song tu của ngài Vĩnh Minh Diên Thọ
14
Tư tưởng Tịnh độ của đại sư Liên Trì
15
Tư tưởng Tịnh độ của đại sư Ngẫu Ích
16
Tư tưởng Tịnh độ của cư sĩ Dương Nhân Sơn
17
Những vị Tổ Tịnh độ tôi tôn kính
18
Ngôn hạnh cao đẹp của mười ba vị Tổ Liên tông
LỜI GIỚI
THIỆU
Bất
luận kẻ Tăng người tục nào, sau khi đến với Phật giáo,
thời gian đầu hầu hết đều thuộc câu: “Nhất cú Di-đà
vô biệt niệm, bất lao đàn chỉ đáo Tây phương”, nghĩa
là Di-đà sáu chữ niệm luôn, Tây phương thẳng đến nhọc
nhằn chi đâu.
Tổ
tổ tương truyền: Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn đối với
đời mạt pháp, chỉ có pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh
độ là dễ tu nhất, căn cơ nào tu cũng được. Cho nên pháp
môn niệm Phật được mệnh danh “Thần dược”. Vì “Thuốc
không ở chỗ quý hay tiện, trị bệnh bớt là tốt. Pháp không
có cao có thấp, khế hợp căn cơ gọi là diệu”. Như trăm
sông đều chảy về biển cả. Biển đây là biển giải thoát.
Tám vạn bốn ngàn pháp môn chung qui cũng là “Chỉ tâm nhất
xứ” (chấm dứt vọng niệm).
Dịch
phẩm “Luận sử tông Tịnh độ” này, là chuyên đề luận
về sự diễn tiến lịch sử pháp môn niệm Phật của các
vị Thiền sư, Tông sư Trung Quốc; tương đối bàn về pháp
môn Tịnh độ một cách cụ thể, dễ lãnh hội.
Trong
khi chuẩn bị ấn hành tập Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam
số 85 (Luận sử tông Tịnh độ) thì cư sĩ Võ Như Bửu, trưởng
Ban bảo trợ của Ban phiên dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt
Nam tại Hoa Kỳ tạ thế. Chúng tôi xin trân trọng hồi hướng
phước báo dịch phẩm “Luận sử tông Tịnh độ” đến
hương linh cư sĩ Võ Như Bửu được vãng sanh Tịnh độ, để
rồi vị “cư sĩ thăng hoa” này tiếp tục phò hộ chúng
tôi hoàn thành Phật sự phiên dịch Pháp Tạng.
Chúng
tôi nhất tâm giới thiệu tập Pháp Tạng “Luận sử tông
Tịnh độ” với lời đề nghị: Chúng ta tập thế nào cứ
mỗi hơi thở vô đều thầm niệm hai chữ “Nam Mô” và mỗi
hơi thở ra với bốn chữ “A-di-đà Phật”. Vậy ngày nào
chúng ta còn có hít vô thở ra là ngày ấy tâm niệm gắn liền
Hồng danh Phật, và đời sống của chúng ta luôn thấy đức
Phật A-di-đà hiện hữu. Như thế nghĩa là “Di-đà sáu chữ
niệm luôn, Tây phương thẳng đến nhọc nhằn chi đâu”.
Tỳ-kheo
Thích Đỗng Minh
kính
bạch
LỜI NÓI
ĐẦU
Sự
manh nha tư tưởng Tịnh độ phát nguyên từ tinh thần căn
bản Phật giáo Ấn Độ; tư tưởng ấy không những siêu thoát
ra ngoài cõi đời ngũ trược ô nhiễm mà còn bỏ lại sau
lưng thế giới đang cháy rực bởi ngọn lửa phiền não thiêu
đốt. Và đặc biệt tư tưởng Tịnh độ cũng thẩm thấu
được toàn thể “Bản nguyện” mà đức Thích Ca Mâu Ni
đã hoài bão. Nhưng theo những học giả cận đại khảo chứng
về lịch sử bối cảnh xã hội, họ nhận thức rằng giáo
thuyết này không phải bắt nguồn từ Ấn Độ mà có thể
truyền nhập từ Ba Tư, vì tính cách quan niệm của họ liên
tưởng giáo phái tôn thờ sùng bái lửa “Zoroastrianism”,
hợp với nghĩa “Vô lượng quang” của đức Phật A-di-đà
(Đức Phật có ánh sáng vô tận). Nhưng quan niệm ánh quang
minh của giáo phái thờ lửa không nhất thiết liên hệ với
nghĩa “Vô lượng quang”, theo truyền thống Bà-la-môn giáo
đa phần cũng có quan niệm này.
Cuộc
sống nhân loại từng trải qua thời kỳ bóng đêm ngự trị
thì ai mà không mong cầu, khát ngưỡng đến “ánh sáng”,
cho nên ánh sáng ấy là biểu tượng truy cầu của nhân loại.
Hàm nghĩa A-di-đà Phật cũng chỉ là như vậy, nhưng trên tinh
thần cụ thể lại là hiện thân của đức Thích Ca Mâu Ni.
Tinh thần ấy do Phật giáo Đại thừa phát triển theo mỗi
lời thệ nguyện của Phật A-di-đà – mười phương chư Phật
đều có thể thành tựu. Hiện nay, tất cả chúng ta đều
nguyện cầu sanh về thế giới của Đại nguyện chủ A-di-đà
cách mười vạn ức cõi Phật. Ý nghĩa tín ngưỡng này rất
thâm thúy, nó ảnh hưởng thiết thực đến đời sống thường
nhật và đến thực thể sinh mạng của mỗi con người. Do
Ấn Độ truyền giáo thuyết này vào Trung Quốc đầu tiên
nên nó trở thành sự thực, trở thành chơn chánh. Tịnh độ
tông bắt đầu xuất hiện từ thời Đông Tấn; đó cũng là
điểm mốc thời gian lịch sử Tịnh độ tông khởi nguyên.
Sự hoằng dương kinh qua hơn một ngàn năm trăm năm, đã trở
thành tông phái Phật giáo quan trọng nhất tại Trung Quốc,
đồng thời cũng làm nền tảng tinh thần cho người Trung Quốc,
“người người kính Quan Âm, nhà nhà thờ Di-đà”. Chúng
tôi gọi là sử Tịnh độ tông, vì từ khi Tịnh độ tông
phát nguyên cho đến Tịnh độ tông phát triển trên hai ngàn
năm đều có một dàn ý (tiểu sử) rõ ràng trong mỗi bài,
hiển hiện trước mắt độc giả.
Tập
sách này gồm 19 bài, chín bài đầu mang tính chất thông sử
luận về Tịnh độ, mười bài sau chủ yếu nêu lên những
nhân vật tông Tịnh độ và mỗi nhân vật đại biểu như
bậc “Long tượng” cho Tông môn trong một thời đại. “Ngọn
đuốc” tinh thần Tịnh độ tông được thắp sáng miên viễn
là nhờ các ngài đã một đời tận tụy tuyên dương và khai
triển.
Trong
bổn Tịnh độ này bao quát cả quan niệm về Tịnh độ Đâu-suất,
Tịnh độ Lưu Ly v.v… nhưng tại Trung Quốc trên danh nghĩa
lập tông Tịnh độ chỉ thuần tuý tôn kính Di-đà làm đối
tượng tín ngưỡng. Trong bộ “Phật giáo học thuật tùng
san”1 có những tập “Tịnh độ luận”, hoặc “Tịnh độ
tư tưởng luận” cũng hoàn toàn hướng đến tín ngưỡng
Di-đà làm chuẩn mực cho Tịnh độ tông. Phần tín ngưỡng
Tịnh độ Đâu-suất Di-lặc chỉ dành riêng trong quyển 692,
tựa “Nghiên cứu Bồ-tát hạnh và Tịnh độ Di-lặc”.
Chúng
tôi hy vọng các Thức giả, Thiện hữu sùng kính, qui ngưỡng
Tịnh độ tông có thể xem trọn tập và tuỳ duyên tu học
hành trì.
Ban
biên tập
“Phật
giáo học thuật tùng san”
Tâm
Nhãn dịch
THƯ
MỤC THAM KHẢO PHỤ CHÚ
1.
Đại Chánh tân tu đại tạng kinh
2.
Phật quang đại từ điển - Phật quang xuất bản xã ấn hành
3.
Trung Quốc Phật giáo nhân danh đại từ điển - Thượng Hải
từ thư xuất bản xã ấn hành
4.
Phật giáo tiểu từ điển - Thượng Hải từ thư xuất bản
xã ấn hành
5.
Thực dụng Phật học từ điển - Phật đà giáo dục cơ kim
hội
6.
Từ điển Thiền học Hán Việt - Nhà xuất Tp. HCM
7.
Từ điển Phật học Hán Việt - Nhà xuất bản Khoa học xã
hội
8.
Trung văn đại từ điển - Trung Quốc văn hoá nghiên cứu sở
ấn hành
9.
Đại từ điển - Tam dân thư cục ấn hành
10.
Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc - Nguyễn Tôn Nhan
biên dịch
11.
Liên tông thập tam tổ - Hòa thượng Thích Thiền Tâm soạn
dịch
12.
Các tông phái của Phật giáo - Tuệ sỹ dịch
13.
Đại cương văn học sử Trung Quốc - Nguyễn Hiến Lê soạn
dịch
BAN
ÐIỀU HÀNH PHIÊN DỊCH
PHÁP
TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
-Trưởng
ban điều hành: Thích Ðỗng Minh
-
Phó ban kiêm hiệu đính: Thích Ðỗng Tuyên
-
Phó ban kiêm tài chính: Thích Minh Thông
-
Phó ban kiêm điều hành, chứng nghĩa: Thích Tâm Hạnh
-
Phụ tá Trưởng ban:
Thích Huệ Ðắc
Thích Nguyên Xuân
Thích Nguyên An
Thích Tâm Pháp
Thích Tâm Nhãn
-
Thư ký: Cư sĩ Giác Tuệ
Thành
Viên Ban Phiên dịch:
1.Thích
Đỗng Minh
2.Thích
Tịnh Diệu
3.Thích
Đỗng Tuyên
4.Thích
Minh Thông
5.Thích
Tâm Hạnh
6.Thích
Minh Thành
7.Thích
Nhật Từ
8.Huệ
Đắc
9.Quảng
Hạnh
10.
Nhật Hiếu
11.
Nguyên Xuân
12.
Tâm Pháp
13.
Tâm Nhãn
14.
Nguyên Đăng
15.
Nguyên An
16.
Quảng Niệm
17.
Vạn Hành
18.
Nguyên Thành
19.
Nguyên Chơn
20.
Đạo Luận
21.
Nguyên Tâm
22.
Huệ Hải
23.
Đạo Tri |
24.
Quảng Mẫn
25.
Tâm Đại
26.
Đạo Biện
27.
Hạnh Minh
28.
Đạo Trí
29.
Quảng Thông
30.
Minh Chánh
31.
Hoằng Trí
32.
Tâm Tôn
33.
Quảng Sanh
34.
Tịnh Nhơn
35.
Đạo Không
36.
Diệu Nghiêm
37.
Hành Giải
38.
Hạnh Thiện
39.
Tịnh Nguyên
40.
Nguyên Nhuận
41.
Cư sĩ Thiện Đức
42.
Cư sĩ Tuệ Khai
43.
Cư sĩ Giác Tuệ
44.
Cư sĩ Hạnh Cơ
45.
Cư sĩ Phước Thắng
46.
Cư sĩ Pháp Hiền
47.
Cư sĩ Tịnh Minh |
Phương
danh Ban bảo trợ tại Hoa Kỳ
về
Phật sự phiên dịch “Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam”
Trưởng
ban: Cư sĩ Như Bửu
Thư
ký: Cư sĩ Quảng Thành
Phó
thư ký: Cư sĩ Ðức Hạnh
Thủ
quỹ: Cư sĩ Nguyên Phương
Thành
viên Ban bảo trợ:
Cư sĩ
Thiện Thông
Cư
sĩ Nguyên Lượng
Cư
sĩ Từ Mẫn
Cư
sĩ Chơn Quang
Và
cựu Học Tăng Phật Viện Việt Nam cùng chí hướng, hiện
cư trú tại Hải ngoại.
(Tu
Viện Quảng đức)
01-01-2005
04:34:46