THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam Tập 85
LUẬN SỬ TÔNG TỊNH ĐỘ
Việt dịch: Quảng Tấn - Quảng Ân - Quảng Bình - Quảng Hiếu - Huệ Hải - Quảng Xả - Quảng Mẫn - Tâm Đức - 
Huệ Chí - Tâm Đại - Hạnh Minh - Nhuận Độ - Nguyên Thành - Tâm Hiếu - Như Giáo - Nguyên An
Chứng Nghĩa: Thích Đổng Minh - Phụ chú:Thích Tâm Nhãn
 Chùa Long Sơn, Nha Trang - Phật Lịch:  2548 - 2004
MỤC LỤC 

Lời giới thiệu
Lời nói đầu
01 Nguồn gốc Tịnh độ
02 Sự biến đổi tư tưởng Tịnh độ
03 Lược sử Tịnh độ giáo Trung Quốc
04 Sơ lược lịch sử Tịnh độ tông Trung Quốc
05 Lịch sử Tịnh độ tông Trung Quốc
06 Diễn biến Tịnh độ tông Trung Quốc
07 Sự phát triển Tịnh độ tông của Phật giáo Trung Quốc
08 Cuộc đời và tư tưởng niệm Phật của đại sư Huệ Viễn
09 Phụ lục niên phổ đại sư Huệ Viễn
10 Đàm Loan và Đạo Xước
11 Sự tích và học thuyết của đại sư Thiện Đạo
12 Phụ lục về đại sư Thiện Đạo và nghệ thuật Tịnh độ
13 Luận Thiền, Tịnh song tu của ngài Vĩnh Minh Diên Thọ
14 Tư tưởng Tịnh độ của đại sư Liên Trì
15 Tư tưởng Tịnh độ của đại sư Ngẫu Ích
16 Tư tưởng Tịnh độ của cư sĩ Dương Nhân Sơn
17 Những vị Tổ Tịnh độ tôi tôn kính
18 Ngôn hạnh cao đẹp của mười ba vị Tổ Liên tông
 
 


LỜI GIỚI THIỆU

Bất luận kẻ Tăng người tục nào, sau khi đến với Phật giáo, thời gian đầu hầu hết đều thuộc câu: “Nhất cú Di-đà vô biệt niệm, bất lao đàn chỉ đáo Tây phương”, nghĩa là Di-đà sáu chữ niệm luôn, Tây phương thẳng đến nhọc nhằn chi đâu.

Tổ tổ tương truyền: Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn đối với đời mạt pháp, chỉ có pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh độ là dễ tu nhất, căn cơ nào tu cũng được. Cho nên pháp môn niệm Phật được mệnh danh “Thần dược”. Vì “Thuốc không ở chỗ quý hay tiện, trị bệnh bớt là tốt. Pháp không có cao có thấp, khế hợp căn cơ gọi là diệu”. Như trăm sông đều chảy về biển cả. Biển đây là biển giải thoát. Tám vạn bốn ngàn pháp môn chung qui cũng là “Chỉ tâm nhất xứ” (chấm dứt vọng niệm).

Dịch phẩm “Luận sử tông Tịnh độ” này, là chuyên đề luận về sự diễn tiến lịch sử pháp môn niệm Phật của các vị Thiền sư, Tông sư Trung Quốc; tương đối bàn về pháp môn Tịnh độ một cách cụ thể, dễ lãnh hội.

Trong khi chuẩn bị ấn hành tập Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam số 85 (Luận sử tông Tịnh độ) thì cư sĩ Võ Như Bửu, trưởng Ban bảo trợ của Ban phiên dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ tạ thế. Chúng tôi xin trân trọng hồi hướng phước báo dịch phẩm “Luận sử tông Tịnh độ” đến hương linh cư sĩ Võ Như Bửu được vãng sanh Tịnh độ, để rồi vị “cư sĩ thăng hoa” này tiếp tục phò hộ chúng tôi hoàn thành Phật sự phiên dịch Pháp Tạng.

Chúng tôi nhất tâm giới thiệu tập Pháp Tạng “Luận sử tông Tịnh độ” với lời đề nghị: Chúng ta tập thế nào cứ mỗi hơi thở vô đều thầm niệm hai chữ “Nam Mô” và mỗi hơi thở ra với bốn chữ “A-di-đà Phật”. Vậy ngày nào chúng ta còn có hít vô thở ra là ngày ấy tâm niệm gắn liền Hồng danh Phật, và đời sống của chúng ta luôn thấy đức Phật A-di-đà hiện hữu. Như thế nghĩa là “Di-đà sáu chữ niệm luôn, Tây phương thẳng đến nhọc nhằn chi đâu”.

Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
kính bạch
 



LỜI NÓI ĐẦU

Sự manh nha tư tưởng Tịnh độ phát nguyên từ tinh thần căn bản Phật giáo Ấn Độ; tư tưởng ấy không những siêu thoát ra ngoài cõi đời ngũ trược ô nhiễm mà còn bỏ lại sau lưng thế giới đang cháy rực bởi ngọn lửa phiền não thiêu đốt. Và đặc biệt tư tưởng Tịnh độ cũng thẩm thấu được toàn thể “Bản nguyện” mà đức Thích Ca Mâu Ni đã hoài bão. Nhưng theo những học giả cận đại khảo chứng về lịch sử bối cảnh xã hội, họ nhận thức rằng giáo thuyết này không phải bắt nguồn từ Ấn Độ mà có thể truyền nhập từ Ba Tư, vì tính cách quan niệm của họ liên tưởng giáo phái tôn thờ sùng bái lửa “Zoroastrianism”, hợp với nghĩa “Vô lượng quang” của đức Phật A-di-đà (Đức Phật có ánh sáng vô tận). Nhưng quan niệm ánh quang minh của giáo phái thờ lửa không nhất thiết liên hệ với nghĩa “Vô lượng quang”, theo truyền thống Bà-la-môn giáo đa phần cũng có quan niệm này. 

Cuộc sống nhân loại từng trải qua thời kỳ bóng đêm ngự trị thì ai mà không mong cầu, khát ngưỡng đến “ánh sáng”, cho nên ánh sáng ấy là biểu tượng truy cầu của nhân loại. Hàm nghĩa A-di-đà Phật cũng chỉ là như vậy, nhưng trên tinh thần cụ thể lại là hiện thân của đức Thích Ca Mâu Ni. Tinh thần ấy do Phật giáo Đại thừa phát triển theo mỗi lời thệ nguyện của Phật A-di-đà – mười phương chư Phật đều có thể thành tựu. Hiện nay, tất cả chúng ta đều nguyện cầu sanh về thế giới của Đại nguyện chủ A-di-đà cách mười vạn ức cõi Phật. Ý nghĩa tín ngưỡng này rất thâm thúy, nó ảnh hưởng thiết thực đến đời sống thường nhật và đến thực thể sinh mạng của mỗi con người. Do Ấn Độ truyền giáo thuyết này vào Trung Quốc đầu tiên nên nó trở thành sự thực, trở thành chơn chánh. Tịnh độ tông bắt đầu xuất hiện từ thời Đông Tấn; đó cũng là điểm mốc thời gian lịch sử Tịnh độ tông khởi nguyên. Sự hoằng dương kinh qua hơn một ngàn năm trăm năm, đã trở thành tông phái Phật giáo quan trọng nhất tại Trung Quốc, đồng thời cũng làm nền tảng tinh thần cho người Trung Quốc, “người người kính Quan Âm, nhà nhà thờ Di-đà”. Chúng tôi gọi là sử Tịnh độ tông, vì từ khi Tịnh độ tông phát nguyên cho đến Tịnh độ tông phát triển trên hai ngàn năm đều có một dàn ý (tiểu sử) rõ ràng trong mỗi bài, hiển hiện trước mắt độc giả.

Tập sách này gồm 19 bài, chín bài đầu mang tính chất thông sử luận về Tịnh độ, mười bài sau chủ yếu nêu lên những nhân vật tông Tịnh độ và mỗi nhân vật đại biểu như bậc “Long tượng” cho Tông môn trong một thời đại. “Ngọn đuốc” tinh thần Tịnh độ tông được thắp sáng miên viễn là nhờ các ngài đã một đời tận tụy tuyên dương và khai triển.

Trong bổn Tịnh độ này bao quát cả quan niệm về Tịnh độ Đâu-suất, Tịnh độ Lưu Ly v.v… nhưng tại Trung Quốc trên danh nghĩa lập tông Tịnh độ chỉ thuần tuý tôn kính Di-đà làm đối tượng tín ngưỡng. Trong bộ “Phật giáo học thuật tùng san”1 có những tập “Tịnh độ luận”, hoặc “Tịnh độ tư tưởng luận” cũng hoàn toàn hướng đến tín ngưỡng Di-đà làm chuẩn mực cho Tịnh độ tông. Phần tín ngưỡng Tịnh độ Đâu-suất Di-lặc chỉ dành riêng trong quyển 692, tựa “Nghiên cứu Bồ-tát hạnh và Tịnh độ Di-lặc”. 

Chúng tôi hy vọng các Thức giả, Thiện hữu sùng kính, qui ngưỡng Tịnh độ tông có thể xem trọn tập và tuỳ duyên tu học hành trì. 

Ban biên tập 
“Phật giáo học thuật tùng san”

 Tâm Nhãn dịch
 

THƯ MỤC THAM KHẢO PHỤ CHÚ

1. Đại Chánh tân tu đại tạng kinh
2. Phật quang đại từ điển - Phật quang xuất bản xã ấn hành
3. Trung Quốc Phật giáo nhân danh đại từ điển - Thượng Hải từ thư xuất bản xã ấn hành
4. Phật giáo tiểu từ điển - Thượng Hải từ thư xuất bản xã ấn hành
5. Thực dụng Phật học từ điển - Phật đà giáo dục cơ kim hội 
6. Từ điển Thiền học Hán Việt - Nhà xuất Tp. HCM
7. Từ điển Phật học Hán Việt - Nhà xuất bản Khoa học xã hội
8. Trung văn đại từ điển - Trung Quốc văn hoá nghiên cứu sở ấn hành
9. Đại từ điển - Tam dân thư cục ấn hành
10. Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc - Nguyễn Tôn Nhan biên dịch
11. Liên tông thập tam tổ - Hòa thượng Thích Thiền Tâm soạn dịch
12. Các tông phái của Phật giáo - Tuệ sỹ dịch
13. Đại cương văn học sử Trung Quốc - Nguyễn Hiến Lê soạn dịch
 

BAN ÐIỀU HÀNH PHIÊN DỊCH
PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

-Trưởng ban điều hành: Thích Ðỗng Minh
- Phó ban kiêm hiệu đính: Thích Ðỗng Tuyên
- Phó ban kiêm tài chính: Thích Minh Thông
- Phó ban kiêm điều hành, chứng nghĩa: Thích Tâm Hạnh
- Phụ tá Trưởng ban: 
         Thích Huệ Ðắc
         Thích Nguyên Xuân
         Thích Nguyên An
         Thích Tâm Pháp
         Thích Tâm Nhãn
 - Thư ký: Cư sĩ Giác Tuệ

Thành Viên Ban Phiên dịch: 

1.Thích Đỗng Minh
2.Thích Tịnh Diệu
3.Thích Đỗng Tuyên
4.Thích Minh Thông
5.Thích Tâm Hạnh
6.Thích Minh Thành
7.Thích Nhật Từ
8.Huệ Đắc
9.Quảng Hạnh
10.  Nhật Hiếu
11.  Nguyên Xuân
12.  Tâm Pháp
13.  Tâm Nhãn
14.  Nguyên Đăng
15.  Nguyên An
16.  Quảng Niệm
17.  Vạn Hành
18.  Nguyên Thành
19.  Nguyên Chơn
20.  Đạo Luận
21.  Nguyên Tâm
22.  Huệ Hải
23.  Đạo Tri
24.  Quảng Mẫn
25. Tâm Đại
26. Đạo Biện
27. Hạnh Minh
28. Đạo Trí
29. Quảng Thông
30. Minh Chánh
31. Hoằng Trí
32. Tâm Tôn
33. Quảng Sanh
34. Tịnh Nhơn
35. Đạo Không
36. Diệu Nghiêm
37. Hành Giải
38. Hạnh Thiện
39. Tịnh Nguyên
40. Nguyên Nhuận
41. Cư sĩ Thiện Đức 
42. Cư sĩ Tuệ Khai
43. Cư sĩ Giác Tuệ 
44. Cư sĩ Hạnh Cơ 
45. Cư sĩ Phước Thắng
46. Cư sĩ Pháp Hiền
47. Cư sĩ Tịnh Minh

Phương danh Ban bảo trợ tại Hoa Kỳ
về Phật sự phiên dịch “Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam”

Trưởng ban:  Cư sĩ Như Bửu
Thư ký:  Cư sĩ Quảng Thành
Phó thư ký:  Cư sĩ Ðức Hạnh
Thủ quỹ:  Cư sĩ Nguyên Phương

Thành viên Ban bảo trợ:

Cư sĩ Thiện Thông
Cư sĩ Nguyên Lượng
Cư sĩ Từ Mẫn
Cư sĩ Chơn Quang
Và cựu Học Tăng Phật Viện Việt Nam cùng chí hướng, hiện cư trú tại Hải ngoại.

(Tu Viện Quảng đức)

01-01-2005 04:34:46

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo Sitemap

Xx