TẠP
A-HÀM QUYỂN 38
KINH
1062. THIỆN SANH[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Tôn giả Thiện Sanh[2] vừa
mới cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chánh tín xuất gia học
đạo, sống không nhà; đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân
Phật, rồi ngồi lui qua một bên. Khi ấy Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Này
các Tỳ-kheo, nên biết thiện nam tử Thiện Sanh này có hai
chỗ đoan nghiêm[3]: Một là cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa,
chánh tín, xuất gia học đạo, sống không nhà; hai là đã
tận trừ các hữu lậu, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải
thoát, hiện tại tự biết tác chứng[4]: ‘Ta, sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong,
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Tịch
tĩnh, sạch các lậu,
Tỳ-kheo
trang nghiêm tốt;
Ly
dục, đoạn các kết,
Không
tái sanh, Niết-bàn.
Giữ
thân sau cùng này,
Hàng
phục giặc ma oán.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1063. XÚ LẬU[5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Tỳ-kheo[6] hình tướng xấu
xí khó coi, bị các Tỳ-kheo khinh mạn, đến chỗ Phật. Khi
ấy bốn chúng đang vây quanh bên Thế Tôn, thấy Tỳ-kheo này
đến, tất cả đều có ý khinh mạn, liền nói với nhau rằng:
“Tỳ-kheo đang đến kia là ai, mà hình tướng xấu xí, khó
coi, bị mọi người khinh mạn vậy?”
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn biết được tâm niệm của các Tỳ-kheo
nên bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông có thấy Tỳ-kheo đang đến, hình tướng thô xấu, khó
coi kia, bị mọi người khinh mạn không?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Vâng,
chúng con đã thấy vậy.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Đối
với Tỳ-kheo này, các ông chớ có khởi ý tưởng kinh mạn.
Vì sao? Vì Tỳ-kheo này đã tận trừ các lậu, những việc
cần làm đã làm xong, đã lìa các gánh nặng, đã đoạn tận
các hữu kết, chánh trí, tâm thiện giải thoát. Này các Tỳ-kheo,
các ông chớ xét đoán lầm người, chỉ có Như Lai mới có
khả năng xét đoán người.”
Vị
Tỳ-kheo này đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật rồi
ngồi lui qua một bên.
Bấy
giờ Thế Tôn lại bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông có thấy Tỳ-kheo này cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi lui
qua một bên không?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Vâng,
chúng con đã thấy.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Đối
với Tỳ-kheo này, các ông chớ có ý khinh mạn,... cho đến
các ông chớ xét đoán lầm người, chỉ có Như Lai mới có
khả năng biết được người.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Chim
bay cùng thú chạy,
Tất
cả sợ sư tử.
Sư
tử vua loài thú,
Không
có loài nào bằng.
Cũng
vậy, người trí tuệ,
Tuy
nhỏ nhưng mà lớn.
Chớ
chấp thân tướng họ,
Mà
sanh tâm khinh mạn.
Nào
cần thân to lớn,
Thịt
nhiều không trí tuệ.
Trí
tuệ hiền thắng này,
Chính
là bậc Thượng sĩ.
Ly
dục, đoạn các kết,
Không
tái sanh, Niết-bàn.
Giữ
thân sau cùng này,
Hàng
phục các ma quân.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1064. ĐỀ-BÀ[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành Vương
xá. Bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa[8] có được lợi dưỡng từ
A-xà-thế[9] con bà Tỳ-đề-hy, vua nước Ma-kiệt-đà. Hằng
ngày cùng đoàn thị tùng với năm trăm cỗ xe đến chỗ Đề-bà-đạt-đa;
hằng ngày đem năm trăm chõ đồ ăn cúng dường Đề-bà-đạt-đa.
Đề-bà-đạt-đa dẫn năm trăm người thành nhóm riêng[10]
nhận sự cúng dường này.
Lúc
ấy có nhiều Tỳ-kheo đắp y, ôm bát vào thành Vương xá khất
thực, nghe Đề-bà-đạt-đa có những lợi dưỡng như vậy,...
cho đến nhóm riêng năm trăm người hưởng thụ sự cúng dường
này. Khất thực xong, trở về tinh xá cất y bát, rửa chân
xong đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, ngồi lui
qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sáng sớm chúng con đắp y, ôm bát vào thành Vương
xá khất thực, nghe Đề-bà-đạt-đa có lợi dưỡng như vậy,...
cho đến dẫn nhóm riêng năm trăm người hưởng thọ sự cúng
dường này.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông chớ nói Đề-bà-đạt-đa đang được lợi dưỡng. Vì
sao? Vì Đề-bà-đạt-đa này, nếu hưởng thọ lợi dưỡng
riêng thì đời này tự hoại và đời sau cũng bị hoại. Ví
như cây chuối, lau, tre sanh quả liền chết, năm sau cũng hư
hoại. Cũng lại như vậy, Đề-bà-đạt-đa, nếu thọ nhận
sự cúng dường này, thì đời này bị hoại, đời sau cũng
bị hoại. Thí như con la[11] mang thai thì chết; cũng như vậy
Đề-bà-đạt-đa, nếu thọ nhận các lợi dưỡng thì đời
này bị hoại, đời sau cũng bị hoại. Đề-bà-đạt-đa ngu
si kia, sẽ tùy theo thời gian nhiều ít hưởng thụ lợi dưỡng
này, mà phải lâu dài chịu khổ, không lợi ích. Cho nên, các
Tỳ-kheo, nên học như vầy: ‘Dù có lợi dưỡng đến, tôi
cũng không sanh tâm nhiễm trước.’”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Chuối
sanh quả liền chết,
Lau
tre cũng như vậy.
La
mang thai thì chết;
Người
vì tham mà chết.
Thường
làm hạnh phi nghĩa,
Biết
nhiều không khỏi ngu;
Pháp
lành ngày tổn giảm,
Cành
khô, rễ cũng tàn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng.
*
KINH
1065. TƯỢNG THỦ[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, nước Xá-vệ có Thủ Tỳ-kheo[13]
là người dòng họ Thích, mạng chung tại nước Xá-vệ.
Lúc
ấy, sáng sớm có nhiều Tỳ-kheo đắp y, ôm bát vào thành
Xá-vệ khất thực, nghe Thủ Tỳ-kheo họ Thích mạng chung ở
nước Xá-vệ. Nghe xong vào thành Xá-vệ khất thực trở về
cất y bát, rửa chân xong, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sáng sớm hôm nay các Tỳ-kheo đắp y, ôm bát vào
thành Xá-vệ khất thực, nghe Thủ Tỳ-kheo dòng họ Thích mạng
chung ở nước Xá-vệ. Thế nào, bạch Thế Tôn, Thủ Tỳ-kheo
mạng chung sẽ sanh về nơi nào? Thọ sanh thế nào? Đời sau
ra sao?”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thủ
Tỳ-kheo này thành tựu ba pháp bất thiện, nên khi mạng chung
sẽ sanh vào địa ngục, đường ác. Những gì là ba pháp bất
thiện? Là tham dục, sân nhuế và ngu si. Ba pháp bất thiện
này trói buộc tâm. Thủ Tỳ-kheo dòng họ Thích sẽ sanh vào
địa ngục, đường ác.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Tham
dục, sân nhuế, si,
Trói
buộc tâm con người;
Phát
từ trong, tự hại.
Như
lau, tre ra hoa.
Tâm
không tham, nhuế, si,
Đó
gọi là sáng suốt;
Phát
từ trong, không hại,
Đó
gọi là thắng xuất.
Cho
nên phải lìa tham,
Tăm
tối si, sân nhuế;
Tỳ-kheo
trí tuệ sáng,
Khổ
tận, Bát-niết-bàn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1066. NAN-ĐÀ (1)
Như
Thủ Tỳ-kheo, kinh Nan-đà cũng nói như vậy.
*
KINH
1067. NAN-ĐÀ (2)[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Nan-đà con Di mẫu của
Phật, thích mặc áo nhuộm, chải chuốt bóng láng, mang giữ
bát tốt, thích bỡn cợt, vừa đi vừa cười đùa. Lúc ấy
có nhiều Tỳ-kheo đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật,
ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Nan-đà là con Di mẫu của Phật[15], thích
mặc áo nhuộm, chải chuốt bóng láng, mang giữ bát tốt, thích
bỡn cợt, vừa đi vừa cười đùa.”
Bấy
giờ Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:
“Ông
đến chỗ Tỳ-kheo Nan-đà nói Nan-đà rằng: ‘Đại Sư cho
gọi ngươi.’”
Tỳ-kheo
kia vâng lời Thế Tôn dạy đến nói với Nan-đà:
“Thế
Tôn cho gọi ông.”
Nan-đà
nghe xong liền đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật,
ngồi lui qua một bên. Phật bảo Nan-đà:
“Có
thật ngươi thích mặc áo nhuộm, chải chuốt bóng láng, mang
giữ bát tốt, thích bỡn cợt, vừa đi vừa cười đùa không?”
Nan-đà
bạch Phật:
“Thật
vậy, bạch Thế Tôn!”
Phật
bảo Nan-đà:
“Ngươi
là con Di mẫu của Phật, dòng quý tộc xuất gia, không nên
mặc y phục đẹp, chải chuốt bóng láng, mang giữ bát tốt,
thích bỡn cợt, vừa đi vừa cười đùa. Ngươi nên tự nghĩ
như vầy: ‘Ta là con bà Di mẫu của Phật, dòng quý tộc xuất
gia, nên trú ở a-lan-nhã, đi khất thực, mặc áo phấn tảo,
thường nên khen ngợi sự mặc áo phấn tảo, ưa ở chỗ núi,
khe, không tham luyến ái dục.”
Sau
khi vâng lời Phật dạy, Nan-đà trú ở a-lan-nhã, đi khất
thực, mặc áo phấn tảo, thường nên khen ngợi sự mặc áo
phấn tảo, ưa ở chỗ núi, khe, không tham luyến ái dục.
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Nan-đà,
Ta muốn ngươi,
Tu
tập a-lan-nhã;
Đi
khất thực từng nhà,
Thân
mặc áo phấn tảo.
Thích
ở chỗ núi khe,
Không
tham luyến ngũ dục!
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả Nan-đà nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
1068. ĐÊ-SA[16]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Đê-sa[17] tự nghĩ:
“Ta là anh em con cô của Thế Tôn, nên không cần phải cung
kính, không cần quan tâm cấp bậc, cũng cần phải sợ nễ,
không chịu để can gián.” Lúc ấy có nhiều Tỳ-kheo đi đến
chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Đê-sa tự nghĩ mình là anh em con cô của
Thế Tôn nên không cần cung kính, không cần quan tâm cấp bậc,
cũng không cần sợ nễ, không chịu để can gián.”
Bấy
giờ Thế Tôn bảo một vị Tỳ-kheo:
“Ông
hãy đến chỗ Tỳ-kheo Đê-sa nói rằng: ‘Đại Sư cho gọi
ngươi.’”
Lúc
ấy Tỳ-kheo kia vâng lời Phật dạy đến chỗ Tỳ-kheo Đê-sa
nói:
“Thế
Tôn cho gọi ông.”
Tỳ-kheo
Đê-sa liền đi đến chỗ phật, cúi đầu lễ Phật và lui
ngồi một bên. Phật bảo Đê-sa:
“Có
thật ông nghĩ rằng: ‘Ta là anh em con cô của Thế Tôn nên
không cần cung kính, không cần dè dặt, không phải sợ nễ,
không chịu để can gián’ chăng?” Tỳ-kheo Đê-sa bạch Phật:
“Thật
vậy, bạch Thế Tôn!”
Phật
bảo Tỳ-kheo Đề-sa:
“Ông
không nên nghĩ thế. Ông phải nghĩ rằng: ‘Ta là anh em con
cô của Thế Tôn nên phải cung kính, sợ nễ, nhẫn chịu sự
can gián.’”
Lúc
ấy Thế Tôn liền nói kệ:
Lành
thay, ngươi Đê-sa!
Lìa
sân nhuế là tốt;
Chớ
sanh tâm sân hận.
Người
sân giận không tốt.
Nếu
hay lìa sân mạn,
Tu
hành tâm khiêm hạ;
Sau
đó ở nơi Ta,
Tu
tập các phạm hạnh.
Phật
nói kinh này xong, Tỳ-kheo Đê-sa nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1069. TỲ-XÁ-KHƯ[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Tỳ-xá-khư Bát-xà-lê
Tử[19] tụ họp ở nhà cúng dường[20], thuyết pháp cho số
đông các Tỳ-kheo, ngôn từ hoàn hảo, giọng tốt trong trẻo
cú vị rõ ràng, chính xác, lời nói phù hợp với trí tuệ;
thính giả thích nghe, lời nói lưu loát, hiển bày ý nghĩa
sâu xa, khiến các Tỳ-kheo nhất tâm lắng nghe.
Khi
ấy Thế Tôn đang nhập chánh thọ ban ngày[21], với thiên nhĩ
thanh tịnh hơn tai người thường, nghe tiếng thuyết pháp,
Ngài xuất định, đi đến giảng đường, ngồi trước đại
chúng và nói với Tỳ-kheo Tỳ-xá-khư Bát-xà-lê Tử:
“Lành
thay, lành thay, Tỳ-xá-khư! Ông có thể ở nơi nhà cúng dường
này mà thuyết pháp cho các Tỳ-kheo, với ngôn từ hoàn hảo,
cho đến, hiển hiện ý nghĩa sâu xa, khiến các Tỳ-kheo chuyên
tinh, kính trọng. Ông hãy thường xuyên thuyết pháp như vậy
cho các Tỳ-kheo, khiến các Tỳ-kheo chuyên tinh kính trọng,
nhất tâm ưa nghe, sẽ được ích lợi lâu dài, sống an lạc.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói bài kệ:
Nếu
không có thuyết pháp,
Khó
phân rõ ngu, trí.
“Đây
ngu! Đây trí tuệ!”
Không
do đâu hiển hiện.
Khéo
nói pháp tươi mát,
Nhân
thuyết trí rõ ràng.
Thuyết
pháp là sáng chiếu,
Sáng
chói cờ Đại tiên.
Phật
nói kinh này xong; Tỳ-xá-khư Bát-xà-lê Tử nghe những gì Phât
dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh lễ rồi lui.
*
KINH
1070. NIÊN THIẾU[22]
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có nhiều chúng Tỳ-kheo ở nhà
cúng dường, tụ tập cùng nhau may y. Lúc đó có một Tỳ-kheo
trẻ tuổi, xuất gia chưa bao lâu, mới vào Pháp luật, không
muốn phụ giúp các Tỳ-kheo may y.
Bấy
giờ các Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ
Phật, lui ngồi một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, ở nhà cúng dường, các Tỳ-kheo tụ tập may y. Có
một Tỳ-kheo trẻ tuổi, xuất gia chưa bao lâu, mới vào Pháp
luật, không muốn phụ giúp các Tỳ-kheo may y.”
Bấy
giờ Đức Phật hỏi vị Tỳ-kheo trẻ ấy:
“Có
thật ông không muốn giúp đỡ các Tỳ-kheo may y chăng?”
Tỳ-kheo
trẻ kia bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, tùy theo khả năng của con mà con phụ giúp.”
Thế
Tôn khi đó biết được tâm niệm của Tỳ-kheo trẻ tuổi,
mới bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông chớ nói với[23] Tỳ-kheo trẻ này. Vì sao? Vì Tỳ-kheo
này được bốn pháp tăng tâm[24], đang hoàn toàn an trú trong
hiện pháp lạc, chẳng phải do cố gắng mà được. Tỳ-kheo
ấy theo bản tâm của mình, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa,
xuất gia học đạo, tăng tiến tu học, hiện pháp tự biết
tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời
sau nữa.’”
Khi
ấy Thế Tôn liền nói kệ:
Kém
nỗ lực, đức mỏng,
Trí
tuệ ít: không thể
Hướng
thẳng đến Niết-bàn,
Thoát
khỏi gông phiền não.
Hiền
nhân trẻ tuổi này,
Sớm
được chỗ thượng sĩ;
Lìa
dục tâm giải thoát,
Niết-bàn
dứt tái sanh.
Giữ
thân tối hậu này,
Hàng
phục các ma quân.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1071. TRƯỞNG LÃO[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Tỳ-kheo tên Thượng Tọa[26],
sống một mình tại một nơi, cũng thường hay khen ngợi người
sống một mình, đi khất thực một mình, khất thực xong trở
về một mình và một mình ngồi thiền tư.
Bấy
giờ, trong chúng có nhiều Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật, cúi
đầu đảnh lễ, rồi lui ngồi một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có Tôn giả tên là Thượng Tọa sống một mình,
cũng thường hay khen ngợi người sống một mình, đi khất
thực một mình, khất thực xong trở về một mình và một
mình ngồi thiền tư.”
Khi
đó Thế Tôn bảo một Tỳ-kheo:
“Ông
hãy đến chỗ Tỳ-kheo Thượng Tọa nói rằng: ‘Đại Sư
cho gọi thầy.’”
Tỳ-kheo
ấy vâng lời Phật dạy, đến nói lời như trên với Tỳ-kheo
Thượng Tọa, Tỳ-kheo Thượng Tọa vâng lời đi đến chỗ
Phật, cúi đầu lễ Phật, rồi lui ngồi một bên. Thế Tôn
bảo Tỳ-kheo Thượng Tọa:
“Ông
có thật sống một mình nơi chỗ vắng, khen ngợi người sống
một mình, đi khất thực một mình, ra khỏi làng một mình,
ngồi thiền tư một mình chăng?”
Tỳ-kheo
Thượng Tọa bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, thật như vậy.”
Phật
bảo Tỳ-kheo Thượng Tọa:
“Này
Tỳ-kheo, ông như thế nào sống một mình, khen ngợi người
sống một mình, một mình đi khất thực, một mình trở về
chỗ ở và một mình ngồi thiền tư?”
Tỳ-kheo
Thượng Tọa bạch Phật:
“Con
chỉ ở một mình nơi vắng vẻ, khen ngợi người sống một
mình, đi khất thực một mình, ra khỏi làng một mình, ngồi
thiền tư một mình.”
Phật
bảo Tỳ-kheo Thượng Tọa:
“Ông
là kẻ sống một mình, Ta không nói là chẳng phải sống một
mình. Nhưng lại có lối sống một mình thắng diệu hơn. Sao
gọi là lối sống một mình thắng diệu? Đó là Tỳ-kheo phía
trước thì khô cằn, phía sau thì diệt tận, ở giữa thì
không tham hỷ[27]. Đó là Bà-la-môn tâm không còn do dự, đã
xả ưu hối, lìa các hữu ái, đoạn các kết sử. Đây gọi
là sống một mình không có lối sống nào thắng diệu hơn
nữa.”
Khi
ấy Phật nói kệ:
Chiếu
sáng khắp tất cả,
Biết
khắp các thế gian;
Chẳng
chấp tất cả pháp,
Lìa
hết tất cả ái.
Người
này sống an lạc,
Ta
nói là độc trụ.
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả Thượng Tọa nghe những gì Phật
dạy, hoan hỷ, tùy hỷ làm lễ cáo từ.
*
KINH
1072. TĂNG-CA-LAM[28]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có Tôn giả Tăng-ca-lam[29] du
hành nhân gian ở Câu-tát-la, tới nước Xá-vệ, rừng cây
Kỳ-đà, trong vườn Cấp cô độc. Tỳ-kheo Tăng-ca-lam kia có
vợ cũ đang ở trong nước Xá-vệ, nghe tin Tỳ-kheo Tăng-ca-lam
du hành trong nhân gian từ Câu-tát-la đến nước Xá-vệ, trong
rừng Kỳ-đà, vườn Cấp cô độc. Nghe vậy, liền mặc y
phục đẹp, trang điểm hoa anh lạc, ôm con đi thẳng đến
Kỳ-hoàn, đến trước phòng Tỳ-kheo Tăng-ca-lam.
Trong
lúc Tôn giả Tăng-ca-lam ra khỏi phòng đi kinh hành ngoài đất
trống, người vợ cũ kia tiến đến trước mặt Tôn giả
và nói:
“Đứa
bé này còn nhỏ quá, anh bỏ con thơ đi tu, ai sẽ nuôi dưỡng
nó?”
Tỳ-kheo
Tăng-ca-lam không nói chuyện với nàng. Người vợ ba lần nói
như vậy, Tỳ-kheo cũng không nói gì. Người vợ lại nói:
“Tôi
đã nói cho anh biết ba lần như vậy mà anh chẳng nói với
tôi, chẳng ngó ngàng tới, bây giờ tôi sẽ bỏ đứa bé này.”
Người
vợ liền bỏ đứa nhỏ ngay đầu đường kinh hành mà đi
và nói:
“Này
Sa-môn, đây là con của ông! Ông hãy tự nuôi nấng. Nay tôi
bỏ đi!”
Tôn
già Tăng-ca-lam cũng chẳng nhìn đến đứa bé. Người vợ
ấy lại nói:
“Sa-môn
này chẳng để ý gì đến đứa nhỏ. Chắc có lẽ ông đã
được chỗ khó được của bậc Tiên nhân. Lành thay! Sa-môn
chắc hẳn đã được giải thoát.”
Thiếu
phụ không toại nguyện đành ôm con đi.
Bấy
giờ, Thế Tôn đang nhập chánh thọ ban ngày, với thiên nhĩ
siêu việt hơn người thường, Ngài nghe được những lời
của người vợ cũ của Tôn giả Tăng-ca-lam, liền nói kệ:
Việc
đến chẳng hoan hỷ,
Đi
cũng chẳng lo buồn;
Với
thế gian hòa hợp,
Giải
thoát chẳng nhiễm trước.
Ta
nói Tỳ-kheo kia,
Chân
thật Bà-la-môn;
Việc
đến chẳng hoan hỷ,
Đi
cũng chẳng lo buồn.
Không
nhiễm cũng không ưu,
Hai
tâm đều vắng lặng;
Ta
nói Tỳ-kheo này,
Là
chân Bà-la-môn.
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả Tăng-già-lam nghe những gì Phật
dạy, hoan hỷ làm lễ rồi đi.
*
KINH
1073. A-NAN[30]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả A-nan một mình ở chỗ
vắng tự suy nghĩ: “Có ba thứ mùi hương chỉ bay theo chiều
gió, không thể bay theo ngược chiều gió. Những gì là ba?
Đó là mùi hương rễ cây, mùi hương thân cây và mùi hương
của hoa. Hoặc lại có mùi hương nào bay theo chiều gió, cũng
bay theo ngược gió, cũng bay vừa thuận gió ngược gió chăng?”
Suy
nghĩ như thế, buổi chiều hôm đó sau khi từ thiền tịnh
dậy, A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ Phật và
lui đứng một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con một mình ở chỗ vắng tự nghĩ thầm: ‘Có
ba thứ mùi hương chỉ bay theo chiều gió, không thể bay theo
ngược gió. Những gì là ba? Đó là mùi hương rễ cây, mùi
hương thân cây, mùi hương của hoa. Hoặc có mùi hương nào
bay theo chiều gió, cũng bay theo ngược gió, cũng bay vừa thuận
gió vừa ngược gió chăng?’”
Phật
bảo Tôn giả A-nan:
“Đúng
thế! Đúng thế! Có ba loại mùi hương chỉ bay theo chiều
gió, không thể bay theo ngược gió. Đó là hương thơm rễ
cây, hương thơm của cây, hương thơm của hoa. Này A-nan, cũng
có mùi hương bay theo chiều gió, bay theo ngược gió và cũng
bay theo thuận gió ngược gió. Này A-nan, hương bay theo chiều
gió, bay theo ngược gió và cũng bay theo thuận gió ngược gió,
đó là: Có thiện nam tử hay người thiện nữ nào sống ở
thành ấp, tụ lạc, thành tựu pháp chân thật, suốt đời
không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không vọng
ngữ, không uống rượu. Người thiện nam, người thiện nữ
như vậy đều được người lành trong tám phương, cùng phương
trên, phương dưới, thảy đều tán thán rằng: ‘Ở phương
kia, làng kia, có người thiện nam, người thiện nữ trì giới
thanh tịnh, thành tựu pháp chân thật, suốt đời không sát
sanh... cho đến không uống rượu.’ Này A-nan, đây gọi là
thứ hương hoa bay theo chiều gió, bay theo ngược chiều gió
và cũng bay theo thuận gió ngược gió.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Chẳng
phải hương cành, hoa,
Có
thể bay ngược gió.
Chỉ
có hương tịnh giới,
Của
thiện nam, thiện nữ;
Ngược,
thuận bay các phương,
Không
đâu không nghe biết.
Đa-ca-la[31],
Chiên-đàn,
Ưu-bát-la,
Mạt-lợi;
So
sánh các mùi hương,
Giới
hương là hơn hết.
Hương
thơm như Chiên-đàn,
Lan
tỏa có giới hạn;
Chỉ
có hương giới đức,
Xông
ngát tận cõi trời.
Hương
thơm của tịnh giới,
Chánh
thọ, chẳng phóng dật;
Chánh
trí và giải thoát,
Ma
đạo không thể vào.
Đây
là đạo an ổn,
Đạo
này rất thanh tịnh;
Hướng
thẳng diệu thiền định,
Bứt
dây trói của ma.
Phật
nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ tùy hỷ làm lễ rồi đi.
*
KINH
1074. BỆN TÓC[32]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hành trong nhân gian ở nước Ma-kiệt-đề,
cùng với một ngàn vị Tỳ-kheo. Xưa kia họ là những người
xuất gia bện tóc[33], nay đều đắc quả A-la-hán, các lậu
đã tận, việc làm đã xong, xả bỏ các gánh nặng, chóng
được tự lợi, sạch các hữu kết, chánh trí thiện giải
thoát. Phật cùng các Tỳ-kheo đi đến tại rừng Trượng lâm,
tháp Thiện kiến[34].
Bình-sa[35]
vua nước Ma-kiệt-đề, nghe Thế Tôn du hành trong nhân gian
tại nước Ma-kiệt-đề, đến trong rừng Trượng lâm, tháp
Thiện kiến. Vua cùng với các tiểu vương, quần thần và
đoàn tùy tùng, xe cộ một muôn hai ngàn chiếc, ngựa một
muôn tám ngàn, người đi bộ theo đông vô số, các Bà-la-môn,
gia chủ trong nước Ma-kiệt-đề đều đi theo.
Nhà
vua rời khỏi thành Vương xá đi đến chỗ Thế Tôn, cung kính
cúng dường. Tới đầu đường, vua xuống đi bộ. Lúc tiến
vào đến cửa trong, vua dẹp bỏ năm thứ nghi trượng, giở
mão, dẹp bỏ lọng, quạt, dao gươm, cởi giày da. Vua đến
trước Phật, sửa lại y phục tề chỉnh, trật vai áo bên
phải, đảnh lễ Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng, tự xưng
danh tánh và bạch Phật:
“Thế
Tôn, con là Bình-sa, vua nước Ma-kiệt-đề.”
Phật
bảo Bình-sa vương:
“Đại
vương, ngài là Bình-sa. Mời Đại vương an tọa.”
Bình-sa
vương lại lễ dưới chân Phật, từ tốn ngồi xuống một
bên. Lúc bấy giờ Uất-bề-la Ca-diếp[36] cũng đang ngồi tại
đấy. Trong khi đó các gia chủ Bà-la-môn nghĩ rằng: “Có
phải Đại Sa-môn này theo Uất-bề-la Ca-diếp tu phạm hạnh
hay là Uất-bề-la Ca-diếp theo Đại Sa-môn tu phạm hạnh?”
Thế
Tôn biết được tâm niệm của các gia chủ, Ngài liền nói
kệ hỏi:
Uất-bề-la
Ca-diếp,
Nơi
đây thấy lợi gì,
Bỏ
sự phụng thờ xưa,
Thờ
lửa và các việc?
Nay
hãy nói nghĩa kia.
Nguyên
do bỏ thờ lửa.
Uất-bề-la
Ca-diếp nói kệ bạch Phật:
Tiền
tài thức ăn ngon,
Nữ
sắc, quả ngũ dục;
Quán
sát vị lai thọ,
Đều
vô cùng nhơ nhớp.
Thế
nên đều ném bỏ,
Sự
thờ lửa trước kia.
Thế
Tôn lại nói kệ hỏi:
Ông
chẳng đắm thế gian,
Năm
dục tiền, vị, sắc...;
Sao
lại bỏ trời, người?
Ca-diếp,
tùy nghĩa nói.
Ca-diếp
lại nói kệ đáp Thế Tôn:
Thấy
đạo lìa hữu dư,
Lối
Vô dư tịch diệt,
Vô
sở hữu, bất trước,
Không
đường khác, đạo khác.
Thế
nên đều ném bỏ,
Lối
tu thờ lửa trước,
Đại
hội[37] đều thọ trì,
Phụng
thờ nước, hoặc lửa.
Ngu
si chìm trong đó.
Chí
cầu đạo giải thoát.
Mù,
không mắt trí tuệ,
Hướng
sanh, già, bệnh, chết.
Chẳng
thấy con đường chánh,
Trọn
lìa nẻo sanh tử.
Nay
mới nhờ Thế Tôn,
Được
thấy đạo vô vi,
Lực
mà Đại long nói,
Được
qua bên bờ kia.
Mâu-ni
rộng cứu giúp,
An
úy vô lượng chúng,
Nay
mới biết Cù-đàm,
Bậc
siêu xuất chân đế.
Đức
Phật lại nói kệ khen Ca-diếp:
Lành
thay! Này Ca-diếp,
Trước
suy xét phi ác,
Kế
phân biệt tìm cầu,
Mới
đến nơi tốt dẹp.
“Này
Ca-diếp, ông nên có lòng an úy tâm đồ chúng của ông.”
Khi
ấy Uất-bề-la Ca-diếp liền nhập chánh thọ, do sức thần
túc, hướng về phương Đông, bay lên hư không, hiện ra bốn
thứ thần biến: đi, đứng, nằm, ngồi. Vào trong lửa tam-muọâi,
toàn thân rỗng sáng tỏa ra sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, pha
lê, sắc hồng. Trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, trở
lại thiêu đốt thân. Trên thân ra nước để rưới nước
lên thân. Hoặc trên thân ra lửa để đốt thân kia; dưới
thân tuôn nước để tưới ướt thân. Hiện bày các thứ
thần thông biến hóa xong, Ca-diếp cúi đầu lễ Phật và bạch:
“Bạch
Thế Tôn, Phật là Thầy của con, con là đệ tử.”
Phật
bảo Ca-diếp:
“Ta
là Thầy ông. Ông là đệ tử. Ông hãy bình an ngồi xuống
đi.”
Tôn
giả Uất-bề-la Ca-diếp ngồi lại chỗ cũ. Các gia chủ Bà-la-môn
xứ Ma-kiệt-đề đều nghĩ thầm: “Uất-bề-la Ca-diếp đã
quyết định ở nơi Đại Sa-môn tu hành phạm hạnh.”
Phật
nói kinh này xong, Bình-sa vua xứ Ma-kiệt-đề, cùng các gia
chủ Bà-la-môn nghe những gì Phật dạy, đều hoan hỷ, tùy
hỷ, làm lễ rồi cáo từ.
*
KINH
1075. ĐÀ-PHIÊU (1)[38]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Phật trú tại thành Vương xá, trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà,
có Đà-phiêu Ma-la Tử[39], quê cũ ở thành Vương xá, lo việc
Tăng chúng, phân chia thức ăn uống và các vật dụng: giường
nằm, chỗ ngồi,... và xếp đặt phiên thứ, sai thỉnh rất
chu đáo. Lúc đó, có Tỳ-kheo Từ Địa[40] trải qua ba lần
nhận thức ăn thô dở. Trong khi ăn lòng cảm thấy khó chịu,
cay đắng nghĩ thầm: “Quái lạ thay! Khổ thay! Tỳ-kheo Đà-phiêu
Ma-la Tử chắc cố tình đem thức ăn dở để là xúc não ta,
khiến ta khi ăn cảm thấy cực khổ. Ta phải làm sao gây bất
lợi cho y mới được?”
Tỳ-kheo
Từ Địa có một cô em gái là Tỳ-kheo-ni tên Mật-đa-la[41]
đang ở trong chúng Tỳ-kheo-ni nơi vườn nhà vua thuộc thành
Vương xá. Tỳ-kheo-ni Mật-đa-la đi đến chỗ Tỳ-kheo Từ
Địa, cúi đầu lễ chân Từ Địa rồi đứng một bên. Tỳ-kheo
Từ Địa không nhìn đến cũng không mở lời.
Tỳ-kheo-ni
Mật-đa-la nói với Tỳ-kheo Từ Địa:
“A-lê[42],
vì sao không ngó ngàng và chẳng nói chuyện với tôi?”
Tỳ-kheo
Từ Địa nói:
“Tỳ-kheo
Đà-phiêu Ma-la Tử nhiều lần đem thức ăn thô dở để làm
xúc não tôi, khiến tôi khi ăn cảm thấy cực khổ. Còn cô
thì cứ bỏ mặc tôi.”
Tỳ-kheo-ni
nói:
“Làm
gì bây giờ?”
Tỳ-kheo
Từ Địa nói:
“Cô
hãy đến Thế Tôn bạch như vầy: ‘Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo
Đà-phiêu Ma-la Tử là kẻ phi pháp, không ra gì, đã cùng con
làm điều trái phạm, phạm tội Ba-la-di’. Tôi sẽ làm chứng
và nói: ‘Bạch Thế Tôn, đúng như lời em gái con đã nói’.”
Tỳ-kheo-ni
nói:
“A-lê,
làm sao tôi lại đem tội Ba-la-di để vu báng cho Tỳ-kheo phạm
hạnh?”
Tỳ-kheo
Từ Địa bảo:
“Nếu
cô không làm như thế, tôi và cô từ nay chấm dứt tình anh
em. Cô đừng lui tới đây để chuyện trò, thăm hỏi nhau nữa.”
Tỳ-kheo-ni
im lặng một hồi, suy nghĩ rồi nói:
“A-lê
khiến tôi làm như thế, tôi sẽ vâng theo lời dạy.”
Tỳ-kheo
Từ Địa bảo:
“Cô
hãy đợi tôi đi đến Thế Tôn trước, cô sẽ đi theo sau.”
Tỳ-kheo
Từ Địa đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ rồi lui
đứng một bên. Tỳ-kheo-ni Mật-đa-la đi theo sau, đảnh lễ
Phật rồi lui ngồi một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, một việc không đẹp thay! Thật phi lý thay[43]! Đà-phiêu
Ma-la Tử đã làm điều phi phạm hạnh với con, phạm tội
Ba-la-di!”
Tỳ-kheo
Từ Địa lại bạch Phật:
“Như
lời nói của em gái con, trước đây con đã biết.”
Bấy
giờ, Tỳ-kheo Đà-phiêu Ma-la Tử đang ở giữa đại chúng.
Khi
ấy Thế Tôn bảo Tỳ-kheo Đà-phiêu-ma-la Tử:
“Ông
có nghe lời nói này không?”
Tỳ-kheo
Đà-phiêu Ma-la Tử bạch:
“Bạch
Thế Tôn, con đã nghe.”
Phật
bảo Tỳ-kheo Đà-phiêu Ma-la Tử:
“Hôm
nay ông như thế nào?”
Tỳ-kheo
Đà-phiêu Ma-la Tử bạch Phật:
“Như
Thế Tôn đã biết! Như Thiện Thệ đã biết!”
Phật
bảo Tỳ-kheo Đà-phiêu Ma-la Tử:
“Ông
nói như Thế Tôn đã biết, nay chẳng hợp thời. Bây giờ
ông có nhớ thì nói nhớ, không nhớ thì nói không nhớ.”
Tỳ-kheo
Đà-phiêu Ma-la Tử bạch:
“Con
không tự nhớ.”
Trong
lúc đó Tôn giả La-hầu-la đang đứng phía sau cầm quạt hầu
Phật, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, không đẹp thay! Thật phi lý thay! Tỳ-kheo-ni này
nói: ‘Tôn giả Đà-phiêu Ma-la Tử cùng với con làm điều
phi phạm hạnh’. Tỳ-kheo Từ Địa lại nói: ‘Bạch Thế
Tôn, đúng thế! Trước đây con đã biết như em con đã nói.’”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Bây
giờ, Ta hỏi La-hầu-la, tùy ý ngươi đáp lời Ta. Nếu Tỳ-kheo-ni
Mật-đa-la đến nói với Ta rằng: ‘Thật không đẹp thay!
Thật phi lý thay! La-hầu-la cùng con làm điều phi phạm hạnh,
phạm tội Ba-la-di.’ Tỳ-kheo Từ Địa lại bạch với Ta:
‘Thưa đúng như vậy, trước đây con đã biết, như lời
em gái con nói.’ Ngươi sẽ làm thế nào?”
La-hầu-la
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu con nhớ con sẽ nói nhớ, nếu không nhớ sẽ
nói không nhớ.”
Phật
bảo La-hầu-la:
“Này
người ngu si, ngươi còn nói được những lời này, huống
chi Đà-phiêu Ma-la Tử là Tỳ-kheo thanh tịnh, cớ sao không
nói được những lời như vậy?”
Bấy
giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Đối
với Tỳ-kheo Đà-phiêu Ma-la Tử, hãy để ức niệm[44]. Với
Tỳ-kheo-ni Mật-đa-la, hãy diệt tránh bằng tự xác nhận[45].
Với Tỳ-kheo Từ Địa, Tăng sẽ tích cực giáo giới can gián
và khiển trách: ‘Ngươi thấy gì? Thấy ở đâu? Do nhân duyên
gì đến để thấy?’”
Thế
Tôn dạy như vậy xong, Ngài rời chỗ ngồi đứng lên, vào
phòng tọa thiền. Khi ấy các Tỳ-kheo để cho Tỳ-kheo Đà-phiêu
tự ức niệm. Với Tỳ-kheo-ni Mật-đa-la, cho pháp diệt tránh
bằng tự nhận. Với Tỳ-kheo Từ Địa, Tăng tích cực giáo
giới can gián và khiển trách: ‘Ngươi thấy gì? Thấy ở
đâu? Do nhân duyên gì đến để thấy?’ Trong khi can ngăn
như thế, Tỳ-kheo Từ Địa nói rằng: “Đà-phiêu Ma-la Tử
không làm chuyện phi phạm hạnh; không phạm Ba-la-di. Đà-phiêu
Ma-la Tử đã ba phen cho tôi thức ăn tệ, đáng sợ, khiến
tôi khi ăn cảm thấy cực khổ, nên tôi đối với Tỳ-kheo
Đà-phiêu Ma-la Tử mà có sự thiên vị, giận hờn, ngu si,
sợ hãi, nên cố ý nói như thế. Nhưng thật sự Đà-phiêu
Ma-la Tử là người thanh tịnh, vô tội.”
Chiều
hôm ấy, Thế Tôn từ thiền định ra, đến trước đại chúng
trải tòa, ngồi xuống.
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, chúng con đã cho Tỳ-kheo Đà-phiêu Ma-la Tử tự ức
niệm. Với Tỳ-kheo-ni Mật-đa-la cho pháp diệt tránh bằng
tự nhận. Với Tỳ-kheo Từ Địa thì tích cực giáo giới
can gián. Tỳ-kheo ấy nói rằng: ‘Đà-phiêu Ma-la Tử thanh
tịnh vô tội’.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vì
sao ngu si, chỉ vì việc ăn uống, mà cố ý vọng ngữ?”
Lúc
ấy, Thế Tôn liền nói kệ:
Nếu
hay xả một pháp,
Biết
mà cố vọng ngữ;
Chẳng
kể gì đời sau,
Điều
ác nào chẳng làm.
Thà
ăn viên sắt nóng,
Như
lửa than cháy hừng;
Không
vì phạm giới cấm,
Ăn
của thí cho Tăng.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1076. ĐÀ-PHIÊU (2)[46]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn trúc Ca-la-đà, tại thành Vương
xá. Bấy giờ, Tôn giả Đà-phiêu Ma-la Tử đi đến chỗ Phật,
cúi đầu lễ Phật, rồi lui đứng một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con xin vào Bát-niết-bàn ở trước Phật.”
Thế
Tôn im lặng, Tôn giả ba lần bạch như vậy. Phật bảo Đà-phiêu
Ma-la Tử:
“Các
pháp hành hữu vi đều như vậy cả.”
Khi
ấy, Tôn giả Đà-phiêu Ma-la Tử liền ở trước Phật nhập
tam-muội, bằng chánh thọ như vậy, hướng về phương Đông,
Tôn giả bay lên hư không hiện bốn oai nghi đi, đứng, nằm,
ngồi, nhập vào tam-muội lửa, dưới thân phát ra lửa, cả
thân rỗng sáng; ánh sáng chiếu khắp các màu xanh, vàng, đỏ,
trắng, pha lê, hồng. Dưới thân ra lửa, trở lại thiêu thân.
Trên thân ra nước rưới ướt trên thân. Hoặc trên thân ra
lửa thiêu đốt thân, dưới thân ra nước rưới ướt trên
thân. Khắp cả mười phương hiện bày các sự biến hóa xong,
Tôn giả liền ở trong hư không, trong thân phát ra lửa tự
thiêu thân vào Vô dư Niết-bàn, tiêu tận, tịch diệt, khiến
không còn sót một mảy bụi, ví như trong hư không thắp cây
đèn, dầu, tim đều hết. Đà-phiêu Ma-la Tử ở trong hư không
đã nhập diệt, thân tâm đều bặt hết cũng như thế.
Bấy
giờ Thế Tôn nói kệ:
Ví
như đốt hòn sắt,
Lửa
bừng sáng rực rỡ;
Sức
nóng dần dần tắt,
Nào
biết đi về đâu?
Cũng
thế, sự giải thoát,
Vượt
bùn lầy phiền não;
Đã
cắt đứt các dòng,
Nào
biết đi về đâu?
Chóng
đắc dấu bất động,
Nhập
Vô dư Niết-bàn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1077. GIẶC[47]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật trú tại nước Ương-cù-đa-la[48] du hành
nhân gian. Khi đi qua trong rừng Đà-bà-xà-lê-ca[49], Ngài gặp
những người chăn bò, người chăn dê, người nhặt củi,
cỏ và các người làm việc khác. Họ trông thấy Thế Tôn
đang đi trên đường, đều vội vàng bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, chớ đi theo con đường này. Phía trước có tên
cướp Ương-cù-lợi-ma-la[50] chuyên môn khủng bố người.”
Đức
Phật nói với các người này:
“Ta
không sợ.”
Nói
xong, Ngài cứ theo đường mà đi. Họ nói ba lần, Đức Phật
vẫn cứ đi. Từ xa Phật trông thấy Ương-cù-lợi-ma-la, tay
cầm dao chạy thẳng đến. Thế Tôn dùng thần lực hiện thân
đi từ từ khiến cho Ương-cù-lợi-ma-la chạy như bay cũng
không kịp. Chạy theo đến mệt đuối, Ương-cù-lợi-ma-la
từ xa nói với Thế Tôn:
“Đứng
lại, đứng lại, chớ đi!”
Thế
Tôn vừa đi vừa đáp:
“Ta
luôn dừng. Ngươi không tự dừng đó thôi.”
Lúc
ấy Ương-cù-lợi-ma-la nói kệ:
Sa-môn
vẫn rảo nhanh,
Lại
nói ‘Ta luôn dừng.’
Nay
tôi mệt, dừng nghỉ.
Sao
nói ‘Ngươi chẳng dừng’?
Thế
Tôn lại nói kệ đáp:
Ương-cù-lợi-ma-la,
Ta
nói Ta thường dừng:
Với
tất cả chúng sanh,
Đã
dừng mọi đao trượng.
Ông
khủng bố chúng sanh,
Nghiệp
ác không chịu dừng.
Với
tất cả côn trùng,
Ta
dứt dùng đao gậy.
Với
côn trùng bé nhỏ,
Ông
bức bách đe dọa;
Cố
tạo nghiệp hung ác,
Trọn
chẳng lúc nào thôi.
Ta
đối tất cả thần[51],
Dừng
thôi mọi đao, trượng.
Ông
đối với các thần,
Luôn
làm khổ, bức bách.
Tạo
tác ác nghiệp đen,
Đến
nay không dừng nghỉ.
Ta
dừng nơi pháp nghỉ,
Tất
cả không phóng dật.
Ông
chẳng thấy Bốn đế,
Nên
chẳng dừng buông lung.
Ương-cù-lợi-ma-la
nói kệ bạch Phật:
Lâu
mới thấy Mâu-ni,
Nên
theo đường chạy đuổi;
Nay
nghe lời vi diệu,
Sẽ
bỏ điều ác xưa.
Nói
ra như thế rồi,
Liền
buông bỏ đao gậy;
Dập
đầu dưới chân Phật,
Xin
cho con xuất gia.
Phật
đầy lòng từ bi,
Đại
Tiên tràn thương xót;
Gọi
Tỳ-kheo, thiện lai!
Xuất
gia thọ cụ túc.
Ương-cù-lợi-ma-la
sau khi xuất gia, thường một mình ở chỗ vắng, chuyên tâm
tư duy lý do khiến thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, khoác
áo ca-sa, chánh tín xuất gia, học đạo, sống không nhà, tinh
tấn tu phạm hạnh, hiện tại tự biết tác chứng: ‘Ta, sự
sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã
làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Lúc
ấy Ương-cù-lợi-ma-la đắc quả A-la-hán, giác ngộ, giải
thoát, hỷ lạc, Tôn giả liền nói kệ:
Vốn
mang tên ‘Bất Hại’[52]
Mà
lại sát hại nhiều.
Nay
được tên ‘Kiến Đế’,
Xa
lìa sự tổn, sát.
Thân
không giết, không hại,
Miệng
ý cũng như thế;
Nên
biết ‘chân bất sát’,
Chẳng
bức bách chúng sanh.
Rửa
sạch tay vấy máu,
Gọi
là Ương ma-la;
Trôi
nổi giữa dòng sâu,
Tam
quy làm dừng bặt.
Quy
y Tam bảo xong,
Xuất
gia được cụ túc;
Thành
tựu được tam minh,
Điều
Phật dạy đã làm.
Chăn
trâu, dùng gậy đánh,
Nài
voi, dùng móc sắt;
Chẳng
dùng đến gươm đao,
Thật
huấn luyện trời, người.
Dao
bén nhờ đá mài,
Tên
thẳng nhờ lửa ấm;
Chặt
gậy nhờ búa rìu,
Tự
chế, nhờ trí tuệ.
Nơi
dòng đời ân ái,
Chánh
niệm mà vượt ra.
Người
tuổi trẻ xuất gia,
Siêng
tu lời Phật dạy;
Sẽ
soi sáng thế gian,
Như
mây tan trăng hiện.
Người
tuổi trẻ xuất gia,
Siêng
tu lời Phật dạy;
Nơi
dòng đời ân ái,
Người
trước kia phóng dật,
Sau
đó hay tự kiểm;
Sẽ
soi sáng thế gian,
Như
mây tan trăng hiện.
Người
trước kia phóng dật,
Sau
này hay tự kiểm;
Chánh
niệm mà siêu xuất.
Nếu
thoát các nghiệp ác,
Chánh
thiện hay khiến diệt;
Sẽ
soi sáng thế gian,
Như
mây tan trăng hiện.
Trước
người tạo nghiệp ác,
Chánh
niệm hay khiến diệt;
Nơi
dòng đời ân ái,
Chánh
niệm hay siêu xuất.
Tôi
đã làm nghiệp ác,
Chắc
hướng đến đường ác;
Đã
nhận lấy báo ác,
Nợ
trước vay đã trả.
Nếu
người oán ghét tôi,
Được
nghe Chánh pháp này;
Được
pháp nhãn thanh tịnh,
Tôi
tu hạnh nhẫn nhục.
Chẳng
còn khởi tranh cãi,
Nhờ
ân lực của Phật;
Tôi
hiền lành, nhẫn nhục,
Cũng
thường khen ngợi nhẫn.
Tùy
thời được nghe pháp,
Nghe
rồi tu hành theo.
Phật
nói kinh này xong, Ương-cù-lợi-ma-la nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
1078. TÁN-ĐẢO-TRA[53]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn trúc Ca-la-đà, tại thành Vương
xá. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo kia, lúc sáng sớm đi ra bên
bờ sông Tháp-bổ[54], cởi y phục để trên bờ, xuống sông
tắm rửa. Tắm xong, lên bờ, khoác sơ một cái y đợi thân
khô.
Khi
ấy có một Thiên tử từ thân tỏa ra ánh sáng, chiếu sáng
bên sông Tháp-bổ, bảo Tỳ-kheo rằng:
“Ông
trẻ tuổi xuất gia, tươi trắng, tóc đen, đang ở vào lứa
tuổi tráng thịnh đẹp đẽ. Đáng nên hưởng thụ ngũ dục,
trang nghiêm chuỗi ngọc, xức dầu thơm, đeo tràng hoa, tự
vui sướng với năm dục. Nhưng sao bây giờ lại trái với
người thân, quay lưng với thế tục, khiến họ phải khóc
lóc biệt ly; cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chánh tín xuất
gia học đạo, sống không nhà? Sao lại bỏ cái vui hiện tiền
mà tìm cái lợi phi thời[55]?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Tôi
không xả bỏ cái lạc hiện tại, để tìm cầu cái lạc phi
thời. Thật sự chính tôi đang xả bỏ cái lạc phi thời,
được lạc hiện tiền.”
Thiên
tử hỏi Tỳ-kheo:
“Thế
nào là xả bỏ cái lạc phi thời, được lạc hiện tiền?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Như
Thế Tôn nói, dục là phi thời[56], vị ngọt ít mà khổ nhiều;
ít lợi nhiều nạn. Tôi nay trong các pháp hiện thực đã lìa
sự thiêu đốt, chẳng đợi thời tiết, hay tự thông đạt,
hiện tiền quán sát, duyện tự tâm mà tri giác[57]. Này Thiên
tử, như thế gọi là xả bỏ cái lạc phi thời, được niềm
lạc hiện tiền.”
Thiên
tử lại hỏi Tỳ-kheo:
“Điều
mà Như Lai nói là thế nào, rằng dục là phi thời, ít vui,
nhiều khổ? Điều mà Như Lai nói là thế nào, rằng lợi lạc
trong đời hiện tại,... cho đến, tự giác tri?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Tôi
trẻ tuổi xuất gia, không thể nói rõ hết ý nghĩa Chánh pháp
luật của Như Lai. Thế Tôn đang ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà
gần đây. Ngài có thể đến hỏi Thế Tôn điều nghi ngờ.
Thế Tôn sẽ nói, tùy sự ghi nhớ mà lãnh thọ.”
Thiên
tử lại nói:
“Này
Tỳ-kheo, nơi chỗ Như Lai đang có nhiều chư Thiên oai lực
vây quanh. Tôi trước chưa hỏi, không dễ gì đến được.
Tỳ-kheo, nếu có thể vì tôi bạch trước Thế Tôn, tôi sẽ
đi theo.”
Tỳ-kheo
đáp:
“Tôi
sẽ vì ngài đi đây.”
Thiên
tử thưa với Tỳ-kheo:
“Vâng,
Tôn giả đi, tôi đi theo sau Tôn giả.”
Tỳ-kheo
đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ Phật, lui đứng một bên;
tường thuật lại đầy đủ cuộc vấn đáp với Thiên tử
cho Thế Tôn nghe và bạch:
“Bạch
Thế Tôn, vị Thiên tử này nếu là người thành thật chốc
lát sẽ đến, nếu không thành thật sẽ không đến.”
Lúc
ấy vị Thiên tử kia từ xa nói vọng lại với Tỳ-kheo:
“Tôi
đã ở đây. Tôi đã ở đây.”
Bây
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Chúng
sanh theo ái tưởng[58],
Do
ái tưởng mà trụ.
Vì
chẳng biết rõ ái,
Nên
thần chết tùy tiện[59].
Phật
bảo Thiên tử:
“Ông
giải thích bài kệ này rồi mới có thể hỏi.”
Thiên
tử bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con không hiểu. Thưa Thiện Thệ, con không hiểu.”
Đức
Phật nói kệ và bảo Thiên tử:
Nếu
biết ái được yêu,
Ở
đó không sanh yêu.
Người
không có sự này,
Người
khác không thể nói[60].
Phật
bảo Thiên tử:
“Ông
hiểu nghĩa này rồi có thể hỏi câu khác.”
Thiên
tử bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con không hiểu. Thưa Thiện Thệ, con không hiểu.”
Đức
Phật lại nói kệ:
Ai
thấy: bằng, hơn, kém,
Ắt
có ngôn luận sanh.
Ba
việc chẳng khuynh động:
Không
yếu mền, trung, thượng[61].
Phật
bảo Thiên tử:
“Hiểu
được nghĩa này thì có thể hỏi.”
Thiên
tử bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con không hiểu. Thưa Thiện Thệ, con không hiểu.”
Đức
Phật lại nói kệ:
Đoạn
ái và danh sắc,
Trừ
mạn, không ràng buộc;
Tịch
diệt, dừng sân nhuế,
Lìa
kết, bặt dục vọng.
Chẳng
thấy nơi trời, người,
Đời
này và đời khác.
Phật
bảo Thiên tử:
“Ông
hiểu nghĩa này rồi mới nên hỏi.”
Thiên
tử bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con đã hiểu. Thưa Thiện Thệ, con đã hiểu.”
Đức
Phật nói kinh này xong, Thiên tử nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ tùy hỷ biến mất.
*
KINH
1079. BẠT-CHẨN[62]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành
Vương xá. Bấy giờ, có Tỳ-kheo kia[63] cuối đêm đến bên
bờ sông Tháp-bổ, cởi y phục để trên bờ, xuống sông tắm
rửa, tắm xong lên bờ khoác sơ một cái y đợi thân khô.
Khi ấy có một Thiên tử từ thân tỏa ra ánh sáng, chiếu
sáng bên sông Tháp-bổ, bảo Tỳ-kheo rằng:
“Tỳ-kheo!
Tỳ-kheo! Đây là gò mả[64], ban đêm bốc khói, ban ngày bốc
lửa. Người Bà-la-môn kia thấy vậy, nói rằng: ‘Hãy phá
cái gò mả này đi. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy
gươm đao.’
“Lại
thấy con rùa lớn[65]. Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi
con rùa này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’
“Lại
thấy có cái cù lâu[66], Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi
cái cù lâu này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm
đao.’
“Lại
thấy có miếng thịt[67]. Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ
đi miếng thịt này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy
gươm đao.’
“Lại
thấy chỗ giết chóc[68]. ‘Trừ đi chỗ giết chóc này. Đào
lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’
“Lại
thấy cái lăng-kỳ[69], Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi
cái lăng-kỳ này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm
đao.’
“Lại
thấy có hai đường. Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi hai
đường này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm đao.’
“Lại
thấy có một cánh cửa. Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Trừ đi
cánh cửa này. Đào lên là người trí, hãy cầm lấy gươm
đao.’
“Lại
thấy có con rồng lớn[70]. Bà-la-môn thấy rồi nói: ‘Dừng
lại, chớ bỏ qua con rồng to. Phải nên cung kính.’
“Này
Tỳ-kheo, ông hãy đem luận này đến hỏi Thế Tôn. Như lời
Phật dạy, ông theo đó thọ trì. Vì sao? Vì trừ Như Lai ra,
tôi không thấy ai trong thế gian này, chư Thiên, Ma, Phạm, Sa
môn, Bà-la-môn nào, mà đối với luận này có tâm ưa thích.
Trừ các đệ tử, hay những người nghe từ tôi rồi nói lại.”
Bấy
giờ, vị Tỳ-kheo sau khi nghe luận này từ Thiên tử ấy, liền
đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ Phật, rồi lui ngồi một
bên. Tỳ-kheo đem các luận của Thiên tử kia hỏi Thế Tôn:
“Bạch
Thế Tôn, thế nào là gò mả? Thế nào là đêm thì bốc khói?
Thế nào là ngày thì lửa cháy? Thế nào là Bà-la-môn? Thế
nào là đào lên? Thế nào là người trí? Thế nào là gươm
đao? Thế nào là con rùa lớn? Thế nào là cù lâu? Thế nào
là miếng thịt? Thế nào là chỗ giết chóc? Thế nào là lăng-kỳ?
Thế nào là hai đường? Thế nào là cánh cửa? Thế nào là
con rồng lớn?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Gò
mả là cái thân sắc gồm sắc đại thô phù của chúng sanh,
bẩm thọ di thể của cha mẹ, ăn uống, y phục che chở, tắm
rửa trau chuốt, nuôi dưỡng. Tất cả đều là pháp biến
hoại, ma diệt. Ban đêm bốc khói nghĩa là giữa đêm có người
thức dậy tùy giác tùy quán[71]. Ban ngày lửa cháy nghĩa là
thực hành theo lời dạy tạo các nghiệp thân, miệng[72]. Bà-la-môn
nghĩa là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Đào lên, nghĩa
là nỗ lực tinh tấn. Người trí nghĩa là đa văn Thánh đệ
tử. Gươm đao là gươm đao trí tuệ. Con rùa lớn nghĩa là
năm cái[73]. Cù lâu[74] nghĩa là phẫn hận. Khúc thịt là bỏn
xẻn tật đố. Giết chóc nghĩa là công năng năm dục[75].
Lăng-kỳ nghĩa là vô minh. Hai đường là nghi hoặc. Cánh cửa
là ngã mạn. Con rồng to là bậc Lậu tận A-la-hán.
“Như
vậy, này Tỳ-kheo, những gì Đại Sư cần làm cho đệ tử,
do thương yêu, nghĩ tưởng đến, vì lợi ích mà an ủi. Đối
với ông, việc Ta đã làm rồi. Các ông nên làm những việc
cần làm. Hãy ở chỗ vắng trong rừng, trong nhà trống, chỗ
núi non, nơi hẻo lánh, trong hang núi v.v... trải cỏ hoặc lá
cây để ngồi, tư duy thiền định, không khởi buông lung,
chớ để sau này phải hối tiếc. Đó là giáo huấn của Ta.”
Phật
liền nói kệ:
Nói
thân là gò mả,
Giác,
quán đêm bốc khói;
Nghiệp
là lửa ban ngày.
Bà-la-môn:
Chánh giác.
Tinh
tấn: chăm khai quật,
Người
trí tuệ sáng suốt,
Dùng
gươm bén trí tuệ.
Bậc
thăng tiến, chán lìa.
Năm
cái là rùa to,
Phẫn
hận là cù lâu;
Xan
tật là khúc thịt,
Năm
dục, nơi giết chóc.
Vô
minh là lăng-kỳ,
Nghi
hoặc là hai đường;
Cánh
cửa hiện ngã mạn,
Rồng,
La-hán lậu tận.
Cứu
cánh dứt các luận,
Nên
Ta nói như vậy.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1080. TÀM QUÝ[76]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Lộc uyển, trú xứ của Tiên
nhân, tại nước Ba-la-nại. Bấy giờ, sáng sớm Thế Tôn đắp
y ôm bát vào thành Ba-la-nại khất thực. Lúc ấy có một Tỳ-kheo
khác vì không trụ tâm, tâm tán loạn, không gìn giữ các căn.
Tỳ-kheo kia sáng sớm đắp y ôm bát vào thành Ba-la-nại khất
thực, từ xa trông thấy Thế Tôn vội thu nhiếp các căn nhìn
thẳng mà đi. Thế Tôn nhìn thấy Tỳ-kheo kia nhiếp trì các
căn, nhìn thẳng rảo bước đi, thấy rồi. Phật vào thành.
Khất thực xong, Ngài trở về tinh xá cất y, bát, rửa chân
xong, vào phòng tọa thiền.
Chiều
hôm ấy, sau khi từ thiền tịnh dậy, Ngài vào trong Tăng chúng,
trải tọa cụ ngồi trước đại chúng, bảo các Tỳ-kheo:
“Sáng
nay Ta đắp y, ôm bát vào thành Ba-la-nại khất thực thấy
có một vị Tỳ-kheo vì không trụ tâm nên tâm tán loạn, các
căn buông thả, cũng đắp y, ôm bát vào thành khất thực.
Tỳ-kheo ấy từ xa thoáng trông thấy Ta liền vội vàng tự
nhiếp trì, đây là ai vậy?”
Khi
ấy vị Tỳ-kheo kia từ chỗ ngồi đứng lên sửa lại y phục,
đến trước Phật, trật vai áo bên hữu, chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con sáng sớm vào thành khất thực tâm tán loạn,
không thu nhiếp các căn, con đang đi thoáng thấy Thế Tôn từ
xa, con liền tự thúc liễm tâm, nhiếp trì các căn.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Ông thấy Ta rồi, có thể tự thúc liễm tâm
và nhiếp trì các căn. Này Tỳ-kheo, pháp này phải nên như
vậy. Nếu thấy Tỳ-kheo cũng nên tự nhiếp trì. Nếu lại
thấy Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di cũng nên nhiếp trì
các căn như vậy sẽ được lợi ích, an ổn, khoái lạc, lâu
dài.”
Bấy
giờ, trong chúng có một Tỳ-kheo khác nói kệ khen ngợi:
Với
tâm kia mê loạn,
Không
chuyên trụ hệ niệm;
Sáng
sớm mang y bát,
Vào
thành ấp khất thực.
Dọc
đường thấy Đại Sư,
Đầy
oai đức, dung nghi;
Vui
mừng sanh tàm quý,
Liền
nhiếp trì các căn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
--------------------------------------------------------------------------------
[1].
Ấn Thuận, “Tụng viii. Tám chúng. 17. Tương ưng Tỳ-kheo”,
gồm hai mươi hai kinh: 1165-1186; Đại Chánh, kinh 1062-1083. Quốc
Dịch, quyển 32, “Tụng vii. Kệ. 1. Tương ưng Tỳ-kheo”,
hai phẩm, hai mươi hai kinh. Phật Quang, quyển 38, kinh 1050-1068.
Pāli, S. 21. 5. Sujāto. Biệt dịch, No 100(1).
[2].
Thiện Sanh 善生. Pāli: Sujāto.
[3].
Hán: nhị xứ đoan nghiêm 二處端嚴. Pāli; ubhayena… sobhati,
sáng chói với hai điều.
[4].
Hán: tự tri tác chứng 自知作證. Pāli: sayaṃ abhiññā sacchikatvā,
bằng thắng trí mà tự mình chứng nghiệm (chứng ngộ).
[5].
Pāli, S. 21. 6. Bhaddi. Biệt dịch, No 100(2).
[6].
Pāli: [Lakuṇḍaka-]Bhdddiya.
[7].
Pāli, S. 17. 36. Ratha. Cf. A. 4. 68. Davadatta. Biệt dịch, No 100(3)
[8].
Đề-bà-đạt-đa 提婆達多. Pāli: Devadatta.
[9].
Ma-kiệt-đà vương A-xà-thế Tỳ-đề-hy-tử 摩竭陀王阿闍世毘提希子.
Pāli: Ajātasattu-kumāro, Vương tử Ajātasattu, chưa làm
vua.
[10].
Biệt chúng 別眾; một số Tỳ-kheo trong Tăng tách thành nhóm
riêng sinh hoạt biệt lập. Bản Pāli không có chi tiết này.
[11].
Hán: cự hư 駏驉 ; giống thú hình như ngựa (Từ hải). Pāli:
assatara, giống lừa lai ngựa.
[12].
Biệt dịch, No 100(4).
[13].
Thủ Tỳ-kheo 手比丘. Biệt dịch: Tượng Thủ Tỳ-kheo. Pāli,
hoặc Hattha (tay), hoặc Hatthi (voi).
[14].
Pāli, S. 21. 8. Nando. Biệt dịch, No 100(5); Cf. No 125(18.6).
[15].
Nan-đà Phật di mẫu 難陀佛姨母子. Pāli: Nando Bhagavato mātucchāputto.
[16].
Pāli, S.21.9. Tisso. Biệt dịch, No 100(7).
[17].
Đê-sa 低沙. Pāli: āyasmā Tisso Bhagavato pitucchāputto, Tôn
giả Tissa, con trai của Bá mẫu của Thế Tôn.
[18].
Pāli, S. 21. 7. Visākho; cf. A. 4. 48. Visākho. Biệt dịch, No 100(8).
[19].
Tỳ-xá-khư Bát-xà-lê Tử 毘舍佉般闍梨子. Pāli: Visākho
pañcālaputto.
[20].
Cúng dường đường 供養堂. Pāli: upaṭṭhānasālā, giảng
đường hay thị giả đường, hay nhà khách.
[21].
Trú chánh thọ 晝正受. Đây chỉ sự nghỉ trưa. Bản Pāli:
sāyaṇhasamayaṃ patisallāna.
[22].
Pāli, S. 21. 4. Navo. Biệt dịch, No 100(9).
[23].
Pāli: mā … etassa bhikkhuno ujjhāyittha, các ông chớ hiềm trách
Tỳ-kheo này.
[24].
Bốn pháp tăng tâm 四增心法; hay bốn tăng thượng tâm. Pāli:
catunaṃ jhānānaṃ ābhicetasikānaṃ, bốn thiền tăng thượng
tâm.
[25].
Pāli, S. 21. 10. Theranāmo. Biệt dịch, No 100(10).
[26].
Danh viết Thượng Tọa 名曰[02]上坐 . Pāli: Theranāmako.
[27].
Pāli: yaṃ atītaṃ taṃ pahīnaṃ, yaṃ anāgataṃ paṭinissaṭṭhaṃ,
paccuppannesu attabhāvapaṭilābhesu chandarāgo suppaṭivinīto, cái
gì đã qua thì đoạn tận, cái gì chưa đến khước từ, trong
những lợi dưỡng cho bản thân thì khéo chế ngự tham dục.
[28].
Pāli, Cf. Ud. 1.8. Bodhi-vagga. Biệt dịch, No 100(11).
[29].
Tăng-ca-lam 僧迦藍. Pāli: Saṅgāmaji.
[30].
Quốc Dịch, “1. Tương ưng Tỳ-kheo, phẩm 2”. Pāli, A. 3.
79. Gandha. Biệt dịch, No 100(12), No 116, No 117, No 125(23.5).
[31].
Đa-ca-la 多迦羅. Pāli: tagara, cây cam tùng, cách hương.
[32].
Pāli, Cf. Luật tạng, Mv.1.22 (Seniya Bimbisàra). Biệt dịch, N0100(13).
[33].
Oanh phát xuất gia 縈髮出家. Pāli: jaṭila. Đây chỉ các anh
em Uruvela-Kassapa (Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp) và các đệ tử của
họ.
[34].
Thiện kiến lập chi-đề Trượng lâm 善建立支提杖林. Pāli:
Laṭṭivane Suppaṭṭha-cetiya.
[35].
Ma-kiệt-đề vương Bình-sa 摩竭提王瓶沙. Pāli: rājā Magadho
Seniyo Bimbíāro.
[36].
Uất-bề-la Ca-diếp 鬱鞞羅迦葉. Pāli: Uruvela-Kassapa.
[37].
Đại hội, chỉ đại tế đàn.
[38].
Pāli, Cf., Luật tạng, Tiểu phẩm, Cv. 4. 4. 4. Biệt dịch, No
100(14).
[39].
Đà-phiêu Ma-la Tử 陀驃摩羅子. Pāli: Dabba Mallaputta.
[40].
Từ Địa 慈地. Pāli: Mettiya-bhummajaka.
[41].
Mật-đa-la 蜜多羅. Pāli: Mettiyā.
[42].
A-lê 阿梨; Ấn Thuận đọc là A-xà-lê (Pāli: ācariya), tức
Hán dịch là Giáo thọ sư hay Quỹ phạm sư. Nhưng đây là
phiên âm từ Skt. ariya (Pāli: ayya): “Thưa Ngài/ Thưa Đức
Ông” từ xưng hô của người nhỏ đối với người lớn.
[43].
Hán: bất thiện bất loại 不善不類, Pāli: nacchannaṃ nappaṭỉūpaṃ.
[44].
Luật Tỳ-kheo: đây chỉ pháp diệt tránh, bằng ức niệm tỳ-ni;
Pāli: sati-vinayo.
[45].
Luật Tỳ-kheo: chỉ pháp diệt tránh bằng tự ngôn trị; Pāli:
paṭiññātakara.
[46].
Pāli, Cf. Ud. 8. 9. Pāṭaḷigāmiya-vagga.
[47].
Pāli, Cf. M. 86. Aṅgulimāla-sutta. Biệt dịch, No 100(16). No 125(38.6).
[48].
Ương-cù-đa-la 央瞿多羅. Bản Pāli, tại Savatthi.
[49].
Đà-bà-xà-lê-ca 陀婆闍梨迦. Pāli: Dhavajālikā (?).
[50].
Ương-cù-lợi-ma-la 央瞿利摩羅. Pāli: Aṅgulimāla.
[51].
Thần 神. Đoạn kệ này không có Pāli tương đương. Đây
chắc là dịch từ bhūta, quỷ thần, cũng chỉ các loại thảo
mộc.
[52].
Bất Hại 不害. Pāli: Ahimsa, tên do cha mẹ đặt.
[53].
Pāli, S.1. 20. Samidhi. Biệt dịch, No 100(17)
[54].
Tháp-bổ hà 搨補河. Pāli: Tapodā, tên hồ lớn ngoại thành
Vương xá.
[55].
Pāli: mā sandiṭṭikaṃ hitvā kālikaṃ anudhāvī’ti, chớ xả
bỏ cái hiện thực, mà chạy theo cái lệ thuộc thời gian.
Chỉ sự tu tập đòi hỏi nhiều thời gian. Bản Hán đọc
akālika, do tách âm cuối của từ đi trước, hitvā = ā+a.
[56].
Pāli: kālikā hi āvuso kāmā, dục vọng vốn lệ thuộc thời
gian.
[57].
Pāli: sandiṭṭhiko ayaṃ dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ
veditabbo viññūhī ti, ‘Pháp này (của Phật) là hiện thực
(được thấy ngay hiện tại), không lệ thuộc thời gian, hãy
đến để thấy (là pháp thực chứng), có khả năng hướng
dẫn (đến Niết-bàn), được chứng biết từ nội tâm bởi
kẻ Trí’.
[58].
Ái tưởng 愛想. Pāli: akkheyyasaññino sattā, chúng sanh có tưởng
về danh (tên gọi người và vật).
[59].
Pāli: akkheyyaṃ apariññāya, yogamāyanti maccuno, do không biết
rõ danh nên bị Tử thần trói đi.
[60].
Pāli: akkheyyañca pariññāya, akkhātāraṃ na maññati; tañca
tassa na hoti, yena naṃ vajjā na tassa atthi, do biết rõ cái bị
gọi tên, nó không suy tưởng đến tên gọi. Ai không có điều
này, người đó không có lầm lỗi.
[61].
Pāli: tīsu vidhāsu avikampamāno, samo visesī ti na tassa hoti, ai
không dao động trong ba sự này, người đó không có ý nghĩ
hơn, kém.
[62].
Pāli, Cf. M. 23. Vammīka. Biệt dịch, No 100(18), No 125(39.9).
[63].
Pāli: Tôn giả Kumārakassapa, sống trong rừng Andhavana (Ám lâm).
[64].
Hán: khâu trũng 丘塚. Pāli: vammīka, ổ kiến hay gò mối.
[65].
Bản Pāli, đào lần đầu, thấy cái then cửa (laṅgi).
[66].
Cù lâu 氍氀. Không hiểu ý. Pāli, đào lên lần thứ hai: uddhumāyika,
thây sình (hay con nhái).
[67].
Nhục đoạn 肉段. Pāli, lần thứ ba: dvidhāpatha, hai con đường.
[68].
Đồ sát xứ 屠殺處. Pāli, lần thứ tư: caṅgavāraṃ, chiếc
thuyền (khúc gỗ được moi ruột).
[69].
Lăng-kỳ 楞耆. Pāli: laṅgi, cái then cửa. Bản Pāli, lần
thứ năm: kummo, con rùa.
[70].
Đại long 大龍. Pāli: nāga, con rắn hổ mang.
[71].
Tùy giác tùy quán 隨覺隨觀 . Pāli: anuvitakketi anuvicāreti,
suy tầm, suy tưởng.
[72].
Pāli: rattiṃ anuvitakketvā anuvcāretvā divā kammante payojeti
kāyena vācāya, sau khi ban đêm suy tầm, suy tưởng, ban ngày
thực hiện công việc bằng thân hay miệng.
[73].
Tức năm triền cái. Bản Pāli, con rùa, chỉ cho năm thủ uẩn.
[74].
Bản Pāli: uddhumāyika.
[75].
Bản Pāli: asisūnā.
[76].
Biệt dịch, No 100(19).
