Dẫn nhập
Kiến
Tánh Thành Phật là tác phẩm của Thiền Sư Chân Nguyên, soạn
vào đời Hậu Lê. Phần đầu sách là lời Tiểu Dẫn và Lời
Tựa, phần trong sách nói về Kiến tánh thành Phật là phần
chánh, phần này nói thẳng về Thiền, vì Thiền Tông chủ
trương tu là phải kiến tánh mới thành Phật. Nhưng tại sao
trong sách Kiến Tánh Thành Phật dạy tu Thiền mà nói về pháp
môn tu Tịnh-độ ? Và, ngài Chân Nguyên lập ra đài Cửu phẩm
liên hoa ở chùa Quỳnh Lâm, chùa Hoa Yên, chùa Linh Ứng để
làm gì ? - Trong sách có hai phần : Phần một chỉ thẳng để
cho người tu kiến tánh thành Phật, phần hai là phần phương
tiện nhằm để thích hợp với trình độ căn cơ của người
bình dân, Ngài dạy tu niệm Phật cầu vãng sanh. Ðó là nói
sơ lược qua nội dung quyển sách.
A.CHÁNH
VĂN
I-
LỜI TIỂU DẪN
KHẮC
IN LẠI SÁCH KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT
Sách
này đặt tên "Kiến Tánh Thành Phật", nghĩa là sao ?
Bởi muốn cho người ngưỡng mộ tên này, cần nhận được
lý thật của nó. Như kinh nói: "Vì muốn cho chúng sanh khai,
thị, ngộ, nhập tri kiến Phật". Người nhận thấy lý đó
thì có thể thành Phật. Còn mê nó thì ta cũng không hề mất.
Bởi tự tánh sâu lắng, bản tâm trong lặng, cao vút tồn tại
một mình, cao vượt thoát không gì ngoài. Mới biết, tất
cả hàm linh đều có đủ đức tánh Như Lai, do vì chúng sanh
chướng sâu tuệ cạn, nên dùng hàng ngày mà chẳng tự thấy.
Vậy nên Ðức Năng Nhân thầy ta rất thương xót chúng sanh
luân hồi mãi nơi khổ thú, một lòng vì việc cứu khổ mà
dạy cho họ minh tâm kiến tánh. Cũng như nhà Nho chúng ta vì
"thành đức" dạy cho người cùng tột lý tánh, chỉ là một
đạo lý thôi.
Tôi
có một người bạn tâm đắc, nhân nói với nhau: Chúng ta
mang tên Tỳ-kheo, từ lâu đã kết chặt nghiệp tập huân nhiễm,
tự bỏ của cải nhà mình đi làm khách lang thang, chẳng hay
biết châu báu trong áo, không lạ gì chẳng thấy tánh ! Dù
có mà người chẳng khéo nhận thấy tự tánh ấy mới ngầm
khiến bậc Tiên đức trình thuật lại sách này. Bởi chẳng
biết mình có khả năng ấy, đâu khỏi phạm vào lời răn
nhắc: "Khi nói đến tâm tánh thì trừng mắt nhìn nhau ?"
Bản
sách này, tôi được trưởng lão Chính Giám viện chùa Vĩnh
Nghiêm tặng cho. Cuối lời tựa thấy có ghi: "Ðời Lê, niên
hiệu Chính Hòa thứ 19 (1698), in tại chùa Long Ðộng", thì
biết khoảng cách từ đời Trần đến đời Hậu Lê ít có
người nhận được tông chỉ vậy.
Tổ
sư Tuệ Ðăng của chúng tôi sợ rằng càng lâu càng thất
truyền, nên Ngài biên soạn tập sách này, cùng lời biện
biệt để chỉ bày. Hãy xem bài tựa ban đầu, lời đơn sơ
mà đầy ý vị, chất phác mà có văn vẻ. Chỗ trước thuật
vừa khuyên người, lại mở bày nghĩa ẩn chứa sâu kín, nói
thì gồm cả phước hữu vi, lời thì mang đầy hương vị
kiến tánh. Ðó là nghĩa tiếp nối bậc Thánh từ trước,
mở mang cho người về sau.
Song,
với người đồng đạo khi thưởng thức ý vị sách này,
hoặc có nhận lấy được điều gì, thì cũng như một phen
trợ giúp cho việc đi xa, lên cao, chớ cho rằng sách này không
thể học theo mà phủ nhận đi. Ðời nay đã cách xa, lời
nói cũng bị mai một, sách này chẳng còn được lưu hành,
nên nương theo bản cũ kính cẩn khắc in lại để truyền
rộng ra. Nhưng bản cũ nét chữ đơn giản và cẩu thả, nay
có tạm sửa lại cho đúng. Pháp sự này đã hoàn thành, tạm
mượn ít lời vụng về để tỏ bày duyên khởi, đâu dám
nói là Lời tựa !
Chùa
Pháp Vũ, cuối thu năm Ðinh Dậu
Hậu
học Tỳ-kheo Diệu Trạm
Kính
ghi
Bản
được cất giữ tại chùa Pháp Vũ, thôn Quảng Nội, xã Ðồng
Lại, tổng Ðông Cao, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang, tỉnh
Hải Dương.
Mùa
an cư kiết hạ, tại am Lan Nhã Thiền Dược, bên mé Ðông
chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, Hòa thượng Tuệ Ðăng Chân Nguyên
hiệu san.