|
c
LỜI
KHAI THỊ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT
Của Ngài
Triệt Ngộ Thiền Sư
Người
dịch : Thích Ðạt Dương
Phật
Lịch 2512
In tại
ấn quán: Nam - Trung - Bắc, 134 Lý Thái Tổ, Sài Gòn, Việt
Nam
Minh
Tâm là một yếu pháp trong hết thảy các pháp và Tịnh Tâm
là một yếu hạnh trong hết thảy các hạnh. Nhưng cái yếu
pháp Minh Tâm không chi bằng niệm Phật. Hể nhớ Phật, niệm
Phật, thì lúc hiện tiền hay lúc đương lai, quyết định
thấy Phật, chẳng cần phải cầu phương tiện nào khác, mà
tự tâm được mở mang bởi niệm Phật. Niệm Phật như vậy
không phải là cái pháp Minh Tâm hay sao?
Lại
cái yếu hạnh Tịnh Tâm cũng không chi bằng niệm Phật. Hể
một niệm tương ứng là niệm Phật. Bỏ hột châu trong xuống
nước,thì nước đục phải trở thành nước trong. Ghi danh
hiệu Phật vào tâm, thì tâm loạn phải trở thành tâm Phật.
Niệm Phật như vậy không phải là cái yếu hạnh Tịnh tâm
hay sao?
Cho
nên một câu niệm Phật hiệu, nhiếp cả môn ngộ và môn
tu. Nếu nói ngộ thì gồm có tín, nói tu thì gồm có chứng.
Mà tín, giải, tu, chứng thì nhiếp cả Ðại thừa và Tiểu
thừa, bao nhiêu tông yếu của các kinh thảy đều thu hết.
Thế thì một câu Di Ðà rõ là cái đạo chí yếu vậy.
Nguyên
lai cái tâm mật niệm hiện tiền của chúng ta toàn chơn mà
thành vọng, toàn vọng mà vốn chơn, trọn ngày bất biến
và trọn ngày tùy duyên. Nếu chẳng tùy theo cái duyên Phật
giới mà niệm Phật giới, thì sẽ niệm chín giới kia. Chẳng
niệm tam thừa ( tam thừa: Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát
thừa ), thì lại niệm lục phàm. Chẳng niệm quỷ súc, thì
lại niệm địa ngục. Vì đã có tâm thì không thể nào gọi
là không có niệm. Bởi cái tâm thể không niệm ấy chỉ có
Phật chứng được mà thôi. Ngoài ra từ bậc đẳng giác nhẫn
xuống đẳng thấp tất cả đều có niệm hết cả.
Mà
nếu một niệm khởi ra, thì tất lạc vào mười pháp giới,
chớ không có niệm gì ra ngoài phạm vi mười pháp giới cả.
1-
Như tâm ta mà tương ứng được với tâm bình đẳng đại
từ đại bi và công đức y báo chánh báocùng là vạn đức
hồng danh, tức là niệm pháp giới Phật.
2-
Như tâm ta mà tương ứng được với tâm Bồ Ðề và lục
độ vạn hạnh, tức là niệm pháp giới Bồ Tát.
3-
Như ta dùng cái tâm vô ngã mà tương ứng với mười hai nhân
duyên tức là niệm pháp giới Duyên Giác.
4-
Như tâm ta mà tương ứng với tứ thiền, bát định, và mười
điều thương phẩm tức là niệm pháp giới Thiện-cõi trời.
5-
Như ta dùng cái tâm vô ngã mà quan sát bốn pháp tứ diệu
đế, tức là niệm pháp giới Thinh Văn.
6-
Như tâm ta mà tương ứng với năm điều giới cấm, tức là
niệm pháp giới Nhơn.
7-
Như ta tu theo các pháp giới thiện mà còn giữ cái tâm nóng
giận, kiêu ngạo, và hơn thua, tức là đọa lạc vào pháp
giới A Tu La.
8-
Như ta dùng cái tâm chậm trễ yếu đuối mà niệm mười điều
ác hạ phẩm, tức là đọa lạc vào pháp giới Súc Sanh.
9-
Như ta dùng cái tâm nữa gấp nữa bướng mà tương ưng với
niệm mười điều ác trung phẩm, tức là đọa lạc vào pháp
giới Ngạ Quỷ.
10-
Như ta dùng cái tâm mãnh liệt mà tương ưng với niệm mười
điều ác thượng phẩm, tức là đọa lạc vào pháp giới
Ðịa Ngục.
Vậy
hằng ngày ta phải tự xét cái niệm tâm sơ khởi của ta xem
nó tương ứng với pháp giới nào nhiều hơn và pháp giới
nào mạnh hơn, thì chổ an toàn lập mạng về tương lai của
ta không cần phải hỏi ai mà cũng tự biết.
Trái
lại hết thảy cảnh giới đều do nghiệp sở cảm, do tâm
sở hiện, thì cái hiện ấy đương thể tức là tâm. Nếu
đã có tâm thì không sợ gì mà không có cảnh. Chẳng hiện
cảnh giới Phật, thì hiện cảnh của chín giới kia. Chẳng
hiện cái cảnh Tam thừa thì hiện cái cảnh giới lục phàm.
Chẳng hiện cảnh thiên, nhơn, quỷ, súc thì hiện cảnh địa
ngục.
Duy
có khác nhau là : cái cảnh sở hiện của Phật và tam thừa
thì tuy có hơn có thua mà cũng đều được hưởng thọ cái
vui thiền định ngũ dục. Cái cảnh sở hiện của quỷ
súc thì vui ít khổ nhiều, đến như cái cảnh sở hiện của
địa ngục thì lại toàn là thống khổ.
Cũng
như cái cảnh giới núi, sông, nhơn vật của người thấy
trong giấc mơ chiêm bao kia, đều do mộng tâm sở hiện ra cả.
Nếu không mộng tâm thì tất không mộng cảnh mà nếu không
mộng cảnh thì tất không mộng tâm.
Vậy
nên biết ngoài tâm không cảnh, ngoài cảnh không tâm. Toàn
cảnh tức là tâm, toàn tâm tức là cảnh. Nếu do trong Nhơn
mà xét Quả thì phải quán tâm, bằng do trong Quả mà nghiệm
Nhơn thì phải quán cảnh. Cho nên nói:" Chưa có Tâm nào không
tâm và cũng chẳng có cái cảnh nào không cảnh.
Quả
ắt theo Nhơn. Nhơn ắt có Quả là lẽ tất nhiên như vậy.
Nếu
ai là người qúa rõ thấu cái lý một niệm khởi ra tất phải
lạc vào mười giới, mà chẳng chịu phát tâm niệm Phật.
Cái lý tâm cảnh như một nhân quả không hai mà chẳng chịu
niệm Phật cầu sanh về tịnh độ.
Nhưng
pháp môn niệm Phật cần phải lấy 16 chữ :" Vì sự sanh
tử, phát tâm bồ đề, lấy tín nguyện sâu trì danh hiệu
Phật." làm một cang tổng lớn, bởi vì hết thảy những
sự thống khổ sanh tử mà nếu sanh tử chẳng dứt được
thì lại sanh rồi tử, tử rồi sanh, ra khỏi thai bào này,
thì chun vào thai bào khác, cổi bỏ đảy da nọ, mang lấy đảy
da kia, khổ nào xiết nói.
Huống
chi chưa thoát khỏi bánh xe luân hồi thì khó nổi tránh phần
đọa lạc thai lừa bụng ngựa. Kiếp kiếp ra vào xác chó,
hình heo đời đời thay đổi. Cái nhơn thân ấy là thiệt
dễ mắc mà khó làm. Một niệm sai lầm thì đã lọt trong
ác thu,ù tam đồ dễ tới,địa ngục dễ vào tâm thức luôn
sống trong ngày dài mà khổ nặng. Từ đời thất Phật
nhẫn lại mà cái thân con kiến hãy còn, sau khi tám vạn kiếp
rồi mà cái lớp Bồ Câu chưa cổi, thời gian dài ngắn không
lúc rãnh rang. Thống khổ muôn ngàn không người cứu vớt,
nói đến rùng mình rởn óc, nghĩ thêm xót dạï đau lòng.
Vật ta phải chăm nghĩ cái sanh tử ấy một cách cho thống
thiết cũng như lữa cháy đầu mới được.
Song
ta đã biết vì cái khổ sanh tử phải thoát ra cho khỏi. Thì
ta cũng nên làm thế nào cho hết thảy chúng sanh trong vòng
sanh tử kia cũng đều ra khỏi như ta. Vì chúng sanh với ta
cũng đồng một thể, cũng đều là cha mẹ trong kiếp quá
khứ và cũng đều là chư Phật trong đời vị lai. Nếu ta
chỉ cần phần tự lợi một mình mà chẳng nghỉ đến sự
phổ độ, thì chính ta đối với lương tâm cũng không an được.
Huống
chi đại tâm của ta chẳng phát thì ngoài không thể với chư
Phật trong không thể hợp với bản tánh, trên không thể viên
thành được Phật đạo, dưới không thể phổ độ được
quần sanh, thì bao nhiêu ân ái của ta từ vô thỉ làm sao cho
giải thoát, và bao nhiêu oan khiên của ta từ vô thỉ làm sao
cho tiêu ma. Gia dĩ tội nghiệp của ta trong lụy kiếp khó nổi
sám trừ và thiện căn của ta trong lũy kiếp cũng khó nổi
thành thục. Mà trên con đường tu hành của ta trong đời này
nếu không khởi Bồ Ðề tâm thì dễ bị lạc vào thiên không
tiểu thừa, cho nên ta cần phải phát đại Bồ Ðề Tâm là
thế.
Sau
khi phát đại tâm rồi, thì nên tu đại hạnh, mà ở trong
tất cả hạnh môn, thì chỉ có lấy tâm thâm tín, thâm nguyện
của ta mà chuyên trì danh hiệu của Phật là một hạnh dễ
làm dễ được và rất ổn đáng, rất viên đốn mà thôi.
Thâm
tín là ta tin chân thật rằng đức Thích Ca Như Lai không bao
giờ thuyết dối trá. Ðức Di Ðà Thế Tôn không bao giờ nguyệân
dối. Mà ta đã tạo cái nhơn niệm Phật cầu sanh, thì phải
cảm cái quả Phật, ắt sẽ thấy Phật vãng sanh. Cũng như
trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu, âm
vang ứng theo tiếng, bóng dáng ứng theo hình. Nhơn không đến
nổi luống công, quả không ngẫu nhiên mà đặng. Cái đó
chẳng đợi hỏi Phật mà ta có thể tự tin một cách chắc
chắn như vậy.
Huống
chi cái tâm một niệm hiện tiền của ta, toàn chơn mà thành
vọng, toàn vọng mà vốn chơn, trọn ngày tùy duyên, trọn
ngày bất biến dựng cùng ngang khắp không có gì lọt ra ngoài
dầu cho Chánh báo Di Ðà và Y báo tịnh độ cũng ở vào trong
đó cả.
Thế
mà ta dùng cái tâm sẳn đủ có Phật, chuyên niệm Phật sẳn
đủ nơi tâm thì lẽ nào Phật sẳn đủ nơi tâm mà lại chẳng
ứng với tâm sẳn đủ có Phật hay sao!
Ta
được tin như thế rồi, thì nguyện tâm của ta tự nhiên
khẩn thiết. Ta hãy lấy cái vui ở cõi cực lạc kia mà coi
lại cái khổ ta bà này, thì tâm ta không xiết nổi nhàm chán
xa lánh như lìa nơi hầm tiêu, tránh chổ lao ngục.
Còn
ta lấy cái khổ ta bà này mà coi đồng như với cái vui ở
cực lạc kia, thì tâm ta đều thấy sự trông mong, ưa muốn,
như nôn về cố hương và như nôn tới bảo sở vậy.
Tóm
lại nguyện tâm của ta mà được khẩn thiết như khát nhớ
uống, như đói nhớ ăn, như bệnh khổ nhớ thuốc hay, như
con thơ nhớ mẹ hiền, và như tránh sự giết hại của ta
vào trong cái yểm khổ hận lạc như thế, thì hết thảy những
cảnh duyên ở ngoài không dễ gì lôi cuốn và xây lật được
ta cả.
Sau
khi tín nguyện kiên cố rồi, thì ta dùng cái tâm tín nguyện
ấy mà chấp trì danh hiệu của Phật. Niệm một tiếng là
một hột giống chín phẩm hoa sen, niệm một câu là một chánh
nhơn vãng sanh tịnh độ, nhưng cần phải niệm niệm không
đổi, tâm tâm nối nhau. Mặt mặt chuyên cần, đừng cho gián
tập, càng lâu càng bền, càng niệm càng thiết thì một ngày
kia tự đi đến cái cảnh giới nhất tâm bất loạn.
Trong
quán kinh nói: "tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Pháp" mà nếu
so với câu "chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật."
của thiền tông nói, thì câu nói ấy của quán kinh thì lại
càng thẳng tắt chóng lẹ hơn vì sự thấy tánh khó lắm mà
sự làm Phật thì dễ.
Tại
sao thế? bởi vì một bên thì phải xa lìa cả tâm lẫn ý
thức mà hiện rõ cái bản thể linh quang mới là thấy Tánh,
cho nên khó. Còn một bên thì chỉ chuyên trì danh hiệu và
quán tưởng y báo, chánh báo của Phật tức là tâm làm Phật
cho nên dễ.
Chính
Phật nói: Trong khi tâm của chúng ngươi tưởng Phật, thì
tâm ấy tức là ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẽ đẹp.
Vậy không phải là tưởng niệm Phật tức là làm Phật hay
sao!
Huống
chi thành Phật với Phật lý không phải là hai, mà lại một
bên thấy tánh so với một bên làm Phật khó dễ cách nhau
như một trời một vực. Vậy đũ biết niệm Phật so với
tâm thiền, thì niệm Phật là một pháp rất thẳng tắt và
mau chóng đạt.
Trái
lại một bên là lời của tổ thiền tông và một bên là
lời của Phật quán kinh, thì ta nên trọng bên nào, khinh bên
nào, lấy bên nào. Người học Phật cần phải dứt trừ cái
tập quán cũ mà để làm cho tâm trống, khi bình tỉnh rồi
tự mình kiểm điểm thử coi, thì chắc có một ngày kia sẽ
phải thú nhận cái thuyết của Phật nói là đúng.
Chúng
ta phải biết, ban sơ tâm ta vì mê khởi vọng. Thì nói rằng
một niệm vọng đọng, rốt sao tâm ta trở vọng về chơn
thì nói rằng một niệm tương ứng. Thế thì trước khi khởi
vọng và sau khi về chơn, còn có pháp gì ra ngoài một niệm
ấy được.
Vậy
nên một niệm ngộ theo tịnh duyên, tức là Phật pháp giới
mà mê theo nhiểm duyên tức chánh pháp giới, mười phương
hư không là một niệm ấy mê muội. Hết thảy quốc độ
là một niệm ấy lòng động chánh báo, tứ sanh là một niệm
tình, tưởng hiệp ly mà có y báo. Tứ đại là một niệm
ấy động tịnh trái thuận mà thành.
Thế
là biết pháp nào, pháp nấy cũng chỉ nương nơi niệm ấy
biến hiện, nếu lìa niệm ấy ra thì không pháp gì có cả.
Nguyên
lai một niệm gốc ấy là pháp giới mà do nơi duyên khởi
ra, nhưng duyên không có tự tánh toàn thể chỉ là pháp. Cho
nên được ngang khắp mười phương dựng cùng ba khoản, lìa
cả tứ quả, tuyệt cả bích phi, không thểâ nghỉ bàn được
mà có đũ oai thần và có đủ công dụng một cách tự nhiên.
Ngày
nay ta dùng cái niệm ấy mà niệm Phật A Di Ðà cầu sanh về
cõi cực lạc tịnh độ, thì đương lúc ta niệm đó, tức
là y báo chánh báo bên tây phương kia đều ở trong tâm ta,
và tâm ta cũng ở trong y báo, chánh báo ở bên tây phương
kia. Chẳng khác nào hai mặt gương giao tiếp ánh sáng, mà chiếu
rọi lẫn nhau, vốn không ngăn ngại ấy cũng là cái tướng
ngang khắp mọi phương đó vậy.
Còn
như ước lược về lý dựng cùng ba khoản mà nói thì trong
lúc ta niệm Phật ấy, tức là lúc ta thấy Phật, và cũng
tức là lúc ta thành Phật. Lại trong lúc ta cầu sanh ấy tức
là lúc ta vãng sanh, và tức là lúc ta độ sanh ba khoản đồng
thời không sao tránh trước.
Tuy
ánh châu quang trong lưới, thiên đế toàn thể khó đều, những
việc mộng sự trong giấc nam a mật lắng hơn giống, lý ấy
ngộ thì thiết khó, mà tin thì thiệt dễ. Lý ấy nếu ta thừa
lãnh thì được liền, thì sẽ chắc toàn thân thọ dụng,
cho nên cổ nhơn nói: "sự tham học hết và nói, việc làm
đã xong là thế, bằng chưa đặng như vậy thì chỉ nên tùy
tiện quan sát và tùy thuận thọ dụng đó thôi."
Vã
lại tâm của ta hay thọ nghiệp và cũng hay chuyễn nghiệp
mà nghiệp do tâm tạo và cũng tùy tâm mà chuyễn nghiệp buộc,
mà nghiệp chẳng tùy tâm chuyển , thì tức là nghiệp thì
tức là nghiệp hay buộc tâm.
Tại
sao tâm hay chuyển nghiệp?: nghĩa là tâm ta hiệp với Phật
thì tức là tâm hay chuyển nghiệp.
Tại
sao nghiệp hay buộc tâm? : tâm ta cứ theo thường phận mà
đành làm, đành chịu tức nghiệp hay buộc tâm.
Cho
nên hết thảy những cảnh giới hiện tiền và hết thảy
những quả báo đương lai đều do nghiệp sở cảm và đều
do tâm sở hiện. Cho nên cảnh trước báo sau đều không nhất
định, ấy là vì tâm hay chuyển nghiệp.
Nếu
người ở trong lúc tâm bị nghiệp buộc tâm vào cảnh làm
cho báo đều nhất định, mà thoạt nhiên phát tâm rộng lớn
tu hạnh chơn thiệt. Tâm hiệp với Phật, và hiệp với đạo,
thì tâm có thể chuyển nghiệp mà cái nhất định của cảnh
và báo kia lại hóa thành không định.
Còn
như người ở trong lúc nghiệp bị tâm chuyển làm cho cảnh
và báo không nhất định mà nếu đại tâm thụt lùi, thiệt
là hạnh kém thiếu. Thì nghiệp trở lại buộc tâm, mà cái
không định của cảnh và báo kia hóa thành nhất định.
Nhưng
cái cơ phát tâm với chẳng phát tâm và cái quyền tạo nghiệp
hay là chuyển nghiệp, thiệt ra đều ở nơi ta.
Nếu
ngày nay ta phát tâm niệm Phật cầu sanh về cõi cực lạc,
hoặc quán tưởng y báo chánh báo bên cảnh tây phương hoặc
chuyên trì danh hiệu của Phật Di Ðà niệm niệm nối luôn,
không hề gián đoạn, tức tâm với Phật hiệp đến khi cái
hiệp ấy cùng tột rồi, thì tâm ta có thể chuyển nghiệp
được mà làm cho cái hiện cảnh ta bà trở thành cực lạc.
Và cái lai báo thai ngục trở thành liên báo, mà ta tức là
người tự tại bên cõi tây phương tịnh độ vậy.
Còn
như trong lúc này mà oan tâm của ta hoặc có thai thất, hay
là niệm niệm tâm của ta hoặc sanh thối thuyển, tức là
chẳng hiệp với Phật. Thì nghiệp trở lại buộc tâm làm
cho tiền cảnh và lai báo đều y nhiên như cũ mà ta cũng hườn
làm chúng sanh thọ khổ ở cõi ta bà, không sao thoát khỏi.
Vậy
thì chúng ta, ai là người có chí xuất ly, cánh sanh tịnh độ,
có nên răn sợ và có nên dõng mãnh tinh tấn không ?
Vã
lại trong môn tịnh độ lấy nguyện làm gốc, nên đã có
nguyện thì sau chắc được
viên mãn tất cả, coi như ông
Uất Ðầu Lam Phất thường thiền phi tưởng định ớ mé
nước hay trong rừng , mổi khi định lực sắp thành, thì hay
bị các thứ cá, chim làm cho kinh động, nhơn vậy ông bực
giận mà đã phát lời ác nguyện rằng: "Ta một ngày
kia sẽ làm con Phi Ly vào rừng ăn chim, xuống nước ăn cá
cho được."
Quả
nhiên sau khi định lực thành rồi thì ông được sanh lên
cõi trời phi tưởng sống lâu đến tám vạn đại kiếp tới
lúc thiên báo vừa hết thì ông lại bị đọa làm con Phi Ly
vào rừng xuống nước mà ăn chim cá. Ðó là cái ác nguyện
nó vẫn trái hẳn với tự tánh, mà còn có lực dụng to lớn
làm cho viên mãn được như thế, huống chi cái nguyện niệm
Phật cầu sanh là cái thiện nguyện tương xứng tánh, mà lại
không viên mãn được hay sao.
Trong
truyện thần tăng chép: có một ông tăng đứng trước tượng
Phật đá mà phát lời nguyện giỡn. Như đời này mà sự
sanh tử chẳng rồi, thì tôi nguyện qua đời sau sẽ làm một
vị đại thần oai võ.
Quả
nhiên sau khi chết, ông bèn thác sanh làm chức đại tướng
quân. Ðó là cái nguyện diễu mà còn thành tựu như vậy huống
chi cái nguyện niệm Phật cầu sanh của ta là cái nguyện chí
thành mà lẽ nào lại không thành tựu.
Truyện
ấy lại chép : Có một ông tăng kinh luận thông suốt, học
rộng biết nhiều mà đến đâu cũng không gặp cái duyên hóa
độ, ông hằng than thở và tự buồn tủi lấy phận mình,
vừa đâu có một ông tăng khác thấy vậy mới nói: người
học Phật pháp mà chẳng nghe câu: trong khi chưa thành Phật
quả, trước phải kết duyên với người hay sao? Ngày nay ngươi
tuy rõ Phật pháp mà không có duyên, thì biết làm thế nào
được.
Ông
nói: ta cũng tính trọn đời như vậy thôi.
Ông
kia nói : để ta liệu dùm cho ngươi, vậy chớ lâu nay ngươi
có súc tích những vật gì?
Ông
nọ nói : không có vật chi cả chỉ dư một cái y thôi.
Ông
kia nói : vậy cũng đủ.
Ông
kia nói vừa xong, bèn hỏi y đem bán mà lấy tiền mua đồ
thực vật. Rồi dẫn ông nọ đi đến một khu rừng, là chổ
có nhiều chim thú tụ tập, ông kia để cả đồ ăn xuống
đất, rồi bày cách cho ông nọ, phát nguyện và dặn rằng:
sau hai mươi năm , người mới nên khai pháp.
Ông
nọ cũng y lời như vậy.
Ðến
đúng 20 năm sau, ông khai pháp thì quả nhiên những loài chim
thú thọ ăn của ông trước kia nó đã chuyển sanh làm người
nên ngày nay đến thọ giáo cùng ông rất đông mà toàn là
những chàng thanh niên tất cả.
Ðó
là lời nguyện cho chim thú mà chim thú còn thoát khỏi thân
súc sanh làm thành thân người như vậy, thì lẽ nào mình tự
nguyện phần mình mà lại không tự độ cho phần mình được.
Huống
chi Phật dùng bốn mươi tám lời nguyện, mà ngài tự thành
Phật, thì cái nguyện nhiếp sanh của Phật, mà làm sao lại
không quyết định vãng sanh.
Coi
như ông Hoanh Pha là một người rượu thịt, mà đến sau ông
xem truyện vãng sanh, cứ mổi lần đọc qua là một lần gật
đầu cảm phục. Sau khi xem rồi, ông bèn phát tâm niệm Phật
luôn bảy ngày không ăn.
Lúc
ấy cơ cảm, Phật hiện thân an ủi ông rằng: thọ số của
ngươi ở dương thế còn mười năm nữa mới hết, vậy ngươi
cứ vui lòng niệm Phật cho hẳn, tới chừng đó ta sẽ tiếp
ngươi.
Ông
Hoanh Pha nói: Ta bà này là cõi trược ác, hay khiến người
dễ mất chánh niệm, nên tôi muốn sanh về tịnh độ cho sớm
đặng gần gủi để vâng thờ các thánh.
Phật
nói: chí ngươi đã cương quyết như vậy, thì sau ba ngày ta
sẽ đến tiếp ngươi.
Quả
đúng ngày giờ, Phật đến tiếp dẫn ông Hoanh Pha được
vãng sanh.
Lại
ngài Hoài Ngọc thiền sư chuyên tu tịnh nghiệp, một lần
nọ, ngài thấy Phật và Bồ Tát hiện đày giữa khoảng hư
không lại có một người bưng cái đái bằng bạc mà đi vào
chổ ngài thì lúc ấy trong tâm ngài nghĩ rằng: Ta một đời
tu niệm tinh tấn là chí quyết ở nơi đài vàng mà sao nay
lại trái với bản nguyện như thế.
Ngài
vừa nghĩ như thế, thì cái đài bằng bạc tự nhiên ẩn mất.
Từ ấy ngài tinh tấn bội phần trải qua hai mươi mốt ngày,
ngài lại thấy Phật và Bồ Tát cũng hiện đầy giữa khoảng
hư không mà người bưng đài bằng bạc trước kia bây giờ
lại bưng cái đài bằng vàng đi đến, ngài thấy vậy bèn
im lặng ngồi mà tịch.
Lại
ông Lưu Di Dân nương ở theo chùa Ðông Lâm của Ngài Huệ
Viển mà niệm Phật. Có một hôm vừa lúc ông đương tưởng
niệm Phật, thì vừa thấy Phật hiện thân.
Ông
bèn nghĩ trong tâm làm sao được tay Phật vò xoa trên đầu
ông, thì ông thấy phật vò xoa đầu ông liền. Ông lại nghỉ
nữa: làm sao được cái y của Phật đắp trên mình ông, thì
ông thấy Phật lấy y của Phật đắp trên mình ông theo như
chổ sở nguyện.
Ôi!
lòng Phật từ bi đối với chúng sanh, thiệt chẳng khác nào
cha mẹ đối với con trẻ. Muốn vãng sanh mau thì lập tức
Phật làm cho vãng sanh mau, muốn đài bằng vàng thì lập tức
Phật cho đổi đài bằng vàng, muốn tay vò đầu thì lập
tức được vò đầu, muốn y Phật đắp lên mình thì lập
tức Phật lấy y đắp lên mình.
Phật
đã từ bi thương xót hết thảy chúng sanh, thì lẽ nào đối
với ta, Phật lại không từ bi thương xót. Phật lại viên
mãn tất cả cái nguyện của chúng sanh, thì lẽ nào đối
với ta, Phật không làm cho mãn nguyện.
Xét
vậy thì biết tâm Phật từ bi vốn không chọn lựa, nếu
ta thiệt lòng phát nguyện, thì lẽ tất nhiên phải tin mà
tin và nguyện đã thiệt là hạnh tu tất nhiên phải làm, cho
nên trong ba món tư lương: tín , nguyện và hạnh ấy, chỉ
có một cái nguyện là gồm hết cả.
Ta
nên nghỉ rằng: Trong đời có chi đáng trọng bằng tinh thần,
và có chi đáng tiếc bằng cái bóng sáng coi như là một niệm
tịnh, tức là cái duyên khởi cõi Phật. Một niệm nhiễm
tức là cái sanh nhơn của chín cõi. Cho nên tâm ta một niệm
phát động thì đã làm thành hột giống trong mười pháp vậy
thì tinh thần không đáng trọng hay sao!
Lại
coi như ngày nay qua rồi, thì thọ mạng của ta cũng theo đó
mà giảm bớt. Cho nên một tấc sáng của thọ mạng, vậy
thì bóng sáng không đáng tiếc hay sao.
Nếu
ta biết tinh thần đáng trọng và ánh sáng đáng tiếc thì
tinh thần chẳng nên lãng phí, mà niệm niệm phải chuyên trì
Phật danh là bóng sáng cũng chẳng nên bỏ qua mà thường phải
huân tu tịnh nghiệp.
Giả
như ta chẳng trì Phật danh mà trở lại tu theo tam thừa thánh
hạnh, ấy cũng là ta không biết trọng tinh thần. Chẳng khác
nào dùng cái cung ngàn cân mà bắn lấy một loài chuột nhỏ.
Huống chi còn cần khổ tinh thần mà tạo những việc sanh
tử trong cõi lục phàm thì uổng phí biết bao.
Lại
như ta chẳng tu tịnh nghiệp mà trở lại cầu lấy quyền
thừa tiểu quả, ấy cũng là ta không biết tiếc bóng sáng,
chẳng khác nào đem hột như ý bảo châu mà đổi lấy một
bát cơm, một manh áo, huống chi còn hy sinh thì giờ mà cầu
lấy cái quả bữu châu ở cõi nhơn thiên thì uổng phí biết
mấy.
Miễn
ta biết trọng tinh thần và tiếc bóng sáng như vậy thì tâm
niệm của ta chuyên nhất thì Phật dễ cảm hạnh tu của
ta siêng năng mà tịnh nghiệp dễ thành chắc không thể nào
mất phần vãng sanh của ta được.
Ðến
khi về cõi tịnh độ thấy Phật Di Ðà lúc nào cũng vang tiếng
từ âm, lãnh lời khai thị thì ta bỏ được từ âm chứng
được pháp giới kéo dài một niệm làm thành trường kiếp,
rút ngắn trường kiếp làm thành một niệm và kiếp viên
dung, được tự tại vô ngại. Vậy có phải là cái thiện
báo của ta biết trọng tinh thần và biết tiếc bóng sáng
trong ngày nay đó không?
Nếu
nói cho đúng, thì trước phải thấy đạo rồi sau mới tu
đạo, có tu đạo rồi sau mới chứng đạo. Ðó là một định
luật của ngàn thánh đồng đi muôn xưa chẳng đổi vậy.
Nhưng
sự thấy đạo có phải dễ đâu. Nếu y theo giáo thừa, thì
tất phải mở rộng con đường việc giải thoát. còn như
y theo tông môn thì cũng phải thấu suốt đến cửa trùng quan
rồi sau mới được nói chuyện tu đạo.
Bằng
chẳng vậy mà vội nói tu với luyện, thì cái tu luyện ấy
là tu luyện theo lối đui mờ, tất không khỏi cái hại chạm
vách va tường hay là sa hầm sập hố.
Duy
có một môn tịnh độ thì chẳng phải thế đó, từ cõi ta
bà này đi thẳng qua phương tây, cách mười vạn ức cõi Phật,
có thế giới cực lạc. Cõi ấy có đức Phật hiệu là A
Di Ðà thị hiện tiếp dẩn thì sẽ được vãng sanh.
Ðó
là cái cảnh giới thấy biết của Phật tâm, Phật nhãn chớ
không phải các bậc hiền thánh trong tam thừa thấy được
biết được, cho nên ta phải tin sâu lời nói của Phật cứ
y theo đó mà phát nguyện trì danh thì tức là lấy cái thấy
biết của Phật làm cái thấy biết của mình chớ không cần
phải lấy pháp tõ ngộ nào khác.
Theo
như pháp tu của các món kia thì tất phải một phen tỏ ngộ
rồi sau mới y pháp tu tập, nhiếp tâm thành định, nhơn định
phát huệ, và nhơn huệ đoạn mê hoặc. Rồi sau đó do theo
chổ phát có hơn kém và phần đoạn hoặc, có sâu cạn mà
luân đến việc thối cùng chẳng thối.
Chớ
như trong môn tịnh độ, thì chỉ lấy cái tâm tín nguyện
của mình mà chuyên trì danh hiệu của Phật, hễ trì cho đến
nhất tâm bất loạn, thì tịnh nghiệp tất nhiên thành tựu,
mạng chung quyết được vãng sanh, mà đã vãng sanh được
rồi thì vĩnh viễn không khi nào thối lui cả.
Lại
pháp tu của các môn kia thì trước phải sám cái nghiệp hiện
tại, bằng chẳng sám thì nó có thể làm cho chướng đạo
mà không đường tấn tu, Còn như tu tịnh nghiệp thì vẫn
mang nghiệp theo mà vãng sanh, không cần phải sám nghiệp, là
vì phát tâm niệm Phật một tiếng thì tiêu được các tội
nặng trong sanh tử trong tâm mươi ức kiếp.
Lại
pháp tu của các môn kia phải đoạn trừ phiền não: Nếu kiến
tự phiền não mà còn một phần nào một báo chưa dứt hết,
thì phần đoạn sanh tử không thể hết được, và đồng
cư quốc độ không thể ra khỏi. Còn như tu tịnh nghiệp thì
tu ngang ra khỏi tam giới, chẳng cần phải đoạn phiền não
do quốc độ đồng cư bên này mà sanh về quốc độ đồng
cư bên kia, chớ không có chi khó.
Nhưng
đã một phen sanh về quốc độ đồng cư bên kia rồi, thì
sanh tử từ đó dứt luôn, ngoài ra thường được thấy
Phật, thường được nghe pháp, áo cơm nhà cửa sẳn có tự
nhiên. Nước chim cây rừng thảy đều thuyết pháp và cùng
các ngài thượng thiện câu hội một đời, sẽ chứng được
quả bất thối và lại đổ được Phật vị.
Thế
thì môn tịnh độ ban sơ chẳng cần ngộ đạo, rốt sau chẳng
cần đợi phát huệ, chẳng cần sám nghiệp, chẳng phiền
đoạn hoặc, thiệt là hết sức tinh giản và hết sức gọn
tắc mà đến khi chứng nhập thì lại cực kỳ rộng lớn
và cực rốt ráo không có pháp chi bằng.
Vậy
nên các nhà học giả phải lưu tâm ngoạn vị cho tinh tế
mà chọn lựa cho rõ ràng, đừng dụng ý cống cao trong một
thời mà hổng mất cái lợi ích trong muôn đời ngàn kiếp
thì uổng lắm.
Xưa
có một người cùng khổ trong lúc đương đi, trông xa xa đằng
trước thấy một quan tiền, kịp khi đến lấy thì thấy là
con rắn. Cậu ta bèn đứng sững sốt một bên mà nhìn, thì
lại có một người khác đi tới, thấy một quan tiền rồi
lượm đi.
Vậy
chúng ta xét coi tiền vốn không phải rắn mà rắn hiện ra
đó là cái gì, có phải là do nghiệp sở và tâm sở hiện
ra không? mà tiền hiện ra rắn là nghiệp cảm, là tâm hiện
thì rắn hiện ra tiền lại. Ðó không phải là nghiệp cảm,
là tâm hiện ra hay sao?
Nhưng
thấy tiền hiện ra rắn là cái thấy vọng về phần chúng
của đông người, mà cái thấy vọng của một người thì
cái vọng dễ biết. Còn cái thấy vọng của đông người
thì cái vọng khó biết. Nếu lấy cái dễ biết ấy mà so
sánh với cái khó biết kia, thì cái khó biết kia cũng thành
ra cái dễ biết mà chúng ta có thể hiểu được.
Thế
thì rắn vẫn là rắn mà tiền cũng vẫn là tiền, nếu cứ
vậy mà suy mãi tới thì từ trong căn thân, ngoài đến cảnh
giới, do một phương nhẫn đến mười phương, cũng là bốn
đại bộ châu, ba ngàn thế giới, cũng đều là tiền hiện
ra rắn cả. Duy có một điều là con rắn, duy tâm hiện ra,
thì nó lại hay cắn người, còn đồng tiền duy tâm hiện
ra thì người lại được hưởng dụng, vì vậy mà khác nhau
đó thôi.
Cho
nên sự uế nhiểm thống khổ ở cõi ta bà này và sự thanh
tịnh an vui ở cõi tịnh độ kia đều là duy tâm hiện ra,
mà sự uế khổ của duy tâm đã hiện ra thì làm cho người
lại gặp cảnh đau đớn, ép ngặt, còn sự tịnh vi của duy
tâm đã hiện ra thì lại làm cho người được sự thọ dụng
lớn lao.
Thế
là biết khổ và vui, uế và tịnh cũng đều duy tâm hiện
ra, thì sao lại không bỏ cái uế khổ của duy tâm để lấy
cái tịnh vui của duy tâm, mà đành chịu tám thứ kho,å thiện
đốt mãi kiếp nọ qua kiếp kia là lý gì!
Nếu
xét ra cho kỹ thì chỉ có hai thứ : Tâm và Nghiệp lực là
đầu cửa ải biển sanh tử chúng ta. Nghiệp lực rất lớn
mà tâm lực cũng rất lớn. Vì nghiệp không tự tánh toàn
nương nơi tâm, tâm hay tạo nghiệp và tâm cũng hay chuyển
nghiệp. Cho nên tâm lực nặng hơn, sâu hơn. gia dĩ nghiệp
lực có sức mạnh hay lôi kéo ta đi theo thọ sanh. Mà nếu
ta biết dùng cái tâm lực nặng ấy mà chuyên tu tịnh nghiệp,
ắt phải mạnh. Mà tịnh tâm đã nặng và tịnh nghiệp đã
mạnh thì tất nhiên đến lúc mạng chung, nó phải đặt ta
về tây phương. Ví như cây to hay bức tường lớn mà đã
xiên hướng về trời lặn, thì đến lúc ngã, nhất định
quyết không ngã về hướng nào khác được.
Sao
gọi là tịnh tâm nặng? nghĩa là chúng ta tu tịnh nghiệp:
Tin phải cho sâu và nguyện phải cho thiết, nhờ cái tin sâu
nguyện thiết ấy mà các thứ tà thuyết không thể làm cho
ta lay động mê lầm được và các thứ cảnh duyên cũng không
thể lôi kéo xay lật ta được.
Trong
lúc ta đương tu tịnh nghiệp mà dẫu có ngài Ðạt Ma Tổ
Sư, hiện thân trước mặt nói với ta rằng: Ngài có pháp
thiền chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật là một
pháp rất mầu nhiệm, bảo ta bỏ pháp niệm Phật đặng ngài
truyền pháp thiền ấy cho, thì ta cũng đảnh lễ ngài mà bạch
rằng: Tôi đã vâng chịu pháp môn niệm Phật của đức Thích
Ca Như Lai chỉ dạy và thề trọn đời thọ trì chẳng dám
thay đổi, thì ngày nay dẫu tổ sư có pháp thiền thâm diệu
đến đâu tôi cũng không dám tự trái lời thề của tôi mà
thọ trì pháp khác.
Lại
giả như đức Thích Ca thoạt nhiên hiện thân với ta
rằng: Pháp niệm Phật của ngài dạy cho ta từ lâu nay đó
là phương tiện trong một thời kỳ mà thôi, chớ hiện giờ
đây ngài có một pháp siêu việt hơn nữa. Nếu ta bằng lòng
bỏ pháp niệm Phật thì ngài sẽ truyền pháp mới ấy cho.
Quả có như vậy, thì ta cũng cuối đầu đảnh lễ lạy Phật
mà bạch rằng: Trước kia tôi đã vâng chịu tu theo pháp môn
tịnh độ của đức Thế Tôn chỉ dạy và đã phát nguyện
trong khi hơi thở hãy còn, quyết không di dịch thì ngày nay
Như Lai dầu có pháp gì đặc biệt đi nữa, tôi cũng không
dám từ trái bản nguyện của tôi mà phụng hành pháp ấy.
Phật,
tổ tuy hiện thân khiến bảo như thế mà ta còn không chịu
dời đổi cái tin sâu đã quyết định ấy thay, huống chi
những thứ tà thuyết hư ngụy của ma vương ngoại đạo kia
làm sao cho ta lay động
mê
lầm được nữa. Tin như vậy mới gọi là tin sâu.
Ðến
như cái nguyện của ta cũng thế, dầu gặp cảnh hết sức
đau đớn như bánh xe nướng đỏ quay mãi trên đầu, hay là
gặp cảnh tột bực sung sướng như thú vui ngũ dục của vị
Luân vương hiện ra trước mắt, thì ta cũng không tùy theo
cái khổ ấy hay là cái vui sướng ấy mà lui bỏ cái nguyện
vãng sanh của ta.
Ðó
là hai cái cảnh nghịch thuận đều cùng cực mà nguyện của
ta còn không dời đổi thay, huống chi những cảnh thuận nghịch
nhỏ mọn của thế gian kia làm sao lôi kéo và xay lật cái
nguyện ta được. Nguyện như vậy mới gọi là nguyện thiết.
Mà
tin đã sâu mà nguyện đã thiết tức là tịnh tâm nặng, nếu
ta dùng cái tâm nặng ấy mà chuyên tu tịnh nghiệp thì tịnh
tâm tất mạnh.
Tâm
nặng thì dễ thuần, nghiệp mạnh thì dễ thục mà cái tịnh
nghiệp của cực là thuần thục rồi, thì cái tịnh duyên
của ta bà phải dứt lìa.
Nhiễm
duyên quả hết, thì đến lúc mạng chung, dầu muốn cho cảnh
giới luân hồi trở lại nữa, cũng không thể được. Còn
tịnh nghiệp quả thực, thì đến lúc mạng chung dầu muốn
cho cõi tịnh độ của Phật Di Ðà đừng hiện ra trước mặt
cũng không thể được.
Nhưng
cái tín và cái nguyện ấy ta cần phải nắm vững trong khi
bình nhựt thì lâm thời mới tránh khỏi nạn lầm đường
lạc nẽo.
Cũng
như xưa có một ngài Tổ tu tịnh nghiệp đến gần mạng chung,
các vị tiên đồng trong sáu từng trời ở cõi dục giới
đều thứ lớp hiện thân tới rước. Ngài cũng không chịu
đi, mà chỉ nhất tâm chờ Phật thiệt đến. Khi Phật hiện
thân đến tiếp dẫn thì Ngài mới chấp tay mà tịch.
Ôi
đương lúc gần chết là lúc tứ đại sắp chia lìa, biết
bao đau khổ, còn cảnh thiên đồng tới rước là cảnh tốt
đẹp biết bao vui sướng. Mà nếu tín và nguyện trong hằng
ngày mà không được đàng hoàng kiên cố thì được trong
lúc ấy đối với cảnh ấy tưởng không dễ gì tự mình
làm chủ tể cho vững được. Thiết như ngoài Tổ ấy đáng
làm tiêu bảng cho những người tu tịnh nghiệp về tương
lai.
Lúc
ấy có người tu thiện hỏi rằng hết thảy các pháp đều
như chiêm bao, ta bà vẫn chiêm bao mà tịnh độ cũng vẫn chiêm
bao; nếu đã là đồng chiêm bao thì tu có ích gì?
Triệt
Ngộ thiền sư nói: Không phải thế, từ bực thất địa trở
xuống thấp bực hơn. Cả thảy tu đạo ở trong chiêm bao.
Cho đến bậc đẳng giác mà còn ngũ trong giấc vô minh đại
mộng. Thiệt ra chỉ có một người là Phật mới được gọi
rằng hoàn toàn thức tỉnh mà thôi.
Thế
thì trong lúc con mắt chiêm bao chưa mở đó, bao nhiêu những
cảnh giới vui và cảnh giới khổ đều là y nhiên mà nếu
trong chiêm bao thấy ta đành chịu sự thống khổ ở cõi ta
bà thì chi bằng chọn chiêm bao thấy ta hưởng thọ sự an
vui ở cõi cực lạc.
Huống
chi cái chiêm bao ở cõi ta bà là từ nơi chiêm bao đi vào chiêm
bao, chiêm bao rồi lại chiêm bao nữa cứ thế xoay lăn trong
cảnh giới trầm mê. Chớ như cái chiêm bao ở cõi cực lạc
là nơi chiêm bao đi tới thức tỉnh, thức tỉnh rồi lại
thức tỉnh nữa mà lần lượt đến chổ giác ngộ hoàn toàn.
Thế là chiêm bao tuy đồâng mà trong sự chiêm bao của hai
cõi nó vẫn khác nhau, và không thể như khái mà luận được.
Vã
lại cái biển lớn Phật pháp chỉ có tín tâm vào được
mà trong tịnh độ thì cần lấy tín tâm làm món trọng yếu.
Cho nên phép trì danh niệm Phật là một cảnh giới rất sâu
của chư Phật đi đến ngoại trừ bậc bổ xứ bồ tát biết
được chút ít, còn lại bao nhiêu Thánh Hiền cũng vẫn vâng
theo lời Phật nói đó thôi. Chớ không phải trí lực có thể
biết được huống chi là kẻ hạ liệt phàm phu.
Cho
nên mười thiện pháp lấy tín làm đầu, năm mươi lăm vị
để tin ở trước, Mã Minh Bồ Tát thì làm sách Khởi Tín
Luận. Tăng Xán tổ thì làm bài Tín Tâm Minh, đó cũng
là lấy tín tâm làm cái cửa nhập đạo vậy.
Thuở
trước ông Vương Trọng Hồi hỏi ông Vương Vô Vi rằng: Niệm
Phật bằng cách nào cho khỏi gián đoạn. Vương Vô Vi đáp:
sau khi khởi - đã tin rồi thì không còn nghi trở lại
nữa. Vương Trọng Hồi nghe nói vậy, thì hết sức vui mừng
rồi đi. Cách chẳng bao lâu Vương Vô Vi chiêm bao thấy
Vương
Trọng Hồi đến tạ ơn và nói rằng : Nhơn nhờ một câu
chỉ bảo mà được lợi ích lớn, hiện nay tôi đã sanh về
tịnh độ rồi.
Ðến
sau, Vương Vô Vi gặp người con Vương Trọng Hồi, hỏi ra
mới biết cái ngày mà Vương Vô Vi chiêm bao, chính là ngày
Vương Trọng Hồi vãng sanh tịnh độ. Xét vậy thì đủ rõ
cái công hiệu của tín tâm to lớn biết là bao nhiêu.
Hồi
xưa Pháp Tạng tỳ kheo đối trước Phật Thế Tự Tại Vương
phát bốn mươi tám đại nguyện, rồi sau y theo đại nguyện
đó mà trải qua vô lượng kiếp số tu tập lấy đại hạnh
nhẫn đến lúc nhơn tròn qủa mãn mà tự thành Phật.
Từ
đó Pháp Tạng mới đổi danh là Di Ðà. Sở dĩ làm thành Phật
Di Ðà là ngài đã chứng sâu cái bản thể duy tâm tự tánh
vậy. Cái danh hiệu Di Ðà và cái quốc độ cực lạc.
Nhưng
tâm tánh ấy bản lai bình đẳng, chư Phật với chúng sanh
vẫn đều có cả, không phải riêng thuộc về Phật và cũng
không phải riêng thuộc về chúng sanh.
Cho
nên nếu lấy tâm thuộc về Di Ðà, thì chúng sanh là chúng
sanh trong tâm Di Ðà. Còn nếu lấy tâm thuộc về chúng sanh
thì Di Ðà là Di Ðà trong tâm của chúng sanh. Mà ngày nay dùng
chúng sanh trong tâm của Di Ðà mà niệm ông Di Ðà trong tâm
của chúng sanh mà há có lẽ ông Di Ðà trong tâm của chúng
sanh mà lại chẳng ứng với chúng sanh trong tâm của Di Ðà
hay sao?
Chỉ
vì Phật đã ngộ cái tâm ấy, cũng như người đã tỉnh thức.
Chúng sanh thì còn mê cái tâm ấy, cũng như người đang chiêm
bao, nếu rời người thức tỉnh ấy ra, thì không có người
chiêm bao nào nữa, mà nếu rời người chiêm bao đó ra, thì
không có người tỉnh thức nào khác.
Song
người trong chiêm bao đừng tự nhận cái chiêm bao là thiệt,
mà chỉ nên thường thường nhớ người tỉnh thức. Cứ nhớ
đi nhớ lại mãi, tất nhiên sẽ có một ngày giấc đại mộng
tỉnh thức lần, con mắt chiêm bao mỡ rộng, thì hiển nhiên
người chiêm bao thuở nọ tức là người tỉnh thức lúc này.
Mà người tỉnh thức lúc này không phải giống như người
trong chiêm bao thuở nọ vậy. Ðó là cái ý chỉ niệm Phật
đại lượt như thế.
Ðến
như hai câu: "Sanh thì quyết định sanh, đi thì thiệt
chẳng đi" của Tiên đức đó nói. Thì câu trên nói về Sự,
còn câu dưới nói về Lý. Mà sự ấy là cái sự tức lý.
Nghĩa là nói sanh tức là chẳng sanh, chớ không phải chỉ
nói sanh là sanh thiệt. Còn lý ấy là cái lý tức sự, Nghĩa
là nói chẳng đi mà đi, chớ không phải chỉ nói chẳng đi
mà chẳng đi thiệt.
Cho
nên hai câu ấy nếu hiện lại mà xem, thì sự và lý mới
được viên dung, bằng để riêng mổi câu, mới về mà xem,
thì sự lý chia đôi tức là có hai.
Còn
như không hiệp lại hai câu ấy, làm một câu ấy, thì phải
diễn thêm hai câu ấy làm bốn câu. Nghĩa là : Nói sanh thì
quyết định sanh, Sanh mà không sanh, đi thì thiệt chẳng đi,
chẳng đi mà đi. Như vậy mới hiệp với nghĩa tức sự tức
lý vậy.
Nhưng
nếu chấp theo cái lý đi thì thiệt chẳng đi ấy, không bằng
chấp theo cái sự sanh thì quyết định sanh còn có lợi hơn.
Tại
sao thế? bởi vì chấp theo sự mà nuôi lý, thì chẳng luống
công nhập phẩm, bằng chấp theo lý mà bỏ sự thì chắc lạc
vào ngoan không.
Cho
nên lấy cái có sanh làm sanh thì đoạ vào thường kiến. Còn
lấy cái chẳng đi làm chẳng đi thì đọa về đoạn kiến.
Tuy
đã biết thường với đọan vẫn đồng một tà kiến, mà
cái hạïi về đoạn kiến lại càng sâu nặng, nên chấp lý
không bằng chấp sự có phần được hơn. Nhưng thật ra nếu
biết dung hội cả hai câu thì tốt hơn.
Trái
lại một niệm hiện tiền của chúng ta tuy duyên sanh mà không
tánh. Tuy không tánh mà duyên sanh.
Nếu
ước theo nghiã duyên sanh không tánh, mà nói thì chúng sanh
với Phật đồng một cái không. bằng ước theo nghĩa không
tánh duyên sanh thì trong mười cõi pháp giới có hơn thua khác
hẳn.
Coi
như vua A Tỳ Ðạt Vương trong khi sắp chết, thì bị kẻ thị
hầu dùng cái phất tử đuổi muỗi, vô tình trúng vào mặt
vua. Vua nổi giận rồi chết bèn đọa vào làm loài độc xà.
Còn
một người đàn bà kia, nhơn bồng đứa con lội qua sông.
Lỡ sút tay làm đứùa con rơi chìm xuống nước. Người
mẹ vì mò quậy kiếm con rồi cũng bị chìm chết. Nhờ cái
tâm hiền lành thương con mà được thát sanh lên bên cõi Trời.
Vậy
chúng ta hãy xét: Trong niệm khởi lành hay khởi giận mà chia
làm hai con đường : thiện với súc sanh khác nhau như vậy.
Thì đủ biết một niệm duyên sanh trong lúc lâm chung mà nếu
ta biết niệm đức Di Ðà cầu sanh tịnh độ, thì chắc thấy
Phật và chắc vãng sanh được ngay. Nhưng ta phải biết: một
niệm ấy không phải cầu may mà có, thiệt ra cũng lắm phen
hy sinh thì giờ mà thao tập trong tâm nhẫn trì mới được.
Cho nên đối với một câu Di Ðà mà chúng ta cần phải niệm
hằng ngày, niệm trọn năm là cũng cầu cho được thuần thục
một niệm ấy.
Nếu
được một niệm thuần thục rồi, thì đến lúc mạng chung,
ngoài một niệm ấy ra không còn niệm gì khác. Ngài Trí Giả
Ðại Sư nói : "Cái tâm đại tịnh trong lúc lâm chung, tức
là cái tâm thọ sanh ở cõi tịnh độ."
Thế
thì một niệm thuần thục ấy, không phải là cái tâm tại
định hay sao? cho nên chúng ta đừng lo niệm Phật không thấy
Phật và cầu sanh không được sanh. Mà cần phải lo cái niệm
của chúng ta chưa thuần và cái tin của chúng ta chưa thâm
sâu vậy.
Trong
quán kinh nói: "Tâm ấy làm Phật và Tâm ấy là Phật."
thì ngoài ra còn những ý nghĩa tâm chẳng làm Phật, tâm chẳng
phải Phật. Tâm làm chánh giới, tâm là chánh giới. Tâm chẳng
làm chánh giới và tâm chẳng phải chánh giới kia cũng đều
rõ cả.
Ôi,
nếu ai là người rõ thấu lý ấy mà còn chẳng chịu niệm
Phật, thì ta cũng không biết làm sao giúp được nữa.
Cho
nên hai câu: "Tâm ấy làm Phật,Tâm ấy là Phật " của
quán kinh nói đó, chẳng những là cang tông pháp yếu, trọng
yếu trong quán kinh. Mà thiệt là đại pháp cang tông một thời
giáo của đức Thích Ca. Lại chẳng những Pháp tạng cang tông
của Phật Thích Ca, mà thiệt là pháp tạng cang tông của chư
Phật trong mười phương ba đời hết thảy.
Nếu
tông ấy đã thấu hiểu thì không tông nào gọi là chẳng
hiểu và nếu pháp ấy đã rõ được thì không pháp gì chẳng
rõ được. Ðó là nghĩa, học tuy chẳng nhiều mà có thể
bằng bực thượng triết vậy.
Chơn
pháp vốn không tự tánh, nhiểm tịnh do nơi duyên sanh, mà
đã nơi lý nhất chơn thì toàn thể có đủ thập giới. Cho
nên những người đã thạo bàn về tâm tánh thì chẳng bao
giờ rời bỏ nhơn qủa, mà những kẻ đã sâu tin về nhân
qủa thì sau khi đó lại càng hiểu rõ tâm tánh. Ðó là lý
thể tất nhiên như vậy.
Cái
tâm năng niệm hiện tiền của chúng ta tuy toàn chơn mà thành
vọng, tuy toàn vọng mà tức chơn. Trọn ngày tùy duyên, trọn
ngày bất biến. Một câu Phật sở niệm ấy là thế đức
mà lập danh với đức. ngoài danh ra không có đức riêng. Cho
nên lià cái tâm năng niệm thì không có ông Phật sở niệm
và lià ông Phật sở niệm thì không có cái tâm năng niệm,
năng sở vẫn một, sanh Phật không hai. Nguyên lai lìa tứ cú
và tuyệt cả bách phi, mà cùng khắp hết thảy và trùm hết
thảy.
Thiệt
là tuyệt đải viên dung không thể nghĩ bàn. Vậy ai là người
tu tịnh độ tông nên do trong chổ đó mà tín nhập.
Vã
lại người tu cần phải giữ giới sát, vì hết thảy chúng
sanh đều có Phật tánh, thì loài chúng sanh cũng có. Vậy chẳng
lẽ nên giết hay sao? Cho nên người mà tạo nghiệp nặng,
buông lòng giết kết oán sâu, cảm qủa khổ, đều là do một
cái giết mà gây ra.
Từ
đó tâm giết lần lần mạnh, nghiệp giết lần lần sâu.
Ban đầu giết loài vật, rồi lần lần giết tới loài người,
rồi lần giết đến hàng lục thân quyến thuộc. Thế lực
của cái giết cứ đi đến mãi thì sẽ dồn chứa làm đạo
binh giặc cướp tàn hại sanh linh mà diển thành một tấn
bi kịch. Ðó cũng bởi cái hại không biết giới sát mà gây
ra vậy.
Nếu
biết giới sát thì loài trâu heo còn không nở giết, đến
người, thì chắc rằng khó giết thân bằng quyến thuộc.
Vậy trâu heo đã chẳng nở giết thì cái lý giặt cướp,
chiến tranh do đâu mà có được.
Người
mà không giới sát là do chẳng đạt tới cái lý nhân qủa
.
Nhơn
quả nghĩa là cảm ứng, tức như ta lấy cái ác tâm của người,
thì người cũng lấy cái ác tâm ứng lại ta. Bằng như ta
lấy thiện tâm cảm người, thì người cũng lấy thiện tâm
ứng lại ta, ấy kêu là nhân qủa.
Nhưng
có một điều là người chỉ biết sự cảm ứng trong lúc
hiện thế mà không biết sự cảm ứng thông cả ba đời.
Lại nữa con người chỉ biết sự cảm ứng trong nhơn
thú mà không biết sự cảm ứng thông cả sáu thú vậy.
Nếu
biết sự cảm ứng thông cả ba đời sáu thú, thì trong sáu
thú ấy đều là hàng phụ huynh trong nhiều kiếp của mình,
lẽ nào lại giết sát.
Huống
chi sự cảm ứng chẳng những thông cả sáu thú, mà lại thông
cả thế gian và xuất thế gian nữa. Cho nên nói về xuất
thế gian, thì ta dùng cái tâm vô ngã mà cảm, tức là có cái
ngã Thinh Văn, Duyên Giác ứng lại. Ta dùng cái tâm Bồ Ðề,
lục độ vạn hạnh mà cảm, thì có cái qủa bồ tát pháp
giới ứng lại. Cho đến ta dùng cái tâm: bình đẳng đại
tư, đồng thể đại bi mà cảm, thì có cái qủa Phật pháp.
Thế
là biết sự cảm ứng rất rộng, rất lớn không thể nói
cho cùng.
Lại
ta phải biết: Cái chánh tông của một câu niệm A Di Ðà Phật
là gồm cả bốn lớp tông chỉ:
1-
Tông chỉ duy tâm
2-
Tông chỉ duy Phật
3-
Tông chỉ tuyệt đại viên dung
4-
Tông chỉ siêu tình ly tình kiến.
WP:
Mẫn Lê Từ Hỷ
|