Luân
Đôn, Anh Quốc. Một vài hãng dược phẩm ở phương Tây
đã tốn nhiều triệu đô (USD) để bào chế và mang ra thị
trường một thuốc mới để rồi bị các cơ quan y tế khám
phá loại thuốc này có nhiều phản ứng nguy hiểm và bị
cấm bán.
Cần
thu hồi số tiền đã đầu tư và vì không bán được thuốc
ở phương Tây nên một vài hãng thuốc đã đem các thuốc
nguy hại này bán ở các nước thuộc Thế giới Thứ Ba, nơi
mà quần chúng ít hiểu biết về các vấn đề liên quan đến
sức khoẻ và các chính quyền có thể mua chuộc được. Có
thể nói rằng Thiên Chúa Giáo cũng giống như vậy.
Vì
đã mất nhiều tín đồ ở phương Tây, nhiều giáo phái Thiên
Chúa Giáo bắt đầu tìm cơ hội ở các nơi khác. Dĩ nhiên
thế giới Hồi giáo là bất khả xâm phạm. Ngay chính nhà
truyền đạo lạc quan nhất cũng cho rằng cơ hội truyền bá
Phúc Âm đến tín đồ Hồi giáo là con số không. Những đối
tượng hiển nhiên là Phi châu, Ần Độ và các nước Phật
Giáo ở châu Á.
Hiện
nay có nhiều tổ chức truyền giáo Phúc âm chuyên cải đạo
các Phật tử. Viện Á Châu Thái Bình Dương Học Phật
(Asia
Pacific Institute of Buddhist Studies) ở Phi luật Tân đang
giảng dạy cho các nhà truyền giáo các lớp học thâm sâu
về giáo lý Phật Giáo, ngôn ngữ ở các nước Phật Giáo
và tổ chức xã hội ở các cộng đồng Phật Giáo - để
hiểu biết rõ kẻ thù.
Hội
Liên Hữu Trung Á (Central Asia Fellowship) đặc biệt nhắm
tới người Tây tạng. Hội Liên Hữu Truyền Giáo Hải
Ngoại (Overseas Missionary
Fellowship) gồm những chuyên gia về Phật Giáo và sẵn
sàng mở các lớp huấn luyện, trình bày cho các tín đồ Thiên
Chúa Giáo cách làm việc có hiệu quả trong thế giới Phật
Giáo.
Trung
Tâm Phật Học Bình Minh (Sunrise Centre for Buddhist Studies)
và Mạng Lưới Nam Á (South Asia Network) là những
cộng đồng trên mạng cung cấp cho các nhà truyền giáo các
tin tức đầy đủ chi tiết, chính xác và mới nhất để cải
đạo các người theo đạo Phật. Đừng hiểu lầm rằng đây
chỉ là những nhóm nhỏ, lẻ tẻ. Các tổ chức này rất lớn,
có nhiều tiền, được quản trị tốt, và có nhiều nhân
viên tận tụy và hăng say với công việc.
Cuốn
sách có tựa đề “Các Dân Tộc trong Thế Giới Phật
Giáo” (Peoples of the Buddhist World, Piquant Editions, Carlisle,
2004) được xuất bản bởi Paul Hattaway là một trong những
người lãnh đạo cuộc tấn công Phật Giáo mới này. Cuốn
sách dày 453 trang, cung cấp đầy đủ cho các nhà truyền giáo
hồ sơ về 316 nhóm sắc tộc và thổ ngữ theo Phật Giáo ở
châu Á, từ nhóm người Nyenpa ở miền Trung Bhutan đến người
Kui ở miền Bắc Campuchia, từ nhóm Buriats ở miền cực Đông
nước Nga đến người Sinhalese ở Tích Lan.
Cuốn
sách cho biết chi tiết từng nhóm, số lượng người trong
nhóm, có bao nhiêu người theo Phật Giáo, có bao nhiêu người
thực sự hiểu biết và thực hành đạo Phật, nói tiếng
gì, sức mạnh của họ và cách vượt qua, các điểm yếu
của họ và cách lợi dụng họ, tổng quan về lịch sử, văn
hoá và những cách cải đạo tốt nhất.
Cuốn
sách có đầy các hình màu đẹp về các dân tộc này, mà
đa số ít người biết đến. Điều làm chúng ta rất buồn
khi nghĩ đến các người hiền lành, vui cười và vô tội
này đang ở trong tầm nhắm của các người truyền đạo xảo
quyệt đang nhất quyết phá hoại niềm tin và văn hoá cổ
truyền của họ.
Tuy
nhiên, cuốn sách của Hattaway cũng hấp dẫn vì cho chúng ta
một cái nhìn thoáng qua cái tâm tính kỳ quặc và gíáo lý
không kém kỳ quái của các người truyền đạo Chúa. Trong
lời tựa, Hattaway hỏi “Có làm Chúa thất vọng không khi
ngày nay có hàng trăm triệu Phật tử đang đi vào địa ngục
mà không được Phúc âm chứng nhận? Có làm Đấng Cứu Thế
thất vọng không khi hàng triệu người đang thờ cúng các
thần tượng chết cứng thay vì Đức Chúa Cha vẻ vang trên
trời?”
Không
có gì lạ khi thấy các người truyền đạo luôn luôn giận
dữ và tự vệ, rất tự kỷ và đầy lo lắng. Hàng ngày họ
phải sống với niềm tin đầy mâu thuẫn, Chúa của họ đầy
tình thương nhưng cũng ném người vào lửa địa ngục bất
tận, ngay cả những người chưa bao giờ nghe đến Chúa.
Đây là một sự căng thẳng có thật. Giống như một người
cứ bơm mãi không khí vào một trái banh bị xì hơi để làm
nó tiếp tục căng, họ phải tiếp tục cho rằng đạo Phật
chỉ là thờ cúng trống không và không có gíá trị trong khi
họ biết rõ điều này không đúng với sự thật. Đây cũng
là một căng thẳng có thật.
Trong
suốt cuốn sách, Hattaway đã lập lại những điều dối
trá cũ mèm, những xuyên tạc và sự thật nửa chừng mà các
người truyền đạo đã dùng trong thế kỷ 19 và các người
theo đạo Chúa chân chính đã gạt bỏ hơn trăm năm nay.
Hattaway
cho rằng các Phật tử, cũng như các ngoại đạo khác, đang
sống một cuộc đời trống rỗng và không có ý nghĩa, và
họ đang mong chờ để được nghe Phúc âm của Chúa Jesus Christ.
Chẳng ngạc nhiên gì khi các thống kê mà tác giả trình bày
cho người đọc không luôn luôn chứng minh được điều này.
Ông
ta cho biết có vài nhóm Phật tử đã bị trải qua nhiều cố
gắng cải đạo trong nhiều năm nhưng họ vẫn giữ đạo của
họ. Thí dụ, 32 phần trăm dân Kyerung ở Nepal đã được nghe
Phúc âm nhưng chỉ vài người “thấu hiểu” được thông
điệp của nó.
Hattaway
nói rằng các người Mỹ theo Baptists đã làm việc trong vùng
Tovyan ở Miến Điện qua nhiều thập kỷ, nhưng đa số người
theo đạo là người Karen. Họ nhận thấy người dân Tovyan
hưởng ứng chậm đối với Phúc âm và tình trạng này vẫn
tiếp tục cho đến ngày hôm nay.
Các
người truyền đạo đã tận tụy làm việc và hy sinh nhiều
ở Thái Lan trong vòng 140 năm qua nhưng số người theo đạo
Chúa rất ít. Theo Hattaway, có chừng 2000 người truyền đạo
ngoại quốc ở Chiangmai - nhiều hơn số người theo đạo Chúa
ở thành phố này.
Thật
yên tâm khi biết Thái Lan được các người truyền đạo mệnh
danh là “mồ chôn” của họ. 21 phần trăm dân Lao Ga
đã được truyền đạo nhưng đạo Chúa chưa đạt được
kết quả gì. 42 phần trăm dân Lemo đã được nghe về
Jesus nhưng niềm tin vững chãi theo Phật giáo và nền văn hoá
cô lập của họ đã ngăn chận việc chấp nhận Phúc âm.
Dĩ
nhiên nền văn hoá cô lập của Hattaway đã không cho ông ta
nhận biết rằng các người Lemo này đã không theo đạo Chúa
vì đạo Phật cho họ những món bổ dưỡng tinh thần và trí
tuệ mà họ đang cần. Do đó ông ta phải giải thích một
cách khác vì sao nhiều Phật tử vẫn còn trong thành phần
mà ông gọi là “các người chống đối”.
Theo
ông ta, đó là vì lo sợ (trang 217), biếng nhác trí thức (trang
149), tham lam và mù quáng (trang 172) và dĩ nhiên chống
đối của ma quỷ (trang 190). Một nguyên nhân khác là
mê lầm như trường hợp người Palaung ở miền Bắc Miến
Điện đã hoàn toàn sai lầm khi tin rằng họ đã tìm được
chân lý nơi đạo Phật (trang 217).
Dĩ
nhiên Hattaway cũng đủ xảo quyệt để biết rằng sự bền
vững và văn hoá tinh nguyên của các xã hội Phật giáo cổ
truyền là những chướng ngại lớn cho công cuộc truyền đạo.
Những nội chiến như ở Tích Lan và Campuchia là những món
quà của Chúa dành cho các người truyền đạo. Hattaway gọi
sự phá hoại và di đời của dân Loba ở Nepal do các cơn lũ
to là một cơ hội mà Chúa ban (trang 168).
Như
đám ruồi nhặng bu quanh một con vật sắp chết, các người
truyền đạo bám lấy các cộng đồng đang bị nguy khốn để
kiếm cách cải đạo trong khi ngụy trang công việc của họ
dưới hình thức cứu giúp và viện trợ nhân đạo.
Đáng
tiếc có nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo chân chính ở phương
Tây đã không biết những công tác bí mật này, đã cho tiền
World
Vision và các hội tương tự dầu các hội này dùng
cứu giúp để cải đạo.
Trong
khi nhiều Phật tử đã gạt bỏ lời các người truyền đạo,
có những người khác lại nghe theo. 31 phần trăm dân Tamangs
ở Nepal giờ đây đã theo đạo Chúa. Những người truyền
đạo Phúc âm đầu tiên đến Mông Cổ vào năm 1990 và trong
vài năm họ đã có hàng ngàn người cải đạo, phần chính
là giới trẻ.
Sự
tăng trưởng kỳ lạ này hiện nay đã chậm lại nhưng số
cơ quan truyền đạo đang hoạt động trong nước đã gia tăng
rất nhiều và cho đến nay hầu như vẫn chưa có sách Phật
Giáo bằng tiếng Mông Cổ.
Ở
Trung Quốc hiện nay, Thiên Chúa Giáo gia tăng mau chóng đến
độ không kịp xây các nhà thờ để chứa các người mới
cải đạo. Các dân tộc hiền hoà ở miền núi Thái Lan và
Lào đang trở thành con mồi, từng nhóm từng nhóm, cho các
người truyền đạo.
Các
thành công này cũng như nhiều thành công khác đã không
phải vì các người truyền đạo không có lương tâm và ngoan
cố nhưng vì các Phật tử đã không quan tâm, chậm thấy nguy
cơ và lại còn chậm hơn nữa để đối kháng lại một cách
có hiệu quả.
Ở
Thái Lan, hàng triệu đồng được chi tiêu cho những buổi
lễ hoành tráng, những tượng Phật to lớn và vàng lá để
che đắp các tháp nhưng hầu như không có ngân khoản gì cho
văn hoá Phật Giáo, giảng dạy giáo lý và dịch vụ xã
hội cho các sắc tộc miền núi.
Một
cơ hội mà Chúa ban cho các nhà truyền đạo là thái độ yếu
đuối trong đa phần Tăng đoàn. Một trong những phần
cuốn sách có nhiều hé lộ (về trí lực của các người
truyền giáo và các tu sĩ Phật Giáo) và đáng lo nhất là đoạn
Bryan Lurry kể chuyện ông ta đã từng ở bốn tháng tại một
Thiền viện của người Shan ở miền Đông Bắc Miến Điện.
Ông ta đã ở đấy để thăm dò cách cải đạo các tu sĩ
và đã rời Thiền viện với hy vọng tràn trề.
Tôi
lo sợ là sự lạc quan của ông ta không phải là hoàn toàn
sai. Vị Trú trì nơi Lurry ở đã cho phép ông ta dạy tiếng
Anh cho các tu sĩ (dĩ nhiên là dùng Kinh Thánh làm tài liệu
học tập), chiếu một cuốn phim về đời Christ và sau đó
có những lớp giảng thường xuyên về Thánh Kinh cho các tu
sĩ. Các tu sĩ ở Tây phương có thể cho đó là một thí
dụ của lòng khoan dung của Phật giáo, tuy không đúng chỗ.
Tôi
nghi là do sự thiếu hiểu biết và thờ ơ đối với mọi
sự việc không gây xáo trộn hay trái ngược với các cách
hành xử cổ truyền thường thấy trong đa phần Tăng đoàn.
Một
phần trong chiến thuật dùng để tìm hiểu suy tư của các
tu sĩ, Lurry đã hỏi “những người bạn” một số câu hỏi.
Với câu hỏi “Giáo điều Phật giáo nào khó tuân theo
nhất?”, vài tu sĩ đã trả lời là không được ăn
sau 12 giờ trưa, không được uống rượu và một tu sĩ đã
trả lời là khó đạt được Niết bàn.
Với
câu hỏi “Nếu có thể thay đổi một điều ngay chính bản
thân, đó là điều gì?” Các câu trả lời gồm có mạnh
hơn, cao hơn, thay hình dáng lỗ mũi và có da trắng hơn. Khi
hỏi tại sao đi tu, không một tu sĩ nói là vì thích Phật
Pháp, ngồi thiền hay đời sống tu sĩ nói chung. Thường xảy
ra trong thế giới Phật giáo, có thể họ đi tu vì đó là
truyền thống buộc họ làm vậy.
Khi
Lurry hỏi các tu sĩ có bao giở muốn bỏ tu không thì họ cho
biết muốn rời Thiền viện để làm lính trong quân đội
dành độc lập cho người Shan … Họ không thấy một mâu
thuẫn nào khi biết rằng một tu sĩ không được giết một
con muỗi, huồng gì là một người khác. Lurry thú nhận là
đã rất ngạc nhiên vì rất ít câu trả lời mà ông ta đã
nhận được cho thấy sự hiểu biết thâm sâu về Phật Giáo
hay một lòng mộ đạo chân thành.
Sau
tám năm sống ở các tu viện tại Thái Lan, tôi buồn mà nói
rằng các câu trả lời của các tu sĩ kia đã không làm tôi
ngạc nhiên chút nào. Hiện nay thường thường trong đời sống
của một vị tu sĩ Phật Giáo chỉ cần học đóng trò, chấp
nhận không suy nghĩ các niềm tin truyền thống, những nghi
lễ dài bất tận và làm tê đầu óc, dự các buổi phát chẩn
và ngủ những giấc dài.
Rất
may có nhiều cộng đồng Phật giáo đã chống lại công tác
của các nguời truyền đạo nhưng với trình độ giáo dục
tôn giáo thấp và thiếu hướng dẫn từ một Tăng đoàn thụ
động, thử hỏi họ sẽ còn có thể chống bao lâu nữa? Phải
làm một cái gì và phải làm gấp.
Một
lời vu khống khác cũ mèm của các người truyền đạo và
được lập đi lập lại trong suốt cuốn sách của Hattaway
là các Phật tử sống trong sự sợ hãi ma quỷ triền miên.
Lời buộc tội này hơi khôi hài vì các người truyền bá
Thiên Chúa Giáo thường đổ tội hết cho Satan và bè lũ những
gì mà họ không thích.
Lurry
nói về kinh nghiệm của chính mình, “Tôi phải thú nhận
là các chùa làm tôi sợ hãi. Tôi thấy có nhiều vật làm
tôi không muốn vào. Ở một vài chùa có những tượng trông
dữ tợn của những con thú có nanh dài và móng nhọn gác cổng
chùa. Gác đại điện của nhiều chùa là hai tượng rồng
lớn với nhiều đầu ở hai bên cầu thang … Nếu các hình
tượng này còn ở ngoài chùa, tôi sẽ còn thấy gì ở trong
chùa nữa? Tôi cứ tưởng là các con vật này sẽ sống lại
và cố hại tôi “(trang 234).
Tôi
có thể hiểu được những người giản dị và thường mù
chữ ở các bộ lạc miền núi hoang dã ở Miến Điện
có thể sợ các con ma ác độc. Nhưng ông Lurry đã tốt nghiệp
trường Đại học Bắc Texas (University of North Texas) mà lại
sợ một ít xi-măng và thạch cao được sơn phết để trang
trí các chùa Phật Giáo. Thật là quá dễ hù dọa các người
truyền đạo Chúa!
Chín
trang trong cuốn sách “Các Dân Tộc trong Thế Giới Phật
Giáo” (Peoples of the Buddhist World) đã dành cho dân Sinhalese
là những thổ dân của Tích Lan và từ lâu một mục tiêu
của các người truyền đạo. Dầu có gần 500 năm gần gũi
với đạo Chúa, nhưng chỉ có 4 phần trăm theo đạo Chúa mặc
dù có nhiều giai đoạn mà tôn giáo của họ đã gặp nhiều
bất lợi và bị ngược đãi. Điều này làm các người truyền
đạo bối rối và tức giận vì họ chỉ đạt được thành
công nhỏ bé trên đảo trung thành với đạo Phật này.
Từ
cuối thập niên 1950 Gíáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã ở Tích
Lan đã ngầm chấp nhận địa vị thiểu số của mình và
đa phần đã có thái độ sống chung với Phật Giáo. Giáo
hội vẫn tiếp tục các nỗ lực cải đạo nhưng ít sôi nỗi
và lễ phép hơn.
Nhưng
kể từ thập niên 1990, nhiều tổ chức truyền đạo Tin lành
đã tràn ngập Tích Lan và họ có thái độ “không xin, không
cho”. Cho đến nay đối tượng cải đạo đa phần là tín
đồ Giáo hội La Mã, làm Giáo hội kinh ngạc, nhưng mục tiêu
chính vẫn là các Phật tử. Các tu sĩ Phật giáo đang kêu
gọi chính quyền ban hành luật cấm cải đạo. Nhưng đây
có phải là giải pháp tốt nhất không?
Ta
có thể hiểu được việc dân Sinhalese không thích tôn giáo
của họ được gọi là thờ cúng ma quỷ Satan, nhất là các
người ngoại quốc kể cả các nhà truyển đạo trong nước.
Cách đây vài năm, một cao tăng người Sinhalese rất được
kính trọng qua đời và quần chúng Phật tử đã thật sự
tiếc thương vị sư này. Chính trong thời gian tang lễ của
vị sư này, người lãnh đạo một nhà thờ ở ngoại ô Colombo
đã đốt pháo, một cách thường dùng để ăn mừng ở Tích
Lan.
Lẽ
dĩ nhiên, các Phật tử ở quanh nhà thờ này đã rất bực
mình, không có bạo động xảy ra nhưng có nhiều lời giận
dữ đã được trao đổi. Tôi vô tình chứng kiến cảnh các
người dân địa phương đối diện với người lãnh đạo
nhà thờ này. Ông ta khẳng định là việc đốt pháo không
liên quan đến tang lễ của vị sư nhưng ông đã không có
một lý do thuyết phục vì sao ông lại đốt pháo.
Trong
suốt cuộc gặp với các láng giềng, ông đã tỏ ra trân tráo,
không xin lỗi vì các hành động của mình, và xem thường
các nỗi đau của quần chúng. Tôi chỉ biết nói rằng ông
ta cho tôi cảm tưởng rõ rệt là ông ta muốn bị cư xử thô
bạo hay bị đánh đập để ông ta có quyền có một danh vị
mà tất cả các người truyền đạo đều mong muốn – đó
là thánh tử đạo đã hy sinh cho Chúa Trời.
Cuốn
sách của Hattaway nêu rõ các vụ xô xát bạo động chống
lại người theo đạo Chúa ở Tích Lan và các nơi khác và
các viêc này đã xảy ra thuờng xuyên hơn. Tuy nhiên, tác gíả
đã không nói rõ là chỉ có những người truyền đạo Tin
lành, chứ không phải Thiên Chúa Giáo La Mã hay các tín đồ
đạo Chúa chân chính, đã gây nên các phản ứng tiêu cực
như vậy.
Và
lẽ dĩ nhiên ông ta cũng không nói lý do vì sao đôi lúc quần
chúng nổi giận với các người truyền giáo Phúc âm. Thật
sự nguyên nhân các vụ bạo động là vì tính huênh hoang bất
lịch sự của các người này và họ hoàn toàn không có ý
thức gì về các niềm tin tôn giáo của người khác. Đây
không phải biện hộ cho bạo động mà chỉ cố gắng giải
thích vì sao bạo động xảy ra mà thôi.
Thật
sự cũng có vài người truyền giáo quá khích đã cố ý gây
ra những vụ chạm trán. Tôi có đọc hai bài luận văn về
cách truyền giáo từ Tích Lan - một bài nhấn mạnh rằng các
thôn làng phải trở thành “bãi chiến trường cho linh hồn”
và bài kia nói rằng các tín đồ đạo Chúa “phải đối
diện với những người không được cứu rỗi, nếu cần
dùng cả vũ lực để bắt họ phải quyết định” .
Đoạn
về Tích Lan trong sách của Hattaway được viết bởi Tilak Rupasinghe
và Vijaya Karunaratna, hai người truyền giáo nổi tiếng. Họ
rất vui nêu rõ các tai họa của Tích Lan - nội chiến, tỷ
lệ tự tử cao, tham nhũng, nổi loạn – và dĩ nhiên cho rằng
đây là thêm những bằng chứng Phật Giáo đã sai lầm.
Rồi họ bạo dạn cho rằng “Ở Chúa mới chữa lành những
vết thương do bất công, đàn áp và căm thù sắc tộc …Ở
Chúa mới có hy vọng cứu nước, lãnh thổ, ngôn ngữ, văn
hoá và dân tộc”.
Đây
là một hứa hẹn hấp dẩn mà vài người có thể muốn nghe.
Nhưng dĩ nhiên đây là lời hứa cũ mèm rỗng tuếch mà các
người truyền giáo luôn luôn hứa ở những nơi mà họ đang
cố gắng cải đạo: “Đất nước của các người lộn xộn
quá! Các thần linh của các người đã thất bại. Hãy chấp
nhận Jesus Christ và mọi việc sẽ tốt đẹp”.
Nhưng
có thật đạo Chúa có thể giải quyết các vấn đề xã hội
tốt hơn không? Bằng chứng cho việc này rất mong manh. Đạo
Chúa đã thất bại hoàn toàn trong việc đem lại hoà bình
cho Bắc Ái Nhĩ Lan. Trên thực tế đạo Chúa là nguyên nhân
chính của vấn đề. Truyền thống đạo Chúa La-mã và Tin
lành lâu đời ở nước Đức đã không ngăn được chủ nghĩa
Quốc xã bám trụ ở đó.
Giáo
hội Cải cách Hòa Lan (Dutch Reformed Church) ở Nam Phi đã ủng
hộ mạnh mẽ chính sách kỳ thị chủng tộc với tất cả
các vụ áp bức và tàn ác. Đạo Chúa Phúc Âm rất thịnh
hành ở miền Nam nước Mỹ - vùng này được gọi là “Vành
đai Thánh Kinh” – và việc này đã không ngăn được nó
thành vùng nghèo nhất và kỳ thị da màu nhất nước Mỹ.
Và sự phân biệt chủng tộc ở miền Nam biểu lộ rõ ràng
nhất vào mỗi buổi sáng Chủ Nhật khi các người da trắng
và da đen vẫn còn đi nhà thờ riêng biệt; “Ngợi khen Chúa
nhưng thờ phụng Ngài ở trong nhà thờ riêng của các người!”
Cuốn
sách của Hattaway ít nhất cũng là một cuộc đánh thức cho
tất cả Phật tử chúng ta. Nếu chúng ta không cải tổ Tăng
đoàn, không tổ chức tốt hơn và không cố gắng hơn để
hiểu biết và áp dụng tôn giáo của chúng ta, thì Ánh Sáng
của Á Châu sẽ bị dập tắt.
Bài
điểm sách của Allen Carr, LankaWeb, bản Anh ngữ đăng tại
BuddhistChannel
bản dịch của Nguyên Tánh (Đạo Phật Ngày Nay)
PLANNING
THE DEMISE OF BUDDHISM
Book
Review by Allen Carr, LankaWeb, July 1, 2008
BuddhistChannel
London,
UK -- Some Western drug companies spend millions of dollars developing
and marketing a new drug only to have the health authorities later discover
that it has dangerous side-effects and then ban it.
Needing
to recover their investment and unable to sell their drug in the West some
of these companies try to market their dangerous products in the Third
World where public awareness of health issues is low and indifferent governments
can be brought off. Some might say that Christianity is a bit like this.
Having
lost much of their following in the West, churches are now beginning to
look for opportunities elsewhere. Of course the Islamic world is out of
the question. Even the most optimistic evangelist knows that the chance
of spreading the Gospel amongst Muslims is nil. The obvious targets are
Africa, India and the Buddhist countries of Asia.
There
are now several evangelical organizations dedicated just too evangelizing
Buddhists. The Asia Pacific Institute of Buddhist Studies in the Philippines
offers missionaries in-depth courses in Buddhist doctrine, the languages
of Buddhist countries and the sociology of various Buddhist communities
– the better to know the enemy.
The
Central Asia Fellowship is geared specifically to spreading the Gospel
amongst Tibetans. The Overseas Missionary Fellowship is 'an acknowledged
authority on Buddhism' and 'is available to conduct training sessions and
seminars, give presentations and speak on how Christians can work effectively
in the Buddhist world.' The Sonrise Centre for Buddhist Studies and the
South Asia Network are both on-line communities providing missionaries
with detailed, accurate and up-to-date information useful for evangelizing
Buddhists. Make no mistake, these are not small ad-hock groups. They are
large, well-financed, superbly run organizations staffed by highly motivated
and totally dedicated people and they are in it for the long haul.
A
book called Peoples of the Buddhist World has recently been
published by one of the leaders of this new evangelical assault on Buddhism.
The book's 453 pages offer missionaries and interested Christians a complete
profile of 316 Buddhist ethnic and linguistic groups in Asia, from the
Nyenpa of central Bhutan to the Kui of northern Cambodia, from the Buriats
of the Russian Far East to the Sinhalese of Sri Lanka.
There
is a detailed breakdown of the size of each group, how many call themselves
Buddhists and how many actually know and practice it, which languages they
speak, their strengths and how to overcome them, their weaknesses and how
to take advantage of them, an overview of their history, their culture
and the best ways to evangelize them.
The
book is filled with fascinating and beautiful color photos of all of these
peoples, many of them little-known. It makes one very sad to think that
these gentle, smiling, innocent folk are in now in the sights of worldly-wise
missionaries determined to undermine their faith and destroy their ancient
cultures. However, Hattaway book is also interesting for the lurid glimpse
it gives into the bizarre mentality and the equally bizarre theology of
the evangelical Christians. In the preface Hattaway asks, "Does it break
God's heart today that hundreds of millions of Buddhists are marching to
hell with little or no gospel witness? Does it break the Savior's heart
that millions worship lifeless idols instead of the true, glorious Heavenly
Father?"
No
wonder the evangelicals are always so angry and defensive, so self-conscious
and full of nervous energy. Every day they live with the contradictory
belief that their God is full of love and yet throws people into eternal
hell-fire, even people who have never heard of him. That must be a real
strain. Like a man who has to continually pump air into a leaking balloon
to keep it inflated, they have to keep insisting that Buddhism is just
an empty worthless idolatry when they know very well that this is not true.
That must be a real strain too. Throughout his book Hattaway repeats all
the old lies, slanders and half-truths that missionaries peddled in the
19th century but which mainline Christians gave up on a hundred years ago.
Hattaway
claims that Buddhists, like other non-Christians, are leading empty meaningless
lives and are actually just waiting to hear the Gospel of Jesus Christ.
Not surprisingly, the statistics he presents to his readers do not always
bare this out. He shows that some Buddhist groups have been subjected to
quite intense evangelization for years and yet have chosen to keep their
faith. For example 32% of Kyerung of Nepal have heard the Gospel but 'few
have understood the heart of the message.' Hattaway tells us that 'the
American Baptists worked in the Tovyan area (of Burma) for many decades,
but most of the converts they made were among the Karen people. They found
the Tovyan people 'slow to respond to the gospel – a pattern that continues
to this day.'
Dedicated
and self-sacrificing missionaries have labored in Thailand for over 140
years but have made only miniscule numbers of converts. According to Hattaway
there are 2000 foreign missionaries operating in Chiangmai - more than
the actual number of Christians in the city.
It
is hearting to know that amongst evangelicals Thailand has been dubbed
'the graveyard of missionaries.' Twenty one percent of Lao Ga people have
been evangelized but 'Christianity has yet to make any impact on this people
group.' Forty two percent of the Lemo have been told about Jesus but their
'strong belief in Buddhism and their isolated cultural mindset have prevented
them from accepting the Gospel.' Of course Hattaway's 'isolated cultural
mindset' prevents him from even considering that these people might have
decided not to become Christians because Buddhism gives them the emotional,
intellectual and spiritual sustenance they need. So he has to explain why
so many Buddhists remain what he calls 'resistant peoples' some other way.
To him it is because of fear (p.217), intellectual laziness (p.149), greed
and blindness (p.172) and or course 'demonic opposition' (p.190). Another
cause is delusion, as for example amongst the Palaung of northern Burma,
who are so completely deluded that 'they believe they have the truth in
Buddhism'(p.217).
Of
course, Hattaway is also crafty enough to know that the stability and cultural
integrity of traditional Buddhist societies is a major hindrance to their
evangelization. Civil wars such as in Sri Lanka and Cambodia are literally
a god-send for the missionaries. Hatthaway calls the disruption and displacement
of the Loba people of Nepal by several huge floods 'a God-given opportunity'
(p.168). Like blowflies to a dying animal evangelical missionaries swarm
around communities in need so they can win converts while disguising their
efforts as 'aid work' and 'humanitarian relief.'
Unfortunately,
many genuine and decent Christians in the West, unaware of this hidden
agenda, give money to World Vision and similar organizations that use aid
as a conversion technique. But while many Buddhists have rejected the missionaries'
message others have succumbed to it. Thirty one percent of the Tamangs
of Nepal have now become Christians. The first missionaries arrived in
Mongolia in 1990 and within a few years they had made thousands of converts,
mainly among the young. This phenomenal growth has now slowed considerably
but the number of evangelical agencies operating within the country has
grown enormously and there are still almost no books on Buddhism in Mongolian.
In
China today Christianity is growing so fast that they can hardly build
the churches quick enough to hold all the new converts. The gentle hill
tribes people of Thailand and Laos are falling prey to the missionaries
one by one. These and the numerous other successes are not just because
the missionaries have been so unscrupulous and persistent but because Buddhists
have been so indifferent, so slow to see the danger and even more slow
to respond to it in any effective manner.
In
Thailand millions are spent on glittering ceremonies, huge Buddha statues
and gold leaf for covering stupas but almost nothing on Buddhist literature,
religious education and social services for the hill tribes. Another 'God-given
opportunity' for the missionaries is the general lackadaisical attitude
within the much of the Sangha. In one of the most revealing (about the
mentality of both missionaries and the bhikkhus) and troubling parts of
this book is Bryan Lurry's account of the four months he stayed in a monastery
in the Shan states in north-eastern Burma. He was there to assess the prospects
of converting Buddhist bhikkhus and he went away full of optimism. I fear
that his optimism was not entirely misplaced. The abbot where Lurry stayed
allowed him to teach the bhikkhus English (using the Bible as a text of
course), show a film on the life of Christ and later even conduct regular
Bible classes for the bhikkhus. Uninformed Western Buddhists might laud
this as yet another example of Buddhist tolerance, albeit misplaced tolerance.
I suspect that it was actually due to ignorance and to that indifference
to everything that does not rock the boat or contravene traditional patterns
of behavior that is so prevalent in much of the Sangha.
As
a part of his strategy to understand their thinking, Lurry asked his 'friends'
a series of questions. To the question 'What is the most difficult Buddhist
teaching to follow?' some bhikkhus answered not eating after noon, not
being able to drink alcohol and one said to attain nirvana. To the question
'If you could change one thing about yourself what would it be?' The replies
included to be stronger, taller, to change the shape of the nose and to
have more pale skin. When asked why they had joined the monastery not one
of the bhikkhus mentioned an interest in the Dhamma, in meditation or in
the religious life in general. As is usual in much of the Buddhist world
they had probably ordained simply because it is the tradition to do so.
When Lurry asked the bhikkhus if they would ever disrobe for any reason
'my students expressed their desire to leave the temple in order to be
soldiers in the Shan Independence army...They did not see a contradiction
in the fact that, as monks, they are literally not supposed to kill a mosquito,
much less another human being.' Lurry admits that he was really surprised
that so few of the replies he got suggested any deep knowledge of Buddhism
or an apparent genuine religiosity.
Having
lived in Thai monasteries for eight years I am sad to say that none of
the bhikkhus' replies surprised me in the least. All too often today the
Buddhist monastic life consists of little more than rote learning, unthinking
acceptance of traditional beliefs, an endless round of mind-numbing rituals,
going to danas and having long naps. Fortunately, many Buddhist communities
are holding out against missionary efforts but with poor religious education
and little leadership from a sedate Sangha how long will they continue
to be able to continue to do so? Something has to be done and it has to
be done soon.
Another
old missionary calumny repeated throughout Hattaway's book is that Buddhists
live in constant terror of devils and demons. This accusation is rather
amusing coming from the evangelical Christians who see almost everything
they don't like as the machinations of Satan and his minions. Lurry says
of his experience, 'I must admit that the temples intimidated me. I saw
many items that discouraged me from entering. At some temples, fierce-looking
statues of creatures with long fangs and sharp claws guard the entrance.
Guarding the main hall of many temples are two large statues of dragons
with multiple heads on either side of the staircase...If such images were
on the outside of the temple, what would I find on the inside? I half imagined
that these creatures would somehow come to life and attempt to harm me'
(p..234).
I can
understand how simple, often illiterate hill tribesmen in the backblocks
of Burma could be frightened of malevolent spirits. But Mr. Lurry is a
graduate of the University of North Texas and he is frightened of bits
of painted cement and plaster used to decorate Buddhist temples. How easy
it is to scare evangelical Christians!
Nine
pages in Peoples of the Buddhist World are devoted to the Sinhalese, the
native people of Sri Lanka, long a target of missionary endeavors. Despite
nearly 500 years of close contact with Christianity only 4% of Sinhalese
are Christian and this is despite periods when their religion was severely
disadvantaged and even actively persecuted. It both perplexes and infuriates
the evangelists that they have had so little success in this staunchly
Buddhist island.
Since
the late 1950's the Catholic Church in Sri Lanka has tacitly accepted its
minority status and for the most part adapted a live and let live attitude
towards Buddhism. It has continued its conversion efforts but in a low-key
and respectful way. But starting in the 1990's evangelical organizations
have literally swamped Sri Lanka and they have a 'no quarter asked for,
none given' attitude. So far most of their converts have been amongst Catholics,
to the consternation of the Catholic Church, but of course the real target
is the Buddhists. Buddhist bhikkhus are calling on the government to enact
laws against conversion. But is this really the best solution?
It
is quite understandable that the Sinhalese do not like their religion being
referred to as 'Satanic devil worship' especially by foreigners, which
is what most of the missionaries in the country are. Some years ago a deeply
respected Sinhalese bhikkhu died and there was a veritable outpouring of
grief among the Buddhist public. At the very time of this bhikkhu's funeral
the leader of a house church in an outer suburb of Colombo, let off fireworks,
the usual way people express delight or celebration in Sri Lanka. Naturally,
the Buddhists around this church were deeply offended and although no violence
occurred some very angry words were exchanged. I happened to witness the
locals' confrontation with this church leader. He insisted that his crackers
had nothing to do with the bhikkhu's funeral but was unable to give a convincing
reason why he had ignited them. Throughout his encounter with his neighbors
he was brazen, unapologetic about his actions and dismissive of the peoples'
hurt feelings. I can only say that he gave me the distinct impression that
he would have welcomed being manhandled or beaten so that he could claim
for himself the title that evangelicals so long to have – that of martyr
for their Lord.
Hattaway's
book highlights incidents of violence against Christians in Sri Lanka and
elsewhere which have unfortunately started to become all too common. Of
course, what he fails to mention is that it is only the evangelicals, not
Catholics or mainline Christians, who attract such negative reactions..
And of course he fails to mention why people sometimes get so angry at
the evangelicals. The fact is that it is their bad-mannered pushiness and
their complete insensitivity to the religious feelings of others that is
the cause of such violence. This is not to excuse the violence but only
to explain why it happens.
It
is also true that some of the more extreme evangelists even sometimes deliberately
provoke confrontations. I have two evangelical tracts from Sri Lanka –
one insists that villages must become 'a battlefield for souls' and the
other says that Christians must 'confront the unsaved, yes even forcibly
confront them, and compel them to make a decision.' And it is not just
Buddhists who are offended by the evangelicals’ rude aggressive behavior.
A Chinese Thai born-again Christian once informed me that the Pope is actually
'the prostitute of the Anti-Christ' and showed me the Bible passage that
proved it. I could only laugh at his half-baked hermeneutics.. But how
would a devout Catholic have felt being told such a thing?
The
section on Sri Lanka in Hattaway's book is written by Tilak Rupasinghe
and Vijaya Karunaratna, two well-known evangelical preachers. They gleefully
highlight Sri Lanka's many woes – civil war, high suicide rate, corruption,
insurrection – and of course present this as just more evidence that
Buddhism is false. Then they make the bold claim, 'In Christ there can
be healing from the wounds of injustice, oppression and ethnic hatred...In
Christ there can be hope for the redemption of the nation, its land, its
language, its culture and its people.' This is a seductive promise and
one that some people might be willing to listen to. But of course it is
the same old spurious and empty promise missionaries have always made in
the lands they try to evangelize; 'What a mess your country is in! Your
gods have failed. Accept Jesus Christ and everything will be wonderful.'
But
does Christianity really do a better job of solving social problems? The
evidence that it does is very thin. Christianity failed miserably to bring
peace to northern Ireland, in fact, it was the main cause of the problem.
Germany's long tradition of Catholicism and Protestantism did not prevent
Nazism taking root there. South Africa's Dutch Reformed Church was an ardent
supporter of apartheid and all its oppression and cruelty. The prevalence
of evangelical Christianity in the southern United States, the so-called
'Bible Belt,' has not prevented it being the poorest and most raciest part
of that country. And the racial segregation in the south is never more
obvious than on Sunday morning when black and white people still go to
separate churches; 'Hallelujha and praise the Lord but worship him in your
own church!'
Hattaway's
book is or at least should be a wake-up call for we Buddhists. Unless we
reform the Sangha, better organize ourselves and make more of an effort
to both know and apply our religion the Light of Asia may be snuffed out.
Peoples
of the Buddhist World by Paul Hattaway, Piquant Editions, Carlisle, 2004.
|
The Peoples
of the Buddhist World CD-ROM
is a great resource
for:
mission
leaders - comprehensive, compact, easy-to-use
profiles and relevant statistics make it easy to do initial research and
planning for ministry initiatives among Buddhist peoples.
field
workers - this easily-transportable guide
gives insights into ministry dynamics and context and provides better understanding
of where Buddhist peoples are located.
workers
raising support - 238 people profiles
in a handy electronic format useful for ministry presentations. Permission
is given to copy and paste graphs, text, maps and photos for use in personal,
non-profit ministry presentations.
development
staff -
an attractive and desirable promotional item for donor relations efforts.
ministry
partners - information, insights and visuals
to stimulate well-informed prayer for ministries among Buddhist peoples.
church
mission pastors and committees - beautiful
colored photos, maps and statistics boxes make it easy to highlight any
particular group during a "missions moment" or for mission initiatives.
educators-
offers students a comprehensive, compact resource for personal research,
study and ministry preparation.
concerned
christians -
each of the 238 people profiles is date-ordered and easily referenced for
use as a daily prayer guide for Buddhist peoples.
The world's 690
million Buddhists need Christ.
What can one
person do?

Features
Peoples
of the Buddhist World CD-ROM contains hundreds of beautiful, full-color
photos, complete profiles of 238 Buddhist people groups, twelve articles
on ministry to Buddhists, and hypertext cross-reference indexes
of names, languages and countries.
This
GMI resource is enhanced with 38 brand-new maps of the Buddhist world,
hyperlinked to the corresponding people profiles in a user-friendly PDF
format.
Text,
graphs, maps and photos may be copied and pasted for customized, non-profit
presentations.
http://www.gmi.org/products/buddhistworld.html
|
07-13-2008
09:23:44