Mục Lục
Lời
đầu sách
Tiểu
sử HT Thích Trí Tịnh
Phần
I: Khuyến tấn tu hành
1.
Ngày khánh tuế 17/07 Quý Mùi
2.
Ngày khánh tuế 17/07 Giáp Thân
3.
Ngày khánh tuế 17/07 Ất Dậu
4.
Mùng một Tết Bính Tuất
5.
Ngày xuân nói chuyện dịch kinh
Phần
II: Khai thị pháp môn niệm Phật
1.
Tại sao niệm A Mi Đà Phật
2.
Tọa thiền niệm Phật
3.
Yếu chỉ pháp trì danh niệm Phật
4.
Kệ niệm Phật hạ thủ công phu
5.
Pháp môn niệm Phật
Phần
III: Những cành sen trắng
Phần
IV: Phụ lục
1.
Truyện vãng sanh có chứng nghiệm
2.
Bốn mươi tám đại nguyện
3.
Lời sau cùng
4.
Bìa sau
LỜI
ĐẦU SÁCH 
Hòa
Thượng thượng Trí hạ Tịnh, viện chủ chùa Vạn Đức,
là một bậc Tòng Lâm Thạch Trụ, đã phiên dịch nhiều bộ
kinh lớn, khiến cho giáo nghĩa Đại thừa được lưu thông,
Phật pháp được lưu truyền trong tứ chúng. Những vị Tăng
tài tiếp nhận sự giáo hóa của Ngài rất đông. Ngài tinh
thông cả Thiền – Giáo, nhưng chỗ thực hành và khuyến tấn
người chính là Pháp môn Trì danh niệm Phật.
Năm
1955, Hòa Thượng mở hội niệm Phật tại chùa Vạn Đức,
lấy tên là Cực Lạc Liên Hữu, xiển dương pháp môn Tịnh
Độ. Lời khai thị của Hòa Thượng bình dị, không chuộng
cao siêu, chú trọng ở chỗ chân thật công phu tu hành. Với
tâm từ bi, Hòa Thượng luôn luôn ân cần nhắc nhở Tăng Ni,
Phật tử phải nhớ quán vô thường để được tinh tấn
trong việc tu hành, không nên bỏ phí thời gian; giữ gìn giới
luật, thực hành ăn chay, phóng sanh, niệm Phật cầu sanh Tây
Phương nhằm thoát khỏi sinh tử luân hồi, thẳng tiến đến
quả vị Phật.
Chúng
tôi nhận thấy điều quý báu trên nên đã sưu tập những
buổi nói chuyện, những bài thuyết pháp, cùng trích dẫn những
trước tác của Ngài, tập hợp thành sách lấy tựa đề là
“Hương Sen Vạn Đức”. Chúng tôi với chỉ tâm nguyện góp
một phần nhỏ trong việc lưu truyền chánh pháp của Đức
Phật nói chung và pháp môn Tịnh độ nói riêng, nhằm giúp
cho mọi người nhận rõ giá trị chân thật của phápTrì
danh niệm Phật. Từ đó, mạnh mẽ tinh tấn tu hành, không
nghi ngờ, không do dự, thẳng bước về Cực Lạc.
Chúng
tôi xin tri ân ĐĐ. Thích Chân Tính (Trụ trì chùa Hoằng Pháp),
Thầy Pháp Đăng… cùng chư Pháp hữu đã tận tâm giúp đỡ
để quyển sách này được hoàn thành.
Việc
lành này, nguyện hồi hướng đến bốn ơn ba cõi, khắp cả
chúng sanh trong pháp giới đồng tu Tịnh độ, đồng sanh Tây
Phương, đồng thành Phật đạo.
Nam
mô A-di-đà Phật!
Chùa
Vạn Đức
Ngày
08 tháng 02 Bính Tuất (2006)
Tỷ
kheo Thích Hoằng Tri kính ghi
Tiểu
sử Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
Hòa
thượng pháp danh là Thiện Chánh, tự Trí Tịnh, pháp hiệu
Hân Tịnh, húy Nhựt Bình, thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời
thứ 41. Là đệ tử của Hòa Thượng: Thượng Thiện Hạ Quang,
khai sơn chùa Vạn Linh ở núi Cấm, Châu Đốc. Hòa thượng
thế danh là Nguyễn Văn Bình, sanh ngày 17 tháng 10 năm 1917 (02/09
năm Đinh Tỵ), tại xã Mỹ An Hưng (Cái Tàu Thượng), huyện
Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp), là con út trong gia đình
có sáu anh chị em.
Thân
phụ Ngài là ông Nguyễn Văn Cân, một nông dân chơn chất.
Cụ ông qua đời lúc Hòa thượng mới lên ba tuổi. Thân mẫu
là bà Nguyễn Thị Truyện, mất lúc Hòa thượng vừa được
bảy tuổi. Vì mồ côi cả cha lẫn mẹ quá sớm, nên Hòa thượng
ở với người anh thứ ba là ông Nguyễn Văn Đặng (nay đã
qua đời). Hòa thượng có ba chị gái: thứ hai, thứ năm và
thứ sáu. Người thứ tư thì mất sớm.
Đến
năm 10 tuổi, Hòa thượng mới vào học lớp năm (thời đó,
lớp năm là lớp thấp nhất). Hòa thượng rất thông minh,
vừa học vừa dạy lại các cháu. Ban đêm còn đọc truyện
Tàu cho mọi người nghe. Đúng 15 tuổi, Hòa thượng học đến
lớp đệ thất, rồi sang học chữ Nho với người chú và
học thuốc Bắc với người anh họ.
Hòa
thượng thấy cảnh lục đục của gia đình anh chị nên có
ý xuất ly thế tục. Từ đây, Hòa thượng bắt đầu tìm
hiểu đến các tôn giáo như Thiên Chúa, Cao Đài, Thông Thiên
Học v.v... và đặc biệt quan tâm đến Phật giáo, vì chủ
thuyết của các tôn giáo kia có nhiều điểm Hòa thượng không
thỏa mãn được. Từ đó, Hòa thượng âm thầm tập niệm
Phật, trì chú, và quán từ bi. Ngài đến các chùa, đa số
thấy quý thầy chú trọng về việc làm đồ mã, cúng bái,
đi đám. Trên bàn thờ thì tối om, thờ nhiều tượng, tượng
nào cũng đội khăn đỏ trông phát sợ nên không có cảm tình
lắm. Hòa thượng cho rằng, các vị cao Tăng có lẽ ẩn dật
nơi non cao núi thẳm, nên có ý hoài vọng các chùa trên núi.
Năm
18 tuổi, Hòa thượng bắt đầu ăn chay trường. Ứng theo điềm
chiêm bao, Hòa thượng thấy có một ông già bảo rằng: "Con
có căn tu, phải cần tìm thầy học đạo thì sẽ được như
trong sách ước", ông già còn bảo thêm: "Chừng nào cọp chết,
rắn mới về non" (Hòa thượng tuổi Ty).
Năm
1937, lúc Hòa thượng 21 tuổi, cùng người bạn lên Sài Gòn
lập nghiệp, ở chung nhà trọ. Nhà ấy có một người đi
chơi ở Tây Ninh về mua được một con cọp con, đem về nuôi
được chín, mười ngày thì nó chết. Ứng điềm chiêm bao,
Hòa thượng liền thu xếp tìm đường xuất gia. Trước đó,
tuy đã có ý định xuất thế cho sớm nhưng còn người chị
thứ sáu chưa lập gia đình nên không nỡ bỏ đi. Nay bà chị
đã yên bề gia thất, Hòa thượng yên tâm ra đi, để lại
cho các anh chị mỗi người một lá thư và một tấm hình.
Hòa
thượng đi thẳng lên núi Cấm, vì trước đã nghe có nhiều
vị chân tu trên núi ấy. Vừa đến chân núi, vì quá vui mừng
nên quăng cả giày dép. Hòa thượng nhảy từ tảng đá này
qua tảng đá khác và nguyện ghé lại ngôi chùa nào trước
thì sẽ xuất gia ở đó, dù chưa biết chùa đó tên gì, trụ
trì là ai. Và rồi nhân duyên đưa Ngài đến ngôi chùa Vạn
Linh, là một ngôi chùa ở xa và cao nhất. Hòa thượng vào
chùa xin xuất gia. Lúc đó, Hòa thượng trụ trì không ở trong
chùa mà ở thất riêng ngoài bìa rừng, chỉ khi nào có việc
thì sau giờ Tịnh độ mời vào dạy bảo Tăng chúng ít lời.
Hôm ấy là tối 14 tháng 02 năm Đinh Sửu, ngày Sám hối giữa
tháng. Sau giờ Sám hối, chúng ra thưa, Hòa thượng trụ trì
vào, Hòa thượng trụ trì nhìn sững Hòa Thượng hồi lâu
rồi mới nói rồi mới nói với đại chúng: "Bay đừng khinh
thường thằng này. Đời trước nó đã làm Hòa thượng, đời
nay nó cũng làm Hòa thượng, nhưng vì có tội hay nhìn con gái
nên đời này bị bệnh mắt suốt đời. Thế là hôm sau, Hòa
Thượng được thế phát vào ngày vía Phật nhập Niệt bàn.
Sau
khi xuất gia, Hòa thương lãnh việc viết sớ điệp. Hòa Thượng
trụ trì cho Ngài ở cái thất nhỏ trong vườn chùa. Ngoài
các việc và thời khóa trong chùa, Hòa Thượng còn ra thất
tụng kinh và làm bổn phận hết sức cần mẫn. Ngài hành
khổ hạnh như nhịn ăn, ít ngủ, đến đổi Hòa Thượng trụ
trì phải cảnh cáo. Có lúc đang ăn, vì quá để tâm đến
sự tu nên rơi chén lúc nào mà không hay.
Nhận
được tạp chí Từ Bi Âm, Hòa Thượng phát khởi ý nguyện
học rộng Phật Pháp. Cuối năm 1939, Hòa Thượng xin phép Hòa
Thượng trụ trì xuống núi về Saigon để tìm học kinh luật.
Về
đến Saigon, Hòa Thượng cùng thầy Thiện Phước ra núi Thị
Vải tìm chỗ thích hợp để cất thất. Sau cùng, tìm được
một điểm tương đối tốt gần chùa Tổ (nay là Linh Sơn
Bửu Thiền). Trong chùa có cho mượn dụng cụ đốn cây và
dẫn nước về. Thời gian đó chưa có ai ở nhiều, nên sơn
lam chướng khí rất nặng. Vì thế, chẳng mấy hôm, Hòa Thượng
và thầy Thiện Phước đều bị bệnh sốt rét, lên cữ từng
cơn. Thấy không kham nổi nên hai người đồng xuống chân
núi. Thầy Thiện Phước thì tá túc nơi am của bà Năm, Hòa
Thượng thì tá túc nơi hang đá của bà Bảy. Vài hôm sau,
thầy Thiện Phước tịch. Hòa Thượng bèn về Saigon tá túc
ở chùa Tịnh Độ, Gò Vấp. Chùa này do ông Tư Lành làm xếp
ga xây dựng lên. Nhà ông ở phía trước, chùa xây phía sau
có thỉnh quí thầy để trụ trì. Hòa Thượng đến bệnh
viện Saigon để điều trị nhưng cũng chẳng thuyên giảm.
Thấy vậy, Ngài tự nguyện với lòng: “Có chết như huynh
Thiện Phước cũng chẳng sao”. Thế nên, không quan tâm đến
việc trị bệnh nữa mà phát tâm tả kinh Pháp Hoa. Có một
Phật tử biét tâm nguyện của Hòa Thượng, giúp tìm mua giấy
mực. Đến ngày 14 tháng 10 là tả xong. Đúng hôm ấy, trong
khi gởi để đóng lại thành quyển, chưa đem về thì có ông
Mười là bổn đạo trong chùa đến nói với Hòa Thượng:
“Tôi biết có ông thầy kia trị bệnh sốt rét hay lắm, để
tôi đưa huynh đến đó xem sao!”.
Ông
bèn lấy xe đạp chở Hòa Thượng đến đó. Ông thầy thuốc
không có nhà riêng, ở đậu nhà người ta mà làm thuốc. Sau
khi hỏi bệnh trạng và giờ lên cữ, ông nói bệnh nặng lắm
vì lên cữ khuya. Ông vào nhà sau, một lúc đem ra cục thuốc
để trên miếng giấy, quan sát thì Hòa Thượng biết có ớt
và tỏi đâm chung. Ông bảo trước khi lên cữ nửa tiếng,
lấy tay mặt với ra sau lưng, từ trên cổ lần xuống hết
ngón tay giữa chấm chỗ nào thì đó là huyệt cao quan, lấy
cục thuốc ịn vào đó (cục thuốc được để trên miếng
giấy mỏng chừng 3 ngón tay), rồi cứ ngồi ngay ngắn chờ.
Hòa Thượng về làm y như vậy. Nửa tiếng sau khi ịn cục
thuốc, cơn sốt rét bắt đầu kéo đến. Như mọi lần, nó
bắt đầu từ xương khu quặn lên như con rắn bò, đến cục
thuốc nó dừng lại và quặn vòng quanh đó dữ lắm rồi lại
ngưng, làm như vậy ba lần rồi ngưng luôn. Từ đó căn bệnh
sốt rét dứt hẳn.
Sau
khi hết bệnh, Hòa Thượng ở lại chùa đó một thời gian
ngắn nữa. Về sau, có người em gái họ đã xuất gia, Pháp
danh là Diệu Trí ghé thăm. Cô ấy có khoe với Hòa Thượng
là được học kinh này kinh nọ và khuyên Hòa Thượng nên
tìm học. Lúc bấy giờ, chỉ có trường An Nam Phật Học mở
ở chùa Báo Quốc tại Huế, trong tâm Hòa Thượng khởi ý
đi Huế từ đó.
Đầu
năm 1940, Hòa Thượng về lại Cái Tàu để xin giấy ra Huế
học, nhưng chính quyền không cho, bảo Hòa Thượng phải ở
lại năm bảy tháng mới cấp giấy. Hòa Thượng không chờ
được nên lên Saigon tìm cơ hội để đi, được một thí
chủ là ba Ba Hộ (chủ đất chùa Vạn Đức) cúng dường 15
đồng làm lộ phí. Đúng ra, đi tàu suốt đến Huế thì khỏe
hơn, nhưng bấy giờ, Huế thuộc vùng bảo hộ của Pháp, còn
miền Nam là thuộc địa, nên ra đấy phải có giấy như xin
Passport ra nước ngoài vậy. Vì thế, Hòa Thượng phải đi
từng chặng. Hòa Thượng lên tàu đi Phan Thiết, đến nơi
thì đã trưa, Hòa Thượng kêu xe kéo đến chùa nào gần cũng
được, vì thật sự cũng không biết chùa nào mà đến. Xe
kéo Hòa Thượng đến chùa Bình Quang, Hòa Thượng vào chùa
xin cơm. Chùa dọn cơm xong, lúc sắp ăn thì vị Ni trụ trì
nói: “Huynh à! Chư Tăng ở đây đi đường hay ăn cơm là
phải mặc áo dài, sao huynh không mặc?”. Hòa Thượng làm
thinh, trong bụng thầm nghĩ: “Cũng muốn mặc lắm nhưng có
đâu mà mặc”. Sau này vị Ni đó vẫn còn nhớ chuyện cũ,
trong tâm tiếc rằng phải chi lúc ấy cúng dường cho Hòa Thượng
một hai cái áo dài nào có khó gì, lại còn gieo được phước
lành cúng dường bước đầu cho một vị cao Tăng sau này.
Sau
khi ăn cơm xong, Hòa Thượng lại tiếp tục ra bến xe để
đi Bình Định, vì trước khi đi, Hòa Thượng có đến tòa
soạn báo Từ Bi Âm, gặp Hòa Thượng trụ trì chùa Liên Tôn
ở Bình Định, lúc đó là Phó chủ bút, còn Hòa Thượng Bich
Liên làm chủ bút. Ra đến Bình Định, Hòa Thượng tìm lại
chùa Liên Tôn. Hôm đó, Hòa Thượng trụ trì còn ở Thành
phố chưa về. Trong chùa, chỉ có một vị thầy trông coi gọi
là thầy Khố. Ít hôm sau, Hòa Thượng trụ trì về, có cả
cô Diệu Trí và có thị giả. Hòa Thượng bèn xin tạm ở
đây tu học. Hòa Thượng trụ trì nhờ Hòa Thượng viết lại
Bát Nhã tâm kinh mà Hòa Thượng đã giảng và in từng kỳ
trong báo Từ Bi Âm, ghép lại thành tập để in ra phổ biến.
Thời gian đó, Hòa Thượng trụ trì có giảng “Cảnh Sách
Cú Thích Ký”, chủ yếu là dạy cho cô thị giả, Hòa Thượng
và cô Diệu Trí cũng theo học. Cô Diệu Trí có nhờ ngoài
Bắc thỉnh một số kinh chữ Hán, giúp đỡ cho Hòa Thượng
có tài liệu để học. Cô Diệu Trí đề nghị Hòa Thượng
nên ra Huế vào trường học tốt hơn. Thế nên, Hòa Thượng
ở đó được ba tháng thì tiếp tục lên đường ra Huế,
còn cô Diệu Trí thì về lại Saigon. Lúc đó là tháng 08 năm
1940.
Ra
đến Huế, Hòa Thượng cũng không biết đến chùa nào, mới
nhờ mấy người kéo xe. Họ nói ở chùa Tây Thiên có quí
thầy ở miền Nam ra. Hòa Thượng nhờ họ kéo đến đó. Chùa
Tây Thiên là chùa của Hòa Thượng Giác Nhiên, vị tăng Thống
thứ hai của GHPGVNTN. Ở đó, Hòa Thượng gặp Hòa Thượng
Thiện Hòa, Thiện Hoa. Hòa Thượng Giác Tâm chùa Duyên Giác
ở Bến Tre thì đã ra trường trước. Ở đây cũng có dạy
kinh Lăng Nghiêm. Sau buổi học, thầy Giác Tâm bảo Hòa Thượng
đọc lại phần đã học. Hòa Thượng đọc lại, giảng nghĩa
rành rẽ. Thầy Giác Tâm thấy thế mới đề nghị Hòa Thượng
nên đến trường lớp, vấn đề liên hệ thầy Giác Tâm sẽ
lo cho.
Hòa
thượng được nhận vào học và được cấp học bổng, vì
một thân một mình không ai bảo trợ. Khi Hòa thượng vào
học thì lớp đó là năm thứ sáu của Tiểu học (Sơ cấp)
còn vài tháng nữa là thi lên Trung học (Trung cấp). Các môn
khác thì Hòa thượng học không khó lắm, chỉ có môn Duy Thức
là mù tịt không biết gì. Lúc đó đang dạy Duy Thức Dị
Giản sắp hết, Hòa thượng mới mượn tập xem lại từ đầu
và dần dần hiểu ra. Sao khi hết quyển cho làm bài kiểm tra
với chủ đề là Bát Thức Đồng Dị. Bài đó, Hòa thượng
được chấm chín điểm rưỡi, cao nhất lớp. Việc này đã
làm xao động trong chúng. Hòa thượng được Hòa thượng Đốc
Giáo để ý. Đến cuối năm, khi thi lên Trung cấp, học chúng
lo ngại nếu Hòa thượng đứng đầu thì mất thể diện những
người học lâu. Sau khi thi viết, đến phần khảo hạch miệng.
Bác sĩ Lê Đình Thám phụ trách môn này. Cách thi là lật quyển
sách nhằm trang nào thì giải thích trang đó. Vì lật nhằm
trang chưa học nên Hòa thượng giải thích chưa được trúng
lắm. Giáo sư Lê Đình Thám cười và nói: "Chú này đến sau,
mà sau này sẽ hữu dụng!". Chung cuộc, Hòa thượng cũng được
đứng hạng bảy.
Đầu
năm 1941, Hòa thượng thọ giới Sa-di tại Huế với Đại lão
Hòa thượng chùa Quốc Ân. Sau đó, tiếp tục học lên Trung
đẳng và tốt nghiệp vào cuối năm 1942. Đến năm 1945 thì
tốt nghiệp Cao đẳng. Cũng năm này, trường An Nam Phật Học
dời vào Tòng Lâm Kim Sơn, Hòa Thượng được Hội và Ban giám
đốc cử làm Giám viện Quản đốc trường. Kế đó, vì nạn
đói ở Huế cũng như cả miền Bắc, nhà trường quyết định
chuyển học Tăng Sơ đẳng và Trung đẳng khoảng 40 vị vào
Nam và giao toàn chúng cho Hòa thượng quản lý. Hòa thượng
Thiện Hoa và Hòa thượng Trí Quang lo chỗ nơi, mục tiêu hướng
đến là Lưỡng Xuyên Phật Học. Vào đến Nam, đoàn học
Tăng tạm ở lại chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho do thầy Trí Long
trụ trì. Thầy Trí Long cũng là một học Tăng trong đoàn.
Hòa thượng Thiện Hoa và Hòa thượng Trí Quang trở về Lưỡng
Xuyên lo sắp xếp, còn Hòa thượng về chùa Kim Huê, Sa Đéc
tạm ở và lo nhập thất. Ngày 19 tháng 06 năm 1945, Hòa thượng
được thọ Đại giới tại Đại Giới Đàn tổ chức tại
chùa Long An, Sa Đéc, do Đại lão Hòa thượng chùa Kim Huê làm
Hòa thượng đàn đầu.
Cách
mạng tháng Tám năm 1945 phát động, Lưỡng Xuyên Phật Học
bị phân tán. Hòa thượng Thiện Hoa về chùa Phật Quang ở
Trà ôn, Cần Thơ do Hòa thượng Thiện Tâm là anh ruột làm
trụ trì, xây dựng tạm mái trường. Hòa thượng từ Sa Đéc
về Phật Quang, cùng Hòa thượng Thiện Hoa tập họp các học
Tăng lập thành trường Phật Học Phật Quang, khai giảng vào
cuối năm. Học Tăng trường Phật Quang phần đông là học
viên mới còn tốp cũ phần động tự phân tán vì quốc biến.
Cuối
năm 1946, gặp nạn thổ dậy, địa phương không được ổn
định. Hòa thượng dời một số học Tăng về tạm ở chùa
Vạn Phưóc, Phú Lâm, Chợ Lớn. Sau đó, Hòa Thượng cùng thầy
Huyền Dung xây dựng thành lập Liên Hải Phật Học Trường,
quy tụ số học tăng khoảng 70 vị từ khắp các nơi về.
Trong đó có Hòa Thượng Đạt Từ ở chùa Thiền Tôn (Thủ
Đức) đến giúp và giữ chức Giám trường, Hòa Thượng Quảng
Liên và Hòa Thượng Quảng Huệ cũng về hợp tác, thầy Minh
Cảnh được xuất gia ở đây, Hòa Thượng đã tổ chức được
một Đại giới đàn tại đây và Hòa Thượng Quảng Liên
cũng như Hòa Thượng Bửu Huệ được thọ Đại Giới tại
giới đàn này.
Đến
năm 1950, Hòa Thượng có bệnh phải đi dưỡng bệnh ở chùa
Linh Sơn, Cổ Tự (Vũng Tàu), nên giao toàn trường cho Hòa Thượng
Thiện Hoa vừa ở Bắc về quản lý. Năm 1951, Hội chùa Linh
Sơn thỉnh Hòa Thượng làm trụ trì và giao toàn quyền quản
lý.
Năm
1952, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt được thành lập ở Saigon,
Hòa Thượng được mời giữ chức Trưởng Ban Giáo Dục và
Trưởng Ban Giám Luật. Kế đó, Giáo Hội Tăng Già toàn quốc
được thành lập, Hòa Thượng được cử vào các chức vụ:
Trưởng Ban Giáo Dục, Ủy viên Phiên Dịch Tam Tạng và Phó
Trị Sự Trưởng, vì có nhiều trọng trách trong GIáo Hội
nên tháng 04 năm 1954, Hòa Thượng trao quyền trụ trì chùa
Linh Sơn lại cho Thượng Tọa Tịnh Viên, cho đến năm 1995
thì Thượng Tọa Tịnh Viên viên tịch.
Với
hoài bão truyền đăng tục diệm, hoằng dương chánh pháp,
kiến tạo Già Lam, Hòa Thượng được Phật tử cung thỉnh
về ngôi chùa cổ kinh không người thừa kế trên một vùng
đất hoang vu vắng vẻ ít người đi lại, tọa lạc tại ấp
Bình Đức, xã Tâm Bình, quận Thủ Đức, phường Tam Phú,
quận Thủ Đức, TPHCM. Nơi đây, Hòa Thượng khai sơn tạo
dựng Già Lam, lấy tên là Vạn Đức. Lần lần, do uy tín và
đạo đức của Hòa Thượng, Tang Ni quy tụ về cất chùa am
chung quanh, biến nơi này thành một đạo tràng lớn mà hiện
nay, nói đến đạo tràng Vạn Đức ai ai cũng đều biết.
Năm
1955, với chí nguyện hoằng dương tịnh Độ, hướng dẫn
chúng sanh đời mạt pháp, Hòa Thượng thành lập Cực Lạc
Liên Hữu, khuyến tấn người niệm Phật, cầu vãng sanh Tịnh
Độ. Cực Lạc Liên Hữu được Hòa Thượng khai hóa đã khơi
dậy phong trào tu tập, khuyến tấn hành giả tín hướng chỉ
quy Tịnh Độ. Hòa Thượng là vị Tổ Sư đương thời chấn
hưng Tịnh Tông trong tòa nhà Phật Giáo Việt Nam. Hòa Thượng
rất quán triệt Thánh điển, tinh tường y dược Đông Phương,
Tăng Ni, Phật tử Việt Nam thấm nhuần được kinh điển Đại
Thừa phần lớn do công trình dịch thuật của Hòa Thượng.
Dịch
phẩm của Hòa Thượng rất có giá trị, Hòa Thượng quý chuộng
điều căn bản là dịch đúng nghĩa, chính xác, rõ ràng chơn
chất, không bóng bẩy, âm vận êm xuôi, để người đọc
tụng lưu thông, thầm nhận được nghĩa thú rất rõ ràng,
dễ nắm bắt được ý chỉ của kinh.
Năm
1947, Hòa Thượng dịch kinh Pháp Hoa ở Liên Hải Phật Học
Trường. Sau đó là kinh Tam Bảo, Địa Tạng, Phẩm Phổ Hiền.
Năm
1951, do yêu cầu của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Hòa Thượng
Việt dịch Bồ Tát giới để tụng trong ngày Bố Tát.
Năm
1952, trước tác bộ Đường Về Cực Lạc tại chùa Linh Sơn,
Vũng Tàu.
Năm
1964, dịch kinh Hoa Nghiêm ở chùa Vạn Đức, rồi tiếp tục
kinh Đại Bát Niết Bàn, Đại Bát Nhã.
Năm
1972, dịch Đại Bửu Tích, Hán Bộ 01-120.
Năm
1978, được phép in nên dịch thêm hai tập, Hán Bộ từ 121-150.
Rồi
dịch Văn Thù Vấn Bát Nhã, Hán Bộ từ 151-155; Vô Tận Ý
Bồ Tát, Hán Bộ từ 156-159; Thập Lục Quán Kinh, Hán Bộ 160.
Tất
cả ghép chung vào Đại Bảo Tích để tiện viện xin phép.
Năm
1962, Hòa Thượng được bổ nhiệm làm Phó Viẹn Trưởng Phật
Học Viện Trung Phần.
Năm
1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập,
Hòa Thượng làm Trưởng đoàn Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già
Việt Nam, được suy cử làm Tổng Vụ Trường Tổng Vụ Tăng
Sự.
Năm
1973, làm Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo.
Năm
1978, Hòa Thượng được Hòa Thượng Tăng Thống tấn phong
giáo phẩm cùng ba vị là: Hòa Thượng Trí Nghiêm ở Nha Trang,
Hòa Thượng Giác Tánh ở chùa Nguyên Thiều, Bình Định và
Hòa Thượng Minh Tâm ở Phan Rang.
Huy
hiệu bánh xe Pháp Luân 12 căm của GHPGVNTN là ý kiến của
Hòa Thượng (Tam chuyển Pháp Luân Tứ Đế).
Năm
1981, GNPGVN thành lập, Hòa Thượng được suy cử làm Phó Chủ
Tịch Thường Trực.
Năm
1982, kiêm thêm Trưởng Ban Trị Sự Thành Hội.
Năm
1984, Hòa Thượng chính thức được suy cử làm Chủ Tịch
Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Năm
1987, kiêm thêm Trưởng Ban Tăng Sự, giao Trưởng Ban Trị Sự
Thành Hội cho Hòa Thượng Thiện Hào.
Năm
1992, kiêm thêm Đệ Nhất Phó Pháp Chủ kiêm Giám Luật đến
bây giờ.
Hòa
Thượng cả đời tận tụy vì Phật Pháp, luôn lấy việc
học kinh, tụng kinh, niệm Phật, giảng dạy và phiên dịch
kinh điển từ Hán Tạng ra Việt Văn làm chánh hạnh của đời
mình. Hiện nay, tuy tuổi đã 90, nhưng tinh thần Hòa Thượng
vẫn sáng suốt. Thân còn khỏe mạnh, tâm chuyên niêm Phật,
vì sự lợi tha, cứ vào nửa tháng, Hòa Thượng lại truyền
giới Bát quan trai cho hàng Phật tử tại gia đến tu học tại
chùa Vạn Đức.
Hòa
Thượng thật là một tấm gương sáng, một bậc chân tu sáng
ngời đạo hạnh trong lòng Tăng Ni Phật tử Việt Nam.
* *
* * * * * *
Phần
I:
KHUYẾN
TẤN TU HÀNH
1.
Ngày Khánh Tuế 17/07 năm Quý Mùi (2003)
Người
xưa thường nói : “Sanh tử sự đại”, nhưng mình đã quen
sống trong sanh tử, ai cũng vậy hết, nên thấy không quan trọng.
Kỳ thật, lấy mắt đạo mà nhìn vào thì đó là việc lớn
của mọi người, của chúng sanh. Đã lăn lóc mãi trong nhiều
đời, hiện tại nếu không cố gắng thì những đời sau cũng
vẫn lẩn quẩn trong vũng lầy sinh tử mà thôi.
Gặp
được Phật pháp rất khó! Trên đời này không có pháp nào
thoát ly sanh tử, chỉ có giáo pháp của Phật mới ra khỏi
sinh tử luân hồi. Vì thế, gặp được rồi thì mình phải
cố gắng để vững bền trong chánh pháp. Cho nên, Phật dạy
tất cả đều phải tinh tấn nhất tâm. Nhưng chúng ta lại
có cái lỗi là luôn luôn phóng dật, giải đãi. Trong Luật,
những khi có việc gì thì các vị Trưởng lão, các vị Đại
Đức cũng đều khuyên nhắc: “Phải tinh tấn, mạc phóng
dật”. Chỉ có hai điều đó thôi!
Phóng
dật ở nơi thân khẩu thì dễ biết, còn ở tâm ý thì rất
khó biết. Hễ duyên theo lục trần, đều là phóng dật. Do
đó, ai nấy cần phải nhất tâm, phải chánh niệm. Chánh niệm
đứng đầu là ba niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Đừng để nó rời!
Niệm
Phật thì niệm hồng danh, niệm tướng hảo, niệm công đức.
Niệm Pháp phải thuộc kinh, vì nhớ đến kinh pháp tức là
niệm Pháp. Niệm tăng thì ở nơi đức Quán Thế Âm Bồ tát,
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hay Phổ Hiền Bồ tát ; cho đến Di
Lặc Bồ tát, Địa Tạng Bồ tát … đều là Bồ tát Tăng
đáng để cho chúng ta nghĩ đến các Ngài và công Hạnh của
các Ngài. Nếu tâm mình thường nghĩ tưởng như vậy thì bớt
phóng dật, hễ bớt phóng dật tất được tinh tấn. Tinh tấn
dần từ một ngày, hai ngày, ba ngày, cho đến nhiều tháng
nhiều năm thì lần lần cội Bồ-đề mà mình vun trồng sẽ
càng thêm to lớn, vững mạnh.
Người
xưa khi vào trong đạo liền tìm cách để được Định, được
Huệ. Chúng ta ở thời mạt này lăn lóc ở trong ồn náo, nhiều
chuyện, nhiều việc, đông người. Cho nên, tôi thường nhắc
nhở sự tu hành của mình giống như là tu mót .
Mót thời gian để tu, đừng bỏ qua.Gặp việc thì làm việc,
rảnh việc thì nhiếp tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng
; Được một phút thì tốt một phút, được một giờ thì
tốt một giờ, thế nên đừng bỏ qua việc tu mót. Ví như
những người ở quê ngày xưa đi mót lúa, tuy chỉ mót lúa
nhưng vẫn nuôi thân được, nuôi gia đình được, đủ lúa
đủ gạo để ăn. Mình đây cũng vậy, nếu cố gắng mót
thì cũng được đầy đủ nơi đạo pháp, nuôi lớn Pháp thân
huệ mạng của chính mình. Nếu huynh đệ thực hành một thời
gian rồi nghiệm lại, giờ tu mót lại nhiều hơn thời khóa
tu hành. Vì thế nếu bỏ qua thì bỏ phí rất nhiều thời
gian. Ai cũng có công việc hết, nhưng rồi cũng có xen kẽ,
lúc tâm trí mình được rảnh rang thì gắng giữ ba điều:
Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Được vậy, phóng dật
bớt dần lại, tương ưng với phần tinh tấn. Nếu trọn đời
mình sống trong chánh Pháp của Đức Phật thì đường đạo
mỗi ngày sẽ mỗi tăng tiến lên.
Vọng
tâm, vọng niệm dễ sanh. Những phiền não nghiệp chướng
cũng dễ phát khởi. Do vì cảnh duyên bên ngoài trợ giúp cho
mấy thứ đó phát triển, tăng trưởng. Mình ở trong thời
mạt pháp, lấy sức người để tu hành cũng giống như ở
nơi giữa dòng sông, chẳng những là nước mà lại có sóng
lớn nữa, luôn luôn lúc nào cũng có sóng hết. Trong đó phải
bơi phải lội thì việc đó cần cố gắng lắm mới được!
Có cố gắng mới thành công. Do đó, cần phải lập nguyện,
chí nguyện sẽ giúp mình thêm cố gắng và vững chắc hơn
ở nơi đường đạo. Chí nguyện phải thật vững để giúp
cho nghị lực, vì có chí nguyện ắt có nghị lực. Như thế
mới vững vàng được ở nơi những luồng sóng dập dồn,
nếu sơ xuất liền chìm, huynh đệ cần phải suy nghĩ cho kỹ!
Ở
nơi cõi ngũ trược này, phát chí nguyện phải dũng mãnh, nghị
lực cũng phải dũng mãnh. Ở trong cái khó mà tu tập thì hạnh
đức cao vời. Khó thì dễ hư nhưng thành tựu thì được
công cao. Do đó, trong kinh Duy Ma Cật nói; “ Bồ tát ở nơi
cõi dời này, có những công đức mà ở nơi cõi khác không
có được”. Chính là ý này vậy.
Huynh
đệ biết khó thì phải cố gắng. Lập chí lập nguyện cố
gắng vượt lên. Luôn luôn kiểm soát tâm ý của mình lẫn
cả về hành đông và lời nói. Kiểm soát nếu thấy không
đúng thì sửa lại cho đúng. Ai cũng đều có lỗi, nhưng có
lỗi mà biết sửa đổi thì thành tốt.
Mong
rằng chư huynh đệ đều nhất tâm tinh tấn tu hành!
2.
Ngày Khánh Tuế 17/07 năm Giáp Thân (2004)
Sau
ngày Tự tứ, được tất cả huynh đệ xuất gia cũng như
tại gia về đây thăm, nên tôi có vài lời nhắc nhở
Ngày
tháng trôi qua mau lắm, một năm không mấy chốc mà đã tới
rồi. Già, bệnh, chết, mãi đeo theo người không chừa ai hết.
Cũng mong các huynh đệ, ai nấy đối với Pháp của Phật,
không biết nhiều cũng biết ít, noi theo chỗ hiểu biết của
mình mà tinh tấn tu hành, luôn luôn nghĩ đến vô thường,
sanh tử. Thân này không bền lâu, mình phải cố gắng nương
theo thân người này để tu hành, vượt qua biển sanh tử,
lên đến bến bờ giải thoát. Nếu chưa được vậy thì cũng
làm nhân duyên thù thắng cho những đời sau, đạo tâm kiên
cố, căn lành tăng trưởng.
Thời
gian qua thật mau, đừng để luống uổng, phải thường nghĩ
vô thường. Nhớ lại thuở trước, chỗ mình đang ngồi, đang
quỳ ở đây là nơi mấy em mấy cháu (Bây giờ cũng sáu, bảy
mươi tuổi rồi) đứng hái trái sim, thì mấy huynh đệ biết
nó thuộc rừng rú. Rồi mình khai hoang, cất chùa. Thấm thoát
cây gỗ của chùa cũng mục. Từ đó biết rằng thời gian
trôi mau lắm, năm sáu chục năm thoáng chốc đã qua. Vì vậy
nên nhớ lời Phật dạy, phải luôn nghĩ đến vô thường.
Thân này còn đây, ngày mai không bảo đảm.
Pháp
của Phật rõ ràng, chỉ ở nơi mình có chịu làm hay không
chịu làm đó thôi, nên cố gắng tinh tấn, giữ đạo tu hành.
Cầu mong mấy huynh đệ căn lành mỗi ngày thêm lớn, công
đức mỗi ngày mỗi tăng trưởng.
3.
Ngày Khánh Tuế 17/07 năm Ất Dậu (21/08/2005)
Đã
qua một năm, thêm một tuổi. Tuổi đời, tuổi đạo, tất
nhiên tuổi thọ của thân này đã giảm đi một năm. Có sanh
là có tử. Không người xưa nào bây giờ còn hết. Mình đây
lần lần cũng thành người xưa thôi.
Đức
Phật dạy phải luôn quán vô thường: “ Thân này vô thường,
cảnh vật vô thường”. Biết được thân vô thường phải
ráng lo tinh tấn tu hành, chớ bỏ ngày tháng trôi qua. Nhờ
thấy cảnh vật vô thường, không nên có sự tham luyến, cũng
không nên khởi những vọng niệm phiền não. Tất cả đều
nhớ quán vô thường, từ chỗ thân vô thường thì cố gắng
tinh tấn tu hành, đối với cảnh thì không có tham luyến và
trái ý, nhờ vậy tham sân cũng không khởi. Biết được mấy
điều đó, si mê cũng lần lần ít đi, thiện căn công đức
mỗi ngày mỗi tăng, đó là mình mỗi ngày mỗi bước tiến
trên con đường giác ngộ giải thoát.
Gần
đây gặp ai, tôi thường khuyên đầu tiên nên tránh việc
ăn thịt chúng sanh, hễ còn ăn thịt chúng sanh thì không thể
giải thoát được. Mấy vị nghĩ lại xem, đối trước Tam
Bảo mình nói: “ Hằng ngày tôi ăn thịt chúng sanh, xin cho
tôi được giải thoát”, không bao giờ có điều đó được!
Do đó, phải tránh việc ăn thịt chúng sanh.
Mình
không ăn thịt chúng sanh thì tình thương mỗi ngày mỗi rộng
ra. Cũng như thế người lâu ngày không ăn thịt mà ăn chay
thì thấy con gà, con vịt, con chim… vật gì cũng vậy, nếu
không thương cũng không có tâm làm hại. Nếu thấy nó bị
đau đớn hay tai nạn gì, liền khởi nghĩ phải nuôi dưỡng
cho được mạnh khỏe, rồi thả nó đi.
Còn
người ăn mặn không ăn chay, thấy những con vật như vậy
thì muốn cắt cổ, nhổ lông để làm thịt ăn. Quý vị nghĩ
coi, ngay tâm niệm đó như thế nào ? Tâm niệm sau rõ ràng
sanh tử luân hồi, còn tâm niệm trước tuy chưa phải thành
Hiền thành Thánh, nhưng đã làm cái nền để bước lên con
đường Hiền Thánh. Từ tâm niệm có tình thương rồi lần
lần thêm rộng lớn, thành tâm từ bi của các bậc Hiền Thánh,
thiện căn công đức cũng được sanh ra từ đó. Cho nên Phật
nói, đức Phật thành Phật cũng do nơi tâm từ bi, lần lần
trưởng thành nên Đại từ Đại bi. Đó là cái gốc. Điều
đó rõ ràng như vậy, thế nên, cố gắng phải tránh việc
ăn thịt chúng sanh.
Người
đã ăn chay rồi thì thấy thường, còn người chưa ăn chay
được thì thấy khó, không phải dễ. Bây giờ, có phong trào
lan rộng ra trong giới xuất gia, nói chung là bớt việc ăn
chay thêm việc ăn mặn. Điều đó từ đâu mà ra ? Bởi vì
hiện tại đang đi vào thời kỳ mạt pháp, từ nơi tâm người
sanh ra những tâm niệm như vậy, rồi tạo thành nghiệp. Mình
thấy rõ ràng, đó là mầm móng của “đao binh tai” mà đức
Phật nói trong kinh Diệt Tận. Chỉ là mầm móng chứ chưa
đến. Biết được vậy, hiện tại tự mình hễ tránh được
thì cố tránh, vươn lên để tâm từ bi lần lần tăng trưởng,
thiện căn công đức theo đó mà phát triển. Như thế, tự
mình hướng đến con đường đạo, lần lần ra khỏi sanh
tử luân hồi, thành bậc Hiền Thánh giải thoát tự tại
Tôi
có vài lời nhắc nhở như vậy, để tự mình tỉnh giác và
dìu dắt những người khác. Mấy huynh đệ có bổn phận lãnh
đạo cũng nên nhắc nhở dìu dắt những người dưới mình.
Kế
đó, trong pháp môn của Phật, thích pháp nào thì thực hành
pháp ấy. Thích niệm Phật thì niệm Phật, thích tụng kinh
thì tụng kinh, thích tham thiền thì tham thiền. Nhưng nhớ phải
lấy việc “ tránh ăn thịt chúng sanh” làm chánh. Tôi thấy
mấy năm nay, phong trào ở trong nước cũng như ở nước ngoài,
từ xưa ăn chay mạnh lần lần yếu đi, rồi lần lần lan
rộng vào giới xuất gia lại ăn thịt nữa. Vì thành phong
trào chung, ai cũng vậy thấy không có tội.
Mong
quý huynh đệ ai nấy đều tinh tấn tu hành, đạo tâm kiên
cố, vững vàng tiến bước trong chánh pháp của Phật.
4.
Mùng 01 Tết năm Bính Tuất (2006)
Đầu
xuân Bính Tuất, Sư Ông nhắc nhở đại chúng giữ vững đạo
tâm, tinh tấn tu hành, để căn lành mỗi ngày một thêm lớn,
đạo lực được tăng trưởng thì mới tiến trên đường
giải thoát. Phải dày công tu tập, phải nhiều thời gian lắm
mới có kết quả được.
Pháp
môn của Phật dạy rất nhiều, không pháp nào dễ đạt được
kết quả hết. Chỉ có pháp dễ tu hay khó tu mà thôi. Phật
dạy thân người khó được, đã được rồi không khéo tu
để mất thân này thì muôn đời khó đặng lại. Thời gian
qua mau, đừng để luống qua mà uổng phí một đời.
Căn
bản của sụ tu hành là Giới, Định, Huệ. Từ nơi Giới
hạnh được tinh nghiêm mà tâm tĩnh lặng. Tâm được tĩnh
lặng thì trần lao phiền não không chi phối được. Do được
tĩnh lặng đó mà phát sanh ra Định. Và từ nơi Định mới
sanh ra Huệ. Huệ này do có Định mới phát, chớ không phải
do tạo tác mà thành. Nếu do tạo tác thì đó chỉ là
phân biệt hơn thua, phải quấy, hay dở. Và đó chỉ là ở
trong vòng sanh tử mà thôi. Huệ từ nơi Định sanh, Huệ đó
mới là giác, là giải thoát. Người đời không biết
quý trọng nơi sự giải thoát mà chỉ lo làm cho mạnh thêm
cái phân biệt hay dở nên không quan tâm gì đến Giới Định
Huệ. Tu pháp môn Trì danh niệm Phật cũng là cách đạt được
Định và Huệ.
Năm
1956, một số Tăng Ni và Phật tử thỉnh cầu Sư Ông tóm tắt
sư thực hành pháp môn Trì danh niệm Phật, nên Sư Ông có
làm ra bài kệ đề là:
Tây
phương Cực Lạc thế giới A-di-đà Phật
Tin
sâu, nguyện thiết, hạnh chuyên
Như
đã nói ở trước, Pháp môn nào của Phật dạy muốn đạt
được đều rất là khó, chỉ có dễ tu hay khó tu mà thôi.
Pháp Trì danh niệm Phật thì rất dễ tu. Nghĩa là mình đang
đi bộ, hay đi trên xe niệm Phật cũng được. Mình
đang đứng ngắm cảnh cũng niệm được. Mình đang ngồi làm
việc cũng niệm được và khi mệt mỏi quá nằm niệm cũng
được. Chỉ trừ lúc nói chuyện là không niệm được mà
thôi. Còn các pháp môn khác phải ở nơi vắng lặng hay thiết
lập đạo tràng thì mới thực hiện được, đại khái là
như thế.
Khi
thực hiện pháp Trì danh niệm Phật thì lòng tin phải cho sâu
chắc; tâm nguyện phải thiết tha và công hạnh phải chuyên
cần. Khi niệm Phật, tâm và tiếng phải hiệp khắn nhau. Nghĩa
là tâm phải duyên theo tiếng, tiếng phải ở trong tâm, đừng
để nó xao lãng theo một tiếng gì khác, hễ nó rời ra thì
phải kéo nó lại. Muốn được vậy, tiếng niệm phải cho
rõ ràng, rành rẽ. Niệm như vậy phải chuyên cần, phải nhiều
thời gian, phải đều đặn, phải tinh tấn lắm thì mới đắc
lực. Khi niệm đã đắc lực thì tự nhiên trong tâm mình nổi
lên tiếng niệm Phật mà mình không cần đề khởi, không
cần nghĩ đến nó vẫn tự niệm. Ban đầu thì lúc được
lúc mất, được thì ít mà mất thì nhiều. Cố gắng thêm
thì được nhiều mất ít, cho đến khi không còn gián đoạn
nữa thì gọi là niệm lực tương tục. Và như vậy mới đúng
nghĩa “chấp trì danh hiệu”. Đó mới là nhơn của Niệm
Phật Tam Muội. Được vậy thì sự vãng sanh mới bảo đảm.
Bởi được Thánh chúng vây quanh tiếp rước không phải chuyện
dễ dàng. Có tương ưng với đại nguyện của đức Phật
A- di- đà thì mới có cảm ứng.
Người
dược gọi là “ Chấp trì danh hiệu”, nếu hạng lợi căn
thì hoặc một ngày, chậm lắm là bảy ngày sẽ được Niệm
Phật Tam Muội thì thấy được đức Phật A-di-đà. Thấy
Phật A-di-đà thì thấy được mười phương chư Phật
Pháp
môn Trì danh niệm Phật là pháp môn dùng âm thanh làm phương
tiện, nên dù niệm lớn hay nhỏ, hoặc niệm thầm cũng đều
là âm thanh. Cho nên, chỉ có khi nói chuyện mới không thực
hành được. Vì vậy, Bồ tát Giác Minh Diệu Hạnh có dạy:
“Ít
nói một câu chuyện
Nhiều
niệm một câu Phật…”.
Vì
thế ta phải bớt đi những duyên lăng xăng chung quanh để
dành nhiều thời gian mà niệm Phật. Nếu lăng xăng tạp nhạp
nhiều quá mà niệm Phật ít quá thì sẽ không đủ lực để
lấn áp vọng tưởng, khó mà nhiếp tâm được.
Sư
Ông năm nay đã tròn 90 tuổi rồi, không biết sẽ dừng lại
ở số 0 hay 1,2,3 gì đây. Đời người ngắn ngủi lắm, tất
cả nên cố gắng tu hành để ra khỏi vòng sanh tử. Hôm nay
nhân ngày đầu xuân, Sư Ông có lời nhắc nhở tứ chúng,
ai nấy đều nên nhất tâm tinh tấn!
5.
Ngày xuân nói chuyện dịch kinh
Tôi
có quan niệm, dịch không phải để cho mình đọc mà để
cho mọi người đọc. Vì vậy nên khi dịch, tránh dùng văn
tự cầu kỳ, bóng bẩy làm người đọc tụng khó hiểu. Tôi
thường chọn bản văn chữ Hán của Ngài Cưu-Ma-La-Thập để
dịch vì văn nghĩa rất phổ thông, mạch lạc, dễ hiểu. Riêng
những bản văn của Ngài Huyền Trang vì dùng nhiều từ ngữ
triết lý sâu xa rất khó đoán định, phải nghiệm lắm mới
thông suốt. Cho nên theo tôi, những văn bản của Ngài Huyền
Trang dùng để nghiên cứu, học tập hay hơn là để đọc
tụng. Tôi nghĩ rằng pháp của Phật sâu xa, mầu nhiệm, vốn
đã khó rồi mà chúng ta còn dùng văn tự khó hiểu nữa thì
làm sao người đọc lãnh hội được. Điều đáng lưu ý nữa
là trong khi ngồi dịch, tâm mình phải theo âm vận, làm thế
nào để đọc cho suông sẻ và nghe cho vui tai, nếu âm vận
nghe trắc quá sẽ gây cho người đọc cảm giác khó chịu,
mệt mỏi.
Trước
đây, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt có yêu cầu tôi dịch bộ
Phạm Võng cho những người thọ giới Bồ tát Bố Tát. Sau
đó, cũng có vài vị Tôn đức cũng dịch, nhưng có lẽ vì
không để ý đến âm vận nên nhiều người đã nhận xét:
“ Nếu dùng để đọc tụng rất khó vì câu văn nghe trắc
quá”. Cho nên, ở đây tôi phải nói thẳng: “ Phật pháp
bất vị nhơn tình”, nếu theo nhơn tình thì sẽ hư việc.
Ví như giới luật nhà Phật, nếu chìu theo nhơn tình thì đâu
còn giới luật. Tuy rằng Phật pháp vốn không rời nhơn tình,
đúng việc cũng phải tùy thuận nhơn tình. Thường thì trước
khi dịch kinh, tôi chọn thời điểm thích hợp, tránh các chuyện
chung quanh. Thí dụ như ngày nào không có Phật sự, giao tiếp
thì phải bắt đầu từ 07giờ 30 sáng tôi lên phòng riêng
làm việc đến 12 giờ trưa mới xuống dùng cơm, buổi chiều
từ 14 giờ tới 18 giờ. Trước khi viết tâm mình phải thật
vắng lặng, phải quán xuyến trước sau, thông suốt ý nghĩa.
Tôi khởi sự dịch kinh năm 30 tuổi (1947). Bộ kinh Pháp Hoa
được khởi dịch đầu tiên ở chùa Kim Huê (thị trấn Sa
Đéc) Đồng Tháp, ngay nơi sanh quán của tôi. Sau đó, tôi dịch
tiếp các bộ kinh Tam Bảo, Địa Tạng, Phẩm Phổ Hiền, Hoa
Nghiêm, Đại Bát Niết Bàn, Đại Bát Nhã, Phạm Võng, Đại
Bửu Tích…
Tôi
cũng có dịch cuốn Ngộ Tánh Luận của Tổ Bồ Đề Đạt
Ma, đây là một trong mấy quyển của Ngài được ghi trong
Tục Tạng để cho mọi người biết rằng, Tổ cũng để lại
kinh sách chớ không phải chỉ có ngồi nhìn vách (cửu niên
diện bích). Nên khi dịch quyển này, tôi cảm nhận như được
sự trợ lực của oai thần Tam Bảo và sự hộ niệm của
chư vị Tổ sư. Nên khi dịch và phân 32 đoạn xong, tôi sửng
sốt vì con số 32 đoạn này ngẫu nhiên trùng hợp với con
số 32 chương trong quyển kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật mà
Chiêu Minh Thái tử đời nhà Lương đã phân định từ ngàn
xưa.
Đối
với người thọ trì đọc tụng, nên biết rằng, kinh Phật
là Pháp Vương, phải hết sức trân trọng. Ngày xưa tiền
thân đức Phật muốn tu hành phải xả thân cầu đạo, ngày
nay, mọi việc tu hành được thuận lợi hơn nhiều vì có
kinh sách chỉ đường mà chúng ta thờ ơ ỷ lại là điều
đáng trách. Nếu người nào còn thích đọc tụng kinh chữ
Hán hoặc chữ Pali thì phải học để thông hiểu được ý
nghĩa lời Phật dạy hầu ứng dụng tu hành. Nếu không học
được thì nên đọc tụng bằng những bản kinh dã dịch
ra Việt ngữ sẽ có lợi ích hơn.
Chúng
ta ngày nay không gặp Phật ra đời, nhưng gặp các vị Bồ
tát cũng quý rồi, cộng thêm có kinh sách chỉ đường dẫn
lối. Như vậy, muốn no thì phải ăn, muốn giải nghiệp thì
phải thật sự tu hành, đừng chấp lỗi người khác, Phải
tự soi xét lại mình, coi căn lành có lớn chưa, nguyện lực
có tha thiết chưa, tu hành có chánh định chưa. Tu hành quan
trọng là ở chỗ không dính mắc, có như vậy mới mong thoát
khỏi trần lao nghiệp chướng đã nhiều đời nhiều kiếp.
Nhân
ngày sinh nhật 02 tháng 09 Mậu Thìn (1988), tôi có cảm tác
một bài thơ như sau:
“
Tuổi ngoài bảy chục gẫm nhơn sanh
Nhơn
sanh vô nghĩa mãi trôi nhanh
Ăn
uống, uống ăn, lo đại tiểu
Việc
làm, làm việc, nhọc bại thành
Sống
theo danh lợi phiền đắc thất
Chết
để thịt xương ngán hôi tanh
Ân
cần nhắn gởi chư thân hữu
Đạp
phá cửa trần gấp chuyển nhanh “
Phần
II
KHAI
THỊ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT
1.
Tại sao lại niệm “ Nam mô A-mi - đà Phật ?”
Sáu
chữ hồng danh đây nguyên là Phạn âm (tiếng Thiên Trúc).
Hai
chữ đầu (Nam Mô) nguyên âm là Namo, ta quen đọc liền vần
Nam mô, là lời tỏ lòng thành kính, có nghĩa là Quy y (về
nương) và Quy mạng (đem thân mạng gởi về).
Chữ
thứ sáu (Phật) nguyên âm là Buddha (Bụt Đa hay Bụt Thô),
ta quen đọc gọn là Phật, chỉ cho đấng hoàn toàn giác ngộ
(Đấng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
Ba
chữ giữa (A Mi Đà) là biệt danh của đấng Cực Lạc giáo
chủ, dịch nghĩa là Vô Lượng (Vô Lượng Quang, Vô Lượng
Thọ) Như trong kinh, đức Bổn Sư tự giải thích rằng: “Đức
Phật ấy, quang minh vô lượng, soi suốt các cõi nước ở
mười phương không bị cách ngại. Đức Phật Ấy và nhơn
dân trong nước của Ngài thọ mạng vô lượng vô biên
vô số kiếp “.
Trong
Quán Kinh nói : “ Nếu người chí tâm xưng danh hiệu của
Đức Phật đây, thời trong mỗi niệm diệt được tôi sanh
tử trong 80 ức kiếp và được vãng sanh …”
Trong
Kinh Chư Phật Hộ Niệm nói: “Nếu người nghe danh hiệu của
Đức Phật đây mà chấp trì trong một ngày đến bảy ngày,
nhất tâm bất loạn thời được thành tựu nhiều thiện căn
phước đức. Đức Phật ấy và Thánh chúng sẽ hiện đến
nghênh tiếp… “
Kinh
Văn Thù Bát Nhã nói: “Nếu người chuyên xưng danh hiệu thời
đặng chứng Nhất Hạnh Tam muội và chóng thành Phật…”.
Xem
như lời của Đức Bổn Sư Thích Ca, đấng chân thật ngữ
phán trên đây, thời thấy rằng ba tiếng hồng danh của đức
Giáo chủ Cực Lạc có những năng lực bất khả tư nghị.
Muốn được kết quả to tát như lời trong kinh, hành nhơn
phải chí tâm xưng niệm, và phải xưng niệm đúng âm vận,
chớ không nên như người Pháp goi Chợ Lớn là Sôlông, hay
Bà Rịa là Baria.
Ba
chữ A- mi- Đà nguyên là Phạn âm. Người Tàu đọc là A- mi-
thô, và họ tụng xuôi là Á- mi -Thồ. Danh hiệu ấy tuyền
qua xứ Việt ta bằng chữ Tàu, biên sẵn trong các pho kinh sách
Tàu. Người Việt ta cứ theo lệ phổ thông, chữ đâu đọc
đó nên đọc là A-di-đà. Như đọc Nã Phá Luân để kêu Hoàng
đế Napoleon (Na-po-lê-ông), cùng đọc Ba-Lê để kêu kinh đô
Paris (Pari).
Với
sự phiên âm bằng chữ Tàu, người Tàu đọc giống gần với
nguyên âm, mà người Việt ta đọc sai quá xa. Gía như ta gặp
hoàng đế Pháp mà gọi ông ta là Nã Phá Luân thời thật
là đáng buồn cười. Với A-di-đà để gọi đức Giáo chủ
Cực Lạc cũng theo lệ đó.
Nhiều
năm về trước, trong thời gian niệm Phật theo thông lệ Nam
Mô A Di Đà Phật, khi chuyên nhiệm nhiều (mỗi ngày từ hai
vạn câu trở lên), tôi bị sự chướng là trệ tiếng trong
lúc niệm ra tiếng và lờ mờ trong lúc niệm thầm. Giữa lúc
đó tiếng “Di” là chủ của sự chướng. Vì thế, tôi mới
để ý đến chính âm vận của sáu tiếng hồng danh. Đồng
thời lời của Tổ Vân Thê trong sớ sao nói: “ Hồng danh
Nam mô A-mi-đà Phật toàn là tiếng Phạn, chuyên trì không
quên, thời cùng với pháp trì chú của Mật tông đồng nhau”,
lại thúc đẩy tôi vào sự khảo cứu.
Với
vần La Tinh, người Anh ghép Amita, mà tôi được thấy ở bộ
Phật Học Đại Tự Điển.
Tôi
đem ba chữ A-mi-đà ra hỏi, thời các Sư Tàu cũng như Cư sĩ
Tàu đều đọc gằn từng tiếng một trước mặt tôi : A-mi-thô.
Hai
tiếng đầu “A”và “Mi” đã nhất định, và đồng thời
quyết chắc đọc “di” là sai. Tôi còn thắc mắc ở tiếng
thứ ba, vì nếu dọc Amita như vần Anh, cùng A-mi-thô như người
Tàu thời với tiếng Việt có hai điều bất tiện:
1.
Nghe không nghiêm và không êm.
2.
Khác với thông lệ từ xưa.
Một
học giả Bali và Phạn ngữ giải thích: chữ “đà”
của tàu dùng phiên âm Phạn ngữ có hai giọng:
1.
Thô như danh từ “Bụt Thô” mà người tàu đọc xuôi là
“Bù Thồ”.
2.
Đa cũng như danh từ “Bụt Đa” (Buddha)
Với
giọng “đa” để đọc chữ “thô”, nó mở đường cho
tôi ghép 3 chữ lại: A-mi-đa và theo cách đọc xuôi đánh dấu
huyền: A-mi-đà.
Ghép
luôn cả sáu tiếng nam mô A-mi-đà Phật, tôi nhận thấy rằng
tránh khỏi cái lỗi quá khác với nguyên Âm, dù vẫn chưa
được hoàn toàn, nhưng có thể gọi là nhiều phần đúng
và không quá cách biệt với cách đọc phổ thông theo cổ
lệ, vì trong sáu tiếng đây chỉ có đổi “di” thành “mi”
mà thôi.
Sau
khi tham cứu như trên xong, tôi bắt đầu chuyên chí niệm Nam
mô A-mi-đà Phật, và cũng bắt đầu từ đó tôi liền nhận
được kết quả.
1.
Sáu tiếng hồng danh đây nổi rõ nơi tai cũng như nơi tâm,
khác hẳn sự mờ mờ
lọt
sót của tiếng “di” trong thời trước.
2.
Khi niệm ra tiếng, từ năm ngàn câu mỗi thời trở lên, môi
lưỡi càng lúc càng
nhại,
càng chuyên,càng lanh. Khác hẳn sự trệ môi cứng lưỡi của
những ngày niệm khi xưa.
3.
Niệm ra tiếng với A-mi khỏe hơi hơn niệm ra tiếng của A-di
khi trước, nhờ
vậy
mà mỗi thời niệm được lâu và nhiều.
Người
chuyên niệm danh hiệu của Phật, tầng cấp đầu tiên là
đến mức bất niệm tự niệm, hay niệm lực tương tục.
Nếu khi niệm mà bị trệ, và tiếng Phật lại lờ mờ không
nổi rõ nơi tâm thời khó mong được kết quả trên. Còn
nếu trái lại thời mới có hy vọng đến đích.
Biết
rằng niệm A-mi-đà được nhiều phần đúng với nguyên âm,
nó sẽ đem đến cho mình cái mãnh lực bất tư nghì,
diệt vô số kiếp tội thành đại thiện căn phước đức
giống như pháp trì chơn ngôn (thần chú) của Mật tông mà
Tổ Vân Thê đã phán. Nó sẽ đưa mình đến mức bất niệm
tự niệm, vì tiếng niệm không bị trệ lụt và nổi rõ nơi
tâm. Nhất là niệm A-mi-đà được khỏe hơi, nhờ đó nên
được niệm lâu và nhiều. Niệm Phật được thuần thục
là nhờ niệm nhiều câu, nhiều giờ và tiếng niệm nhấn
rõ nơi tâm. Và mức bất niệm tự niệm đây là phần bảo
đảm vãng sanh Tịnh Độ cho người chuyên niệm. Tôi tin rằng
niệm gần với nguyên âm, tức là gần đúng với thật danh
của Đức Giáo chủ Cực Lạc, tất dễ được tương ưng
và chóng được cảm thông với Phật. Và tôi đã tự cảm
thấy có lẽ đúng như thế.
Nhưng
trong kỳ kiết thất 49 ngày ở tịnh thất nơi chùa Linh Sơn
Cổ Tự, một hôm tôi bỗng có ý nghĩ: “Mình dù thiển trí
bạc đức, song cũng là người tai mắt trong Tăng giới, và
cũng có đôi phần uy tín đối với gần xa, riêng mình tự
tu đã đành không ngại gì, song rồi đây, tất có người
tin tưởng nơi mình, mà họ sẽ tự noi theo chỗ làm của mình,
nghĩa là họ sẽ niệm Nam mô A-mi-đà Phật. Một người như
thế, lần lần sẽ có nhiều người như thế, tất sau này
khó khỏi đôi điều thắc mắc:
1.
Bàng quang sẽ cho mình lập dị, riêng phái, phá sự đã phổ
thông của cổ lệ.
2.
Đem sự ngờ vực cho người đã niệm A-di khi những người
này chưa hiểu thế
nào
là A-di và thế nào là A-mi. Và sự ngờ là điều rất chướng
của pháp môn niệm Phật
Tôi
tự giải thích: “ Cổ lệ đã sai thời sự sửa đổi là
điều cần(tôi tự sửa đổi riêng tôi). Mình không có quan
niệm lập phái riêng hay lập dị, thời cũng không ngại gì
với chuyên thị phi phê bình của bàng quan”. Và với sự
ngờ của những người chưa nhận chơn, sẽ giúp họ tìm tòi
khảo cứu, nhờ tìm xét họ sẽ thấu rõ sự sai với đúng,
và họ sẽ thâu hoạch được kết quả tốt cũng như mình.
Mặc
dù tôi tự giải thích với tôi như thế, nhưng trong thâm tâm
vẫn mãi băn khoăn gần suốt ngày.
Chiều
hôm ấy, khi đứng dựa cửa sổ ngó mong về phía mặt trời
sắp lặn, tôi bỗng thấy chữ A-mi nổi bật giữa khung trời
xanh sáng, gần như chữ điện ở trước cửa của những
hiệu buôn chiếu sáng trong đêm. Tôi thử ngó qua hướng khác
thời không thấy, khi ngó trở lại hướng Tây thời chữ A-mi
vẫn nổi y nơi chỗ cũ, khổ chữ lớn lối bốn tất Tây
bề cao, và hiện mãi đến trên 30 phút mới ẩn..
Tối
hôm ấy, tôi chiêm bao thấy mình đi vào một khu vườn cây
cao cảnh đẹp. Giữa vườn, một dãy nhà cất theo kiểu trường
học, và nghe rõ trong ấy một người xướng và số đông
người hòa: Nam mô A-mi-đà Phật! Tôi tự bảo: “Ủa lạ!
Câu Nam mô A-mi-đà Phật tưởng là chỉ của riêng mình cải
cách, riêng mình tín hướng và riêng mình chuyên niệm. Bất
ngờ ở đây, người ta cũng đồng niệm như vậy rồi”.
Tôi đứng dừng trước ngõ trường chăm chú nghe xướng hòa
như thế hơn 10 lần mới choàng tỉnh. Bấy giờ mới biết
là mình nằm mơ.
Do
hai điềm trên đây (chữ A-mi hiện giữa trời và chiêm bao
nghe xướng hòa nam mô A-mi-đà Phật), bao nhiêu nổi thắc mắc
và băn khoăn nơi lòng tôi đều tan rã như khối tuyết dưới
ánh nắng trưa hè…
Từ
hồi nào, dù với hàng đệ tử, tôi chưa từng bảo ai bỏ
niệm A-di mà niệm A-mi. Song, do ảnh hưởng ngấm ngầm mà
lần lần có một số đông người xuất gia cũng như hàng
tại gia niệm A-mi-đà. Đó phải chăng là do cơ duyên thời
tiết nó nên như thế! Và cũng vì cớ ấy mà hôm nay có bài
thuyết minh và tự thuật này.
Tôi
viết bài này chỉ với mục đích gíup thêm sự nhận chơn
về câu Nam mô A-mi-đà Phật cùng lịch sử của nó, cho các
bạn đồng tu đã chuyên niệm như thế. Và bài này cũng chỉ
truyền bá trong phạm vi các bạn đây thôi.
Tôi
xin khuyên nhắc các bạn, đối với những vị đã quen niệm
hay đã sẵn tín tâm nơi câu Nam mô A-di-đà Phật, nhất là
người ở trong hoàn cảnh thiếu tiện lợi, các vị nên để
yên cho các vị ấy niệm theo sự phổ thông cổ lệ để tránh
sự ngoại chướng cho họ và cho họ khỏi sự do dự trên
đường hành trì mà họ có thể vướng phải
2.
Tọa thiền niệm Phật
Trong
bài tựa Phạm Võng Bồ Tát giới có dạy rằng:
“
Sắc trẻ không dừng, dường như ngựa chạy
Mạng
người vô thường, mau hơn nước dốc
Ngày
nay dù còn khó bảo ngày mai”
“Đại
chúng! Mỗi người nên nhất tâm cần cầu tinh tấn, chớ biếng
nhác trễ lười, phóng túng ngủ nghỉ; ban đêm phải nhiếp
tâm niệm Phật tham thiền, chớ dể thời gian luống qua vô
ích mà sau này phải ăn năn…”
Nhưng
phàm muốn làm việc gì cho được lợi ích, chúng ta cần phải
“ biết làm”. Việc ở đây muốn y chỉ lời dạy nhiếp
tâm niệm Phật, tham thiền. Lẽ tất nhiên, chúng ta phải biết
làm sao để nhiếp tâm niệm Phật, tham thiền cho trúng cách,
đúng phương pháp, tức là biết cách tọa thiền niệm Phật.
Vậy
trước khi học về phần thực hành, chúng ta nên hiểu sơ
qua về mục đích của phương pháp tọa thiền.
A.
Mục đích của phương Pháp tọa thiền.
Tọa
thiền là một phương pháp rất thông dụng, chẳng những trong
đạo Phật mà ở ngoại đạo cũng vẫn có từ xưa.
Tọa
thiền tức là ngồi để tham cứu một vấn đề gì. Thế
nên, tọa thiền không phải là một phương pháp chứng quả
thành đạo, mà là một trong vô lượng phương tiện giúp cho
thân được an, để cho tâm không loạn và được chánh niệm
chánh quán. Ngoại đạo chỉ chú trọng nơi thân mà không để
ý đến tâm, trong khi thật ra, tâm mới là phần chánh, đáng
chú trọng hơn cả.
B.
Phương pháp tọa thiền.
Phần
này chia làm ba:
1.
Điều thân:
Thân
lúc nào cũng làm duyên trợ cho tâm . Thế nên, nếu thân có
những cử động thô thiển, khí lực sôi nổi, và lẽ tất
nhiên tâm ý sẽ phù động, do đó khó mà nhập định được.
Cho nên, trước khi tọa thiền, cần phải điều hòa thân.
Vậy phải điều hòa thân bằng cách nào ?
a.
Phải điều dưỡng sự ăn uống: Sự ăn uống đối với thân
rất hệ trọng, vì bệnh thường phát sinh do nơi sự ăn uống.
Có những thực vật hạp với cơ thể người này, nhưng lại
không thể hạp với người kia, và trái lại. Dù sao, không
nên dùng những thứ có dầu mở nhiều, tránh những chất
hăng, kích thích thần kinh như càfé đậm, rượu, trà đậm,
thuốc hút v.v… mà chỉ nên dùng những món ăn sơ sài trong
sạch.
Trước
giờ tọa thiền không nên ăn quá no mà chỉ ăn vừa đủ,vì
nếu ăn quá no sẽ làm mệt dạ dày, ngồi không yên ổn. Không
ăn chiều, lẽ tất nhiên là thích hợp đặc biệt với
việc tọa thiền niệm Phật.
b.
Y phục: Trước khi tọa thiền, phải tắm rửa cho thân thể
được sạch sẽ để tránh khỏi ngứa ngấm trong người.
Sau đó, trời lạnh thì mặc áo ấm, trời nóng thì dùng y
phục mỏng, rộng rãi và sạch sẽ. Đai lưng (lưng quần) lúc
nào cũng phải nới rộng ra.
Những
điều trên đây giúp cho sự hô hấp dễ dàng và không bị
lay chuyển bởi thời tiết.
c.
Giữ thân cho được ngay thẳng và vững vàng: (Nghĩa là làm
thế nào mà khi quên nó, không nghiêng ngã hay lay động). Muốn
được như vậy, chỉ có cách duy nhất là ngồi, vì đi, đứng
hay nằm không thể đạt được mục đích vừa nói trên .
Nhưng
nếu ngồi mà thòng hai chân xuống, thì khi quên, thân lại
cũng không vững. Hơn nữa lúc ở trong nhà, thất có bàn, ghế,
giường v.v… thì không nói làm chi, nhưng khi ra ngoài vườn
tược, đồng ruộng hay đến núi rừng để tọa thiền, khó
tìm ra chỗ ngồi có thể thòng chân xuống được dễ dàng
Thế
nên, chỉ có cách rút chân xếp bằng lại, là giúp cho chúng
ta ngồi ngay thẳng và vững vàng mà thôi.
d.
Cách ngồi: Có nhiều cách ngồi mà hành giả cần phải chọn
lựa cho thích hợp với mình.
* Toàn
già (cũng gọi là kiết già hay Kim Cang tọa): Gác bàn chân
trái lên đùi bên mặt, gác bàn chân mặt lên bàn chân trái,
gót hai bàn chân đều phải sát vào bụng.
* Bán
già, có hai cách:
- Hàng
ma tọa: gác bàn chân mặt trên đùi bên trái (như Ngài Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát).
- Kiết
tường tọa: gác bàn chân trái lên đùi bên mặt (như Ngài
Phổ Hiền Bồ Tát).
Trong
ba cách ngồi, khi ngồi phải tập cho đầu gối sát xuống
chiếu như nhau, hai mông cùng chịu đều như nhau thì mạch
máu không bị cấn, chân không bị tê, cũng không nên dùng
nệm quá dày. Một điều nên để ý, là thường lúc ban sơ,
khi vừa ngồi kiết già hay nghe một chân nặng, một chân nhẹ.
Để sửa chữa khuyết điểm đó, chỉ có một cách là dùng
hai tay chống xuống chỗ ngồi để nâng toàn thể thân lên
và hạ bên chân hay mông nhẹ xuống trước, bên nặng
xuống sau, đôi ba lần thì hai chân hoặc hai mông sẽ đều,
không còn cảm tưởng nặng nhẹ nữa.
Tay:
Hai bàn tay để ngửa, bàn tay mặt đặt trên bàn tay trái,
vừa sát bụng và để nhẹ trên hai bàn chân, hai đầu ngón
tay cái đâu lại (Tam Muội ấn)
Phương
pháp để bàn tay như vậy, theo cổ đức nói, làm cho điện
lực trong thân lưu thông đều đặn, không biến thoát ra ngoài,
giúp cho Tâm dễ an ổn.
Lưng:
Tay chân đều đâu vào đó rồi, phải lay chuyển thân thể
độ ba, bốn lần cho được ung dung và phải giữ xương sống
ngay thẳng, chẳng khác nào một cây cột đối với cái nhà.
Nếu cột xiêu thì nhà đổ vậy.
Đầu,
cổ: Đầu và cổ cũng phải giữ cho ngay, nhưng không được
ngước thẳng quá
Mắt:
Mắt hơi nhắm lại, để chỉ còn thấy tướng trắng hay sáng
bên ngoài mà thôi, đừng mở hẳn sẽ tán loạn; mà cũng đừng
nhắm hẳn sẽ bị hôn trầm.
Miệng:
Miệng phải ngậm lại, chót lưỡi để trên chân rằng hàm
trên, răng phải để cho thong thả, đừng cắn cứng lại,
nhờ đó hơi thở sẽ nhẹ nhàng.
2.
Điều tức:
Khi
thân đã nghiêm chỉnh rồi, bấy giờ hành giả mới bắt
đầu thở ra nhẹ nhàng
nhưng
cho dài, tâm nghĩ tất cả ô trược trong thân đều tựa theo
không khí mà ra ngoài hết. Đến khi hít vô cũng phải nhẹ
nhàng và cho dài, nghĩ bao nhiêu điều thanh tịnh bên ngoài
đều vào trong hết.
Làm
như vậy được hai ba lần hay đến năm bảy lần nếu cần,
cho trong thân được khoan khoái. Sau đó phải giữ hơi thở
nhẹ nhàng thong thả, suông êm, dài ngắn cho quân bình.
Nên
để ý, khi điều hòa hơi thở hành giả thường gặp hai lỗi
sau:
a.
Phong tướng: tức là hơi thở ra hít vào, nghe có tiếng gió,
do vì hơi thở quá mạnh.
b.
Suyễn tướng: tức là tuy thở ra vào không nghe tiếng,
nhưng lại gấp rút hoặc rít sáp không thông.
Nếu
khi ngồi tĩnh tọa mà thấy hai tướng trên đây, đó là triệu
chứng tâm không được an định.
Nếu
khéo điều nhiếp, dùng sổ tức thở ra hít vào thong thả,
ít lâu sẽ thuần thục, tự nhiên hơi thở sẽ điều hòa,
huyết mạch được lưu thông, trong người sẽ được ung dung
khoan khoái.
Thế
nên, điều hòa hơi thở là một công phu hệ trọng đối với
phép tĩnh tọa.
3.
Điều tâm:
Trước
khi tọa thiền, hành giả có phát tâm trước, hoặc sổ tức,
hoặc quán bất tịnh, hoặc niệm Phật v.v…
Nếu
đã phát tâm niệm Phật, thì hành giả phải nghĩ Ta- bà ngũ
trược, nhớp nhơ, là nguồn gốc của muôn ngàn thống khổ,
nơi thân và hiện cảnh, phải làm thế nào thoát ly cho được,
tức là phải yểm ly (chán nản) sanh tử nơi Ta bà mà cầu
sanh về Cực Lạc.
Hành
giả nhớ ngay đến cảnh Cực Lạc thuần vui không khổ, có
đủ thắng duyên, thắng cảnh trợ lực cho hành giả mau thành
Phật quả, quảng độ chúng sanh, đến đức Phật A-
Mi- Đà tướng hảo quang minh, lúc nào cũng duỗi lòng từ tiếp
dẫn chúng sanh về Cực Lạc quốc.
Lúc
bấy giờ, hành giả khởi niệm câu dài “
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi tiếp
dẫn Đạo sư A- Mi- Đà Phật”, rồi lần lần thâu ngắn
lại còn bốn chữ “ A Mi- Đà Phật” lúc đầu niệm lớn,
sau niệm thầm để nhiếp tâm cho an trụ vào đó. Khi niệm
ra tiếng hoặc thầm, đều cần thiết là phải niệm cho tiếng
nổi rõ trong tâm chậm rãi, tâm ý nghe rõ, nhận rõ từng tiếng,
từng chữ, tức là “ Quán trí hiện tiền”. Nếu không tâm
sẽ tạp niệm (tán loạn), hay ngủ gục (hôn trầm).Nếu tán
loạn, không rõ, lơ là hay khi hôn trầm muốn đến, hành giả
phải cử tâm ngay bằng cách chú ý đến câu niệm Phật.
Có
khi hành giả cố gắng kiềm tâm, nhưng tâm vẫn chạy và nếu
tâm chạy mãi, thì có cách phải niệm Phật và nghĩ ở hai
đầu ngón tay cái, đầu hai ngón chân cái hoặc nghĩ ở nơi
cái rún mà niệm.
Làm
như vậy, thần kinh hệ sẽ hạ xuống, tức là cái tâm sẽ
hạ xuống mà bớt tán loạn.
Còn
nếu bị hôn trầm thì phải nghĩ ở đỉnh đầu hay ở trán
mà niệm thì sẽ hết, vì ý chí phấn khởi.
Hoặc
hành giả có thể niệm theo phương pháp “ Thập niệm ký
số”, là khi niệm Phật, phải ghi nhớ rành rẽ từ một
đến mười câu, hết mười câu liền trở lại một, cứ
như thế xoay vần mãi. Nhưng phải niệm trong vòng mười câu
mà thôi, không được hai mươi, ba mươi câu, lại không nên
lần chuỗi vì dùng tâm ghi nhớ. Có thể phân làm hai đoạn
từ một đến năm, từ sáu đến mười. Hoặc còn thấy kém
sức lại chia ra làm ba hơi, từ một đến ba, bốn đến sáu,
bảy đến mười.
Cần
để ý: niệm nhớ và nghe phải rõ ràng, vọng niệm mới không
xen vào được. Dùng phép này lâu sẽ được nhất tâm.
Điều
tâm là pháp môn tu chủ chánh. Nếu có sự biến chuyển nơi
thân, không nên để ý đến, mà phải chuyên gìn chánh niệm.
C.
Phương Pháp giải tọa (xả thiền)
Khi
xả thiền, hành giả làm ngược lại tất cả. nghĩa là trước
hết phải xả nơi tâm, kế xả nơi tức và sau cùng là xả
thân.
1.
Xả tâm: Hành giả phải nhớ lại, coi hiện giờ mình
ngồi ở chỗ nào, nãy giờ mình làm gì, nhớ coi mình có tán
loạn hay hôn trầm không, và dù có hay không, cũng vẫn hồi
hướng công đức về Tây Phương để trang nghiêm Tịnh độ.
2.
Xả tức: Sau khi xả tâm xong, hành giả mở miệng thở
ra vài hơi thật dài để cho khí nóng trong người giảm bớt,
và để hồi phục lại trạng thái bình thường như trước
khi tĩnh tọa.
3.
Xả thân: Tâm, tức đều xả xong, lúc bấy giờ hành
giả se sẽ giao động nơi lưng và cổ. Khi mạch lạc chạy
đều, từ từ duỗi hai tay ra, lấy hai bàn tay xoa nhè nhẹ
với nhau, rồi xoa lên mắt. Sau đó uốn lưỡi một vài lần
và nuốt chút nước miếng.
Tay
và mắt xả xong, đến lượt hai chân. Trước hết phải lấy
tay xoa hai bắp vế, rồi tháo lần lần hai chân ra, thoa hai
bắp chuối và hai bàn chân. Khi nghe hai chân nóng hết rồi,
hành giả chuyển động nhè nhẹ toàn thân rồi đứng dậy,
đi tới đi lui.
D.
Những điều cần thiết để tọa thiền có kết quả.
Hôn
trầm, ngủ nghỉ là một chướng ngại trong việc tu thiền,
thế nên nơi thân phải bớt ngủ nghỉ.
Phật
dạy đầu hôm cuối đêm thì tham thiền, nửa đêm thì tụng
kinh để tự tiêu tức, nhưng nếu mình không kham nổi thì
nên bớt sự ngủ nghỉ. Ban đêm chỉ nghỉ ba canh, từ 11giờ
đến 04 giờ sáng thôi, đó là lời dặn dò của cổ đức
vậy. Còn nơi tâm thì phải có sự điều nhiếp theo hai cách
dưới đây:
1.
Không niệm tham dục.
2.
Không niệm sân hận.
Nếu
thực hành hai cách này mà không đắc lợi trên đường chánh
định, hành giả phải kiểm điểm lại nơi tâm coi sanh tội
lỗi chi không. Hằng ngày phải nói lời dịu dàng, hòa nhã
cho tâm lắng xuống. Đối với người và vật, giữ cho tâm
mát mẻ và luôn luôn nhẹ nhàng.
Ngoài
giờ tĩnh tọa, phải giữ câu niệm Phật không rời tâm.Tâm
tương ưng với chánh định thì phát ra khinh an, trong thân sẽ
thấy khoan khoái. Thân tâm hiệp nhất, thân cảnh không hai.
Lúc
bấy giờ hành giả ở trong định vắng lặng sẽ thấy thân
tướng Phật, nghe Phật thuyết pháp và những cảnh giới nhiệm
mầu không sao kể xiết… Đó là tướng niệm Phật thiện
căn phát hiện do công phu tọa thiền niệm Phật mà thành công
vậy.
3.
Yếu chỉ pháp trì danh niệm Phật (Bài thuyết pháp đầu
tiên tại chùa Vạn Linh, (núi Cấm) ngày 23/11/2003 Quý Mùi)
Nhân
dịp đạo tràng Vạn Linh tổ chức khóa niệm Phật trong bảy
ngày, kể từ ngày Khánh Đản Đức Phật A Di Đà 17/11 đến
24/11 Quý Mùi. Do nhân duyên này, tôi đến đây cùng tất cả
quý vị nói một vài điều liên quan đến Pháp môn niệm Phật.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời cách đây hơn 2.500 năm,
chỉ vì một mục đích duy nhất là muốn cho tất cả mọi
người, tất cả chúng sanh, cũng như muốn cho tất cả chúng
ta hiện nay thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, được giải
thoát, an vui, tự tại. Vì sanh tử luân hồi là tất cả
những sự khổ. Nghĩa là từ phàm phu mê muội này mà tu hành
lên thành các bậc Thánh giác ngộ, giải thoát tự tại.
Đức
Phật Thích Ca ra đời, Ngài dạy rất nhiều pháp môn tu hành
để giải thoát, trong những pháp môn đó có pháp môn Tịnh
độ.Tu tập theo pháp môn này, sau khi bỏ báo thân ở nơi cõi
trược uế được sanh về cõi thanh tịnh, trang nghiêm gọi
là Tịnh độ. Còn cõi Ta bà này Đức Phật gọi là uế độ,
cõi của dơ xấu, của khổ não.
Trong
những pháp môn sanh về cõi trang nghiêm Tịnh độ đó, có
pháp môn niệm Phật, gọi là tưởng Phật. Nghĩa là mình nhớ,
lấy trí tưởng tượng của mình để làm sao cho hình tuợng
Phật hiện ra. Cũng như mình thích hình tượng nào đó (như
hình tượng Phật A Di Đà là tu về pháp môn Tịnh độ), rồi
nhớ nơi hình tượng đó để niệm làm sao trong trí tưởng
của mình hiện ra hình tượng đúng như mình nhìn thấy, gọi
là pháp môn Tưởng Phật Niệm Phật .
Lại
có pháp môn gọi là Quán Phật niệm Phật. Pháp môn này nghĩa
là không thấy nơi hình tượng Phật, mà do trong kinh đức
Phật Thích Ca Mâu Ni tả hình tướng tốt đẹp trang nghiêm
của Đức Phật A Di Đà, rồi mình nhớ lại những lời Đức
Phật Thích Ca đã tả, đã dạy trong kinh để quán tưởng
làm sao có hình tượng đó hiện ra trong trí của mình. Đó
là cách thứ hai về niệm Phật.
Thứ
ba là đức Phật A Di Đà có danh hiệu là A Di Đà. Chúng
ta nghe nói đến danh hiệu Phật A Di Đà, chúng ta nhớ và niệm
cho thuần, đó gọi là phương pháp Trì danh niệm Phật.
Mấy
hôm nay huynh đệ đã thực hành niệm Phật. Mỗi thời đều
niệm “Nam Mô A- Di- Đà Phật”, đó là tu theo pháp môn
Trì danh niệm Phật. Về kinh, theo lời dạy của đức Phật
Thích Ca Mâu Ni nói đến pháp môn này, thì quan trọng nhất
là Phật thuyết A- Di- Đà Kinh, thường gọi tắt là kinh A
Di Đà mà chúng ta đang tụng, trong đó, đức Phật dạy về
pháp môn Trì danh niệm Phật.
Đầu
tiên, đức Phật Thích Ca Mâu Ni gọi ngài Xá Lợi Phất để
chỉ dạy rằng: “ Cách đây qua phương Tây, trải qua mười
muôn ức cõi Phật có cõi nước tên là Cực Lạc, trong cõi
Cực Lạc đó đức Phật A Di Đà, hiện tại Ngài đang thuyết
pháp”. Trước hết, đức Phật Thích Ca giải thích tại sao
cõi nước đó gọi là Cực lạc? có tên Cực Lạc? Đức
Phật giải thích: “ Cõi Cực Lạc không có tất cả các sự
khổ, mà người ở đó thường hưởng những sự vui, do đó
nên gọi là Cực Lạc, nghĩa là cõi vui tột bậc”. Tại sao
gọi là cõi vui tột bậc ? Đức Phật diễn tả: “ Nơi cảnh
của cõi Cực Lạc gồm cả những hàng cây báu, thành núi
báu, lan can, bao lơn báu. tất cả đều dùng kim ngân, lưu ly,
pha lê… làm thành. Cho nên, cõi đó gọi là Cực Lạc”. Ở
cõi Cực Lạc, nhiều nơi có những ao báu. Tại sao gọi là
ao báu? Vì những ao đó chẳng những rộng lớn mà nó làm
thuần bằng kim ngân, lưu ly, xa cừ, mã nãov.v… để xây thành.
Dưới đáy ao có cát vàng huỳnh kim, nước ao đầy đủ tám
công đức. Do đó nên gọi là Cực Lạc.
Cõi
Cực Lạc ngày và đêm trên trời (tức trên hư không) rơi
xuống những bông hoa báu. Chúng ta ở đây, trên trời rơi
nước xuống gọi là mưa. Ở Cực Lạc thế giới, trên trời
rơi xuống những hoa báu. Những hoa đó, ai thấy đều vui,
đều thích nen gọi là Mạn Đà La hoa, và vì trên trời rơi
xuống nên gọi là Thiên Mạn Đà La hoa.
Sinh
hoạt của người ở Cực Lạc thế giới nhiều việc chứ
không phải một việc. Cõi đó đất bằng hoàng kim, nó tương
tự như vàng 9999 ở đây. Hai việc trên, Phật Thích ca Mâu
Ni chỉ nói tóm tắt. Nhưng ở các kinh khác, nói Cực Lạc
thế giới có chỗ cõi đất bằng lưu ly, không phải chỉ
một thứ hoàng kim. Đất của chúng ta ở đây bằng đất
cát, sình bùn dơ bẩn; đất ở cõi nước Cực Lạc như vậy
sạch sẽ. Từ sáng sớm, họ lựa những bông hoa rơi xuống,
hoa nào đẹp nhất đựng trong vạt áo đi cúng dường mười
phương Chư Phật (trong kinh nói cúng dường mười muôn ức
Chư Phật không phải ít). Đến gìờ ăn, các vị đó trở
về đúng bữa không có trễ, ăn xong rồi đi kinh hành v.v…
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giới thiệu cho chúng ta việc sinh
hoạt của người nơi cõi Cực Lạc tóm tắt như vậy.
Nhưng
nếu mình suy nghĩ, thì thấy những vị nơi cõi Cực Lạc đối
với mình thì họ đều thành bậc Thánh hết. Vì sao nói thành
bậc Thánh? Bởi vì thần thông tự tại, họ đi cúng dường
Chư Phật mười phương rồi về rồi về đến cõi mình mà
không trễ bữa ăn. Các huynh đệ nên suy nghĩ, mình ở đây
tốc độ mau nhất là gì ? chỉ có một là ánh sáng, hai là
điện. Đó là tốc độ mau nhất mà các nhà khoa học nói.
Có nhiều hành tinh, ánh sáng từ hành tinh đó đến trái đất
phải trải qua nhiều năm ánh sáng mới đến được (những
hành tinh mà các nhà khoa học nói vẫn còn nằm trong phạm
vi cõi Ta bà này thôi).
Nhưng
ở Cực Lạc, đem hoa cúng dường mười phương chư Phật(quốc
Độ khác nhau) mà đi và trở về nước không trễ bữa ăn,
thì biết thần thông tự tại đến bậc nào (nó có thể là
ngàn triệu lần mau hơn tốc độ ánh sáng; hàng triệu, hàng
tỷ lần mau hơn tốc độ của điện). Vậy Phải đến bậc
Thánh mới có thần thông tự tại như vậy, thân phận phàm
phu làm sao có được thần thông tự tại đó được. Cho nên,
ở cõi Cực Lạc toàn những bậc Thánh. Vì thế ai cũng mong
về cõi đó.
Ở
đây, là người phàm phu, ai rồi cũng bỏ thân này. Như tôi
già rồi cũng phải chết, quý Phật tử cũng vậy, cũng già
cũng chết. Có nhiều người không đợi đến già mà
chết trẻ, chết rồi lại luân hồi có thân kế. Từ nơi
phàm phu sanh về Cực Lạc tất nhiên thành bậc Thánh.
Điều đó là ưu điểm bậc nhất trong các phương pháp Phật
dạy từ phàm phu lên bậc Thánh.
Như
chúng ta chuyên niệm Phật thế này, một hoặc hai, hoặc năm
năm, mười năm thì từ phàm phu có thể lên bậc Thánh chỉ
trong một thời gian ngắn. Tất nhiên, đó là ưu điểm nhất
của pháp môn Tịnh Độ. Nếu như tu những pháp môn khác phải
trải qua nhiều năm, nhiều kiếp, nhiều thân mới thoát được.
Ở đây, phàm phu mà đến được Tu Đà Hoàn đã không phải
dễ, dù Tu Đà Hoàn chỉ là bậc Thánh nhỏ, không phải là
bậc Thánh lớn.
Sau
khi giải thích các ưu điểm của thế giới Cực lạc như
vậy, đức Phật Thích ca Mâu Ni giới thiệu đức Phật A Di
Đà hiện tại đang ở cõi Cực Lạc. Thọ mạng đức Phật
A Di Đà vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp. Nhân dân ở đó
cũng đồng thọ mạng như vậy, cũng vô lượng, vô biên A
tăng kỳ kiếp. Cho nên, mình còn gọi Phật A Di Đà là
Vô Lượng Thọ Phật. Vô Lượng Thọ là sống lâu vô lượng
vô biên a tăng kỳ kiếp. Phật Thích ca giải thích danh hiệu
Phật A Di Đà còn một nghĩa nữa là Vô Lượng Quang, vì thân
đức Phật Di Đà luôn luôn tỏa sáng chiếu khắp cả mười
phương không chướng ngại, do đó gọi là Vô Luợng Quang.
Danh
từ A Di Đà có hai nghĩa : Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ.
Vô
Lượng Quang có nghĩa là ánh sáng của Phật A Di Đà tỏa khắp
mười phương không phải như ánh sáng đức Phật Thích Ca.
Trong kinh nói ánh sáng thân Phật Thích Ca Mâu Ni (ra đời ở
nơi thế giới của mình đây) chỉ có mấy tầm thôi (ánh
sáng thường chứ không phải áng sáng thần thông). Còn ánh
sáng của Phật A Di Đà chiếu khắp mười phương. Do đó gọi
là Vô Lượng Quang.
Về
thọ mạng thì tuổi thọ vô lượng, vô biên A tăng kỳ kiếp,
cho nên có nghĩa là Vô Lượng Thọ.
Đức
Phật Thích Ca lại sợ mình thắc mắc về thọ mạng của
Phật A Di Đà là vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp. Đức
Phật A Di Đà khi thành Phật ở cõi Cực Lạc, tính đến thời
điểm đức Phật Thích ca nói pháp được bao lâu rồi ? Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni tự nói Đức Phật A Di Đà từ khi thành
Phật ở cõi Cực Lạc, tính đến thời điểm đức Phật
Thích ca nói pháp giới thiệu về Ngài thì đã mười kiếp.
Kiếp số dài lớn lắm. Một kiếp như vậy có bao nhiêu triệu
năm chứ không phải ít. Vì vậy, từ đức Phật A Di Đà thành
Phật, đến khi đức Phật Thích Ca giới thiệu thời gian
là mười kiếp. Mười kiếp đó đối với thọ mạng, đời
sống vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp thì chưa thấm vào
đâu hết. Cho nên, bây giờ đức Phật A di Đà vẫn ở
Cực Lạc thế giới, đến vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp,
đức Phật A Di Đà vẫn còn ở đó thuyết pháp.
Nhân
dân ở cõi Cực Lạc thọ mạng cũng dài lâu như vậy. Do đó,
đức Phật Thích ca Mâu Ni mới tiếp tục chỉ dạy: “ Người
nào sanh ở cõi Cực Lạc thế giới dều là bậc bất thối
chuyển” Trong kinh gọi là A Bệ Bạt Trí, nghĩa là ai mà sanh
về cõi đó đều là bậc A Bệ Bạt Trí (Bậc Bất thối chuyển).
Sanh về đó rồi thì từ từ chứng thánh quả, đầy đử
trí huệ, tu lần lên bậc Thánh, Đẳng giác, Diệu giác rồi
thành Phật chứ không có ai lui sụt.
Đã
sanh về cõi Cực Lạc rồi thì chắc chắn sẽ thành Phật.
Cho nên, người được sanh về cõi đó không có tất cả sữ
khổ, chỉ hưởng điều vui (do đó gọi là cõi Cực Lạc),
rồi một mực tiến tu lên để thành Phật, không có vấn
đề ngưng lại hay thối lui. Do đó, ở cõi Cực Lạc đều
là những bậc Bổ xứ Bồ tát, là những bậc sắp thành Phật,
số đông không thể tính đếm, có thể dùng lời nói là vô
lượng vô biên. Nhiều như vậy nên Phật Thích ca nói người
nào nghe đến đây, cũng như mình đang nghe được đó thì
nên phát nguyện: “Nguyện sanh về cõi Cực Lạc”.
Tại
sao Đức Phật dạy phát nguyện như vậy ? Vì sanh về đó
sẽ sống chung với những bậc Bổ xứ Bồ tát. Các bậc đó
Phật gọi là chư Thượng thiện nhơn. Mình ở đây, Ta bà
này thấy sống lao xao. Già, trẻ, bé, lớn gồm đủ thứ chuyện,
sống chung như vậy tiến tu trên đường đạo rất khó. Còn
sống chung với các bậc Hiền, bậc Thánh thì lại dễ, do
đó mới mau thành Phật. Ở cõi Cực Lạc không có sự già
bệnh chết. Thọ sanh sang Cực Lạc thế giới tu tập để
thoát khỏi sanh tử luân hồi và được bất thối chuyển
(tức không lui thối) tiến lên thành bậc Thánh, thành
Phật. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói, nếu người nào nghe
được kinh này thì nên phát nguyện sanh về thế giới Cực
Lạc để được cùng với các bậc Thánh, Thượng Thiện nhơn
sống chung một chỗ.
Đó
là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khuyên chúng ta nên phát nguyện
sanh về Cực Lạc thế giới.
Lần
thứ nhất trong kinh A Di Đà, đức Phật Thích Ca nói được
sanh về cõi Cực Lạc không phải tầm thường. Người thiện
căn, phước đức ít, không sanh về được. Như vậy nghĩa
là sao ? Phải thiện căn phước đức nhiều mới được thọ
sanh. Muốn được thiện căn phước đức nhiều thì phải
làm gì?
Đức
Phật Thích Ca nói: “ Ta nghe nói đến danh hiệu Phật A Di
Đà rồi chuyên chấp trì”, cũng như quý vị mấy ngày
qua niệm Phật đó, như vậy tất nhiên là được thiện căn
phước đức nhiều. Nhưng niệm Phật mà được gọi là Chấp
trì danh hiệu cũng không phải thường, không phải chuyện
dễ làm được!
Chấp
trì nghĩa là sao ? Nghĩa là nắm giữ hay cầm giữ. Thí dụ
như hiện tại, quý vị nhìn lên đây thấy tôi đang nắm cái
gì ? Tôi đang nắm cầm cái mão, và cái mão dụ cho danh hiệu
Phật A Di Đà. Bây giờ tay tôi chỉ còn nắm cầm cái mão,
ngoài cái mão không còn nắm cầm cái gì hết. Nếu cầm vạt
áo mà quý vị nói tôi đang cầm nắm cái mão thì đâu có
được phải không ?Cái mão này tỷ dụ cho danh hiệu Phật
A Di Đà. Cũng tương tự như vậy! Nếu trong tâm mình đang
niệm Phật mà còn niệm nào khác thì không thể nói là niệm
Phật (như ở đây tôi đang cầm cái mão chung với cái vạt
áo thì không thể gọi là chỉ cầm cái mão được). Cho nên,
tiếng Chấp trì thực hành cũng khó lắm chứ không phải dễ,
nghĩa là một thứ thôi. Chấp trì danh hiệu Phật chỉ là
một thứ danh hiệu Phật thôi. Nếu trong tâm mình có một
cái tưởng hoặc một niệm, một suy nghĩ gì khác, đâu thể
gọi là chấp trì. Như tay tôi như vầy thì gọi là chấp trì
cái mão, mà bây giờ thêm vạt áo nữa thì không thể
nói chấp trì cái mão được, có phải vậy không ?
Khó
chớ không phải dễ đâu! Việc làm từ phàm đến Thánh đâu
phải chuyện thường, phải tinh tấn cố ggắng nhiếp tâm.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy, nếu mình nhiếp trì danh
hiệu Phật được từ một ngày, hai ngày đến sán ngày, bảy
ngày thì được nhất tâm bất loạn, gọi là niệm Phật Tam
Muội, là Chánh định. Người như vậy, lúc sắp lâm chung
sẽ được Phật A Di Đà cùng với Thánh chúng hiện đến
trước người đó. Người đó thấy Phật cùng với Thánh
chúng thì Chánh niệm hiện tiền, được vãng sanh về Cực
Lạc thế giới (nghĩa là bỏ thân này liền sanh về Cực Lạc).
Việc
làm từ phàm đến Thánh, từ khổ đến vui mà tóm tắt mau
lẹ như vậy nên đức Phật Thích Ca nói đó là một điều
lợi lớn . Cho nên, đức Phật khuyên tất cả mọi nguời
đều nên phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc. Đó là lời khuyên
phát nguyện lần thứ hai trong kinh A Di Đà.
Lần
thứ nhất là khuyên phát nguyện sanh về thế giới Cực Lạc
để sống cùng với những bậc Thượng thiện nhơn, Nhất
sanh bổ xứ. Kế đến là được Phật A Di Đà và các Thánh
chúng đến hiện thân trước mặt, người đó được vãng
sanh về cõi Cực Lạc. Vì vậy mọi người nên nghe theo
đây mà phát nguyện cầu sanh về cõi Cực Lạc. Đó là lời
khuyên phát nguyện lần thứ hai của đức Phật Thích Ca.
Huynh
đệ nên nhớ bốn chữ Chấp trì danh hiệu trong kinh, cũng
như tôi thí dụ nắm giữ cái mão này, để mà kiềm giữ
cái tâm mình. Khi mình xưng danh hiệu “ Nam Mô A Di Đà Phật”,
làm sao trong tâm mình chỉ có “ Nam Mô A Di Đà Phật “ mà
thôi. Đừng có cái gì khác, đừng cho một niệm gì xen vào
hết. Ví như khi tôi nắm giữ cái mão này thì chỉ nắm giữ
cái mão này thôi, chớ không có gì khác xen vào, chỉ có một
thứ thôi. Mình tập như vậy lâu ngày thì tâm nó dần quen.
Ban đầu khó lắm chứ không phải dễ, đủ thứ chuyện nó
xen vào trong tâm mình. Không phải một chuyện, hai chuyện,
ba chuyện đâu; cũng không phải một chục, hai chục, ba chục
mà là hàng trăm chuyện, không phải ít đâu! Quý Phật tử
cứ nghiệm ở nơi tâm mình thì biết, nhưng mà tại sao vậy
? vì từ lâu mình luôn sống trong tạp niệm, nó quen quá rồi.
Khi đã huân tập thành thói quen mà bắt nó chỉ nghĩ một
thứ thôi, việc đó không phải dễ dàng.
Dù
rằng không phải dễ nhưng cứ cố gắng làm, lần hồi nó
cũng quen, lâu ngày tạp niệm tự bớt, mình sẽ nhất tâm
lại . Nhất tâm là sao ? Nghĩa là chỉ chú tâm ở nơi câu
niệm Phật “ Nam Mô A Di Đà Phật”, lâu dần tâm nó cũng
quen đi, lần bớt xao động, lần sẽ dừng lại.
Cũng
có nhiều người đến than thở với tôi là muốn giữ cái
tâm lại, nhiếp tâm để chấp trì danh Phật mà làm hoài nó
vẫn cứ chạy. Vì cái chạy đó nó quen lâu năm rồi. Không
phải lâu năm trong đời này, mà nó đã lâu năm trong nhiều
đời trước nữa. Cho nên, mình phải cột, phải nắm lại,
rồi lần lần “ cột nắm” cũng dần quen. Khi đứng lại
thì nó cũng quen đứng luôn. Vậy nên phải thật chịu khó.
Thành
thật nói với đại chúng, tôi biết niệm Phật hồi năm 14
tuổi, đến 21 tuổi mới về chùa. Thì cũng vậy, cũng chuyên
về niệm Phật, tu pháp môn Tịnh Độ, đến bây giờ kể
ra là bảy mươi mấy năm cũng trì danh hiệu “ Nam Mô A Di
Đà Phật”, mà bây giờ niệm lực cũng còn yếu lắm, chứ
không được mạnh đâu. Thật là khó! Cảnh duyên nơi này
đủ chuyện quyến rũ, đủ chuyện lôi kéo, đủ chuyện nó
xen vào. Sự lôi kéo với xen vào đó do mình đã huân tập
nhiều đời, nhiều năm quen chạy theo rồi. Nó chạy theo thuần
quá, nó quen quá rồi, bắt nó dừng lại tất nhiên phải dày
công lắm, nhưng mà mình phải cố làm. Không làm thì đời
này mình trắng tay, không được gì hết trong Phật Pháp. Vì
thế, Phật dạy lúc nào cũng phải tinh tấn tu hành.
Tóm
lại, đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy mình những cái nghe biết
ở cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà, sự sinh hoạt nơi
cõi Cực Lạc, khuyên bảo mình phát nguyện sanh về cõi Cực
Lạc để chuyển từ phàm phu lên bậc Thánh, từ nơi cõi luân
hồi này lên bậc Bất thối chuyển để thành Phật. Đức
Phật Thích Ca dạy như vậy đó. Ngài nói chẳng phải riêng
ở nơi Ngài mà muời phương Chư Phật đều tán thán việc
này (trong kinh mình tụng chỉ nói tắt nơi sáu phương, kỳ
thật là mười phương Chư Phật cũng đều tán thán việc
sanh về thế giới Cực Lạc).
Vả
lại, đức Phật Thích Ca Mâu Ni cuối cùng cũng nói pháp môn
Tịnh độ. Pháp môn niệm Phật để sanh về cõi Cực Lạc
mà Phật nói đây khó tin lắm, chứ không phải dễ (rất khó
tin). Nên trong kinh A Di Đà, vị nào có tụng thì biết, Chư
Phật mười phương đều khen ngợi đức Phật Thích Ca Mâu
Ni ở nơi cõi này mà giảng dạy pháp Môn niệm Phật để
sanh về cõi Cực Lạc là rất khó, khó hơn ở cõi ngũ trược
mà thành Phật. Nơi cõi ngũ trược mà thành Phật đã khó,
song nói pháp môn này lại càng khó hơn.
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni sau đó nhấn mạnh lại rằng: “Đúng
như vậy! Đức Phật ở thế gian này nói pháp môn niệm Phật,
cầu sanh về cõi Cực Lạc là rất khó”. Bây giờ, quý Phật
tử ở đây đều tin, đều phát nguyện, sớm tối tu hành
niệm Phật cầu sanh về cõi đó, như vậy tất nhiên là việc
khó. Chư Phật mười phương và Đức Phật Thích Ca nói khó
mà quý vị đã làm được rồi. Việc khó tin mà quý vị quyết
tâm làm thì cũng làm được. Như vậy việc này hy hữu ít
có lắm, nên phải cố gắng tinh tấn tu hành, đừng nản (đừng
nghĩ mình niệm Phật sao nó cứ loạn, niệm Phật sao không
nhất tâm, niệm Phật sao kiềm giữ không đư