MỤC LỤC
Cảm
tạ
Lời
giới thiệu
Đạo
ngôn
Chương
1: Giáo Pháp
Chương
2: Thượng Sư
Chương
3: Cơ Hội
Chương
4: Cái Chết
Chương
5: Sanh
Chương
6: Quy Y
Chương
7: Nghiệp
Chương
8: Tứ Diệu Đế
Chương
9: Bồ Tát Nguyện
Chương
10: Bồ Tát Hạnh
Cảm
tạ
Con
xin thành kính đảnh lễ và tri ân:
-Đức
Đạt Lai Lạt Ma,và Hòa Thượng Lhakor cùng Thư Viện Tây Tạng
đã hoan hỷ cho phép con được chuyển dịch nguyên tác
“The Way to Freedom” từ Anh Ngữ sang Việt Ngữ.
-Hòa
Thượng Thinlay Togpyal (Viện Trưởng),Hòa Thượng Lobsang Ngawang
(Phó Viện Trưởng),Thượng Tọa Tashi (Giám Học) và tất cả
quý thầy của Trường Trung và Đại Học Hiển Mật Tây Tạng
Gyudmed đã tích cực cầu nguyện và hỗ trợ tinh thần cho
con trong nhiều năm tháng qua.
-Hòa
Thượng Thích Đức Nhuận,Cố vấn Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo-Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất; một học giả uyên bác
đồng thời cũng là tác và dịch giả của nhiều tác phẩm
Phật pháp khảo cứu,lịch sử văn hóa giá trị đã bi mẫn
đọc và viết lời giới thiệu cho quyển sách này mặc dù
Phật sự đa đoan,tuổi già sức yếu.
-Hòa
Thượng Thích Quảng Độ,Viện Trưởng Viện Hóa Đạo-Giáo
Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất,một học giả uyên bác,
đồng thời cũng là tác và dịch giả của rất nhiều tác
phẩm Phật Học thâm áo đã từ bi, ân cần dạy bảo và khích
lệ con trên bước đường tham cầu học hỏi và phụng sự
Chánh pháp.
-Thượng
Tọa Thích Thiện Trì, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Luật kiêm
Vụ Trưỏng Vụ Tăng Sự, đồng thời cũng là dịch giả của
nhiều kinh sách giá trị đã bi mẫn dìu dắt con quay về nương
tựa Tam Bảo.Nguyện cầu Ngài chóng được bình phục,pháp
thể khinh an, đạo quả viên thành.
-Thượng
Tọa Thích Viên Lý Phụ Tá Phó Viện Trưởng Kiêm phó tổng
thư Ký Viện Hóa Đạo,Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất,Tổng Thư Ký Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất
Hải Ngoại tại Hoa Kỳ-Văn Phòng II Viện Hóa Đạo; đã từ
bi tạo nhiều thắng duyên để dịch phẩm này được hình
thành.
Nguyễn
Thúy Phượng
Nguyệt
Tuệ Huy
2543-1999
Lời
giới thiệu
Tam
tạng thánh điển của đạo Phật trong đó chứa đựng tám
vạn bốn nghìn pháp môn vi diệu,tức 84.000 thần dược để
chữa trị cho 84.000 căn bệnh “phiền não đau khổ”của
chúng sinh và,do đó, đã đem lại niềm an vui,hạnh phúc cho
những ai biết tin theo và áp dụng nguồn ánh sáng giáo lý
Giác Ngộ Giải Thoát của đạo Phật trong thực tại cuộc
sống hằng ngày.
Tác
phẩm “HƯỚNG ĐẾN CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT”[1] là một tác
phẩm lớn của Đức Đạt Lai Lạt Ma có công năng đem sự
an lành đến với cuộc đời nên hiện nay, được mọi lớp
người trong thế giới đón nhận với tất cả tấm lòng hân
hoan,ngưỡng mộ.
Nội
dung tác phẩm gồm 10 chương-Trong chương IV,nói về “Cái
Chết” chẳng hạn,Ngài dạy:
-Một
người tu theo Phật pháp,hằng ngày đều nghĩ đến cái chết;tư
duy về niềm đau khổ của nhân loại như về sinh khổ,về
lão khổ,về bệnh khổ và về tử khổ.Mỗi một ngày, người
tu Mật Tông, đều quán tưởng phải trải qua cả một quá
trình chết chóc giống như trong nội tâm,mỗi ngày đều sẽ
chết một lần[2] nên khi đối diện với tử thần họ đã
chuẩn bị sẵn sàng nên không còn khiếp sợ nữa…
-Đối
diện với cái chết,con người sẽ tạo cho mình một đời
sống đầy ý nghĩa…
-Khác
nào như (một người) sắp phải vượt qua một vùng đất
hiểm nguy (cái chết)và đầy sợ hãi…
Vậy
khi nói đến cái chết là Ngài có ý khuyến thỉnh con người
ở kiếp này hãy chăm làm những việc tốt lành để lấy
đó làm tư lương cho kiếp mai sau.
Là
Phật tử,phát nguyện tu hành Bồ Tát Đạo thì tự bản thân
phải biết quên mình đi…để phụng sự chính pháp, phục
vụ chúng sinh; biết đau trước nỗi đau của đồng loại,và
vui sau niềm vui của thiên hạ.
…Thẩm
định từng ý, từng lời trong toàn bộ tác phẩm HƯỚNG ĐẾN
CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT của vị Thánh tăng, ta thấy:mỗi ý,mỗi
lời chan hòa tình Thương Yêu nhân loại,chúng sinh khác nào
như những đóa sen tỏa hương thơm làm tươi mát những tâm
hồn đau khổ,là vầng thái dương làm tan đi những đám mây
mù che phủ thế gian.
Nay
Phật tử, NGUYỄN THÚY PHƯỢNG Nguyệt Tuệ Huy,phát tâm dịch
tác phẩm trên,từ Anh văn sang Việt ngữ, đây cũng là phần
đóng góp tinh anh của mình trong sự nghiệp “hoằng pháp lợi
sinh”,tôi xin nhất tâm tán dương công đức và trân trọng
giới thiệu cùng toàn thể quý vị độc giả.
Viết
tài chùa Giác Minh, Sàigòn, tháng trọng xuân, Phật lịch 2543-DL.1999
Thích
Đức Nhuận
Đạo
ngôn
Tu
học và hành trì giáo pháp của Phật dạy là dấn bước vào
một cuộc chiến đối kháng giữa hai lực lượng tiêu cực
của nội tâm.Hành giả cần truy cầu để khai trừ mặt tiêu
cực và phát huy tiềm năng của mặt tích cực.Những giáo
pháp trong quyển sách này nhằm mục đích chuyển hóa tâm thức;
do vậy,chỉ cần duyệt đọc hay lắng nghe một đoạn nhỏ
thôi cũng đủ mang đến một sự lợi lạc vô cùng to lớn.
Đã
không có khắc độ cụ thể nào có thể dùng để đo lường
tiến trình tranh chấp giữa lực lượng tích cực và tiêu
cực trong tâm thức.Sự chuyển biến sẽ bắt đầu kể từ
khi bạn tự tri nhận được những phiền não của chính mình,chẳng
hạn như lòng sân hận và tị hiềm.Vì thế,con người cần
phải có trình độ tri nhận và ý thức cách diệt trừ những
phiền não; loại tri thức đó có được là do sự lắng nghe
từ giáo pháp.Không có bất cứ một phương pháp đơn giản
nào để diệt trừ phiền não cả. Không thể dùng thủ thuật
ngoại khoa để cắt bỏ chúng.Chúng cần phải được tri nhận.Sau
đó,xuyên qua sự dụng công thực tập và hành trì theo giáo
pháp thì phiền não sẽ dần dần giảm thiểu và cuối cùng
sẽ hoàn toàn bị đoạn diệt.
Các
giáo pháp này đã cung cấp những phương thức để con người
tìm được giải thoát ngay từ trong phiền não-con đường
đã thật sự đưa dẫn đến giải thoát mọi khổ đau và
đạt được sự an lạc tự tại của quả vị cứu cánh giác
ngộ (the bliss of enlightenment).Khi con người càng hiểu Phật
pháp bao nhiêu thì sự ôm giữ tính kiêu căng,sân hận,gian
tham và những tình cảm tiêu cực đã từng gây ra nhiều đau
khổ trước kia cũng sẽ giảm thiểu bấy nhiêu.Nếu áp dụng
sự hiểu biết này vào đời sống thường nhật thì nội
tâm sẽ dần dần được chuyển biến trong khi mình tưởng
chừng như trái ngược lại.Nếu bạn có thể so sánh giữa
trạng thái tâm thức hiện tại và tâm thức sau khi đọc xong
quyển sách này, có lẽ bạn sẽ tìm thấy một vài thay đổi
tiến triển.Nếu quả đúng như vậy thì những lời dạy này
đã đạt được mục đích của nó.
Tại
đây,hơn 2500 năm trước,trong một kiếp, Đức Phật đã thị
hiện thành Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn,một bậc trí giả
của dòng tộc Thích Ca.Ngài đã xuất gia như một vị sa môn,trải
qua một quá trình tu tập du già (yoga) một cách gian khổ.Ngài
đã đạt được quả vị giác ngộ viên mãn khi thiền tọa
dưới một cội cây ở một địa danh phía bắc Ấn Độ được
gọi là Bodh Gaya.Từ đó về sau,Ngài đã khai thị vô số giáo
pháp thích ứng với từng loại tham dục và căn tánh khác
nhau của chúng ta.Có người,Ngài dạy làm thế nào có được
sự chuyển sinh tốt đẹp hơn;người khác thì Ngài dạy cách
để thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.Những điều dạy tinh
thâm vi diệu chứa đựng trong những giáo pháp ấy, được
gọi là Kinh (Sutra), đã vạch rõ những phương pháp và những
con đường dẫn đến hạnh phúc an lạc cho tất cả chúng
sanh, được thể nghiệm trực tiếp bởi Đức Phật và rất
hợp với mọi lý luận, bất cứ ai cũng có thể thực hành
và nghiệm chứng được.
Tại
Tây Tạng,giáo nghĩa Phật giáo được biên soạn thành một
bộ sách,trình bày cặn kẽ những giai đoạn của cả một
hành trình tiến đến sự giác ngộ.Trong quá khứ,có rất
nhiều người đã dựa vào những giáo pháp được chỉ dạy,
giống nhau này để tựu thành quả vị chứng ngộ viên mãn;
những giáo pháp này rất thích hợp với bất cứ ai tâm tánh
vẫn còn chưa được thuần thục.Mặc dù tự thấu triệt
nỗi nguy hại gây ra do chính những sai lầm của mình,ví dụ
như một cơn thịnh nộ sẽ mang đến biết bao tổn thương
cho mình và cho người,nhưng những lỗi lầm ấy vẫn còn đã
và đang khiến chúng ta bị nghiêng ngả ảnh hưởng.Do vậy,một
tâm hồn chưa được điều phục sẽ vẫn táo bạo thúc đẩy
chúng ta nhảy xuống hố sâu thay vì dừng lại ngay bên bờ
hố.
Phiền
não và hành vi tạo tác khiến chúng ta bị cuốn hút trong vòng
luân hồi tuần hoàn đau khổ; đó là “nghiệp lực” (karma).Do
quan hệ giữa hành động và kinh nghiệm,chúng ta đã kéo dài
đời sống với biết bao nỗi trầm bổng,nhiễu loạn và mê
mờ.Cởi bỏ hoàn toàn những nghiệp lực trong quá khứ và
thoát khỏi vòng nô lệ của tham,sân và si gọi là “giải
thoát”hay “Niết Bàn”.Khi chúng ta thấu rõ được bản
thể thanh tịnh tự nhiên của nội tâm mà có thể loại bỏ
được những lầm lỗi và phiền não thì niềm an lạc tuyệt
đích sẽ theo đó mà đến,và chúng ta sẽ tìm được cứu
cánh giải thoát ngay chính trong vòng luân hồi đau khổ.
Nếu
chúng ta có thể làm được những điều thiện,chẳng hạn
như cứu lấy sanh mạng của những con vật sắp chết;chúng
ta cũng có thể tích tập được những điều kiện cần thiết
để được thác sanh làm người trở lại.Cuộc sống tâm
linh của chúng ta sẽ tiến triển tốt đẹp trong đời vị
lai nếu chúng ta chịu thực hành nghiêm chỉnh “Phật Pháp”
Điều quan trọng là chúng ta nên dụng công tu hành ngay khi
đang còn có nhiều cơ hội vì cuộc sống vốn dĩ rất quý
giá nhưng lại khó lường trước được.Chúng ta sẽ không
bao giờ biết được cơ hội như thế sẽ kéo dài đến bao
lâu.
Thể
theo luật nhân quả và nghiệp lực thì những gì chúng ta làm
hôm nay sẽ đưa đến những kết quả trong tương lai.Tương
lai chúng ta được định đoạt từ trạng thái nội tâm trước
mắt,mà trạng thái nội tâm trước mắt thường là sự tràn
lan của chuỗi dài phiền não.Trên hết chúng ta cần nên cầu
nguyện để chứng đắc được quả vị giác ngộ giải thoát.Nếu
không,cũng nên tầm cầu để thoát khỏi vòng luân hồi sanh
tử.Nếu không nữa,thì ít ra cũng nên gieo những hạt giống
để được thác sanh vào một cảnh giới tốt đẹp hơn,tránh
khỏi đọa vào cảnh giới thấp kém hơn cảnh giới mà chúng
ta đang sống hiện nay.Trong hoàn cảnh may mắn được thuận
duyên nghe thấy và tu hành theo Phật pháp thì chúng ta cũng
chớ đánh mất cơ hội hy hữu này.
Tuy
nhiên,tự giải thoát ra mọi khổ đau không thôi chỉ mới
là một phần của mục tiêu truy cầu của chúng ta.Vì ai cũng
giống như chúng ta đều mong mỏi hạnh phúc, đều mong mỏi
tránh được khổ đau dù là khổ đau nhỏ nhất.Tất cả chúng
sanh đều bình đẳng trong khuynh hướng mưu cầu hạnh phúc
và giải thoát khỏi mọi khổ đau.Một khi đã biết được
đạo lý này rồi mà chúng ta vẫn chỉ mưu cầu giải thoát
cho riêng mình thì sẽ làm cho sự cố gắng thành tựu giải
thoát của mình biến thành nhỏ nhiệm lắm.Nhưng nếu động
cơ căn bản là để giúp cho tha nhân thì chúng ta sẽ đạt
được cảnh giới Nhất Thiết Trí (Omniscience); với cảnh
giới này chúng ta sẽ có năng lực giúp ích lợi lạc mọi
loài chúng sanh.Và tự thân chúng ta đã có thể thành PHẬT
rồi vậy.
Nếu
nội tâm nghèo nàn và năng lực hạn hẹp,thì làm sao chúng
ta có thể đáp ứng được nguyện vọng của mọi người?Chỉ
mong giúp đỡ tha nhân không thôi vẫn chưa đủ.Trước tiên
chúng ta cần có khả năng cảm biết được những nguyện
vọng khác nhau của mọi người. Để có được một sự nhận
thức rõ ràng sáng suốt,chúng ta phải loại bỏ tất cả mọi
kiến chấp đã chướng ngại và như thế chúng ta sẽ nhìn
thấy mọi sự mọi vật như nó đang hiện hữu.Những chướng
ngại vật của Nhất Thiết Trí chính là những dấu vết để
lại từ những loại phiền não như tham dục,phẫn nộ,kiêu
mạn và vô minh.Cho dù sau khi loại bỏ được những phiền
não rồi thì tâm thức vẫn còn in đậm những dấu vết của
nó.Nhưng vì bản thể của tâm thức vốn là trong sáng,thuần
khiết nên chúng ta có thể thanh tịnh hóa triệt để nội
tâm của mình.Và khi đã đạt được thể tánh sáng suốt
tỉnh giác như thế,tức là đã đạt được Nhất Thiết Trí.
Đức
Phật có được tất cả những đặc chất vĩ đại của Thân,Ngữ,
Ý chủ yếu là do động lực của “Đại Bi Tâm”.Chủ yếu
của sự tu hành của chúng ta cũng phải do tâm nguyện lợi
tha.Do tri nhận được rằng mọi người đều giống như chúng
ta,mong cầu vui sướng và diệt trừ đau khổ nên lòng vị
tha sẽ tự nhiên hiện ứng trong tâm chúng ta. Đó là một
hạt giống gieo xuống,và xuyên qua quá trình tu tập,chúng ta
có thể bảo vệ và chăm bón cho nó được trưởng thành.
Tất
cả mọi giáo pháp của Đức Phật đều chủ yếu giúp chúng
ta phát triển lòng Đại Bi và tâm Lợi Tha.Con đường để
thành Phật đã được kiến lập trên lòng Đại Bi:mong người
khác có thể xa lìa đau khổ.Và điều này đã khiến chúng
ta thấu triệt được rằng niềm an vui hạnh phúc của người
khác chung cuộc còn tối thượng,quan yếu hơn cả hạnh phúc
của chính mình; bởi vì,nếu không có người khác thì chúng
ta sẽ không có cơ hội tu hành và chứng đắc quả vị giác
ngộ.Tôi không dám tự xưng mình là người có kiến thức
quảng bác hoặc liễu ngộ cao thâm.Tôi chỉ nhớ đến các
vị sư trưởng của tôi, đã vì lòng từ ái mà truyền dạy
cho tôi những giáo pháp này,vì vậy với ý nguyện tha thiết
quan tâm đến sự lợi ích của muôn loài,tôi xin mang ra để
hiến dâng cho quý vị những giáo pháp vi diệu đó.
[1]
Nguyên tác:The WAY TO FREEDOM
[2]
Một phen chết lớn, tức có nghĩa nói rằng con người hãy
tự chết đi những thói hư tất xấu như lam tham,sân hận,ngu
si để tái sinh một con người mới:Con người thánh thiện-sống
bằng tâm hồn phật-một cuộc sống đẹp như hoa sen ở trong
bùn mà không nhiễm bùn-chú thích của người viết giới thiệu.
12-01-2007
11:23:34