Dayton
là một thành phố nhỏ bé thuộc tiểu bang Ohio, nơi mà 25
năm trước đây, khi định cư tại Hoa Kỳ chú Sáu đã được
người bảo trợ lãnh về, để bắt đầu kiếp sống tha phương
xứ người. Do đó, dù chỉ lưu trú tại đây không quá 6 tháng,
nhưng những kỹ niệm, những hình ảnh thân thương của chốn
nầy lúc nào cũng tràn ngập trong tâm khảm chàng. Do đó, khi
chiếc phi cơ Delta vừa lượn một vòng ngắn, nhìn xuyên qua
cửa sổ ngắm nhìn cảnh thành phố nhỏ nhắn mờ sương ngày
xưa, chú Sáu đã xúc động nghẹn ngào. Chú ngậm ngùi nhớ
tới nỗi ngơ ngác âu lo của của 3 thằng con trai bạc mạng
trên bước đường vong quốc vào “thuở ban đầu” ở xứ
nầy, chàng nhớ bà Mary Sanders, người bảo trợ hiền lành
đã dang rộng vòng tay thương yêu đón nhận ba đứa con trai
xa lạ, để bảo dưỡng, chăm sóc chúng từng miếng ăn, từng
áo mặc và tận tình hướng dẫn chúng hòa nhập vào nếp
sống Hoa Kỳ. Điểm đáng kính trọng nhứt là lòng nhẫn nại
của bà, khi phải bình tĩnh đối thoại với đám “con nuôi”
bập bẹ tiếng Mỹ, phải quơ tay múa chân lia lịa để giải
bày điều muốn nói. Bà đưa cả đám đi học Anh văn tại
hội YMCA, bà dạy bọn chàng lái xe, đưa đi thi bằng lái,
rồi mua cho ba đứa chiếc xe cà tàng để đi đây đi đó.
Bà cũng hướng dẫn chúng đi tìm việc, và dù chữ nghĩa vẫn
“ù ù cạc cạc”, ba đứa cùng được công ty Frigidaire nhận
cho làm thợ không chuyên môn mà lương bổng lại khá trọng
hậu. Bà lại ưu ái chăm lo phần tinh thần đám con bảo trợ
vô cùng chu đáo, hàng tuần bà đưa 3 chàng đi nhà thờ Worker’s
for Christ Full Gospel Church, lên tiếng ca tụng họ, khiến cả
hội thánh ai cũng niềm nỡ đón tiếp, và thường xuyên chia
nhau đến thăm hỏi, rao giảng đạo Chúa, hi vọng ngày rửa
tội bọn chàng đã gần kề…Mặc dù kính thương bà Mary
như ngườiø mẹ hiền, nhưng khi phải ép lòng theo bà đi nhà
thờ, lấp lửng đóng vai một con chiên ngoan đạo, lí nhí
hát thánh ca… chú Sáu cảm thấy có niềm bất an khắc khoải
trong lòng. Chú vốn là một Phật tử thuần thành, biết chắc
chắn mình sẽ chẳng bao giờ thay đổi tôn giáo, nên nếu
cứ “lửng lơ như con cá vàng” đi nhà Thờ để được
nâng đỡ, chăm lo vật chất… thì vừa trái với lòng mình
vừa chẳng thành thật với người. Chú Sáu toan giải bày
với bà Mary tâm tư của mình, nhưng vốn liếng chữ nghĩa
của chú yếu ớt quá không cách nào diễn tả nỗi, vả chăng
dù có khả năng, chưa chắc chú có thể nỡ lòng làm buồn
lòng bà mẹ nuôi phúc hậu của mình. Thế rồi, để tránh
kéo dài nỗi khó xử ray rứt nầy, chú Sáu liên lạc với
bạn bè khắp nơi tìm đường ra đi. Bảy tháng sau, chú từ
giã Dayton với niềm luyến tiếc, rồi theo duyên tình mà dừng
chân tại Phoenix, Arizona. Chú lập gia đình một thời gian ngắn
sau đó, và vĩnh viễn chọn vùng sa mạc nầy làm quê hương
thứ hai. Dù xa xôi cách trở thế nào, thì ân tình thâm trọng
của bà mẹ nuôi phúc hậu cũng chẳng hề suy giảm, chú Sáu
thường xuyên liên lạc với bà, nài ép bà về sống với
gia đình chú vào những tháng mùa đông, để trốn tránh giá
băng miền Bắc. Bà Mary vui vẻ sống đùm túm với chú vài
mùa đông, nhưng mười năm sau nầy, sức khỏe yếu kém bà
không mấy khi đi xa nhà, bốn năm cuối cùng bà phải vào viện
dưỡng lão vì không tự lo cho chính mình được nữa. Giờ
đây sau bao năm gắng gượng chống chỏi với nhiều căn bệnh
khác nhau, bà đã vĩnh viễn từ giã cõi đời ở tuổi 90.
Chú Sáu vừa được Viện Dưỡng Lão thông báo tin buồn, đã
vội vã lên đường cho kịp dự lễ rửa tội cuối cùng của
người ân nhân.
Rời
phi trường, chú thuê xe, tìm đường đến khách sạn gần
khu nhà quàng mà chàng đã giữ chỗ sẵn để thay bộ “vét”
đen chững chạc phù hợp với ngày tang lễ, rồi hấp tấp
tìm đường đến nhà quàng trước giờ hành lễ. Chàng lặng
lẽ đến trước quan tài, ngắm thân xác co rúc bé bỏng nhưng
nhờ thuật hóa trang khéo léo nên gương mặt vẫn lộ nét
an lành yên ngủ. Chàng chấp tay lầm thầm cầu nguyện, tin
tưởng rằng một người phúc hậu, trọn đời tham gia thiện
nguyện như bà thì đương nhiên sẽ có duyên nghiệp tốt đẹp.
Tang lễ tổ chức đơn sơ, ngoài vị mục sư và nhân viên
đại diện Viện Dưỡng Lão, chỉ có vài ông bà cụ, có lẽ
đều là bạn đồng bệnh - bệnh già - ngồi xe lăn ngơ ngáo
đưa tiển. Sau bao năm cô đơn nằm thoi thóp trong Viện Dưỡng
Lão, dường như những người bạn đạo đã từng sát cánh
với bà làm thiện nguyện và đi từng nhà làm chứng đạo
đã mất liên lạc. Hai đứa con bà, tuổi tròm trèm 70, bấy
lâu lưu lạc mỗi người mỗi nơi, còn sống hay đã chết,
cũng vắng bóng, nên thân nhân duy nhất của bà vào ngày cuối
cùng của cuộc đời lại chỉ còn có chú. Chú Sáu đứng
trước quan tài, chào hỏi cảm tạ mọi người, và chờ đợi
người khách cuối cùng ra về, chàng đưa chiếc áo quan chuyển
qua lò thiêu, nhìn ngọn lửa phụt lên ngùn ngụt, rồi mới
bùi ngùi lui bước. Chàng từ từ lái xe đi, mà vẫn còn ngoái
nhìn lại làn khói đen tỏa mù mịt trên không gian, thầm nghĩ
: “Bấy lâu nay, lăn lộn với nỗi đớn đau dai dẳng, sống
không ra sống, chết không ra chết, giờ đây tuy tắt thở
nhưng bà Mary mới thực sự sống, sống thảnh thơi ở cõi
thiên đàng nước Chúa của bà”.
Sau
khi ngủ một giấc ngon lành, chú Sáu thức dậy sớm lái xe
lòng vòng tìm lại những kỹ niệm ngày xưa. Ngày chúa nhật,
đường xá vắng vẻ, nên chú cứ tà tà lái xe đi ngang hội
YMCA, hảng Frigidaire, viện bảo tàng máy bay, qua những mảnh
rừng phong lá đang chuyển màu đỏ thắm, viếng Wright State
University, rồi vòng qua con đường Valley street quen thuộc, dự
định sẽ nhìn thoáng qua ngôi thánh đường mà ngày xưa chàng
theo bà Mary đi dự lễ hàng tuần. Con đường xưa có phần
cũ kỹ tồi tệ hơn ngày trước, chú Sáu vừa quan sát vừa
lẩm nhẩm dò số; chú chuẩn bị tinh thần để quan sát thật
nhanh khung cảnh bên ngoài ngôi giáo đường để từ biệt,
bỗng nhiên chú giựt mình tấp gấp xe vào lề, dừng lại,
dụi mắt nhìn cho rõ. Thì ra, ngôi giáo đường năm xưa đã
biến thành ngôi chùaViệt Nam tự lúc nào. “Thật không ngờ
cộng đồng Việt Nam nhỏ bé ở đây có thể hoàn thành một
công trình quý báu như thế nầy”, chú thầm nghĩ. Chú Sáu
rộn ràng ngắm ngôi chùa “Tịnh Quang” nhỏ bé, tuy dáng
dấp bên ngoài vẫn là còn giữ nguyên kiến trúc của ngôi
giáo đường, nhưng bên trong đã được tân trang lại thành
một chánh điện tôn nghiêm, với khoảng chừng một trăm Phật
tử, trong đó có hai gia đình người da trắng tề tựu. Ở
những thành phố ít người Việt sinh sống, tình đồng hương
rất đậm đà. Chú Sáu được mọi người niềm nỡ tiếp
đón, đưa lên hàng đầu, trao cho quyển kinh, ân cần theo dõi
từng trang để hướng dẫn chú tụng theo nghi thức hành lễ.
Phần chủ lễ do vị Hội Trưởng phụ trách, không khí rất
trang nghiêm và có chiều sâu. Chú Sáu đã từng viếng thăm
hàng trăm ngôi chùa Việt Nam tại xứ Mỹ, có thể nói đây
là ngôi chùa nghèo nhất mà chú đã gặp, nhưng chỉ riêng
ở ngôi chùa nầy, chú mới cảm thấy niềm xúc động dạt
dào : chú xúc động về đạo tình, về lòng thiết tha phục
vụ đạo pháp của cộng đồng Việt Nam nhỏ bé ở đây.
Nghi lễ kết thúc, chú Sáu nhìn quanh không thấy ai quen biết,
chú hơi thất vọng, vừa định ra về thì bỗng có người
đàn ông đứng tuổi chận lại lên tiếng :
- Anh
Sáu! Anh đến Dayton lúc nào mà lang thang một mình ở đây?
- Ơ!
Ơ! Chào anh Thọ! Nảy giờ tôi cố ý nhìn quanh tìm anh mà
không thấy. Tôi hấp tấp về đây dự đám táng bà Mary Sanders,
quên mang sổ điện thoại theo, thành thử muốn liên lạc với
anh và anh Tưởng mà chẳng biết phải làm sao?
- Sáng
nay anh Tưởng đi câu, đâu ai biết anh ấy đến hồ nào màtìm!
Ơ! mà chiều nay vợ chồng anh ấy hứa lại nhà tôi dùng cơm,
sẵn dịp mời anh đến chung vui với tụi nầy. Chỉ có vợ
chồng anh ấy, vợ chồng thằng Hạnh, em vợ tôi, chớ chẳng
ai xa lạ, xin anh đừng ngại!”
Mấy
năm nay chú Sáu không dùng cá thịt, chú ngại việc ăn uống
kiêng cữ nầy gây phiền toái cho bạn bè, nên đành thoái
thác :
- Ơ!
Tôi có chuyện hơi kẹt! Anh cho tôi đến trễ sau buổi ăn.
Miễn là mình gặp được nhau uống trà đàm đạo là vui vẻ
lắm rồi!
- Được
lắm! Vậy thì mình sẽ gặp nhau khoảng 8 giờ rưởi nhé!
Xin anh cầm danh thiếp tôi, có ghi rõ địa chỉ và số điện
thoại, nếu lạc đường thì réo tôi đi rước, đừng ngại
nhé!
***
Trời
mùa thu ảm đạm, mới hơn 8 giờ chiều mà bóng tối đã ngập
tràn. Chú Sáu theo bản đồ, tìm được con đường Capewood
lane rồi, nhưng ráng mở bét mắt dò xét số nhà 3536 hoài
mà chẳng thấy. Chú đành đậu xe, bước ra ngoài đi tới
đi lui kiểm soát lại cũng chẳng truy ra. Chú Sáu đang ngơ
ngác nhìn quanh, bỗng thấy có một người dáng dấp Á Châu
trờ tới. Chú Sáu dợm chào xã giao nhưng còn ngần ngại,
thì người lạđã nhanh nhẩu cất tiếng :
- Anh
là người Việt?
-
Dạ đúng.
-
Anh tìm nhà anh Thọ?
-
Dạ phải! Tôi từ xa đến đây không rành đường nên đang
lúng túng. Mà sao anh đoán tài quá vậy?
- Có
gì lạ lùng đâu. Xóm nầy chỉ có anh ấy là người Việt
Nam thôi! Tôi cũng đang trên đường đến nhà ảnh đây. Xin
anh cứ theo tôi!
- Cám
ơn lắm! Tên tôi là Sáu, xin hân hạnh được quen anh.
Người
lạ cười hồn nhiên thân mật : “Chuyện nhỏ mà ân nghĩa
gì anh Sáu. Nếu anh không ngại, thì xin bắt tay thằng Hồ
Linh này kết bạn với nhau đi!” Hai người bắt tay nhau vui
vẻ. Mới gặp nhau, mà chú Sáu mường tượng như họ đã
quen nhau tự thuở nào rồi. Hồ Linh đưa chú Sáu qua khỏi
căn nhà thứ nhất, thì đã thấy ngôi nhà của Thọ nằm sờ
sờ kế đó, số nhà cũng rành rành trước cửa, vậy mà hồi
nảy con mắt quáng gà của chú Sáu lục lạo hoài chẳng thấy,
mới là điều lạ lùng. Chú Sáu vừa bấm chuông, thì đã
thấy chủ nhà đon đả mở cửa reo vui :
- Anh
Sáu! Tôi thấp thỏm trông ngóng anh nảy giờ. Tôi đinh ninh
anh đi lạc đường rồi, vì mấy thuở mà anh trễ hẹn với
ai đâu?
- Ơ!
Đáng lẽ thì tôi đã đi lạc! nếu không nhờ anh Linh dẫn
đường thì chắc phải còn lâu tôi mới mò được tới đây.
Rồi
nhìn vào nhà, thấy loáng thoáng có nhiều kẻ hiện diện trong
nhà, chú Sáu vội chấp tay, cất tiếng chào : “Xin chào quý
anh chị! Xin lỗi đã đến trễ.”
Hồ
Linh cũng nối gót theo chú Sáu, bước vào nhà cười vang, lên
tiếng : “Thằng Hồ Linh nầy, cũng xin tổng chào quý vị”.
Sau
khi nồng nhiệt đón tiếp chú Sáu, lịch sự hỏi thăm qua
loa sức khỏe và đời sống của gia đình chàng, ba mụ đàn
bà hấp tấp rút vào phòng gia đình tiếp tục xem bộ phim
dở dang, nhường phòng khách cho đám đàn ông tự do bàn bạc
những chuyện linh tinh “cấm đàn bà”. Thế nhưng, hai phòng
cách nhau chẳng xa nên câu chuyện của bọn đàn ông khó vượt
thoát khỏi lỗ tai bén nhạy của quí bà, ngược lại, âm
thanh truyền hình tuy nhỏ nhưng phim truyện Tây Du, đang đến
hồi vui nhộn với màn Bát Giái(1) trêu ghẹo bảy con tinh nhền
nhện bị phun tơ trói nằm chèo queo thê thảm, cũng xâm lăng
ra phòng khách khiến đám mày râu cũng loáng thoáng ngóng nghe.
Chú
Sáu cất tiếng :
- Ở
đây, đồng bào Phật tử ít, lại không có tăng ni hướng
dẫn, vậy mà anh em cũng đồng tâm nhất trí lập Hội, xây
dựng được ngôi chùa để có nơi tề tựu quy ngưỡng, lòng
thiết tha phục vụ đạo pháp của quí anh thật đáng tán
thán!
- Thật
ra, trong thời gian đầu nội việc mời Phật tử về hội
họp để bàn bạc đã là chuyện khó khăn, vấn đề tài chánh
cũng nan giải, thế nhưng, anh em chủ trương cứ bền bĩ tiến
hành, rồi bỗng nhiên như có sự gia trì của chư Phật, những
khó khăn nội bộ khắc phục lần lần, rồi tình cờ chúng
tôi tìm được ngôi thánh đường cũ kỹ đang rao bán với
giá phải chăng phù hợp với túi tiền eo hẹp của cộng đồng
nhỏ bé nầy, để mua lại và sửa sang thành ngôi chùa tạm
trang nghiêm như ngày nay!, Thọ đáp.
- Lập
hội, xây chùa dĩ nhiên là chuyện cực kỳ khó khăn, nhưng
chuyện nuôi dưỡng niềm tin vào đạo pháp, hàng tuần dù
không có tăng ni mà vẫn trang nghiêm hành lễ, điều đó mới
là chuyện thiên nan vạn nan khó làm mà quí anh làm được,
và đó mới là điểm mà tôi vô cùng thán phục, quí anh ạ!
- Anh
Sáu à! Anh chân ướt chân ráo về tới Dayton là đã đến
chùa lễ bái, trong khi tôi cũng nằm trong ban tổ chức hô hào
lập hội, xây chùa…vậy mà tôi ham vui theo bạn bè đi câu.
Sựï thuần thành của anh khiến cho tôi cảm thấy xấu hỗ
quá đi!, Tưởng lên tiếng.
- Sự
thật thì tôi đang lái xe lông nhông ngoài đường bỗng vô
tình thấy ngôi chùa nên tò mò vào chiêm bái, chớ thật ra,
tôi nào biết chùa Việt Nam ở đây lập lúc nào mà viếng
thăm, xin quí anh chớ vội khen ngợi mà làm tôi lừng!
- Ấy!
Anh quá khiêm nhường nói như vậy, chớ ai cũng ca ngợi anh
là Phật tử thuần thành đạo cao đức trọng kia mà!, Hạnh
góp ý.
Chú
Sáu lắc đầu lia lịa đáp : “Nói rằng tôi tu tập lem nhem
chẳng đi đến đâu thì đúng, chớ nói đạo cao thì hoàn
toàn sai. Tôi chỉ thực hành bằng cách cố gắng tu sửa diệt
trừ tham sân si trong mấy mươi năm nay, nhưng khi tự quan sát
mình tôi biết rõ mình chẳng tiến bộ là bao.” Chú Sáu ngần
ngừ một chút để tìm lời giải đáp hợp lý, chợt nghe
tiếng Bát Giái la oái oái trong truyền hình vọng lại, chú
mĩm cười bổ túc : “Tôi mà bị đám tinh nhền nhện nó
quần, thì tánh Bát Giái cũng nổi lên, rồi bị sa lưới tơ
mà thôi, chớ có giỏi giang gì đâu!”.
Thọ
cười hì hì, hạ giọng nho nhỏ :
- Bọn
đàn ông mình, gặp đám tinh nhền nhện hấp dẫn đó thì
đành vui vẻ bó tay mà thôi.
Hạnh,
Tưởng, Linh cùng cười khúc khích tán thành “Đúng vậy!đúng
vậy!”. Đùa chơi nói nhỏ với nhau, vậy mà, từ phòng gia
đình đang chúi mũi xem chuyện Tây Du, mấy bà vẫn vểnh tai
nghe được. Có một giọng nói nửa cười cợt, nửa hờn
giận, mà vị thì chua như giấm bỗng the thé vang ra :
- Mấy
ông mà! Ai chẳng mang bệnh mê gái, gặp đám con tinh nhền
nhện là hồn phách tiêu tán hết, chẳng còn biết đường
về nhà nữa kìa…
Ba
chàng Thọ, Tưởng, Hạnh giựt mình êm re, riêng Hồ Linh nhờ
không có bà nào đi theo kềm kẹp, nên bạo phổi đáp :
- Bộ
mấy bà tưởng bọn đàn ông nầy mê mấy con tinh cái, còn
mấy bà không mê đám tinh đực đẹp trai sao?
- Sức
mấy!sức mấy!, ba bà đồng ong óng hét lên một lượt.
Chú
Sáu thấy diễn tiến có phần nguy hiểm vội ôn tồn lên tiếng
can ngăn :
- Xin
lỗi quí anh chị! Xin quí anh chị bỏ qua cho. Tôi nói chuyện
ví von để cười vui chơi thôi, chớ thật ra, nếu nói theo
Kinh Kim Cang thì Bát Giái không phải là Bát Giái mới thật
là Bát Giái, và tinh nhền nhện cũng chẳng phải là con tinh
nhền nhện, mới chính hiệu là tinh nhền nhện, anh chị ạ!
Cơn
giận dịu xuống phần nào, nữ gia chủ vui vẻ hỏi :
- Anh
nói lòng vòng khó hiểu quá! Sự thực ý anh như thế nào,
anh nói rõ ra được không anh Sáu?
- Tác
giả Tây Du là Ngài Ngô thừa Aân, một cư sĩ thâm hiểu Phật
Pháp đã viết chuyện nầy để gởi gắm ý đạo. Trần huyền
Trang tức Tam Tạng, là một nhân vật lịch sử, có xác thân
còn các đệ tử đều không có xác thân vì đó chỉ là những
tướng trạng tâm thức sâu kín của kẻ tu hành mà thôi. Tề
Thiên tượng trưng cho ý thức, tức lý trí nên dũng mãnh,
thần thông biến hóa, và biết suy xét nên không bị sa lưới
ma. Còn Bát Giái, tượng trưng cho nhãn thức, nhĩ thức, tỉ
thức, thiệt thức và thân thức… nên khi tiếp xúc bóng sắc,
với âm thanh ngọt ngào, mùi vị thơm tho, xúc chạm êm ái…
dễ bị đắm nhiễm và do đó mới bị ma bắt liên miên. Thí
dụ như mình mê chiếc xe hơi lộng lẫy, thì tâm Bát Giái
mình bị cái con nhền nhện xe hơi trói chặt không vùng vẫy
được, tóm lại, tuy nói Bát Giái nhưng không phải Bát Giái,
tuy nói là tinh cái nhưng không phải là tinh cái, phải
không quí anh chị!
Chị
Thọ vui vẻ lên tiếng :
- Anh
giải thích như vậy thì tôi hiểu được. Suy ra, thì cái đám
nhền nhện tinh : nữ trang, son phấn, áo quần, nó cũng “lập
mê hồn trận” quyến rủ tụi nầy chết mê chết mệt lắm
phen chớ, nhưng tôi có phép mầu nên không để chúng nó trói
chân tay tôi vào một chỗ đâu!
- Phép
mầu gì vậy chị! Truyền lại cho em đi!, hai bà bạn nhao nhao
hỏi.
- Tôi
chỉ cầm cái “bữu bối visa” múa nhẹ một đường là
tự do ôm đồ đạc về nhà, giao cái “bill” cho ổng, ráng
cày “over time” đến đâu thì cày!
Cả
nhóm cười rú lên vui vẻ, riêng Thọ ra vẻ ngượng ngùng,
giả vờ như không nghe thấy gì cả, làm nghiêm tiếp tục
cuộc thảo luận :
-
Tóm lại, theo anh Sáu thì tác giả truyện Tây Du đã dùng vô
số tinh ma để ám chỉ tất cả biến dạng tiêu cực của
tâm đã làm chướng ngại con đường tu tập của kẻ tu hành
phải không anh?
- Đúng
vậy! Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, trạo cử, hôn trầm…
đều là ma chướng, mà ngay như các loài vô tình : vật dụng,
cỏ cây mà mình hơ hỏng thả tâm buông lung thì nó cũng biến
thành yêu ma tác quái như thường. Trong Tây Du, vàng bạc cũng
biến thành Kim Giác và Ngân Giác (2) đại vương một thứ
chúa yêu cắn nhai kẻ tu hành rạo rạo, thế nhưng khi đã
hiểu rõ nó, kềm chế nó được rồi, thì Kim Ngân là đồng
tử giữ lò thuốc trường sinh, kẻ tu hành cũng cần nó để
“trường sinh” và có phương tiện hoằng dương Phật Pháp,
nên không thể diệt trừ tuyệt giống nó được. Còn cây
tùng, cây bá, gốc mai, gốc hạnh... sống lâu năm là thứ
cây kiểng mỹ thuật nên thơ, nhưng nếu ta say đắm nó mà
nhụt chí tu hành thì cũng có thể bị sa đọa, nên trong Tây
Du tác giả đã nhân cách hóa cây tòng, cây bá thành tiên ông
Thập bát công, Cô trực công, còn cây Hạnh, cây Mai là những
tiên cô xinh đẹp, đã vẽ bày ra thú ngâm thơ vịnh nguyệt
để quyến rủ Tam Tạng (3).
- Vàng
bạc, cây cảnh giả dụ là quỉ ma thì tôi hiểu được, còn
con thanh sư của Bồ Tát Văn Thù(4) sao lại cũng biến
thành yêu quái nữa?, Hạnh thắc mắc.
- Tôi
nghĩ thanh sư của Bồ Tát Văn Thù là hình ảnh tượng trưng
cho trí tuệï biện tài vô ngại vì khi sư tử cất tiếng
thì chồn cáo run sợ cúi đầu. Các bậc tu hành đạt đến
trình độ biện tài vô ngại thuyết pháp thì sẽ được người
người qui phục, trọng vọng. Trong Tây Du, sư tử thiến dụ
cho kẻ tu hành có biện tài, nhưng đã xử dụng biện tài
ngoài phạm vi Phật pháp đểù tranh dành ngôi vua, nên cái
biện tài đó đã biến thành yêu quái hại người.
- Có
con ma nguy hiểm mà Tây Du ký đã đề cập tới là Ngưu ma
Vương(5), anh Sáu có nhận xét gì đặc biệt về con ma nầy
không?, Hồ Linh vặn hỏi.
- Tôi
chưa nghiền ngẫm nhiều về hành tung bí ẩn của thứ ma nầy,
anh đã để ý tới thì chắc đã gia công tìm hiểu, xin anh
chia xẻ với chúng tôi suy tư của anh!
- Ngưu
ma Vương là anh kết nghĩa của Tề Thiên, như vậy nó cũng
là một biến dạng của tâm thức. Ngưu ma Vương lại là con
trâu toàn trắng, mà trâu trắng là biểu tượng của vọng
tâm qua 10 bức tranh chăn trâu của Thiền tông(6). Thiền gia
dùng roi giới luật và vàm chánh niệm cột con trâu tâm lại,
nói khác dùng roi vọt trị trâu không cho trâu lung lăng phá
ruộng lúa người cho đến khi con trâu thuần thục lần lần,
không cần chăn giữ nữa, rồi trâu biến dạng…, cho đến
khi người và trâu đều biến mất, thì bóng dáng chân tâm
mới hiện bày… Có điều là con trâu mình tưởng đã biến
dạng hẳn lại cứ lăm le mọc đầu trâu khác, thờ ơ thì
bị lầm lạc ngay. Đây là điểm mà chỉ có người thực
sự tu, thực sự chăn trâu, thì mới thấy rõ rằng việc chăn
trâu không phải là chuyện dễ dàng, mình tưởng như đã bỏ
được một tâm xấu rồi, mình vừa mới yên chí lớn thì
bằng cách nầy cách khác nó đã sống dậy hoành hành tự
lúc nào rồi. Thí dụ như một tu sĩ tưởng chừng như
đã bỏ được tâm tham tiền cho cá nhân, nào ngờ tâm tham
tiền đó bị chôn vùi một thời gian bỗng mọc trở lại
nhưng ngụy trang thành tham tiền cho chùa, cho đạo; kẻ khác
yên chí mình đã bỏ được tâm tham danh thế tục, biết đâu
lại chui đầu vào cái tham danh đạo đức cao tăng tự lúc
nào rồi…
- Kinh
nghiệm đó bộ hay đa! chị em chúng mình phải nhớ kỹ điều
nầy nhé! đừng thấy mấy ổng tu tâm dưỡng tánh mà yên
bụng là lầm lẫn lớn. Mình mà hơ hỏng thả lỏng mấy ổng
tự do một chút thì con trâu…, ý quên! con dê của mấy ổng
sẽ mọc râu trở lại, tung hoành lục tặc, phá làng phá xóm
như chơi hà!
Nữ
gia chủ vừa dứt lời thì đã có tiếng vỗ tay đôm đốp
và giọng nữ khác phụ họa :”Chị Thọ phán một câu là
trúng ngay phóc tim gan mấy ổng! Hoan hô! Hoan hô!”.
Hồ
Linh đằng hắng, lập nghiêm lên tiếng :
- Tôi
có một chuyện ma, nhưng đó là chuyện thật về một kinh
nghiệm của tâm Ngưu ma Vương mọc đầu trở lại, quí bà
có thích nghe chuyện ma nầy không?
Tuy
sợ ma nhưng lại thích nghe chuyện ma, nên mấy bà chẳng ai
phản đối, dù chưa chi họ đã ngồi sát bên nhau, mắt láo
liên khi nghe tiếng gió khua cành lá sột sạt bên ngoài. Còn
phe đàn ông, đang bị quí bà ồn ào ra vẻ lấn lướt, may
mà Hồ Linh lanh trí kịp thời cứu thể diện bằng cách đem
chuyện ma ra hù dọa khiến bọn họ êm ru, nên ai nấy đều
khoái chí hoan hô nhiệt liệt.
- Đây
là câu chuyện của sư Linh Huyền, do đích thân sư kể
lại như thế nầy : “Ta là con út của một gia đình Phật
tử thuần hậu tại xã Hương Trà, thành Phú Xuân vào thời
Võ Vương(7). Ta vốn hâm mộ đạo Phật và phát nguyện dấn
thân tu tập đạo giải thoát từ khi còn rất trẻ, nhưng vì
mẹ cha ngăn cản, nên mãi đến năm hai mươi tám, khi cha mẹ
già yếu lìa trần, ta mới được tự do lạy hòa thượng
Giác Viên, chùa Hàm Long(8) xin thâu nhận làm đệ tử xuất
gia. Nhờ lòng thành khẩn tu tập, giới luật nghiêm minh, kinh
luật làu thông, ta sớm được sư phụ thương yêu tin tưởng.
Năm 36 tuổi ta được sư phụ cử làm trụ trì chùa Bát Nhã,
một ngôi chùa bé nhỏ vừa được dân làng An Cựu xây dựng,
ngôi chùa thôn dã thanh vắng nầy rất phù hợp với tâm tính
ta. Vài tháng sau thì có sư đệ Linh Hải, một tu sĩ nổi tiếng
làtài hoa, lại khôi ngô tuấn tú, được sư phụ cử về
phụ tá. Thật ra, vì chùa Hàm Long rộn rịp Phật tử quyền
quí, sư phụ không thể ngăn cản các công nương viện cớ
học hỏi giáo lý để bám theo người đệ tử trẻ “bẹo
hình bẹo dạng”, nên quyết định đưa sư đệ tị nạn
tại chùa làng, và căn dặn ta quản giáo sư đệ nghiêm nhặt.
Ta dòm ngó sư đệ rất kỹ, kiểm soát từng hoạt động,
từng biến chuyển tư tưởng… vậy mà, một hôm ta bận việc
vắng chùa vài giờ, khi trở về đã bắt gặp sư đệ đang
thầm thì với cô gái trẻ. Ta nổi giận xua đuổi cô ta, rồi
trách mắng sư đệ thậm tệ. Tưởng phản ứng quyết liệt
như vậy sẽ mang kết quả tốt, nào ngờ, sau biến cố đó,
sư đệ chẳng những không sửa đổi mà lại nhất quyết
xin hoàn tục. Chuyện nầy khiến ta ray rứt khôn nguôi : ta
vừa hổ thẹn đã không làm tròn lời ủy thác của thầy,
vừa tức giận sư đệ đã tham dâm háo sắc mà lụy thân.
“Cạnh
chùa có một gia đình nông dân chất phác sinh sống. Họ là
những Phật tử thuần thành, lễ lộc nào, cả nhà bốn người
: vợ, chồng và hai con đều đến chùa thành tâm lễ Phật,
đặc biệt là hai người con, chị tên Nụ và em trai là Mầm,
thường tình nguyện gánh vác phần công quả nặng nhọc cho
chùa, nên sớm đã chiếm được lòng mến yêu của ta. Tình
thầy trò theo thời gian mà tăng trưởng, lúc đầu, ta yên
chí rằng tình cảm của ta bình thường và trong sạch, nên
chẳng mấy quan tâm. Mãi cho đến một hôm, trong khi tọa thiền
tự quán sát mình, ta chợt khám phá rằng dường như đã có
thứ tình nam nữ nhen nhúm, nên hình ảnh thơ ngây của cô
Nụ thường quấn quít tâm ta. Đây là chuyện lạ lùng khó
tưởng tượng đã xảy ra : Ta đã từng tiếp xúc bao thiếu
nữ yêu kiều mà tâm chẳng hề xao động, giờ đây sao lại
rung cảm bởi người thôn nữ nhan sắc tầm thường như thế
nầyï. Ta lo lắng vận dụng đủ mọi phương pháp thiền quán
để chống đỡ, nhưng càng chống đỡ thì tình cảm càng
sâu đậm, tâm càng vọng động, và dục tình ngày càng bộïc
phát. Lúc đó, tuy bề ngoài ta vẫn đường hoàng chững chạc,
nhưng bên trong thì khối yêu đương cứ âm ỉ mà rộn ràng
gia tăng mãi và nguy cơ không kềm hãm nỗi có thể xảy ra
bất cứ lúc nào. Ta cực kỳ lo lắng, và trong một quyết
định bồng bột nhất thời ta nhờ một đệ tử thân tín
giúp đỡ ta thiến bộ phận nam căn. Trong thời gian đầu,
tuy ta nhận thấy giọng nói, dáng đi ta có vài thay đổi, nhưng
vấn đề then chốt thì ta đạt được : tu tập thoải mái,
không còn bị dục tình đen tối ám ảnh nữa. Thế nhưng,
chừng một năm sau ta lại khám phá ra rằng bao nhiêu tình cảm
của ta lại chuyển sang qua chàng thanh niên vai u thịt bắp.
Tim ta lại rung động bởi Mầm, chẳng khác gì sự rung động
trước kia đối với Nụ. Thì ra, cái nam căn tuy quan trọng
cho sự truyền giống, nhưng dâm tâm mới là cái đầu Ngưu
ma Vương, nó có thể mọc ra bất cứ lúc nào và dưới bất
cứ hình thức nào.
“Ta
trốn lánh không dám tiếp xúc ai nữa. Tâm bệnh khiến sức
khỏe ta suy yếu dần, ta chết mỏi mòn trong niềm thất vọng
não nề chỉ trong một thời gian ngắn sau đó. Điểm khiến
ta bứt rứt khôn nguôi là lòng dâm dục của ta dường như
đã đoạn hẳn rồi, cớ sao lại xuất hiện trở lại thình
lình khiến ta ơ hờ không chống trả nỗi. Sau nầy ta mới
nghiệm ra rằng, mình đã trải qua bao kiếp trầm luân thì
chuyện tồi tệ nào mà chẳng từng làm, những hạt giống
xấu xa nào chẳng còn tiềm phục trong tàng thức. Ngày xưa,
ta chằm chặp kẻ vạch lỗi sư đệ, rồi cứ ôm ấp tội
lỗi người để sung sướng tự hào về mình, chính trong thời
điểm nầy thì các hạt giống dâm dục xấu xa trong tàng thức
đã tương ứng mà hiện hành. Thì ra, mình vạch xấu tội
người thì cái đó lại đến với mình, mình gieo gió thì
gặt bão, chỉ có vậy thôi.”
Kết
thúc câu chuyện với tiếng thở dài, Hồ Linh lơ đãng nhìn
vào cõi xa xăm mơ hồ nào đó, và dường như quên lảng đám
bạn bè đang trố mắt nhìn anh ta.
- Anh
dọa là kể chuyện ma khiến bọn tôi hồi hộp, mà nào có
thấy ma cỏ gì đâu? Chẳng có gì đáng sợ cả?, chị Tưởng
lên tiếng phá tan bầu không khí yên lặng.
- Anh
còn giáo đầu rằng đây là chuyện thật? Chuyện hoang
đường thì có, chớ thật ở chỗ nào? Oâng sư nào đó nếu
thiến thì chết queo rồi, còn tò vè tơ tưởng ai được nữa?
Huống chi anh kể rằng ổng buồn khổ chết thầm lặng từ
mấy trăm năm về trước thì làm sao kể cho anh nghe được?,
Hạnh cũng gay gắt vặn hỏi.
Hồ
linh cười hô hố :
- Sợ
hay không thì đến hồi kết cuộc mới biết được. Việc
thiến nam căn cho các hoạn quan tại Phú Xuân thời đó do các
y sĩ đặc biệt đảm trách nên rất an toàn, đâu có gì là
nguy hiểm. Còn tại sao ta dám đoan quyết đây là chuyện thật,
bởi vì…, bởi vì… sư Huyền Linh chính là tiền thân của
ta kiếp trước… Hởi ôi! Ta chết với nỗi nghi vấn triền
miên nên không siêu thoát khỏi cõi ta bà được, may nhờ chút
phước đức tu tập nên đã chuyển sanh thành một con chồn
thần thông, năm nầy sang năm khác tìm cách gần gũi các ngôi
chùa thanh tịnh để đón nghe pháp và hộ pháp. Khi biết kiếp
chồn sắp mãn, ta đi một vòng thăm các chùa Việt Nam khắp
năm châu, tình cờ lưu lại chùa Tịnh Quang gia hộï, rồi
nay vì người sư đệ năm xưa mà đến đây kể chuyện cho
quí vị nghe chơi, âu cũng là duyên nghiệp…
Hồ
Linh bỗng đứng phắt dậy, đảo đôi mắt quái dị xoi bói
nhìn từng người một, đoạn trút tiếng cười lạnh lẽo
: “Hà!hà! chuyện tin được hay khó tin là tùy ở quí vị!
Thằng Hồ Linh nầy đâu dám nài ép!”. Tiếng gió bỗng rú
lên từng chập, khiến cánh cửa trước rung động, rồi mở
bét ra. Thoát một cái, Hồ linh đã nhanh nhẩu lách nhẹ ra
ngoài, trước khi cánh cửa tự động đóng ập trở lại kín
mít.
Thọ
bước nhanh ra mở cửa nhìn theo, nhưng chỉ thấy tối đen
dày dặc, anh lắc đầu càu nhàu :
- Anh
Sáu ơi! Cha bạn của anh sao có vẻ quái đản quá!
Chú
Sáu ngạc nhiên đáp :
- Uả!
Tôi tưởng anh ta là bạn của anh chớ! Phần tôi, thì tôi
mới gặp anh ta lần đầu mà thôi! Anh ta cho biết đang trên
đường đến nhà anh nên tôi tháp tùng đi theo cho khỏi lạc.
Ừ nhỉ! Tại sao khi tới nơi, tôi tìm đúng tên đường rồi,
mà quanh quẩn dò xét mãi chẳng thấy số nhà nầy kìa? Chẳng
lẽ, anh ta dỡ trò ma quái che mắt tôi?
Ngẫm
nghĩ một thoáng, chú Sáu lại bàng hoàng lên tiếng :
- Bước
vào nhà, rõ ràng anh ta cũng lột giày ra để trên tấm thảm
chà chân nầy, khi phóng đi anh ta không hề dừng lại mang giày,
vậy bằng cách nào đôi giày cũng biến mất rồi? Chả lẽ,
anh ta chẳng phải là con người bằng xương bằng thịt như
chúng mình?
- Hắn
xưng tên Hồ Linh, hồ là chồn, chắc hắn là chồn thành tinh
quá!, Hạnh góp ý.
Ba
mụ đàn bà nảy giờ ngồi run lập cậpï, nép sát bên đấng
lang quân của mình, bây giờ mới tranh nhau lên tiếng :
- Vừa
thấy hắn tôi đã nghi rồi mà! Mặt hắn ẩn hiện đốm vàng
đốm xanh, chẳng biết có ai thấy không?
- Ưà!
Mặt hắn xanh lè, mắt lại có vết máu nữa chớ! Ghê quá!
- Tôi
thấy rõ ràng là hắn bước lướt lướt, chân đâu có chấm
mặt đất!
Càng
tranh nhau nói, quí bà càng run, khiến các ông cũng bị ảnh
hưởng lây, mặt mày ngơ ngáo, mắt lắm lét liếc các cánh
cửa.
- Lão
Hồ Linh là người, là ma hay là chồn tinh tôi chẳng biết,
chuyện anh ta kể thực hư tôi cũng chưa dám có ý kiến. Nhưng
tôi tin chắc rằng ảnh vì lòng tốt mà đến đây chung vui
và chia xẻ với chúng ta một mẩu chuyện đạo cho mình suy
gẫm. Dẫu không phải là người, thì ảnh có gì đáng sợ
đâu?
Cánh
cửa bỗng bật ra, Hồ Linh ló đầu nhìn vào, nhe răng cười
cợt :
- Cám
ơn anh Sáu! Anh quả là bạn tri âm, xứng đáng cho ta thổ lộ
cõi lòng!
Thế
rồi, bóng Hồ Linh tợ như khói mây tan biến lần trong đêm
đen.
****
Bảy
giờ sáng hôm sau, chú Sáu đang sửa soạn hành trang trở ra
phi trường về nhà, bỗng có điện thoại reo vang, rồi tiếng
Thọ hốt hoảng ở đầu giây :
- Lạ
quá! Anh Sáu ơi! Trước ngõ nhà tôi có con chồn nằm chết!
Con chồn to lắm, lông trắng như tuyết anh à!
Con
chồn nầy có liên quan gì đến Hồ Linh đêm trước hay không?
Chú Sáu vẫn mơ hồ không biết, nhưng chú quyết định hoãn
chuyến bay, để ở lại Dayton đôi ngày giúp Thọ tống táng
xác chồn. Hai người đưa xác chồn đến nhà quàng hỏa thiêu,
chú dự định khi có dịp, sẽ mang mớ tro tàn nầy về Huế,
rải trên đồi làng An Cựu của ngày xưa.
Tháng
6.2003
Ghi
chú :
1.
Truyện Tây Du, hồi thứ 72 : Tam Tạng bị 7 con tinh nhền nhện
động Bàn Lư bắt, Tề Thiên tìm thầy bắt gặp 7 tinh cái
trong thân thiếu nữ xinh đẹp đang trần truồng tắm tại
suối Trạc Cấu. Không muốn lợi dụng lúc đàn bà con gái
trần truồng để tấn công, Tề Thiên trở về thông báo cho
Bát Giái chuyện nầy. Bát Giái mừng thầm, tìm đến giòng
suối hóa thành con cá leo lội nhủi vào các nàng chọc ghẹo,
kết cuộc bị đám tinh nhền nhện phun tơ trói chặt cứng,
rồi đánh đập mặt mày xưng vù.
2.
Truyện Tây Du, hồi thứ 33-35 : Hai đồng tử phụ trách lò
vàng và lò bạc nấu thuốc trường sanh của Thái Thượng
lão quân ở cõi trời Đâu Xuất, lén lấy cắp 5 bửu bối
của chủ, rồi trốn xuốn trần làm chúa yêu xưng danh là
Kim Giác đại vương và Ngân Giác đại vương. Tam Tạng bị
hai chúa yêu bắt giữ, Tề Thiên chiến đấu với hai chúa
yêu gian nan không thắng được, sau phải dùng mưu kế cướp
đoạt 5 bửu bối của họ, rồi thâu nhốt cả hai vào hồ
lô báu cho tan xác. Khi đó, Thái Thượng Lão Quân mới xuất
hiện xin thâu hồi lại bửu bối và tha hai đệ tử. (Nếu
hơ hỏng thì tiền bạc sẽ biến thành yêu ma phá hoại đạo
đức của hành giả, dù vậy tiền bạc vẵn cần thiết cho
đời sống và nhu cầu hoằng pháp (đồng tử lò thuốc trường
sanh), nên không thể tiêu diệt dẹp bỏ tiền bạc được.)
3.
Truyện Tây Du, hồi thứ 64 : Trên lộ trình thỉnh kinh, khi
đi ngang qua vùng phong cảnh hữu tình thuộc núi Kinh Cát, Tam
Tạng bỗng bị một lão giàbắt đưa đi đến ngôi nhà đá,
rồi thỉnh Tam Tạng cùng ngâm thơ vịnh nguyệt với bọn họ.
Bốn 4 lão già là Thập bát Công, Cô trực Công, Lăng không
Tử, Phất vân Tẩu đang cùng xướng họa ngâm thơ với Tam
Tạng, bỗng có một tiên nữ là Hạnh tiên cô đến tham dự,
làm thơ lả lơi trêu Tam Tạng. Sau đó, Tam Tạng bị cả bọn
ép duyên cho Hạnh tiên cô, nên sợ hãi bỏ chạy trốn, may
là vừa lúc đó thì các đệ tử đã tìm đến cứu nguy. Tề
Thiên truy xét gốc tích thì té ra Thập bát công là cây tòng,
Cô trực Công là cây bá, Lăng không Tử là cây cối, Phất
vân Tẩu là cây tre, Hạnh tiên là cây hạnh. Những cây nầy
đã thành tinh, hiện làm tiên ông, tiên cô để hại người.
(Phong cảnh hữu tình, núi non, cây kiểng giúp ta thư giản
tinh thần, nhưng kẻ tu hành mà mê đắm những thú tao nhã
: ngâm thơ, vịnh nguyệt, chơi cây kiểng… mà xao lãng tu tập,
thì những thứ nầy đã biến thành ma quái hại người tu)
4.
Truyện Tây Du, hồi thứ 37 : Con thanh sư của Bồ Tát Văn Thù
xuống trần, xô vua nước Ô Kê xuống giếng rồi tự biến
hóa mặt mày y hệt vua cũ, để cai trị nước nầy được
3 năm mà không ai phân biệt được. Tam Tạng đuợc vua cũ
báo mộng xin cứu giúp. Nhờ Long Vương để châu định nhãn
trên xác nên khi Bát Giái lặn xuống giếng vớt xác thì thây
nhà vua vẫn còn tươi, do đó, Tề Thiên mới có thể xin được
viên thuốc hoàn hồn của Thái Thượng lão quân để cứu
sống lại. Tề Thiên đưa vua thiệt về đến triều đình,
và sau khi chiến đấu sắp trừ khử được vua giả hiệu
thì Bồ Tát Văn Thù xuất hiện thu hồi Thanh sư đưa trở
về Ngũ Đài sơn. Tề Thiên phản đối vì cho rằng thanh sư
đã xâm phạm đến hoàng hậu, thì Bồ Tát cho biết thanh sư
làsư tử thiến nên không dâm tà. (Thanh sư tượng trưng
cho sự biện tài vô ngại của trí bát nhã. Có biện tài vô
ngại thì được đông đảo con em đệ tử quyến thuộc tôn
sùng, nên dễ trở thành một lãnh tụ tôn giáo. Từ lãnh tụ
tôn giáo bị ma ám thì sẽ dệt mộng lãnh tụ thế tục, xen
vào việc cai trị đất nước. Nếu hành giả còn giữ giới
(sư tử thiến) thì chưa đến nỗi tác hại, nhưng có nhiều
vị, đến đây lại trở chứng tấn phong hoàng hậu, thứ
phi…, dượng Vô thượng sư thì yêu ma đã lộng hành.)
5.
Truyện Tây Du, hồi thứ 59-60 : Tam Tạng đi thỉnh kinh gặp
ngọn hỏa diệm sơn to lớn chận hướng Tây không vượt qua
được. Hỏa diệm sơn sanh ra do Tề Thiên loạn đả thiên
đình làm rớt viên gạch lò bát quái mà thành núi lửa cõi
trần, nhưng muốn làm tắt lửa thì phải nhờ đến cây quạt
Ba Tiêu, mà chủ nhân là Thiết Phiến công chúa, vợ của Ngưu
ma Vương. Tề Thiên tìm Ngưu ma Vương hỏi mượn bất thành,
phải dùng võ lực nhưng Ngưu ma Vương thần thông biến hóa
chẳng kém Tề Thiên, nên khó phân thắng bại. May nhờ Phật
tổ cử 4 vị Kim Cang bồ tát chận bốn phương, thêm thiên
la địa võng bủa giăng, không đường tránh né, cuối cùng
Ngưu ma Vương mới bị khuất phục. Na Tra dùng gươm trảm
yêu chém rụng đầu trâu hơn mười lần, nhưng trâu lại mọc
đầu khác. Cuối cùng Ngưu ma Vương chịu qui y đầu Phật
và bảo vợ giao nạp quạt Ba Tiêu để xin tha mạng, nên được
Na Tra xỏ vàm dẫn đi. (Ngưu ma Vương là trâu trắng, tức
trâu thiền tông. Ngưu ma Vương là bạn của Tề Thiên, nghĩa
là một dạng của vọng tâm. Hỏa diệm sơn do Tề Thiên gây
ra có nghĩa là lửa đó bắt nguồn từ vọng tâm gây ra trước
khi “ngộ không”, có thể nói là lửa nghiệp. Trên con đường
tu tập đôi khi ta bị bế tắt không tiến bộ được chỉ
vì lửa nghiệp tham sân cũ bùng dậy, - có vị va chạm với
nữ sắc, gặp bao kẻ sắc nước hương trời thì không hề
hấn gì, nhưng khi gặp đúng oan gia, dù xấu xí thô bĩ lại
lâm nạn - lửa nghiệp nầy không thể dùng nước thường
dập tắt mà phải giải quyết bằng cách trừng trị vọng
tâm tức Ngưu ma Vương. Ngưu ma Vương thần thông biến hóa,
chặt đầu nầy thì sanh đầu khác, nên cần phải xử dụng
trăm phương ngàn cách -ba đầu sáu tay như Na Tra- mới xỏ
sợi giây vàm chánh niệm dạy dỗ trâu ngoan ngoản được)
6.
Mười bức tranh chăn trâu thiền tông : Xin
xem Phụ bản : Lược giải về tranh chăn trâu.
7.
Võ Vương Nguyễn phúc Khoát (1738-1765)
8.
Chùa Hàm Long tọa lạc trên đồi Hàm Long, ấp Trường Giang,
huyện Hương Trà, phủ Phú Xuân, nay là chùa Báo Quốc.