Cư
sĩ là một trong bốn chúng của Đức Phật, từ gốc S., P.
nam cư sĩ là upàsaka, âm Hán là Ưu bà tắc, nữ cư sĩ upàsika,
âm Hán là Ưu bà di. Đối với người theo đạo Phật thì
Cư sĩ là người tu học theo Phật, đã quy y Tam bảo, giữ
tròn được Ngũ giới hoặc Bồ tát giới, tuy tu tại gia nhưng
đã có quá trình góp phần hộ trì cho giới tăng già truyền
bá giáo pháp, đem ánh sáng giải thoát đến mọi người.
Lúc
sinh thời Đức Phật, đã có nhiều vị vua có công với
Phật giáo. Các nhà nghiên cứu thường nêu tên các vua như
Bimnbisara, Ajatasattu, Pasenadi, các đại cư sĩ như Anathapindica,
Visakhà Magaramata, Jivaka, Mahanàma, Ambapàli…Trong Kinh điển
Đại thừa dẫn chứng Ngài Duy Ma Cật là vị cư sĩ có tuệ
giác bậc nhất trong thời kỳ ấy ở Ấn Độ. Sau ngày Đức
Phật nhập Niết Bàn, nhiều vị vua, chúa Phương Đông có
công đức rất lớn đối với Phật giáo. Vua Asoka của Ấn
Độ là người đã có nhiều thành tựu trong hoằng dương
chánh pháp. Ở Việt Nam ta, nếu xem vua Trần Nhân Tôn là Asoka
Việt Nam thì Tuệ Trung Thượng Sĩ là Duy Ma Cật của
Ấn Độ, Bàng Uẩn của Trung Hoa. Với hàng ngàn năm phát triển,
trong lịch sử Phật giáo Việt Nam có biết bao vị Cư sĩ nổi
tiếng. Đặc biệt trong thời kỳ Chấn hưng Phật giáo những
năm ba mươi của thế kỷ XX, lịch sử còn ghi lại hàng trăm
tên tuổi cư sĩ uyên bác đông tây đã góp phần không nhỏ
trong việc truyền bá giáo lý Phật giáo, chấn hưng Phật giáo,
tổ chức Giáo hội, dịch Kinh, làm báo Phật giáo phù hợp
với thời đại Việt Nam bắt đầu Âu hoá. Riêng tại miền
Trung mà chúng tôi may mắn được biết qua tư liệu, qua người
thực việc thực và qua truyền khẩu của các thầy của chúng
tôi, số lượng các cư sĩ có công cũng không nhỏ.
1.
Vai trò của cư sĩ trong lịch sử phát triển Phật giáo
ở miền Trung
Năm
1932, sau khi hồi loan, vua Bảo Đại ban Chiếu cho thành lập
Hội An Nam Phật Học. Người có công thúc đẩy vua Bảo Đại
cho ra đời Hội ANPH chính là Hoàng thái hậu Đoan Huy (tức
bà Từ Cung). Ngoài chư tôn hoà thượng, thượng toạ, các
cư sĩ có công đầu trong Phong trào chấn hưng Phật giáo miền
Trung lúc ấy có thể kể các cụ Hoàng giáp Đinh Văn Chấp
(thân sinh của Hoà thượng Minh Châu và cư sĩ Minh Chi su nầy),
bác sĩ Lê Đình Thám, các nhân sĩ Hoàng tộc Ưng Bàng, Bửu
Bác, Viễn Đệ, Tôn Thất Tùng, Tráng Đinh, các nhân sĩ xuất
thân trong các đại gia chốn Đế kinh: bà Cao Xuân Xang (tức
bà Hồ Thị Hạnh, sau nầy là Sư bà Diệu Không), ông Nguyễn
Khoa Tân .v.v. Các cư sĩ tân học nầy đã ghi công đầu vào
các việc;
- Xây
dựng và phát triển Giáo hội;
- Cải
tiến và chấn hưng Phật giáo;
- Dịch
kinh, trùng tu xây dựng các cơ sở tu học;
- Tổ
chức Gia đình Phật tử (1940);
- Xuất
bản tạp chí Viên Âm v.v…
Phong
trào Chấn hưng Phật giáo đã góp phần đào tạo nhiều tăng
tài, nhiều bậc cư sĩ đức trọng tài cao có ảnh hưởng
lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Những
cư sĩ miền Trung được trực tiếp hay gián tiếp trưởng
thành từ Phong trào Chấn hưng Phật giáo trước năm 1945 đã
đóng góp vào lịch sử Phật giáo Việt Nam nửa sau thế kỷ
XX trong nhiều lĩnh vực. Những thành tựu nổi bậc mà bất
cứ Phật tử nào cũng thấy được là:
- Về
văn hoá văn nghệ: Nhà văn Võ Đình Cường với Tiểu thuyết
Ánh Đạo Vàng, nhạc sĩ Lê Cao Phan với nhạc phẩm Phật Giáo
Việt Nam, nhạc sĩ Văn Giảng với nhạc phẩm Từ Đàm Quê
Hương Tôi;
- Về
giáo dục:Tổ chức hệ thống trường học từ từ Mẫu giáo
đến Đại học (Vạn Hạnh), đặc biệt là hệ thống trường
Bồ Đề trên khắp các tỉnh thành miền Nam Việt Nam, những
cư sĩ tiêu biểu trong lãnh vực giáo dục là các ông Lê Mộng
Tùng, Lê Mộng Đào.v.v.
- Về
các cuộc vận động yêu nước: Lớp cư sĩ nầy và các lớp
cư sĩ đàn em, học trò của họ đã góp phần đáng kể trong
việc hộ trì Giáo hội tăng già tổ chức và lãnh đạo cuộc
vận động chống chế độ độc tài, kỳ thị Phật giáo
của chính quyền Ngô Đình Diệm năm 1963, cuộc vận động
cho hoà bình Việt Nam từ năm 1964 cho đến năm 1975. Những
sư sĩ tiêu biểu trong các cuộc vận động nầy được lịch
sử quan tâm là Bác sĩ Lê Khắc Quyến, ông Mai Thọ Truyền,
GSTS Vũ Văn Mẫu, tướng Dương Văn Minh, tướng Đỗ Mậu,
đạo hữu Nguyễn Khắc Từ, đạo hữu Văn Đình Hy, đạo
hữu Hoàng Thị Kim Cúc, đạo hữu Đặng Tống Tịnh Nhơn,
đạo hữu Phan Văn Gái, đạo hữu Lê Văn Dũng.v.v.
Có
thể nói nếu không có sự hộ trì của các lớp cư sĩ thì
Phật giáo Việt Nam khó đạt được sự phát triển đến
như ngày nay.
2.
Những vấn đề của xã hội và Phật giáo hiện nay cần đến
vai trò của cư sĩ
Đã
từ lâu Phật giáo Việt Nam luôn chủ trương theo đuổi lý
tưởng "đạo pháp và dân tộc". Hai nhiệm vụ ấy không tách
rời nhau mà trái lại quyện chặt vào nhau. Người cư sĩ ngoài
nhiệm vụ hộ trì chư tăng ni truyền bá giáo pháp còn phải
vận dụng giáo pháp bi trí dũng vào việc xây dựng đời sống
tâm linh của dân tộc. Dân tộc Việt Nam hôm nay đang bước
vào thời kỳ đổi mới, hoà nhập với ba làn sóng: kỹ nghệ
hoá, tin học hoá và toàn cầu hoá. Các vị tôn đức chư tăng
ni lo hoằng dương đạo pháp, lo phần tu tập cho Phật tử,
người cư sĩ là những thành viên của Giáo hội lo việc liên
quan đến xã hội không thể đứng ngoài ba làn sóng ấy. Nếu
Phật giáo Việt Nam đứng ngoài ba làn sóng ấy tức là tự
mình giạt ra bên lề lịch sử và sẽ bị bánh xe lịch sử
đào thải. Người cư sĩ với ba làn sóng trên xin dành cho
một tham luận khác. Trong tham luận nầy, với cách thế của
một Phật tử bình thường tôi thấy những lãnh vực sau không
thể thiếu vai trò cư sĩ:
2.1.
Trong tổ chức Phật giáo: Trong tổ chức Giáo hội có một
số thành viên phụ tá cho quý tôn đức lãnh đạo chuyên lo
về các hoạt động hoá đạo, văn hoá, giáo dục, xã hội,
kinh tế, xây dựng….Trong tổ chức Giáo hội Phật giáo hiện
nay rất thiếu vắng cư sĩ;
2.2.
Trong việc truyền bá đạo Phật, trong một số địa phương,
một số hoàn cảnh, một số tầng lớp, các chư tăng ni không
thể đến được và cũng không đủ các vị xuất gia để
đến mà cần có đông đảo cư sĩ. Hiện nay chưa có đông
đảo đội ngũ cư sĩ hộ trì nên nhiều vùng (từ Quảng Bình
ra Bắc, miền núi) đang thiếu ánh sáng của đạo giải thoát.
Thế thì làm sao có thể thực hiện được nhiệm vụ góp
phần xây dựng một nền đạo đức bền vững cho các tầng
lớp xã hội, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên ?
2.3.
Sau thời kỳ chấn hưng của những năm ba mươi cho đến nửa
thập niên những năm bảy mươi, Phật giáo có một hệ thống
giáo dục Phật giáo từ Mẫu giáo đến Đại học. Hệ thống
giáo dục Phật giáo đã đào tạo nên biết bao người ưu
tú và hiện nay vẫn đang còn tác dụng ở trong và ngoài nước.
Hệ thống giáo dục đó đã tạm ngưng sau 30.4.1975 và ngày
nay đang được phục hồi từng bước. Và tôi tin, trong một
ngày không xa nhà nước Việt Nam sẽ cho Phật giáo phục hồi
toàn bộ hệ thống giáo dục của Phật giáo. Chuyện cho đó
khi có chủ trương của lãnh đạo Việt Nam chỉ cần một
quyết định của một cuộc họp của các ban ngành có trách
nhiệm trong vài ngày, nhưng nếu không có đội ngũ cư sĩ củ
Phật giáo lo việc giáo dục thì cơ hội đó sẽ bỏ lỡ.
Mà muốn có đội ngũ cư sĩ lo việc giáo dục không phải
được chuẩn bị trong năm ba năm;
2.4.
Không chỉ có giáo dục Phật giáo, Phật giáo còn phải có
các hoạt động nghiên cứu lịch sử, triết lý Đạo Phật,
vận dụng tinh thần bi trí dũng của Phật giáo vào cuộc đời,
vào hoạt động văn hoá văn nghệ, báo chí Phật giáo. Những
hoạt động nầy chư vị tôn đức tăng ni không thể quán
xuyến hết, mà quý tôn đức có muốn quán xuyến cũng không
thể thay thế cư sĩ để quán xuyến được. Vậy thì trong
hàng ngũ Phật tử trên toàn quốc hiện nay có được mấy
ai làm được ?
2.5.
Phật giáo thường cho rằng tám mươi chín mươi phần trăm
dân chúng Việt Nam đều thờ tổ, thờ Phật, là Phật tử.
Vậy thì Phật giáo chịu trách nhiệm đến đâu về tình hình
tham nhũng, ăn cắp ăn trộm, bạo lực, mua bán dâm, cờ bạc,
bia rượu, lừa đảo, phá hoại môi trường, vọng ngoại,
tiếp thu văn hoá vật chất nước ngoài không chọn lọc, trái
với văn hoá đạo đức truyền thống dân tộc ….của xã
hội hiện nay ? Phật giáo phải làm gì, làm như thế nào để
hạn chế tình hình xã hội đáng lo ngại ấy ? Cho nên
dù muốn dù không Phật giáo cũng phải có người tham gia vào
các tổ chức dân cử, tổ chức chính quyền, các đoàn thể
xã hội với ước mong góp phần nâng cao phẩm chất đạo
đức ở những nơi ấy. Những người đó là ai, nếu không
phải là cư sĩ ?
2.6.
Bước vào thế kỷ XXI, thế giới Âu Mỹ đang phải chịu
đựng với tình hình đối đầu giữa các tôn giáo độc thần
(Thiên chúa giáo và Hồi giáo). Cuộc đối đầu nầy đang
ngày càng nghiệt ngã và đe doạ có thể sử dụng đến bom
nguyên tử. Phật giáo đang được Âu Mỹ và một số nước
có nền công nghiệp tiên tiến Á châu (Hàn Quốc, Nhật Bản,
Ấn Độ, Singapore…và ngay cả Trung Quốc) xem như một lối
thoát. Trong mấy năm qua tôi có dịp đi du lịch xa, tôi đã
tận mắt thấy bóng dáng Phật về trên rất nhiều nơi ở
Âu Mỹ. Cuối tháng 4 vừa rồi, ngay ở trung tâm ăn chơi, cờ
bạc Las Vegas (Hoa Kỳ) cũng có một đêm Phật. Phật giáo VN
đã được Thiền sư Nhất Hạnh đưa lên ngang tầm quốc tế.
Làng Mai của Thiền sư Nhất Hạnh ở Pháp được xem như một
trung tâm Phật giáo lớn nhất thế giới. Cuốn sách Đường
Xưa Mây Trắng của Thiền sư Nhất Hạnh đã được ký hợp
đồng lên phim với số vốn 120 triệu USD, là những chuyện
chưa từng có trên thế giới. Vậy thì, Phật giáo Việt Nam
ở ngay chính quốc của Thiền sư Nhất Hạnh phải làm gì
? Ai làm ? Nếu đó không phải là giới cư sĩ ?
2.8.
Cũng qua tổ chức Phật giáo, cư sĩ Phật giáo VN cùng với
các tôn đức đạo cao đức trọng gặp gỡ, giao lưu với
Phật tử trong và ngoài nước, xoá bỏ hận thù do lịch sử
để lại, để thương yêu nhau, tin cậy nhau góp phần hoằng
dương chánh pháp, đẩy lùi đói nghèo, lạc hậu, xây dựng
Việt Nam xứng đáng với một nước có hơn 80 triệu dân với
lịch sử phát triển Phật giáo trên hai ngàn năm, có tiềm
lực kinh tế hàng đầu ở vùng Đông Nam Á châu.
Với
thời gian hội thảo cho phép chúng tôi không thể nêu hết
những công việc của Phật giáo Việt Nam hiện nay cần đến
sự có mặt của giới cư sĩ. Nhưng với 8 Phật sự trên chúng
tôi cũng đã thấy "khớp" rồi. Bởi vì ….
3.
Nhìn vào thực trạng cư sĩ hiện nay:
Lớp
cư sĩ trước tuổi đã quá lớn, hầu như đã qua đời. Số
còn lại có thể đếm trên đầu ngón tay và còn hiện diện
với tư cách cố vấn, biểu tượng chứ không còn đảm nhận
được bất cứ một Phật sự nào. Đó là các đạo hữu
Võ Đình Cường, đạo hữu Tống Hoà Cầm, đạo hữu Phan
Xuân Sanh .v.v. Lớp đàn em trẻ hơn cũng còn rất ít, một
số đã ra nước ngoài, số còn lại phần lớn đã ngưng hoạt
động từ sau năm 1975. Những người đeo đẳng hoạt động
như Lý Việt Dũng (TP HCM), Trụ Vũ (nhà thơ), Trần Tuấn Mẫn
(TP HCM), Châu Văn Thuận (TP HCM), Phạm Văn Xuân (TP HCM), Minh
Mẫn ( TP HCM), Châu Trọng Ngô (Huế)… thật quá hiếm.
Sự
thiếu vắng cư sĩ hiện nay có nhiều nguyên nhân. Cho đến
năm 1963 số lượng cư sĩ làm Phật sự rất hùng hậu, đông
đảo về số lượng, cao rộng về kiến thức chung và đạo
Phật. Nhưng từ sau ngày cuộc vận động chống chế độ
Ngô Đình Diệm kết thúc, giới tăng già hầu như không quan
tâm đến giới cư sĩ, không những không đào tạo thêm mà
còn hạn chế việc sử dụng cư sĩ vào các Phật sự (Ý kiến
của GSTrần Quang Thuận). Sau 30.4.1975, chính quyền mới chưa
thấy hết vai trò của Phật giáo đối với xã hội nên hạn
chế hoạt động của giới cư sĩ. Giáo hội Phật giáo của
nước Việt Nam thống nhất ra đời (1982) ngại chủ trương
ấy nên cũng không khuyến khích đào tạo và sử dụng
cư sĩ. Những nguyên nhân chủ quan và khách quan đó giải
thích cho sự thiếu vắng cư sĩ ngày nay.
Từ
sau khi nhà nước có chủ trương cởi mở hơn với các hoạt
động xã hội của Phật giáo, một số Phật tử trí
thức trẻ xuất hiện, họ tự học tập Phật pháp, làm Phật
sự, phấn đấu trở thành cư sĩ Phật giáo của thời đại
mới. Tôi chưa có điều kiện điền dã để thống kê một
cách đầy đủ, riêng những người hoạt động tôi thường
gặp có thể nêu tên các đạo hữu Hà Xuân Liêm (nhà biên
khảo), Lê Quang Thái (nhà biên khảo), Lê Cung (Giáo sư sử
học), Nguyễn Văn Lợi (nhiếp ảnh), Dương Đình Châu (Bác
sĩ)…Cho đến nay dưới mắt Giáo hội và Phật tử, những
Phật tử trí thức nầy mới chỉ là những Phật tử tích
cực, còn lâu nữa mới đạt được các tiêu chí của một
cư sĩ như các bậc tiền bối.
Tuy
nhiên trong mấy năm vừa qua, tôi có dịp qua Âu Mỹ tìm gặp
các bạn cũ và bạn mới, tôi hết sức vui mừng được biết
ở những nơi xa xôi ấy đã hình thành một lớp cư sĩ mới
hết sức uyên bác, ngày đêm âm thầm làm việc để phụng
sự đạo pháp và dân tộc. Với khả năng giao tiếp hạn hẹp,
tôi cũng đã biết ở Đức có Nguyễn Tường Bách, Thái Kim
Lan, Võ Xuân Khôi (Tâm Tuệ Hỷ), ở Pháp có Cao Huy Thuần,
Lê Huy Cận, ở Hà Lan có ông bà Trần Tiễn Tiến/Tôn nữ
Minh Lý, ở Mỹ có Châu Văn Thọ (Los Angeles), Nguyễn Bá Chung
(Boston), Trần Tuệ (Los Angeles), Tôn Thất Tùng (Tôn Thất An
Cựu, Orange County), Trần Tiễn Huyến (San Jose), ông bà Trần
Tiễn Khanh/Nguyễn Khoa Diệu Lê (Las Vegas), ở Úc có Hoàng Văn
Giàu, Phạm Văn Minh, Nguyễn Văn Tuấn.v.v. Đặc biệt, như
quí vị đã biết, các cư sĩ đó không chỉ hoạt động tự
phát đơn lẻ mà trong thực tế đã hình thành nhiều tổ chức
hoạt động tập thể rất có hiệu quả. Tôi xin dẫn chứng
nhóm Giao Điểm ở California. Nhiều cư sĩ trong Nhóm Giao Điểm
đang hiện diện trong hội thảo nầy. Có thể ngay trong giờ
phút nầy, quý vị kích hoạt vào địa chỉ giaodiem.com trên
mạng toàn cầu quí vị sẽ gặp ngay những cư sĩ Giao điểm
Bắc Cali, hoặc có thể hỏi ngay ở đây tập san Giao Điểm
của Giao Điểm Nam Cali. Với những tên tuổi Đỗ Hữu Tài,
Hồng Quang, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Văn Hoá, Phan Mạnh Lương,
Trần Chung Ngọc, Trần Văn Kha.v.v. Các cư sĩ trong nhóm Giao
Điểm đã không mệt mỏi bảo vệ Phật giáo Việt Nam trước
những luận điệu thù địch từ bên ngoài bôi bác xuyên tạc
Phật giáo, góp phần làm rõ vai trò của Phật giáo (hiển
chánh) trong đời sống hiện đại và tích cực làm từ thiện
cứu giúp người nghèo, giảm nhẹ nỗi khổ do thiên tai gây
ra cho dân nghèo trong nước. Và, như nhiều vị tham gia hội
thảo nầy đã biết, trong mấy chục năm qua Phật giáo Làng
Mai của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã qui tụ và đào tạo
được một lực lượng cư sĩ khá lớn. Nếu nhóm Giao Điểm
thu hút được nhiều tín đồ đạo độc thần đứng về
phía Phật giáo Việt Nam (như Charlie Nguyễn, Nguyễn Mạnh Quang,
Giu-xe Phạm Hữu Tạo .v.v.) thì Phật giáo Làng Mai cũng đã
thu hút được hàng trăm cư sĩ ngoại quốc hoạt động tu
tập theo truyền thống Phật giáo Việt Nam (đã được Thiền
sư Nhất Hạnh hiện đại hoá). Lực lượng cư sĩ Phật giáo
hải ngoại có những thế mạnh: Giỏi ngoại ngữ; Có phương
tiện làm việc tiên tiến, có tài chính dồi dào, môi trường
nghiên cứu, học tập, tu dưỡng thuận lợi. Nhờ thế họ
đã có những đóng góp cho Phật giáo và dân tộc nhiều sự
việc có ý nghĩa lớn như giới thiệu Phật giáo Việt Nam
và văn hoá Việt Nam ra nước ngoài, đặc biệt là với xã
hội Âu Mỹ; dịch thuật, biên soạn được nhiều công trình
Phật học với nhiều sinh ngữ khác nhau; góp phần gìn
giữ sự ấm nóng của lý tưởng đạo pháp và dân tộc của
Phật tử hải ngoại; đương đầu với những thế lực thù
địch xuyên tạc Phật giáo và đất nước. Và, điều mà
Phật tử nào cũng thấy là sự đóng góp tài chính của Phật
tử hải ngoại - trong đó có nhiều cư sĩ, cho việc xây dựng
trùng tu chùa chiền trong nước cũng như việc từ thiện xã
hội rất đáng kể. Trong tương lai, lực lượng cư sĩ Phật
giáo hải ngoại còn đóng góp nhiều hơn nữa trong việc mở
lại hệ thống giáo dục Phật giáo, góp phần đào tạo con
người Phật giáo cho thời đại mới, nâng vị thế tư tưởng
Phật giáo Việt Nam ngang tầm thế giới.
Tuy
vậy, lực lượng cư sĩ Phật giáo hải ngoại không thể đảm
trách công việc của các cư sĩ sống và làm Phật sự trong
nước. Muốn thực hiện 8 phạm vi hoạt động của người
cư sĩ trong nước nêu trên, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần
phải có ngay kế hoạch tổ chức, đào tạo, sử dụng đội
ngũ cư sĩ thật thiết thực và linh hoạt. Nếu giới tăng
già Phật giáo Việt Nam không được một đội ngũ cư sĩ
đông đảo hộ trì thì Phật giáo Việt Nam sẽ bị bỏ lỡ
cơ hội thêm một lần nữa.
4.
Một vài đề nghị:
Muốn
có một đội ngũ cư sĩ theo những tiêu chí giống như các
cư sĩ trước đây thì phải còn chờ thời gian. Trong lúc đó
Phật sự hiện nay đang diễn ra có tính cấp bách không thể
chờ được nữa. Để thích hợp với hoàn cảnh, Giáo hội
nên quan niệm người cư sĩ trong thời đại mới phải linh
hoạt hơn, thực tế hơn và rộng rãi hơn. Nên chăng sử dụng
danh từ "tiếp hiện" của Làng Mai để thay cho "cư sĩ" ? Hoặc
một từ nào đó thích hợp hơn ?
Đối
với giáo lý đạo Phật, danh từ không quan trọng, điều đáng
quan tâm là ý nghĩa nội dung của từ ấy. Trong lúc chờ có
một từ mới tôi tạm dùng cụm từ "cư sĩ thời đại mới"
gọi tắt là "cư sĩ" (có tiêu chí khác với cư sĩ vốn
có trước đây).
4.1.Trong
tổ chức giáo dục, giáo viên, giáo sư của các nước được
sắp theo nhiều bậc, trong tổ chức cư sĩ thời đại mới
cũng phải quan niệm có nhiều bậc từ thấp lên cao để đảm
nhiệm những Phật sự khác nhau. Và, phải có nhiều tổ chức
thích hợp để tập hợp những cư sĩ có cùng bậc vào sinh
hoạt với nhau;
4.2.
Trong lúc chờ đào tạo lớp trẻ, trước mắt nên bồi dưỡng
cho trí thức (cán bộ, giáo viên) lớn tuổi còn khoẻ để
họ làm giáo thọ sơ cấp đi "thuyết trình" những vấn đề
tu học đạo Phật ở cơ sở, trong đó có vùng nông thôn,
miền Bắc và miền núi;
4.3.
Có tổ chức cư sĩ thời đại mới chính thức để tiếp
nhận những người hết duyên với hạnh nguyện xuất gia có
thể tiếp tục làm Phật sự với vai trò cư sĩ một cách
tích cực (giống như trường hợp của quý Phật tử Trần
Quang Thuận, Hồng Quang, Minh Mẫn…);
4.4.
Những hoạt động xã hội, từ thiện, giáo dục, văn hoá…nói
chung là những hoạt động liên quan đến xã hội các vị
tôn đức tăng già chỉ nên là người lãnh đạo, việc tổ
chức thực hiện nên giao cho cư sĩ thời đại mới;
4.5.
Tạo điều kiện cho trí thức Phật tử trẻ xuất ngoại,
bồi dưỡng thêm trí thức, về những phương thức tổ chức
truyền bá đạo Phật ở các nưóc tân tiến (Dòng tu Làng
Mai của Thiền sư Thích Nhất Hạnh);
4.6.
Để khuyến khích giới trẻ phấn đấu, Giáo hội Phật giáo
phải thường xuyên biểu dương các cư sĩ đã có công với
Phật giáo trong quá khứ. (Cho đến nay chưa có một công trình
gì ghi công đức của một cư sĩ Phật giáo nào cả).
Kết
luận
Trong
thời đại mới, muốn hội nhập và phát triển, tổ chức
Phật giáo Việt Nam không thể thiếu "đệ tứ chúng" là tầng
lớp cư sĩ. Tình hình hoạt động Phật giáo thiếu năng động
hiện nay một phần vì thiếu vắng cư sĩ. Nhưng trong thực
tế không hẵn là không còn cư sĩ. Qua tiếp xúc, tôi được
biết lực lượng cư sĩ còn tiềm ẩn rất lớn. Những nơi
có điều kiện hoạt động như ở hải ngoại thì cư sĩ Phật
giáo xuất hiện khá đông, nhiều cư sĩ có trình độ ngang
tầm thế gới. Những cư sĩ hải ngoại đã đạt được những
thành quả có ý nghĩa lịch sử. Họ đã chứng tỏ được
rằng người cư sĩ Phật giáo ở bất cứ đâu, trong bất
cứ hoàn cảnh nào cũng là những người yêu nước, gắn bó
với nước và muốn giúp nước.Tuy nhiên, họ không thể lấp
đầy được khoảng trống cư sĩ ở trong nước. Các cư sĩ
ở trong nước quá ít, phân bố không đều, đặc biệt ở
miền Bắc rất thưa thớt, nhiều địa phương không có. Do
đó, thiếu vắng cư sĩ dù Giáo hội có muốn cũng không phát
triển được Phật giáo "ở vùng đất mới" (như vùng Tây
nguyên, miền Bắc). Trọng tâm của tham luận nầy xem như một
kiến nghị thỉnh cầu Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời
đại mới hãy đặc biệt quan tâm đến vai trò người cư
sĩ nếu không muốn đứng bên lề lịch sử.
Huế,
cuối tháng 5/2006
Đây
là bài viết tham dự Hội thảo "Phật giáo trong thời đại
mới - Cơ hội và Thách thức do Viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức.
Tâm
Hằng Nguyễn Đắc Xuân
MỤC
LỤC
TIN
TỨC VÀ HÌNH ẢNH