Mục
Lục
Giới
thiệu
Bài
Viết Thượng tọa Thích Thông Phương
Chùa
Nam Hoa
Đến
Thiếu Lâm
Cây
Bồ-đề Chùa Quang Hiếu
Truyện
tượng Lục Tổ bằng đồng ở chùa Lục Dung
Hành
Hương Hoa Hạ - Sư Cô Hạnh Chiếu
Quảng
Đông
Chùa
Quang Hiếu
Tứ
Xuyên
Lạc
Sơn Đại Phật
Chùa
Báo Quốc
Nga
My Sơn
Thanh
Dương Cung
Thiền
Viện Bảo Quang
Viện
Văn -Thù
Thưởng
Trà
Thiểm
Tây
Lên
tàu đi Tây An
Chùa
Từ Ân- Tháp Đại Nhạn
Binh
Mã Dũng
Hoa
Thanh Cung
Sơn
Tây
Ngũ
Đài Sơn
Bồ
Tát Đỉnh-Chùa Hiển Thông-Chùa Tháp Viện
Bồ-tát
Đỉnh
Chùa
Hiển Thông
Chùa
Tháp Viện
Hà
Nam
Chùa
Thiếu Lâm
Long
Môn Thạch Quật
Bạch
Mã Tự
Phủ
Khai Phong
Chuyến
tàu kỷ niệm
Thượng
Hải
Thượng
Hải
Về
lại Quảng Đông Tào Khê
Nam
Hoa Thiền Tự
Chùa
Lục Dụng
Tổng
kết
Giới
Thiệu
Bút
ký về chuyến hành hương thăm viếng Thánh tích Phật Giáo
Trung Quốc của Thiền viện Thường Chiếu, do Hòa thượng
Thích Nhật Quang làm trưởng đoàn.
...Chúng
tôi đến Trung Quốc không phải chỉ để thưởng lãm những
bức tranh thủy mặc cổ điển, đâu đó thành xưa miếu cổ,
non nước sắc hương, những thạch động còn tỏa ánh sáng
ngọc ngà thần bí của một thời xa xưa… Mà trên tất cả
chúng tôi muốn tìm lại mình qua dấu vết của cổ nhân.
Trong
khuôn khổ hạn hẹp của tập sách này, chỉ là chút đồng
vọng về chốn Tổ năm xưa với cuộc đời, hạnh nguyện
và đạo nghiệp của quý ngài, không sao nói hết được về
ánh sáng mặt trời Phật, mặt trăng Phật ở nơi đây. Hơn
nữa, viết về Tổ sư rất dễ phạm vào lỗi khua môi múa
mép, không đúng môn quy. Cho nên chúng tôi chỉ xin được cúi
thấp đầu, làm một kẻ tăng lữ hướng vọng về các đấng
Tổ phụ để học tập, hành trì theo con đường của các
ngài đã chỉ dạy.
Tập
sách có hai phần:
Phần
thứ nhất là bài viết của Thượng tọa Thông Phương.
Phần
thứ hai là bút ký của Sư cô Hạnh Chiếu.
Hướng
về cội nguồn thiền tông, để tăng trưởng niềm tin trên
hành trình giác ngộ giải thoát là mục đích chính của chúng
tôi. Vì vậy tập sách nhất định không thể hiện được
trọn vẹn mọi mặt mà bạn đọc mong đợi. Song với chừng
ấy đóng góp, hy vọng đủ để gọi là tấm lòng của Tăng
Ni chúng tôi đối với khách hữu duyên tu thiền theo Hòa thượng
Ân sư. Nếu có thể, tập sách sẽ giúp cho độc giả tìm
lại được ngôi nhà thật sự của mình.
Xin
được trân trọng gởi đến pháp lữ muôn phương cuộc Hành
Hương Hoa Hạ của chúng tôi, như là một món quà của người
từ phương xa trở về.
Món
quà tuy không đáng, nhưng mà rất thiệt tình.
Thường
Chiếu, 27-07-Đinh Hợi (2007)
Kính
ghi,
THÍCH
NHẬT QUANG
Phần
1
Bài
viết của Thượng Tọa Thích Thông Phương
CHÙA
NAM HOA 
Chùa
Nam Hoa tức đạo tràng Bảo Lâm của Lục Tổ ngày xưa. Nơi
đây một thời vang dội pháp môn đốn giáo Thượng thừa.
Vua
Đường Trung Tông và Võ Hậu từ kinh đô cũng một lòng ngưỡng
mộ cao phong. Yếu chỉ Tào Khê truyền rộng mãi về sau, từ
đây phát xuất. Tuy nhiên không phải chỉ là ở dòng suối,
ở rừng cây, ở đất linh nước lạ, mà chính là ở Tâm
Tổ sáng ngời vượt ngoài văn tự, ngữ ngôn. Người thấu
được chỗ này mới thật sự vào được cửa Tổ, mới thật
nếm được giọt nước Tào Khê mà Thiền sư thường khai
thị.
Nhưng
thôi, chuyện công phu không phải một sớm một chiều, nay
đây chân đã đạp đến đạo tràng của Lục Tổ, tận mắt
nhìn thấy dấu tích của Tổ, là một niềm vui quá rồi. Phải
nói, suốt chuyến đi, chỉ nơi này mới được tham quan kỹ
hơn hết. Có cảm tưởng như về nhà, vào cả nơi ăn, chốn
ở, tận trong phòng ngủ của Hòa thượng trưởng lão trong
chùa. Sao mà tự nhiên thế! Một trái chuối của chùa được
mời, quả thật mười mấy ngày qua, đến nay mới được
chứng quả!
Giờ
này là giờ chư tăng Thọ trai nhưng không biết mình có duyên
cớ gì với Thiền đường chốn Tổ nên lại được vào đây.
Quy củ nghiêm túc, vào bên trái, chân trái bước vào trước;
ra bên phải, chân phải bước ra trước, phải thật tỉnh
giác! Có bốn vị tăng đang công phu quên cả giờ cơm. Một
chút sinh khí Tào Khê.
Lại
một duyên lành với chốn Tổ Tào Khê này, đoàn đã ra ngoài
dùng cơm, trong đây, vị thầy Đạt Thành vẫn còn nhiệt tình
hướng dẫn số người sót lại này vào thăm Tàng Kinh Các,
nơi chứa giữ những cổ vật của chùa. Thật không ngờ,
mình đâu biết được, không hỏi, không cầu mà đủ duyên
liền đến. Đây là cây tích trượng của Lục Tổ dùng qua,
còn kia là chiếc vớ, tương truyền do Võ Tắc Thiên ban tặng
cho Lục Tổ, Ngài chỉ mang dùng khi thăng tòa thuyết pháp.
Kia nữa là viên đá, Ngài đeo khi giã gạo – nhưng theo tư
liệu khảo cứu, viên đá này đã được phục chế vào thời
nhà Minh; còn đây là tờ chiếu chỉ của bà Võ Tắc Thiên,
vị Nữ Hoàng đế độc nhất của Trung Hoa sắc ban tặng cho
Lục Tổ bình bát thủy tinh, cà sa, lụa, trà, tiền; tờ chiếu
của vua Nguyên bằng tiếng Bát-tư-ba, bộ kinh Pháp Bảo Đàn
viết bằng máu. Tượng Quán Âm bằng sắt đời Đường, chuông
đồng thời Nam Hán, bộ tượng gỗ năm trăm La-hán thời Bắc
Tống, không còn đủ, những viên xá-lợi trời mưa xuống
khi pháp sư Viên Quýnh ở Hương Cảng sang đây giảng kinh Duy-ma-cật…
và nhiều, nhiều cổ vật quý báu mà người chưa tận mắt
vào đây, nghe nói cũng thấy tiếc. Tuy nhiên còn có một thứ
báu vượt xa cả những vật báu này mà chư Tổ sẵn sàng
trao lại cho tất cả, nhưng tiếc thay ít người chịu nhận.
Xâu chuỗi bằng ngọc kia tuy nó quý báu thật, song tự nó
đâu biết báu! Còn cái báu sáng ngời đang soi sáng tất cả
các thứ đó thì sao? Báu này đâu có ai thiếu! Yếu chỉ Tào
Khê vốn nằm trọn trong đây. Đến Tào Khê thật sự, phải
đến trong ấy. Lục Tổ nghe thấu lời này, hẳn Ngài cũng
mỉm cười. Việc này nào có xưa nay. Tổ tịch đã hơn nghìn
năm qua, nhưng sức sống của Tổ đâu từng ngăn cách!
Thời
gian nước chảy đá mòn
Tào
Khê một mạch vẫn còn cho ai!
ĐẾN
THIẾU LÂM 
Thiếu
Lâm đây rồi! Từ lâu học qua trong sách vở, lòng ao ước
một lần đặt chân đến chốn này để giáp mặt sự thật
thế nào. Tâm tưởng tượng nhiều lúc vượt xa sự thật.
Giờ đây đã đứng tại chỗ này, cổng TUNG SƠN THIẾU LÂM
chạm ngay trước mắt, nhưng còn phải lên xe điện đi một
đoạn khá xa mới vào điện chính. Đâu phải như người tưởng,
thấy đó là đãø đến rồi! Vào bên trong đứng trước tàng
cây cổ thụ đầy cảm hứng, tuy nó không nói nên lời nhưng
nó là chứng tích trải qua nhiều cuộc thăng trầm của chốn
Tổ đầy huyền diệu này. Một phút lặng lòng để tự thầm
cảm đến một cái gì đó vượt ngoài ngôn ngữ. Tâm Tổ
nay ở đâu? Tâm ấy nào có nam nữ, tăng tục gì, nhưng giờ
đây muốn vào sâu bên trong, cũng phải bỏ lại tướng nữ
bên ngoài. Thiền đường trang nghiêm, vào đây phải nhẹ bước,
im hơi để cảm thông chín năm im lặng nhìn vách. Còn ham nhảy
nhót thô động, nói chuyện lăng xăng thì thôi vào chốn này.
Song
tâm phàm đâu thể một lúc chịu dừng lại ngay, nó cũng còn
muốn đi nơi này, nơi nọ để biết thêm. Động Đạt-ma từ
xa nhìn thấy dáng nhưng làm sao có đủ thời gian đến đó!
Đành phải hẹn lại vậy.
Cũng
còn có duyên lành chưa hết, tột dấu tích xưa kia chưa lên
tới, nhưng Tháp Lâm, dấu tích của chư Tổ sau này để lại
kia rồi. Cả một rừng tháp đầy ấn tượng, ghi dấu ấn
chiều dài lịch sử của chốn Tổ Thiền Tông.
Thắp
nén hương, bày tỏ lòng thành để thầm cảm thông trong chỗ
không thể nói kia.
Kính
mong chư Tổ thầm chứng lòng này.
Đây
Thiếu Lâm
Đây
bài pháp an tâm.
Khai
pháp ấn Thiền tông Đông độ
Lối
biệt truyền đưa người vào thẳng
Đường
giáo ngoại thức tỉnh liền đây.
Chín
năm ngồi đợi chờ ai đó?
Một
thoáng Thần Quang tỏ lý mầu.
Thôi
chớ theo chia xương chia tủy
Chỗ
tâm truyền vượt hẳn ý cạn sâu.
CÂY
BỒ-ĐỀ CHÙA QUANG HIẾU
Theo
Thiên Thai Chí ghi: Ha Lâm có cây Bồ-đề thời Tiêu Lương
ngài Tam Tạng Trí Dược từ Tây Trúc đem đến trồng. Nay
trải qua hơn ngàn năm, to cả trăm vòng, thành ba bốn thân
cây, từ trên buông xuống, có trăm ngàn cái, cái to hợp thành
vòng, cái nhỏ thì cuốn quanh, trải qua lâu năm, rễ bao cả
gốc cây, chỉ thấy rễ mà chẳng thấy gốc, gốc đã ở
trong không, không có gốc, rễ tức là gốc; cành cũng ở trong
không, không có cành, rễ tức là cành…
Và
theo Việt Đông Bút Ký ghi: Năm Gia Khánh thứ hai, vào đêm
15 tháng 2 gió bão thổi ngã, Trung thừa Trần Đại Văn sai
người vun bón bảo dưỡng hơn năm bị khô héo. Tăng trong
chùa là Kiều Am, Ly Tướng đồng đến chùa Nam Hoa tiếp lấy
một nhánh nhỏ đem về trồng trên đất cũ, nay cành lá vẫn
sum suê như xưa.
TRUYỆN
TƯỢNG LỤC TỔ BẰNG ĐỒNG Ở CHÙA LỤC DUNG
Vào
cuối thời Thanh, Tuần phủ Quảng Đông là Du Trí Khai phái
ủy viên đến chùa lấy tượng để đúc tiền đồng. Ủy
viên này bèn thắp hương thầm khấn nguyện: “Đây vốn là
việc bất đắc dĩ, chẳng phải bổn ý của con.” Mới vừa
lễ bái thì tượng này vô cớ bỗng nghiêng đổ, tiếng chấn
động như sấm, rung rinh cả ngói nhà. Vị ủy viên này rất
kinh hãi gục xuống đất luôn chẳng thể đứng dậy. Những
người tùy tùng bèn đỡ ông dậy đi ra, liền báo cáo về
cho Tuần phủ họ Du. Du cũng kinh hãi mới thôi, do đó tượng
còn bảo tồn đến nay.
Địch
Bảo Hiền ở Phiêu Dương
Phần
2
Hành
Hương Hoa Hạ - Sư Cô Hạnh Chiếu
Quảng
Đông
CHÙA
QUANG HIẾU 
Ngày
09-5-2007
Sân
bay Bạch Vân hiện ra đúng như tầm cỡ của xứ sở Trung
Quốc, đất rộng người đông, sân bay lớn. Máy bay đáp xuống
Quảng Châu vào lúc 2h50 phút chiều Trung Quốc, sau Việt Nam
1 giờ. Đây được xem là phi trường lớn của Trung Quốc
hiện nay
Toàn
khu vực sân bay rộng đến hai ba cây số. Quảng Châu là thủ
phủ của tỉnh Quảng Đông, nó cũng chính là trung tâm chính
trị, kinh tế, văn hóa của cả tỉnh với diện tích 7.047
km2, khoảng 12 triệu dân. Nhiệt độ lúc đó là 24oC, rất
giống Việt Nam nên đoàn nghe quen thuộc, dễ chịu.
Chúng
tôi gồm 73 vị, trong đó có 14 Tăng, 32 Ni và 27 Phật tử.
Hòa thượng Nhật Quang, Trụ trì thiền viện Thường Chiếu
làm Trưởng đoàn. Hướng dẫn đoàn là ba vị hướng dẫn
viên trẻ, 1 người Việt Nam, 2 người Trung Quốc, vui vẻ,
hiền lành, nhiệt tình và nói tiếng Việt khá sõi.
Trung
Quốc từ lâu đã được biết đến như một đất nước
kỳ vĩ với nhiều non nước mỹ tú diễm lệ. Bắc Kinh, Thượng
Hải ngày nay hào nhoáng giàu sang với những tòa nhà chọc
trời thấu đất. Đường phố, cầu vượt tầng tầng lớp
lớp, uốn lượn quanh co, đâu đó giữa phố thị rực rỡ
tân kỳ là thành xưa miếu cổ, sắc nước lưng trời… Song
những điều ấy không phải là nguồn cảm hứng, là lời
mời gọi chúng tôi đến với Trung Quốc, mà trên tất cả
vì nơi đây từ thuở xa xưa đã từng là đạo tràng của
chư vị Bồ-tát thị hiện tu hành, các tùng lâm thiền phong
vang dội của lịch đại Tổ sư, mà đã một thời cái nhướng
mày chớp mắt của quý ngài, uy vũ lệch nghiêng trời đất.
Cho đến bây giờ sức mạnh vô biên ấy vẫn đủ để kích
dương hạt giống Phật trong lòng hậu thế. Rất đơn giản,
chúng tôi thực hiện chuyến hành hương về phương Nam Trung
Quốc lần này chỉ vì muốn chiêm bái chốn Tổ năm xưa, noi
theo gương hạnh của cổ nhân, để tìm lại nơi mình cái
mình muốn tìm hôm nay. Thế thôi.
Thật
ra, đôi khi ta cũng chợt nhận ra gia bảo nhà mình ai cũng có,
không phải đi tìm đâu xa. Nó ở trước mắt, nó hiển hiện
trong lòng. Nhưng vì mắt vướng bụi nên ta không thấy, tâm
rối loạn nên ta không tỉnh, do vậy ta chưa nhận ra đó thôi.
Là những người con Phật, dĩ nhiên ta hiểu rõ điều này
rồi. Song mà, kho báu vô tận ấy cũng không phải bỗng dưng
sờ sờ ra đó để cho thiên hạ mặc tình tiêu pha. Muốn nhận
ra nó, tùy ý thọ dụng, phải lặn lội qua những chặng đường,
dài ngắn tùy mỗi lữ khách chọn lựa cho mình lộ trình thẳng
tắt hay quanh co. Nhớ là đi một mình và tự tay mở cánh cửa
Không. Để rồi đến một lúc nào đó thời tiết nhân duyên
đã đủ, công phu chín muồi, ta ngồi thật yên trong chốn
thâm mật, nhẹ nhàng buông xuống, buông xuống… Buông xuống
cả chính mình thì toàn thể pháp giới hiện bày.
Chuyến
đi này phải chăng mở đầu cho cuộc hành hương tâm linh của
chúng tôi, những tu sĩ khát khao được giác ngộ giải thoát
như đức Phật và hết lòng ngưỡng mộ ánh thiền quang sắc
lạnh của Tổ sư? Bằng con đường thiền định, các ngài
đã ra đi và đã đến. Viễn ly, viễn ly, xa lìa mộng tưởng
điên đảo, cứu cánh Niết-bàn. Trung Quốc là nước có lịch
sử Thiền tông phát triển mạnh mẽ và có tầm ảnh hưởng
lan rộng, lâu dài đến Phật giáo các nước thuộc khu vực
Đông Nam Á, trong đó có nước ta. Có thể nói chư Tổ thiền
tông Việt Nam lĩnh hội được trọn vẹn tinh tuý của dòng
thiền Ấn Hoa, dung hội tài tình đường lối tu hành của
người xưa với bản sắc văn hóa nước Việt, tạo thành
một dòng thiền Việt Nam “trực chỉ, thi vị và tùy duyên”
(nhận xét của Hòa thượng Trúc Lâm), rất kỳ tuyệt để
chúng ta hãnh diện và lấy đây làm kim chỉ nam cho hành giả
tu thiền Việt Nam.
Rời
phi trường, xe đưa đoàn đến thành phố Quảng Châu. Đây
là một trong những thành phố cổ của Trung Quốc. Chúng tôi
như lọt thỏm vào những tòa chung cư cao ngất ngưởng và
cũ kỹ. Bỗng dưng ta có cảm tưởng như bị chết ngộp vì
những mảng bê-tông cốt thép chồng lên nhau. Nhà là nhà.
Toàn bộ các cánh cửa sổ được bọc khuôn sắt để phòng
chống kẻ gian. Cứ tưởng tượng mình bị nhồi nhét vào
trong những tòa nhà đó thì thiệt là khó thở. Rồi ra mới
quý mảnh vườn cây xanh trái ngọt quê nhà. Việt Nam chúng
ta rất may ít có nhà cao tầng kiểu này (nhưng hình như bây
giờ người ta cũng bắt đầu xây nhà cao tầng rồi), nên
dân mình vẫn còn thấy trời xanh mây trắng. Ở thủ đô hay
thành phố thì có nhà cao tầng nhưng không cao và khít rịt
như vầy, vẫn còn chừa chỗ cho người và cây xanh thở. Ở
miệt vườn thì tha hồ. Ngẩng lên là trời cao lồng lộng,
ngó xuống là ruộng vườn mênh mông, lòng người cũng theo
đó rộng mở, độ lượng, bao dung. Ai bảo nghèo không sướng,
nghèo mà biết đủ không phải sướng lắm sao? Cuộc sống
quê mùa, yên tĩnh, đơn sơ, bước một bước là vào đến
nhà, không phải leo lầu hay chui vào cái thang máy bít bùng,
sợ cúp điện muốn chết!
Quảng
Châu sầm uất, nhộn nhịp vì là trung tâm buôn bán thuộc
miền Nam Trung Quốc. Đoàn chọn chỗ này làm điểm tham quan
đầu tiên vì nơi đây có chùa Quang Hiếu tức chùa Pháp Tánh
ngày xưa, là nơi đức Lục Tổ được pháp sư Ấn Tông thế
phát xuất gia. Cuộc đời tu hành của Lục Tổ khác lạ hơn
ai hết, thăng trầm lắm nỗi. Sau mười lăm năm đã ngộ đạo
và được truyền y bát của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Lục Tổ
vẫn giữ hình thức cư sĩ, sống lẫn trong đám thợ săn,
tùy duyên giáo hóa, tùy duyên độ nhật. Vậy mà vẫn không
yên vì một số bạn đồng môn săn lùng, rượt đuổi giành
lại y bát. Cuộc sống thật khó khăn, kham khổ. Thế nhưng
Tổ vẫn là Tổ, cuộc thế này có nghĩa lý gì đâu với một
bản tâm “vô nhất vật”.
Khi
thấy đã đủ duyên, Tổ đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu,
gặp pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết-bàn. Bên ngoài
gió thổi, có hai vị tăng cãi nhau, một vị nói gió động,
một vị nói phướn động, Tổ nghe thế liền bảo “không
phải gió động, cũng không phải phướn động mà là tâm
nhân giả động”. Câu nói này đã làm lộ hành tung của
Ngài sau mười lăm năm ẩn dật. Pháp sư Ấn Tông khi nhận
ra và được xem y bát của Tổ, đã cung kính thế phát cho
Ngài, nhưng lại thờ Ngài như bậc Thầy. Từ đây, dưới
cội Bồ-đề chùa Pháp Tánh, Lục Tổ chính thức khai pháp
môn Đông Sơn, khơi mạch nguồn cho dòng thiền Tào Khê tuôn
chảy mãi về sau. Thiền đốn ngộ phương Nam lấp lánh tỏa
sáng dưới những ngọn truyền đăng tục diệm của đời
đời Tổ sư. Một cõi thiền quang quét sạch vô lượng đảo
điên ngu muội của bao chúng hữu tình, đưa họ trở về chốn
yên bình. Trong đó không biết có chúng ta chăng?
Chùa
Quang Hiếu ở phía tây bắc Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông
Trung Quốc. Xứ sở này quả thật không biết nhỏ là gì nên
chùa chiền cũng lớn. Tuy nhiên, những ngôi cổ tự nằm trong
lòng phố chỉ có đền điện, chứ cảnh quan không thiên nhiên
và u nhã như chùa núi hoặc ngoại ô. Theo Quang Hiếu Tự Chí,
ban đầu chùa vốn là nhà cũ của Nam Việt vương Kiến Đức
(cháu Triệu Đà, thuộc đời Tây Hán). Nước Ngô thời đại
Tam Quốc, Ngu Phiên bị giáng chức ra ở đất đó, gọi là
Ngu Uyển. Đến năm 362, Tam Tạng nước Kế-tân đến đây
mới lập thành chùa Phật, gọi là chùa Chế Chỉ, còn gọi
là chùa Vương Viên. Đời Lưu Tống, vị cao tăng Ấn Độ
là ngài Cầu-na-bạt-đà-la đến chùa này khai lập giới đàn,
gọi là Đạo tràng Chế Chỉ.
Năm
502, ngài Tam Tạng Trí Dược đem cây Bồ-đề từ Tây Ấn
Độ đến trồng tại đây và huyền ký rằng: “Sau 170 năm,
có nhục thân Bồ-tát dưới cội cây này khai diễn pháp Đại
thừa, độ vô lượng người”. Đến năm 527, Sơ Tổ Đạt-ma
đến ở đây. Đến đời Đường chùa đổi tên Chế Chỉ
thành chùa Càn Minh Pháp Tánh. Đời vua Cao Tông, năm 676 Lục
Tổ Huệ Năng đến chùa này và gặp pháp sư Ấn Tông như
đã nói ở trên. Năm 705, vị Tam Tạng người Tây Vức là
ngài Bát-thích-mật-đế ở đây phiên dịch kinh Thủ-lăng-nghiêm
(10 quyển), Tể tướng Phòng Dung bút thụ. Đến năm 845, chùa
Càn Minh Pháp Tánh đổi tên thành Tây Vân Đạo Cung. Trong khoảng
năm 825-826, chùa dựng Đại Bi Tràng. Đầu thời Bắc Tống
đổi tên là Càn Minh Thiền viện. Đời vua Cao Tông lại đổi
tên là chùa Báo Ân Quảng Hiếu. Đến năm 1466 đời Minh Hiến
Tông, mới bắt đầu gọi là chùa Quang Hiếu. Khoảng năm 1646
đời Minh, chùa bị quân Thanh phá hủy. Đến năm 1662, thiền
sư Nguyên Chí trùng hưng trở lại thành Nam Hải Đệ Nhất
Thiền Lâm. Tuy nhiên cũng có nhiều thuyết khác nhau nói về
sự thay đổi của chùa này.
Chùa
hiện còn những kiến trúc quý báu với phong cách kiến trúc
đặc thù vùng Hoa Nam như điện Lục Tổ, Đại Hùng Bảo Điện…
được xây cất khoảng năm 1241-1252 thời Nam Tống. Có một
Thiết Tháp (tháp sắt) đã rất cũ tạo thêm nét cổ kính
lâu xưa cho chùa. Cây Bồ-đề vẫn còn đó nhưng lá đã vàng,
cội cũng khô. Chắn chắn là vào thời Tổ nó xanh và có hồn
hơn, bởi vì ngày ấy nơi đây cô tịch lan-nhã, là vườn
thiền rừng vắng, chớ không thị tứ ồn náo giữa trung tâm
phố thị như bây giờ. Chúng tôi đến vào buổi chiều, chiêm
bái cảnh hoàng hôn của Quang Hiếu Tự ngày nay mà ngậm ngùi
nhớ về Tổ sư. Hiện tại cũng có bóng dáng chư tăng, nhưng
hình như quý thầy tu Tịnh độ, không theo pháp tu thiền của
Tổ ngày xưa. Chùa chỉ dành cho khách hành hương vãng lai nhiều
hơn là du tăng hành khước một thuở. Thiền môn nghiêm tịnh,
hải chúng an hòa của hơn nghìn năm trước, nay đã thiên di
mấy độ. Cũng là lẽ thường thôi. Quý ở chỗ tâm Tổ vẫn
còn nguyên.
Là
hậu sanh, được học lại cuộc đời Tổ sư, chúng ta cung
kính chấp tay đảnh lễ một hiện thân Bồ-tát thôi thì chưa
đủ, mà phải làm sao tu tập như Ngài. Toàn bộ cuộc đời
của Tổ là tấm gương sáng dạy chúng ta vượt qua mọi thử
thách cam go, và nhất là vượt qua chính mình, xả bỏ tâm
kiêu mạn ngông cuồng mới có thể học đạo và tu đạo.
Đến cửa này thì phải biết cúi xuống, cúi xuống thật
gần với chính mình để nhận ra đâu là chốn trở về. Cái
gì ngăn cản chúng ta sống một đời sống rộng mở, tỉnh
giác, chan hòa và an vui? Chướng ngại là “cái tôi”, từ
đó mà có “cái của tôi” để ta bám chặt, để ta tự
siết lấy đời mình, đời người cho tới khi nhắm mắt vẫn
khôn nguôi. Nếu biết tung ra khỏi cái vỏ kén đầy ích kỷ,
nhỏ nhen và cô đơn này, thoát khỏi cái bản ngã co cụm của
mình, chúng ta sẽ dễ sống chan hòa cùng tha nhân, biết yêu
thương và chia sẻ thật lòng. Cho đi mà không bao giờ đòi
lại là nguồn hạnh phúc vô biên của một người biết sống
đạo.
Rời
khỏi chùa đoàn đã ghi hình kỷ niệm. Kính mong Tổ nhận
cho lòng thành của chúng con, những tu sĩ đến muộn nhưng
thật là rất tha thiết tu thiền như chính Tổ năm xưa.
Cơn
mưa phùn rỉ rả làm hỏng đi chương trình du thuyền bến
nước Châu Giang của đoàn. Xe chạy một vòng cho chúng tôi
tham quan. Thế cũng đủ, vì thật ra trời cũng đã tối. Con
nước Châu giang bắt nguồn từ Vân Nam chảy qua bao bến bãi
thăng trầm, để rồi âm thầm đi vào lòng phố, uốn lượn
quanh quẩn theo chân người, làm mát lại chốn thị thành và
thêm rực rỡ sắc đêm dưới muôn ngàn ánh đèn. Ồ, mà ta
cũng không biết rõ dòng sông len lỏi vào lòng phố hay lòng
phố mọc lên theo dòng sông. Thôi, cũng không cần biết tới
chuyện ấy làm gì. Chỉ có điều Châu giang làm cho trong chúng
tôi, ít nhiều người nhớ tới sông Hương bên nhà. Cũng len
lỏi trong lòng phố, cũng uốn lượn đôi bờ bến nước con
đò, cũng bóng dáng phố thị in trên dòng, nhưng sông Hương
nguyên sơ và trầm lặng hơn Châu giang nhiều. Sông Hương lại
càng lãng đãng sương khói hữu tình, e ấp dịu dàng ẩn mình
bên núi Ngự khi bóng hoàng hôn thả xuống đất Thần kinh.
Nét đẹp của sông Hương không thể đem so sánh với Châu
giang hay bất cứ một dòng sông nào. Bởi vì nó là nét đẹp
của dòng sông quê nhà. Dòng sông đã từ lâu mang tiếng chuông
chùa Linh Mụ đi vào dòng đời, cảnh tỉnh nhân sinh. Cho nên
thôi, mình cứ giữ kín trong lòng.
Đêm
nay đoàn nghỉ lại khách sạn Quảng Châu. Nhìn xuống dòng
Châu giang, ánh nước lung linh trong ánh đèn. Nơi đây bao người
đã nhảy xuống, bao người lại ngoi lên? Cái trò chơi xem
ra rất cũ, nhưng người ta dường như chưa biết chán. Cả
thế gian này cũng chỉ thế thôi, hết sinh lại tử, hết tử
lại sinh. Vậy mà chúng sanh lặn hụp trong đó từ vô thủy
kiếp đến nay. Ngán thì có ngán, nhưng chán thì chưa chán.
Thiền sư thì không như thế. Hoa Đình Thuyền Tử ung dung bước
trên đôi bờ sanh tử, làm người lái đò đưa khách sang sông.
Một con thuyền không đáy. Một giọt nước chẳng dính chân.
Đêm về ngẫu hứng thả câu:
Thiên
xích ty luân trực hạ thùy,
Nhất
ba tài động vạn ba tùy.
Dạ
tĩnh thủy hàn ngư bất thực,
Mãn
thuyền không tải nguyệt minh quy.
Dịch:
Nhợ
câu ngàn thước đà buông xuống,
Một
sóng vừa gợn muôn sóng sanh.
Nước
trong, đêm lặng, câu chẳng dính,
Đầy
thuyền chỉ chở ánh trăng thanh.
CHÙA
BÁO QUỐC
Không
còn đủ thời gian để lần lựa nữa, xe theo con đường nhựa
tiến thẳng về hướng Nga My sơn, cách Lạc Sơn khoảng 40km.
Vào đến huyện Nga My ta cảm nhận ngay cái không khí đất
Phật. Một dãy đèn đuốc sáng choang trên những tầng ngói
uốn cong, thoạt nhìn cứ tưởng là ngôi đại già-lam, nhưng
không phải, đó là khách sạn. Tổng thể khu du lịch dưới
chân núi Nga My đều có kiến trúc như vậy. Thật hay. Rõ ràng
vào đến Thánh địa, lòng Phàm cũng lắng dịu bụi trần.
Nghe
danh chùa Báo Quốc là Nga My Đệ Nhất Tự, chúng tôi hăm hở
nối gót nhau đi thật nhanh, trước khi trời sụp tối. Quả
thật danh bất hư truyền. Có thể nói bốn ngôi Đại cổ
tự để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong đoàn là chùa
Báo Quốc tại đây, chùa Hiển Thông tại Ngũ Đài sơn, chùa
Thiếu Lâm tại Tung sơn và Nam Hoa Thiền Tự tại Tào Khê.
Đón khách là một thác nước trắng xóa ở giữa. Bên phải
là bút tích của vua Khang Hy với ba chữ “Nga My Sơn” khắc
trên đá thật mạnh mẽ, sắc nét. Bên trái, một khối thạch
bảng dựng đứng hùng dũng với năm chữ “Chấn Đán Đệ
Nhất Sơn” do Mao Chủ Tịch đề tặng, đủ biết danh tiếng
của ngọn núi này. Chùa Báo Quốc án ngữ ngay dưới chân
núi, xứng đáng là cánh cửa của tòa Nga My sơn. Khách đến
Nga My mà không ghé chùa Báo Quốc thì chưa thể biết thế
nào là:
Nhập
thâm sơn, trú lan-nhã,
Sầm
ngâm u thúy trường tùng hạ.
(Vào
rừng sâu, trú lan-nhã,
Núi
dựng, tùng già ôm bóng cả.)
Chứng
Đạo Ca
Phiến
đá, con đường, rặng cây, ngọn cỏ… mỗi mỗi đều lan-nhã.
Đường dẫn lên chùa đẹp như tranh và dĩ nhiên sống động
hơn tranh. Chúng tôi cúi xuống để lách qua một vòm cây là
bước sang một khúc quanh mới với những mảng đá lạ. Cảnh
trí biến đổi theo những đoạn đường quanh co với thiên
nhiên hòa điệu cùng tâm hồn và bàn tay của con người gầy
dựng, làm cho cảnh trí chùa Báo Quốc thật là có một không
hai. Rất tiếc trời mờ tối nên chúng tôi không đọc được
bút tích trên các bia đá dọc đoạn đường lên chùa. Chữ
viết đủ kiểu, chân phương, thảo, biến thể… khi thì truyền
thần mạnh mẽ, lúc lại uyển chuyển thanh tao, sắc sảo vô
cùng. Lầu chuông u tịch nằm chêch chếch với Đại Hùng Bảo
Điện, càng về chiều càng trầm mặc đến lặng người.
Đứng nơi đây nhìn sang cổng Tam quan của chùa mà nhớ tới
một thời hưng thịnh của thiền tông tại ngôi già-lam này.
Chùa
được xây dựng vào khoảng năm 1573-1619 đời vua Thần Tông
nhà Minh, thuộc tự viện thiền tông. Chùa có tên cũ là Hội
Tông Đường cũng gọi là Hội Tông Phường. Đời Thanh (khoảng
năm 1662-1722), chùa được trùng tu và đổi tên như ngày nay.
Phía trước cổng Tam quan có biển đề Báo Quốc Tự do tự
tay vua Khang Hy viết. Điện vũ chính có Di-lặc Điện, Đại
Hùng Bảo Điện, Thất Phật Điện, Tàng Kinh Lâu, từ trước
đến sau theo thế núi và cấp bậc lên cao. Kiến trúc hoành
tráng, tượng Phật uy nghi, mỗi mỗi đều được thếp vàng
sáng chói. Tháp Phật ở trước điện Thất Phật đúc bằng
đồng cao 7m, nguyên là tháp Phật của chùa Thánh Tích, ngôi
chùa cũ đã hư vào đời Minh. Trên tháp khắc hơn 4.700 tượng
Phật và toàn bộ kinh Hoa Nghiêm. Đây là một kiệt tác tinh
xảo về nghề đúc tượng của Trung Hoa.
Cảnh
chùa làm cho chúng tôi nhớ đến hai câu thơ tiếp theo của
thiền sư Huyền Giác:
Ưu
du tĩnh tọa dã tăng gia,
Khuếch
tịch an cư thật tiêu sái!
Dịch:
Thong
dong tĩnh tọa gã tăng quê,
Vắng
lặng an nhiên cõi tiêu sái.
Bóng
thiền tăng bây giờ ở đâu? Thiền sư Huyền Giác xin được
làm một gã tăng quê thì chắc có lẽ Ngài ở một mái chùa
tranh, chớ không ở một ngôi chùa tráng lệ như vầy. Song
chiếc bóng tĩnh tọa thong dong, một cõi tiêu sái hiện bày
thì quảng đại uy nghiêm và vĩnh cửu hơn muôn ngàn lâu đài
điện các. Đây mới đích
thực
là linh hồn muôn thuở của già-lam, và cũng chính là chốn
tìm về của mỗi chúng tôi.
Đêm
nay nghỉ dưới chân núi Nga My, mà không được tĩnh tọa trong
ngôi thiền tự năm xưa. Thấy cũng buồn!
NGA
MY SƠN
Ngày
11-5-2007
Thiên
nhiên dường như ban tặng cho Trung Quốc những đường nét
hùng vĩ nhất của mình. Dãy Hy-mã-lạp sơn chất ngất chọc
trời xanh quanh năm tuyết phủ, những cao nguyên ngút ngàn lộng
gió, những đồng bằng mênh mông bất tận, những sa mạc
thử chân người cứng mềm, những dòng sông đôi bờ ngút
mắt. Nhưng có thể nói tuyệt tác nhất là sơn kỳ thủy tú.
Trung
Quốc có những ngọn núi đã trở thành Thánh địa thiêng
liêng, là đạo tràng của các vị Bồ-tát như Ngũ Đài sơn
của ngài Văn-thù, Nga My sơn của ngài Phổ Hiền, Cửu Hoa
sơn của ngài Địa Tạng, Phổ Đà sơn của ngài Quan Âm. “Tứ
đại danh sơn” không chỉ là trú xứ tâm linh của người
dân Trung Quốc mà còn là nguồn tìm về của những ai bén
duyên với Phật pháp trong khắp năm châu bốn bể.
Nga
My sơn nằm ở phía nam tỉnh Tứ Xuyên, cách Thành Đô 160km
về phía tây nam. Mạch núi xuất phát từ Mân sơn, chập chùng
uốn lượn như chiếc cầu vòng, dài hơn 180km, chu vi từ 5km
đến 6km. Đỉnh cao nhất là Vạn Phật Đỉnh 3.099m. Toàn dãy
núi có ba ngọn chính là: Đại Nga, Trung Nga, Tiểu Nga. Quần
thể chùa viện đền đài hơn 200 ngôi, trên 40 sơn động và
100 thạch khám. Từ chân núi lên đến chỗ cáp treo trước
khi đi cáp và leo bộ lên Kim Đỉnh là 53km, ngồi xe ô tô mất
khoảng 2 tiếng. Nhưng thật không tiếc chút nào vì cảnh non
Bồng nước Nhược của Nga My. Xe len lỏi giữa những tầng
núi chập chùng ghềnh thác. Mỗi một vách núi là một cảnh
tượng khác lạ, biến ảo không lường. Kỳ hoa dị thảo
phủ lên non cái diễm lệ tự nhiên, không tô điểm ngượng
ngùng. Nước trên non chảy xuống, mây lưng đèo bay lên. Núi
và mây. Thinh và sắc… réo rắt xao xuyến lòng người. Thật
chưa từng thấy!
Là
nhà tu, đến chỗ này thì phải tu lắm mới được, không
thôi cái lỗ tai, đôi con mắt bị Ngộ Không dẫn đi chơi
quên mất đường về. Nhà thiền bảo thấy chỉ thấy, nghe
chỉ nghe, xem ra không đơn giản chút nào. Thiền sư Đạo Giai
dạy chúng:
Ngộ
thinh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa,
Kiến
lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết.
Dịch:
Gặp
thinh gặp sắc như trồng hoa trên đá,
Thấy
lợi thấy danh như bụi rơi trong mắt.
Thiền
sư không dính, Bồ-tát không dính nên các ngài ở núi dễ.
Còn chúng ta lợi danh mờ mắt nên ở núi khó. Muốn ở núi
cao thì chí phải cao, tâm phải lớn, hạnh phải rộng. Với
người đời nét đẹp sơn thủy là sương khói hữu tình,
nhưng với người tu non cao rừng thẳm là nơi trưởng dưỡng
công phu. Khí càng thanh tâm càng thoát, cảnh càng vắng lòng
càng yên, mới có chút phần tương ưng. Cho nên Bồ-tát Phổ
Hiền đã chọn nơi này làm trú xứ tu hành.
Lên
đến Kim Đỉnh nhiệt độ chỉ khoảng 30C – 50C, không khí
đã loãng, tất cả đều chìm ngập trong biển mây bao la. Không
biết có phải “mây ma-ni vương” do Bồ-tát rưới khắp
mười phương như trong kinh Hoa Nghiêm đã tả chăng, mà sao
diệu kỳ đến thế! Đoàn còn được hạnh ngộ với mưa
Nga My, mới biết thế nào là cái buốt giá nơi đây. Lạnh
từ trong xương lạnh ra. Thở bằng mũi không đủ dưỡng khí,
phải há hốc mồm thở phụ. Toàn thân run cầm cập mặc dù
ai cũng mặc ba bốn lớp áo.
Có
tới nơi mới kinh ngạc về sự kỳ vĩ không phải chỉ núi
non mà là con người. Một đất nước quá lớn cho nên đã
sinh ra những con người có đầu óc cũng quá lớn. Dám nghĩ
dám làm. Chỉ đi hai tay không với một đoạn núi ngắn có
bậc cấp đàng hoàng mà ta còn thở dốc. Chẳng hiểu ngày
xưa không có ô tô, không có cáp treo, làm sao người ta lên
đây mà xây dựng đền đài, điện các trang nghiêm uy vũ như
vầy, chưa kể đến phải chịu đựng một khí hậu quanh năm
giá rét và mây mưa phủ ngập đêm ngày.
Trong
sử ghi từ thời Đông Hán (25-220), ở đây đã có Kim Đỉnh
Phổ Quang Điện. Đến khoảng đời nhà Đường, nhà Tống,
Nga My sơn được dựng lên rất nhiều điện các. Cho đến
đời Minh, đời Thanh thì huy hoàng rực rỡ. Ngày nay ngoài
Kim Đỉnh ra, có khoảng 20 ngôi tự viện đang được bảo
quản và trùng tu, trong đó Kim Điện, Ngân Điện được xem
là hoành tráng và lộng lẫy nhất. Vừa nghĩ đến thôi là
đã phát run, đừng nói tới làm. Phải chăng mỗi một con
người nơi đây là hiện thân của ngài Phổ Hiền, mang đại
hạnh của Ngài đi vào đời. Bởi vì chỉ có hạnh nguyện
đại hải như Bồ-tát mới làm nổi những chuyện khó làm
nhất trên đời.
Kiến
trúc của Kim Đỉnh Phổ Quang Điện thật là kỳ vĩ. Đây
là một ngôi điện hình tròn, nằm trên đỉnh núi Nga My. Nóc
điện là tượng Bồ-tát Phổ Hiền Thập Diện, chia làm ba
tầng. Diện mục xoay tròn tượng trưng cho sự có mặt của
Ngài biến khắp mười phương cõi. Bồ-tát ngự trên con voi
sáu ngà, bốn mặt xây về bốn hướng đông, tây, nam, bắc.
Toàn bộ Kim Đỉnh được thếp vàng óng ánh, chiếu tỏa trên
tòa Nga My. Chúng tôi bước vào Kim Đỉnh, biển đề “Thế
giới Hoa Tạng” hiện bày, đức Tỳ-lô-giá-na ngự chính
giữa. Mây mưa bên ngoài dứt bặt, ánh sáng bên trong tỏa
chiếu, Bồ-tát Phổ Hiền như ảnh hiện trong mỗi kẻ cùng
tử lang thang.
Phổ
Hiền thân tướng như hư không
Nương
chân tánh ở chẳng phải cõi
Tùy
lòng chúng sanh chỗ thích ưa
Thị
hiện thân hình đồng tất cả.
Kinh
Hoa Nghiêm
Nếu
Bồ-tát Văn-thù cưỡi sư tử xanh tượng trưng cho đại trí
thì Bồ-tát Phổ Hiền ngồi trên voi trắng tượng trưng cho
đại hạnh. Voi trắng sáu ngà để biểu thị hạnh nguyện
rộng lớn.
Trong
các loài thú, về sức mạnh chuyên chở, voi là mạnh hơn cả.
Nó hay chuyên chở người và vật từ chỗ này đến chỗ khác.
Bồ-tát Phổ Hiền cũng thế, dùng đại hạnh hóa độ chúng
sanh, đưa họ từ bờ mê đến bến giác. Sáu ngà tượng trưng
cho Lục độ. Hai vị Bồ-tát Văn-thù và Phổ Hiền luôn luôn
được tán dương song song với nhau để nói lên thâm ý “tri
hành hợp nhất” trong giáo điển Đại thừa.
Toàn
bộ tông chỉ của kinh Hoa Nghiêm là “Nhất tâm chân như,
pháp giới duyên khởi”, được diễn đạt xung quanh ba hình
ảnh chính: Đức Phật Tỳ-lô-giá-na, Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát
Phổ Hiền. Không rời Pháp thân thanh tịnh (Phật Tỳ-lô-giá-na),
từ Căn bản trí (Bồ-tát Văn-thù), khởi Sai biệt trí làm
lợi ích vô lượng chúng sanh (Bồ-tát Phổ Hiền). Đức Phật
và hai vị Đại Bồ-tát này thật ra không phải ở đâu xa,
mà đã ngự sẵn trong lòng mỗi chúng sanh.
Dưới
con mắt của Hoa Nghiêm thì vũ trụ vạn hữu trùng trùng do
nhân duyên hòa hợp mà thành. Từ một vật nhỏ như hạt bụi
cho đến một vật lớn như trăng sao đều nương vào nhau,
làm nhân làm quả, dung thông nhau, ảnh hưởng nhau mà có. Mỗi
pháp mỗi pháp trong vũ trụ không thể tồn tại riêng lẻ,
biệt lập mà tự có được. Cái này có là nhờ cái kia có,
tương quan tương duyên, lớp lớp không cùng cho nên gọi là
“trùng trùng duyên khởi”. Vì là trùng trùng duyên nhau nên
một là tất cả, tất cả là một. Mọi sự vật trong vũ
trụ đều dung thông nhau, do đó kinh Hoa Nghiêm gọi là “Sự
sự vô ngại pháp giới”.
Thiện
Tài đồng tử khi gặp được Bồ-tát Văn-thù, lãnh thọ và
nhiếp trì chỉ giáo của Ngài xong, thân tâm vô cùng hoan hỷ,
thành tựu vô số pháp môn, đầy đủ vô lượng đại trí
quang minh. Bồ-tát Văn-thù dùng thần lực quảng đại khiến
Thiện Tài vào được đạo tràng của Bồ-tát Phổ Hiền.
Vào được cảnh giới Phổ Hiền là vào được “Sự sự
vô ngại pháp giới” của Hoa Nghiêm. Mỗi sự mỗi vật đều
từ pháp tánh hiển hiện. Lý pháp tánh viên dung vô ngại nên
hiện ra sự vật cũng viên dung vô ngại.
Bồ-tát
làm tất cả việc mà chẳng thấy có việc gì để làm, nên
chẳng có chi ngăn ngại. Do chẳng có chi ngăn ngại cho nên
trùm khắp pháp giới. Bồ-tát Phổ Hiền do nhiều kiếp lập
hạnh nguyện rộng lớn, công đức không thể tính kể, đã
thể nhập Hoa tạng thế giới hải, cho nên mới có diệu lực
như thế. Chúng ta lập hạnh tu hành quyết phải có hai vị
Bồ-tát này dẫn dắt mới không rơi vào ma đạo. Làm nhiều
mà không có trí thì dễ làm điều sai quấy, mê chấp thân
tâm,
lầm
sanh nhân ngã, dẫn tới phiền não khổ đau, trọn không có
công đức.
Kim
Đỉnh biểu trưng cho giai đoạn chư Đại Bồ-tát đã lên
vị Pháp Vân Địa trong Thập địa. Tại đây sẽ được Bồ-tát
Phổ Hiền dẫn đạo thể nhập Thập nguyện vương, tiếp
tục tu tập để tiến lên Đẳng giác, Diệu giác thành Phật.
Mười đại nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền là:
1.
Kính lễ chư Phật.
2.
Xưng tán Như Lai.
3.
Rộng tu cúng dường.
4.
Sám hối nghiệp chướng.
5.
Tùy hỷ công đức.
6.
Thỉnh chuyển pháp luân.
7.
Thỉnh Phật trụ thế.
8.
Thường theo Phật học.
9.
Luôn tùy thuận chúng sanh.
10.
Hồi hướng khắp tất cả.
Ngài
bảo dù “cõi hư không cùng tận, cõi chúng sanh cùng tận,
nghiệp chúng sanh cùng tận, phiền não chúng sanh cùng tận”
thì hạnh nguyện của Ngài “vẫn không cùng tận, niệm niệm
nối luôn không hở, ba nghiệp thân khẩu ý không hề nhàm
mỏi” (kinh Hoa Nghiêm). Trên con đường Bồ-tát đạo để
tiến lên Phật đạo, hành giả đừng nghĩ đến thời gian,
cứ tu hoài tu hoài, không bao giờ chán, đó là tập theo hạnh
của Bồ-tát Phổ Hiền. Khó là ở chỗ này. Chúng ta thường
chỉ siêng tu giai đoạn đầu hoặc gặp thuận duyên mới tu,
đụng phải chướng duyên dễ thối chí nản lòng, nên đạo
nghiệp không xong.
Cũng
trong kinh Hoa Nghiêm, nói về hạnh “Tùy thuận chúng sanh”,
Ngài kể lại:
- Trong
tất cả các loài, nếu kẻ có bệnh tôi vì họ mà làm lương
y, nếu ai bị lạc đường tôi vì họ mà chỉ cho con đường
chánh, nơi đêm tối tôi vì họ mà làm ngọn đuốc sáng, người
nghèo thiếu tôi làm cho được của báu. Bồ-tát lợi ích
cho chúng sanh bình đẳng như vậy. Vì sao thế? Vì Bồ-tát
nếu có thể tùy thuận chúng sanh là tùy thuận cúng dường
chư Phật… Nếu làm cho chúng sanh vui mừng chính là làm cho
tất cả Như Lai vui mừng. Vì sao thế? Vì các đức Như Lai
dùng tâm đại bi làm thể. Nhân nơi chúng sanh mà sanh lòng
đại bi, nhân lòng đại bi mà phát tâm Bồ-đề. Nhân nơi
tâm Bồ-đề mà thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Như
lời Bồ-tát thì chúng ta không thể thành Phật khi không có
chúng sanh, không gặp thử thách. Cho nên ta hãy an lòng vui tu
nơi cõi này, vì chỉ nơi đây mới có nhiều thắng duyên để
cho ta giật mình nhìn lại chính mình.
Sau
Kim Đỉnh là Hoa Tạng Tự, ngôi chùa xưa nhất tại đây, được
trùng tu vào đời nhà Thanh (1866). Gần đó là Kim Điện và
Ngân Điện. Đứng trên Kim Đỉnh, ngẩng lên là hư không vô
biên, cúi xuống là biển mây vô tận, như chính đại hạnh
đại nguyện của ngài Phổ Hiền. Tại Hoa Tạng Tự, Hòa thượng
Thường Chiếu đã thuyết một thời pháp ngắn, nói về công
đức và đại nguyện của Bồ-tát. Lời sau cùng, Ngài bảo
hãy đảnh lễ và nương vào chính đại hạnh Phổ Hiền nơi
mỗi chúng ta mà lập hạnh tu hành, để thành tựu viên mãn
Phật đạo dài lâu.
Đoàn
xuống núi. Mười nguyện lớn của Bồ-tát vẫn còn vang mãi
trong lòng.
Hư
không hữu tận,
Ngã
nguyện vô cùng…
THANH
DƯƠNG CUNG
Ngày
12-5-2007
Trước
khi đến thiền viện Bảo Quang, đoàn đã ghé tham quan Thanh
Dương Cung của Đạo giáo, là một giáo phái bản xứ của
Trung Quốc. Tứ Xuyên là nơi bắt nguồn của Đạo giáo. Nghe
nói cách Thành Đô 6km về hướng tây có một ngọn núi tên
là Thanh Thành. Ngọn núi này có 27 đỉnh, rải rác nhiều đền
đài của Đạo giáo. Nơi đây vào đầu công nguyên có một
đạo sĩ tên là Trương Đạo Lăng (34-156) đã sáng lập ra
Đạo giáo. Tương truyền Trương Đạo Lăng là cháu chín đời
của Trương Lương, ban đầu theo Nho giáo nhưng về già học
tiên thuật của Lão giáo. Ông soạn ra sách “Đạo Thư”
gồm 24 thiên là giáo lý cơ bản của “Thiên Sư Đạo”.
Từ đó động của ông trong núi Thanh Thành được gọi là
Thiên Sư Động.
Giáo
lý của Thiên Sư Đạo dựa vào tư tưởng của Lão Tử, phối
hợp với bói toán chú thuật và lấy phép phù thủy chữa
bệnh giúp dân. Mỗi khi chữa bệnh, đạo sĩ được phần
lễ tạ năm đấu gạo nên đạo này còn được mệnh danh
là “Ngũ Đẩu Mễ”. Tư tưởng chủ yếu của Đạo giáo
là ngắm nhìn thiên nhiên mà trực nhận ra quy luật của vũ
trụ vạn hữu. Thế nên tri kiến của Đạo là trực giác
từ thiên nhiên, hành động của Đạo là vô vi, làm mà không
tác ý([1]).
Chúng
tôi vào trong thấy các điện đài chính của Thanh Dương Cung
gồm có điện Hỗn Nguyên, điện Tam Thanh… kiến trúc cũng
hao hao giống các chùa chiền Phật giáo. Cảnh trí yên tịnh,
các đạo sĩ mặc áo dài đen, đầu búi tóc đi đi lại lại
nhìn khách, không biết nói chi!
Với
những nơi không phải là trọng điểm nhắm đến của chuyến
hành hương, chúng tôi chỉ tham quan cho biết và lược ghi đôi
nét hoặc có nơi thông qua.
([1])
Phần này viết theo Mùi Hương Trầm của Nguyễn Tường Bách.
THIỀN
VIỆN BẢO QUANG
Thiền
viện Bảo Quang nằm ngay trong lòng Thành Đô. Đây là thiền
viện lớn nhất trong thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên. Dẫn vào
chùa là một công viên nhiều cây xanh, rải rác những tháp
đá thanh tú được điêu khắc thật tinh xảo. Con đường
lát đá hoa cương sang trọng, sạch sẽ nằm giữa hai dãy phố
cổ thật đẹp. Bốn chữ thiền viện Bảo Quang hiện ra sau
bức tường màu son đậm, tạo cho ta cảm giác thiền môn là
chốn không quá gần cũng không quá xa với cuộc đời.
Kiến
trúc chùa cổ rộng lớn thật đúng với tầm cỡ một ngôi
đại già-lam của Tứ Xuyên. Các điện đường được phối
trí hài hòa dưới những tàng cổ thụ lâu năm. Chúng tôi
nhận thấy hầu như các thiền viện, tự viện Trung Quốc
thường xây dựng các dãy điện đường cách nhau bởi một
khoảng sân rộng. Giữa sân là những đỉnh đồng và lư hương
lớn để cho khách thập phương thắp nhang.
Vào
chùa trước tiên là điện Di-lặc, kế đến có ngôi cổ tháp
12 tầng. Trên tháp phía trước khắc ba chữ “Quang Minh Tạng”,
phía sau là “Xá-lợi Bảo Tháp”. Kế nữa là Thất Phật
Bảo Điện, thờ sáu vị Phật quá khứ và đức Thích-ca-mâu-ni.
Chung quanh là các dãy nhà dành cho chư Tăng, nhà khách, nhà
ăn… Tương truyền, ngày xưa có một cư sĩ tị nạn chiến
tranh ở vùng này. Ban đêm ông nằm mộng thấy ngay khu vực
tháp hào quang sáng rực. Ông liền cho đào lên và phát hiện
có 12 viên xá-lợi của Phật. Do đó ông xây tháp này, đặt
tên là tháp Bảo Quang, để thờ phụng xá-lợi Phật. Nhìn
kỹ ta thấy tháp hơi bị nghiêng, người hướng dẫn viên
giải thích rất vui. Họ bảo khi xây tháp có Tứ thiên vương
đến nâng phụ bốn góc tháp, trong đó có một vị mạnh quá
nên nâng tháp cao hơn các vị kia. Do vậy mà tháp bị nghiêng
như chúng ta thấy hiện tại.
Cảnh
trí nơi đây được bàn tay con người chăm chút khá kỹ lưỡng
với những non bộ, những vòm cổng uốn cong mỹ thuật. Thế
nên chùa không chỉ dành cho Phật tử đến bái sám mà còn
là thắng cảnh cho du khách tham quan. Giữa lòng phố chùa trở
thành một góc yên bình cho bao người sau một ngày làm việc
mệt mỏi. Chiều về ghé lại chùa, ngồi yên ả một mình
trên ghế đá, dưới cội đại thọ, hít thở thật sâu, thân
tâm lắng dịu, bao lo toan muộn phiền cũng theo đó vơi đi.
Đặc
biệt chùa có La-hán Đường tôn trí mấy trăm tượng La-hán,
diện mạo không vị nào giống vị nào. Sự khác biệt ấy
để nói lên biệt hạnh của quý ngài. Tất cả đều sống
động hồn nhiên và gần gũi với con người. Đây thật là
một kho tàng nghệ thuật điêu khắc phong phú. Các chùa Việt
Nam cũng có thờ La-hán, nhưng thường là Thập Bát La-hán (18
vị La-hán), chớ không nhiều như ở Trung Hoa. Con số ấy chỉ
mang ý nghĩa tượng trưng mà thôi. Thật ra chư vị La-hán ngay
thời Phật còn tại thế đã vô số, nói gì đến những vị
tu hành chứng Thánh sau này, an trụ trong mật hạnh, các ngài
không cần đề danh. Mỗi vị có một hạnh tu và phương pháp
giáo hóa riêng. Đa số cuộc đời các ngài kỳ bí, ẩn hiện
khó lường, đến đi với chúng sanh chớp nhoáng, không lưu
lại dấu vết. Bồ-tát và Thánh tăng thường là như thế.
Trong
số 18 vị La-hán thường được nhắc đến, có Tôn giả Tân-đầu-lô
rất gần gũi với chúng ta. Ngày nay sau buổi thọ trai, khi
phục nguyện, chư Tăng Ni tại các tự viện thường niệm
thỉnh danh hiệu Tôn giả Tân-đầu-lô-phả-la-đọa chứng
trai. Ngài là vị La-hán thứ nhất trong số 18 vị La-hán, được
đức Phật thọ ký ở lại nhân gian giáo hóa chúng sanh. Ngài
cùng 1.000 vị La-hán khác trụ ở Tây Ngưu Hóa Châu. Theo truyền
thuyết, Ngài xuất thân dòng Bà-la-môn, là một đại thần
danh tiếng của vua Ưu-điền. Vì thích tu nên Ngài cáo quan
vào núi nỗ lực thiền định. Sau khi chứng Thánh quả, Ngài
cưỡi hươu về triều giáo hóa vua, nhân đó có danh hiệu
La-hán Cưỡi Hươu.
Khi
Phật còn tại thế, nhân một cuộc đọ sức với ngoại đạo,
Tôn giả dùng thần thông lấy cái bát quý treo trên trụ cao
của một vị Trưởng giả. Sự việc này làm cho ngoại đạo
rất nể phục chư Thánh tăng đệ tử Phật. Hay tin, chẳng
những không khen mà Phật còn quở trách Tôn giả biểu diễn
thần thông làm mê hoặc dân chúng, khiến họ ngộ nhận mục
đích tu học của đạo Phật giác ngộ giải thoát. Thế Tôn
thường khuyên dạy các thầy Tỳ-kheo nên dùng đạo thông
giáo hóa chúng sanh, không nên dùng thần thông. Chỉ trừ đức
Phật hoặc những trường hợp thật đặc biệt với sự cho
phép của Thế Tôn, các thầy mới được dùng thần thông.
Để răn đe hàng Thánh đệ tử ghi nhớ việc này, Phật dạy
Tôn giả phải vĩnh viễn lưu lại nhân gian làm phước điền
cho chúng sanh, vì thế Ngài thường làm bậc ứng cúng trong
các pháp hội như đã nói ở trên.
Một
lần ở thời Ngũ Đại, triều vua Ngô Việt thiết trai, có
một Hòa thượng tướng mạo gầy ốm, lông mày dài bạc trắng
bay đến, ngồi vào chỗ dành cho khách quý, thọ thực vui vẻ.
Ăn xong, Ngài cho biết mình là Tân-đầu-lô rồi biến mất.
Dưới thời vua A-dục và vua Lương Võ Đế, Ngài đích thân
hiện đến giáo hóa, làm tăng trưởng lòng tin mọi người.
Thời Đông Tấn, ngài Đạo An là bậc cao tăng phiên dịch
kinh điển, thường lo sợ chỗ dịch của mình không đúng
với Thánh ý. Ngài khấn nguyện xin chư Hiền Thánh hiển lộ
để chứng minh. Tối hôm đó, Ngài nằm mộng thấy một vị
Hòa thượng lông mày trắng đến nói:
- Ta
là Tân-đầu-lô ở Ấn Độ, lấy tư cách là một Đại A-la-hán,
ta bảo chứng những kinh điển ông dịch đều rất chính xác.
Ngài
Đạo An rất vui mừng, từ đó mới an tâm dịch kinh.
Ngoài
ra, còn một vị La-hán rất quen thuộc với chúng ta, mà kinh
điển thường hay khen ngợi, đó là Tôn giả La-hầu-la. Sau
khi theo Phật xuất gia, nhờ sự giáo dưỡng của Thế Tôn,
Ngài bỏ dần tập khí vương giả và thói xấu trêu ghẹo
người, nỗ lực tu tập và chứng Thánh quả. Sau khi thành
A-la-hán, Ngài thay đổi hoàn toàn, luôn khiêm cung nhẫn nhục,
không thích tranh cãi hơn thua. Phòng của mình bị người đến
ở, Ngài lẳng lặng vào nhà xí ngủ qua đêm. Đi khất thực
bị bọn côn đồ ném đá trúng đầu chảy máu, Ngài lặng
lẽ đến bờ suối rửa sạch rồi tự tay băng bó vết thương.
Tín chủ cúng cho Ngài tịnh thất, ít lâu sau đòi lại cúng
cho người khác, Ngài cũng bình thản dọn ra khỏi phòng. Sau
khi đã chứng Thánh quả, Ngài vẫn siêng năng lặng lẽ tu
tập. Đức Phật khen Ngài là Mật hạnh đệ nhất trong mười
vị đại đệ tử và chọn Ngài vào trong số 18 La-hán lưu
lại nhân gian, giáo hóa chúng sanh.
Xem
gương người xưa, ta thảng thốt nhìn lại mình và hiểu rõ
vì sao cho đến bây giờ đạo nghiệp vẫn chưa tới đâu.
Từ những chuyện rất nhỏ trong cuộc sống, trong ứng xử,
biểu hiện được một nội tâm sâu lắng định tĩnh bên
trong hay nông cạn vụng về toát ra cả bên ngoài. Vui buồn
từng cử chỉ, cắng đắng từng lời nói, hơn thua từng việc
nhỏ… đã gây tạo những đau khổ lớn cho nhau. Tất cả
đều vì bất giác, vì bản ngã mà ra. Con người chỉ là hạt
cát. Một hạt cát giữa trùng dương sa mạc thì cũng chỉ
là cát thôi. Có gì phải bận lòng! Vậy mà ta quên.
Trưa
nay, đoàn dùng cơm tại chùa Bảo Quang rồi sang viếng viện
Văn-thù, một trong những ngôi cổ tự lâu đời của Thành
Đô.
VIỆN
VĂN THÙ
Viện
Văn-thù cách thiền viện Bảo Quang không xa. Chùa còn có tên
là Cổ Đại Thánh Từ Tự, mặt xây về hướng nam lưng quay
về hướng bắc, đúng theo truyền thống các tự viện lớn
của Trung Quốc. Biển đề trước cổng chùa ngày nay là bút
tích của vua Quang Tự đời nhà Thanh kính lưu. Đây là một
ngôi Phạm vũ của hoàng gia, thuộc phái Thiền tông, đã có
1.600 năm lịch sử, được xây dựng vào đời nhà Đường.
Tương
truyền Đường Huyền Tông lúc trốn loạn đến Thành Đô,
dân tình lúc ấy thật đói khổ. Ông thấy một nhà sư trong
chùa bố thí cháo cho dân nghèo không sót một ai, nhà vua rất
cảm kích. Sau này khi đã yên vị, vua ra lệnh trích ngân quỹ
quốc gia xây dựng chùa. Ngày xưa đất chùa cả 1.000 mẫu,
có tới 96 viện lớn nhỏ. Cuối đời nhà Minh, chùa bị hủy
hoại vì chiến tranh, sang đầu nhà Thanh mới được tái thiết.
Do đó kiến trúc chùa ngày nay mang phong cách kiến trúc đời
Thanh và diện tích chỉ còn vài sào mà thôi. Khi được xây
dựng lại, người ta đào nền móng lên và thấy những viên
gạch màu xanh lưu ly với đường nét hoa văn cực kỳ tinh
xảo, đáng gọi là giai phẩm của công nghệ mỹ thuật đời
Đường. Một số còn được giữ lại và trưng bày trong phòng
Trưng bày của chùa.
Đặc
biệt tại đây Tam Tạng Pháp sư Đường Huyền Trang đã lưu
lại dịch kinh trong vòng 6 năm. Do đó chùa có cả một phòng
trưng bày triển lãm và bảo lưu số kinh điển do Ngài phiên
dịch. Ngoài ra các tranh ảnh thuyết minh con đường thỉnh
kinh có một không hai và các pháp sự vô lượng công đức
của Ngài thật sinh động. Trong đó có bức tranh pháp sư Huyền
Trang một hình một bóng giữa sa mạc mênh mông cát chảy,
bên cạnh là những chiếc đầu lâu một đi không trở lại,
dưới bức tranh có dòng chữ “Bất cầu đắc đại pháp,
thệ bất Đông quy nhất độ”, nghĩa là nếu không cầu được
đại pháp, thề không trở về Đông độ, đã khiến cho ta
phải rùng mình khiếp phục mà đảnh lễ Đường Tăng bằng
cả thân tâm.
Điện
Quan Âm ở giữa có tôn thờ tượng Bồ-tát Quan Âm cao 7m,
được điêu khắc từ một khúc gỗ cực quý dày hơn 2m, có
4.200 năm tuổi. Hỏi vì sao có được khúc gỗ quý này, người
ta kể lại khi nạo vét sông lấy cát, dân làng phát hiện
ra nó nằm sâu trong lòng cát, nên không hề bị mục nát và
màu sắc thật đặc biệt. Họ báo về chùa, chư sư mới tìm
đến xin mua lại và điêu khắc thành tượng. Vân và gỗ ngày
càng lóng lánh, khiến cho Bồ-tát mỗi lúc mỗi chói tỏa hơn.
Thật
ra, không phải Bồ-tát chói tỏa vì sắc tượng bên ngoài
mà vì diệu lực của Ngài. Thương và không từ bỏ một loài
nào, hễ chúng sanh niệm tưởng đến là Ngài liền ứng hiện.
Trong kinh Pháp Hoa, khi Bồ-tát Vô Tận Ý hỏi Phật rằng Bồ-tát
Quan Âm làm thế nào dạo khắp Ta-bà và phương tiện của
Ngài là gì? Đức Phật trả lời nếu có chúng sanh nào cần
dùng thân Phật được độ thoát, Bồ-tát Quan Âm liền hiện
thân Phật mà nói pháp. Cần hiện thân Trưởng giả, Cư sĩ,
Tể quan, Bà-la-môn được độ thoát… Ngài liền hiện các
thân ấy mà nói pháp. Quan Âm xuất hiện với 32 ứng hóa thân
tương ứng với 32 hoàn cảnh, là tiêu biểu cho mọi tình huống
kêu cứu của chúng sanh. Nhẫn đến Bồ-tát có thể vì chúng
sanh mà làm người phu quét đường hay những thân phận thấp
kém nhất trong xã hội này, để cứu thoát tất cả.
Bồ-tát
Quan Âm luôn có mặt bên cạnh chúng ta. Ngài ở lại Ta-bà
mãi mãi mà chúng sanh không chán, vì tai Ngài lắng nghe tiếng
nói của chúng sanh, tâm Ngài lắng nhận và thấu cảm nỗi
khổ của chúng sanh, để đến và chia sẻ, không từ chối
một ai. Vì lắng lòng nơi trần gian nên giữa Ngài và trần
gian không thể rời nhau được. Đó chính là nguyên nhân Bồ-tát
thường hiện hữu nơi cõi Ta-bà và luôn được chúng sanh
ngưỡng mộ thương kính.
Chẳng
những Bồ-tát nghe được mọi âm thanh của chúng ta, mà tánh
nghe này thấu suốt khắp mười phương Phật. Cho đến những
niệm nhỏ nhiệm nhất của chúng sanh, Ngài đều nghe được.
Phật bảo tánh nghe này không chỉ Bồ-tát Quan Âm mới có
mà tất cả chúng sanh cũng có. Nhưng Bồ-tát khác chúng sanh
vì Ngài quên trần cảnh nhớ tánh nghe, còn chúng sanh quên
tánh nghe nhớ trần cảnh. Cho nên nhĩ căn của Ngài viên thông,
còn nhĩ căn của chúng sanh không thông. Trong kinh Lăng-nghiêm,
Phật đã chọn pháp tu Nhĩ căn viên thông của Bồ-tát Quan
Âm làm pháp tu căn bản cho hành giả trên đường trở về
bản tâm.
Bồ-tát
Quan Âm sử dụng đại bi và đại trí như hai cánh tay không
rời Pháp thân Phật. Do đó từ tâm của Ngài hiển hiện thành
diệu dụng dưới mọi dạng thức để hóa độ chúng sanh.
Tình thương của Bồ-tát được nâng lên đến đỉnh điểm
của bi trí tròn đầy, vượt qua mọi ngăn ngại, không còn
thấy mình và người, cũng không còn tình thương để cho và
nhận. Đó mới chính là tình thương chân thật. Giống như
ánh sáng mặt trời tỏa chiếu khắp nhân gian, không cần biết
nơi chốn cao thấp. Dù chúng ta quý kính Bồ-tát hay không,
Ngài vẫn thương chúng ta. Thành tựu trí lực này, Bồ-tát
Quan Âm đi vào cuộc đời không chướng ngại, thân nơi cõi
tục mà tâm an trụ cảnh giới Phật.
Có
người hỏi nếu niệm danh hiệu Quan Âm, nhảy vào lửa có
cháy không? Cháy chứ. Nhào xuống biển có chìm không? Chìm
chứ. Niệm bằng cái tâm loạn động và cái miệng suông thì
chết chắc! Hành giả phải niệm bằng tâm thuần tịnh. Tâm
tâm tương ưng với Bồ-tát. Chánh niệm, chánh định, niệm
ngoài sóng thức, niệm đến vô niệm. Quên hết. Quên cả
chính mình thì không còn bị khủng bố, sợ hãi. Được thế,
dù cho xác thân có cháy cũng chỉ cháy phần huyễn tướng,
có chìm cũng chỉ chìm năm uẩn bốn đại, bấy giờ hành
giả nhập được Pháp thân bất diệt, vĩnh viễn vượt ngoài
sự sống chết. Như vậy không phải Bồ-tát đã cứu thoát
mình đó sao? Quan Âm diệu trí lực, hay cứu khổ thế gian,
chính là đây vậy.
Đảnh
lễ Bồ-tát Quan Âm trước khi rời Viện Văn-thù, chúng tôi
cảm thấy một chút an lòng khi chợt nhớ đến hai vị Đại
Bồ-tát luôn ở bên mình, trong từng niệm từng niệm bi trí
tròn đầy.
THƯỞNG
TRÀ
Tứ
Xuyên là xứ của danh trà. Cho nên ngành du lịch Trung Quốc
nhất định phải đãi khách cho bằng được những chung trà
đặc sản. Ghé vào một quán trà Thành Đô, đoàn được mời
vào căn phòng ấm áp. Ở đây, chủ chỉ rót và khách chỉ
uống, chớ không đối ẩm, càng không phải trà thiền hay
trà đạo như ở Nhật Bản.
Uống
trà như uống… rượu. Đây, Trúc Diệp Thanh một chung, mời.
Thanh Sơn Lục Thủy một chung, mời. Lan Quý Nhân một chung,
mời. Thế là Vương trà, Hồng trà, hoa nhài, Ô Long, Long Tỉnh…
nối nhau xếp hàng chào khách. Uống một hơi mười mấy chung
thì… hết biết. Vô phân biệt. Chẳng còn nhớ nổi vị nào
là đậm, nhạt, thơm, ngon, đắng, chát… Thật hay. Nhưng tiếc
là không có chung trà Triệu Châu năm xưa, để cho khách uống
phải tỉnh mộng, nhớ lại việc bổn phận của mình.
Nhà
tu thì không được say bất cứ thứ gì trên đời, kể cả
say trà. Cho nên chúng tôi uống xong quên tuốt hết. Lối tiếp
thị của Trung Quốc quả là rất có phong cách, nhưng Tăng
Ni Việt Nam dường như chỉ quen uống trà xanh, trà Phật, cây
nhà lá vườn bình thường thôi. Song để đáp lại tấm thịnh
tình nơi đất khách, Phật tử trong đoàn đã mua khá nhiều
trà cúng dường quý Thầy cô hoặc đem về tặng thân hữu
gọi là chút quà Trung Hoa.
Riêng
chúng tôi xin gửi đến Thành Đô – Tứ Xuyên chung trà của
thiền sư Huyền Quang – Việt Nam như là chút đạo tình cho
một lần hội ngộ.
Phú
quý phù vân trì vị đáo,
Quang
âm lưu thủy cấp tương thôi.
Hà
như tiểu ẩn lâm tuyền hạ,
Nhất
tháp tùng phong, trà nhất bôi.
Dịch:
Giàu
sang mây nổi đến dần dà,
Ngày
tháng trôi nhanh chẳng đợi mà.
Chi
bằng tiểu ẩn([1]) nơi rừng suối,
Một
giường gió mát, một chung trà.
Hòa
thượng Thanh Từ dịch
([1])
Tiểu ẩn là ở nơi rừng núi, trung ẩn là làm quan nhỏ, đại
ẩn là ở triều đình.
Một
chung trà này, chẳng thích lắm sao!
Giã
từ Thành Đô, chúng tôi lên tàu. Chắc chắn đêm nay sẽ rất
tỉnh vì một hỗn hợp trà còn ấm trong bụng.
Tứ
Xuyên
LẠC
SƠN ĐẠI PHẬT
Ngày
10-5-2007
Ăn
sáng xong, đoàn đáp chuyến bay đi Thành Đô vào lúc 8 giờ
sáng. Sân bay Thành Đô nhỏ hơn sân bay Quảng Châu. Thành Đô
là thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên. Đoàn đến Trung Quốc vào
đầu mùa hè, nên nhiệt độ Tứ Xuyên lúc này khoảng 80C
– 150C. Ở đây quanh năm sương mù nên ta có cảm giác mát
dịu hao hao như Đà Lạt. Nếu là mùa đông chắc sẽ lạnh
hơn nhiều.
Tứ
Xuyên là tỉnh đông dân, khoảng 120 triệu dân, có diện tích
hơn nửa triệu cây số vuông, lớn gấp rưỡi Việt Nam. Đây
là tỉnh có địa thế rất hiểm trở, hình lòng chảo, núi
non vây quanh tứ bề. Phía nam là cao nguyên Vân Nam, phía đông
bắc tiếp giáp với Thiểm Tây, phía đông là rặng Vu sơn,
phía tây là Thanh Hải – Tây Tạng. Ngày xưa nơi đây là vùng
biên địa hạ tiện, đất đai khô cằn. Đến thế kỷ IV
trước công nguyên mới được người Hán đến khai khẩn.
Khách
đến Tứ Xuyên thì không thể không nhớ tới nước Thục
ngày xưa của Lưu Bị. Sử Trung Quốc ghi rằng đầu công nguyên
(năm 67) vua Hán Minh Đế là người đầu tiên ngưỡng mộ
Phật pháp và cho truyền bá đạo Phật trong xứ sở này. Đó
là thời Hậu Hán. Sau gần 200 năm, con cháu của Minh Đế là
Hiến Đế lên ngôi, bị Đổng Trác và Tào Tháo chuyên quyền
lấn hiếp. Trong tôn thất nhà Hậu Hán có một người tên
Lưu Bị, làm nghề dệt chiếu, đóng dép. Đau lòng vì cơ nghiệp
nhà Hán, ông kết nghĩa cùng Quan Vân Trường, Trương Dực
Đức dấy quân phò vua giúp nước. Song có thể nói đại nghiệp
của ông thành tựu là nhờ vào thiên tài Khổng Minh Gia Cát
Lượng (181-234). Quân sư Gia Cát Lượng giúp Lưu Bị chiếm
được vùng đất Thục, nay là tỉnh Tứ Xuyên, đóng đô ở
Thành Đô.
Bấy
giờ Tào Tháo giữ đất Trung Nguyên gọi là nước Ngụy, còn
Tôn Quyền dựng nước Ngô. Đó là ba vùng đất to lớn, chia
Trung Quốc ra thành thế chân vạc, mỗi người hùng cứ một
phương và luôn rình rập dòm ngó nhau. Không biết vì chí lớn
muốn thống nhất giang san một cõi hay vì lòng tham không đáy
của con người mà trận đồ đẫm máu Tam quốc Ngụy, Thục,
Ngô kéo dài suốt 60 năm, để lại cho hậu thế tác phẩm
Tam Quốc Chí chưa khô dòng huyết lệ, quá đau thương để
cho người sau phải ngậm ngùi.
Chịu
bao biến đổi thăng trầm, bể hóa cồn dâu, Tứ Xuyên bây
giờ không còn là biên địa hạ tiện nữa mà trở thành một
trong những tỉnh gần trung tâm rất phát triển của Trung Quốc.
Lưu Bị có còn nằm trong thành Bạch Đế, cung Vĩnh An mà ngắm
Tứ Xuyên ngày nay, chắc hẳn sẽ thấy vui? Bài học lịch
sử nào cũng có kẻ thắng người bại, nhưng rồi tất cả
đều trở thành thiên cổ, tro tàn xương lạnh, tương sinh
tương diệt theo quy luật vô thường. Có chăng chỉ còn lại
khí tiết, phẩm chất, đạo đức của người anh hùng. Song
những thứ ấy cũng không sao sánh được với cái lẽ chân
thường, hư ngưng tịch lặng. Con người chỉ là một chút
duyên sinh theo nghiệp tạm đến, thuận dòng tạm đi, sao để
thân tâm chịu nhiều khổ lụy như thế!
Hãy
xem Thượng sĩ Tuệ Trung nước ta, một tướng lĩnh chung vai
sát cánh với vua Trần, với dân tộc trong những ngày đất
nước gặp cơn binh biến, đã có thái độ đến đi trong cuộc
đời bằng cái tâm của người sống đạo, đẹp và tỏa
sáng hơn cả vầng trăng: “Đói thì ăn chừ cơm mười phương
góp, mệt thì ngủ chừ nơi chẳng quê hương… Buông bốn
đại chừ đừng nắm bắt, tỉnh một đời chừ thôi chạy
quàng”. Được thế là do Thượng sĩ tu thiền, liễu đạt
nguồn tâm, sống tự do, chết tự tại, không gì có thể buộc
ràng. Cho nên Ngài đã bất tử, đã sống mãi trong lòng đất
Việt, trong lòng Tăng Ni, Phật tử và dân tộc Việt Nam, không
tính kể thời gian.
Đường
từ phi trường đến Thành Đô khá tốt. Những mảng dây leo
dọc bờ đá ở hai bên đường man mác xanh lẫn trong sương
mờ, làm cho Tứ Xuyên mù tỏa lại càng mù tỏa hơn. Mặt
trời lên muộn, đã gần 11 giờ trưa mà vẫn chưa thấy nắng.
Dân ở đây bảo có hôm mặt trời ngủ quên thì Tứ Xuyên
cũng trùm mây mà ngủ luôn suốt ngày đêm. Thật ra, vùng bình
nguyên đất đỏ này như cái lòng chảo nằm chính giữa, chung
quanh núi non bao phủ, nên khí hậu lạnh và ẩm quanh năm, hiếm
khi thấy nắng ấm trời trong.
Vào
Thành Đô, dùng trưa xong là đoàn đi ngay đến Lạc Sơn. Đây
là một thị trấn nhỏ nhưng lại có đức Phật rất lớn
- Lạc Sơn Đại Phật. Diện tích Lạc Sơn là 12.800km2, có
3.600 dân và hơn 3.000 năm lịch sử. Thời Nam Bắc triều gọi
đây là Gia Châu, thời Nam Tống gọi là Gia Định, đến đời
Thanh gọi là Lạc Sơn và tên này được dùng luôn cho tới
nay. Người ta bảo ở đây nổi tiếng là “Nhất Sơn, Nhị
Phật, Tam Giang”. Nhất sơn là Nga My sơn, Nhị Phật là Đại
Phật, Tam giang là ba dòng Mân giang, Thanh Y giang và Đại Độ
hà hợp lưu tại Lạc Sơn. Vì thế nó trở thành đô thị
được nhiều du khách vãng lai.
Chúng
tôi phải đi bộ một đoạn đường khá xa (khoảng 3km) và
đẹp dọc bờ Mân giang trước khi được đảnh lễ Như Lai.
Nước sông hắt lên làm dịu bớt cái hanh nắng mùa hè. Cảm
ơn hàng cây xanh bên đường phe phẩy một chút gió và bóng
mát tỏa râm là món quà tặng lữ khách phương xa. Mới đến
Trung Quốc có hai ngày, cho nên ai cũng còn đủ sức, đi rất
khỏe. Xem ra đây mới chỉ là khúc đầu của bản dạo bộ,
đi bộ, lội bộ cho tới chạy bộ của chúng tôi suốt 14
ngày tại Trung Quốc. Hết lên đường lại xuống đường,
muốn dừng cũng không sao dừng được. Các tay nhiếp ảnh
trong đoàn vẫn còn rất thư thả nhắm, ngắm, bấm… thật
vui vẻ.
Truyền
thuyết kể về sự ra đời của đức Phật nơi đây khá hay.
Lạc Sơn là chỗ nhập lưu của ba dòng Mân giang, Thanh Y giang
và Đại Độ hà. Do vậy chỗ này nước xoáy, sóng dữ, sẵn
sàng lật đắm ghe thuyền bất cứ lúc nào. Dòng thủy triều
nơi đây trở thành mồ chôn của bao nhiêu khách thủy hành.
Bấy giờ có một vị tăng hiệu là Hải Thông không chịu
được thảm cảnh ấy, ngài quyết chẻ núi lấp sông. Và
kỳ tích hơn là chính ngọn núi được chẻ ấy sẽ tạc thành
tượng của đức Đại Phật Lạc Sơn. Ngài chọn một vách
đá lưng dựa vào núi Lăng Vân, mặt nhìn ra đúng chỗ hợp
lưu của ba dòng sông trên, rồi quyên góp lòng hảo tâm của
nhiều người, chung vai góp sức để thực hiện tâm nguyện
trên. Viên quan địa phương bấy giờ thấy Ngài có tiền của,
nổi lòng tham nhũng nhiễu đòi chia. Ngài cương quyết không
cho và nói đó là số tiền của bá tánh, nếu của riêng thì
Ngài sẵn lòng. Viên quan không tha, xin thử mắt đại sư, nào
ngờ Ngài móc mắt đưa ngay. Sự việc đó làm cả người
lẫn thần sông phải kinh sợ. Thế là ngài Hải Thông bắt
đầu xây dựng công trình này vào năm 713 đời nhà Đường.
Công
trình chưa xong thì Đại sư đã theo Phật. Do tâm hạnh và
bi nguyện của Ngài quá lớn, quá cảm động lòng người nên
chiêu cảm nhiều tăng sĩ tự nguyện noi theo, tiếp tục công
trình cho tới ngày hoàn thành. Thật đáng khâm phục, 90 năm
sau tức năm 803, Đại Phật Lạc Sơn viên mãn tỏa sáng và
trở thành tượng Phật được điêu khắc từ đá lớn nhất
thế giới với chiều cao 71m. Mặt Phật rộng 10m, mắt ngang
3,3m, tai dài 7m, vai rộng 24m, trên bàn chân đứng hơn 50 người,
thế ngồi an nhiên vững chãi. Quả xứng với câu “Sơn thị
nhất Tôn Phật, Phật thị nhất tòa sơn” (núi là một vị
Phật, Phật là một ngọn núi). Kể từ đó ngọn Lăng Vân
được kiến tạo thành một quần thể hang động với rất
nhiều chư Phật và Bồ-tát.
Đức
Phật ngự trên một tòa núi đá, uy nghi hùng tráng trước
sông nước như vậy thì nước sông nào dám nổi cơn cuồng
nộ? Cho nên từ đó dòng sông biến đổi hoàn toàn, đá từ
núi đổ xuống đã lấp bằng những chỗ xoáy sâu, chế ngự
được các dòng chảy hỗn loạn. Người dân yên tâm trên
những chuyến thuyền qua lại. Đến đây, hầu như ai cũng
hướng về Đại Phật cúi đầu chấp tay cung kính đảnh lễ
và không quên tưởng nhớ đến công đức của đại sư Hải
Thông.
Đoàn
đi đường vòng lên chùa Lăng Vân. Chùa nằm ở vị trí ngang
đầu mặt Đại Phật. Cảnh trí già-lam u nhã thanh tịnh. Kiến
trúc đẹp, vòm mái các điện đài chạm trổ sắc sảo, thanh
nét, tạo cho khách cảm giác nhẹ nhàng tươi mát. Đứng trên
cao nhìn xuống ta thấy rõ hai con đường hẹp ở hai bên đức
Phật, xây thành cấp thang dẫn từ chân Đại Phật lên núi
Lăng Vân. Thiện nam tín nữ có thể nhiễu quanh theo bên phải
ba vòng (nếu đủ sức) rồi đứng lại cung kính đảnh lễ
Như Lai mà thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài ít bệnh ít não
chăng? Chúng sanh ở đây dễ độ chăng?” Nếu đức Phật
gật đầu thì xem như kẻ ấy có duyên với Đại Phật lắm.
Du khách cũng có thể dùng thuyền theo dòng Mân giang đến ngay
dưới chân tượng, lễ Phật rồi lên chùa chiêm ngưỡng Như
Lai.
Chúng
tôi ngồi nơi lầu chuông nhìn xuống ngã ba sông, chỗ hợp
lưu ba dòng Mân giang, Thanh Y giang và Đại Độ hà bây giờ,
con nước thật hiền hòa, lững lờ quanh những cồn cát nổi
vân. Ai biết được nó đã hung tợn như thế nào trước đây
những nghìn năm? Ai dám bảo không có gì thay đổi theo dòng
thời gian? Chỉ có điều các pháp đổi thay tốt hơn hay xấu
hơn mà thôi. Tất cả đều tùy tâm lưu chuyển. Nếu không
phải là từ tâm, đại tâm như đại sư Hải Thông và chư
sư tiếp nối thì liệu dòng sông có được như ngày nay chăng?
Cho nên trước tiên phải chuyển cái tâm mình đã, lo gì không
hết khổ, được vui. Tâm có Phật ngự thì hết sợ, như
Lạc Sơn Đại Phật với Tam giang đầu hợp vậy.
Chiều
xuống nhanh, tiễn chân chư tăng Việt Nam là những chung trà
ấm của Lăng Vân Tự và nụ cười hiền của Sư Trụ trì.
Mong ngày gặp lại.
Thiểm
Tây
14/09/2007
LÊN
TÀU ĐI TÂY AN
Chuyến
tàu K6 đi Tây An lăn bánh vào lúc 20h52 phút. Đây là chuyến
tàu đầu tiên của đoàn, để từ đó những tuyến tàu kế
tiếp nhau lưu lại trong chúng tôi nhiều ấn tượng hỏa xa…
xuất hạn mồ hôi. Vì là lên và xuống tàu ở một sân ga
giữa chừng, nên thời gian dành cho hành khách rất ít, khoảng
5 phút – 8 phút, có chỗ chỉ 3 phút.
Đoàn
lại đông, đa số là người lớn tuổi, hành lý nhiều, cho
nên việc đi tàu lửa trở thành kỷ niệm nhất. Có người
về đến nhà, nhắc lại chuyến đi không nhớ gì cả ngoài
chuyện đi tàu lửa. Nhưng lần này vẫn còn thong thả, chưa
có gì đáng nói lắm. Lần gần cuối cùng kia, mới biết thế
nào là chạy đua với tàu lửa.
Từ
Thành Đô đến Tây An nhìn trong bản đồ chỉ chừng một
đốt tay, mà tàu chạy suốt đêm không thấy tới, Trung Quốc
quả thật là một đất nước bao la. Đêm nay nghỉ lại trên
tàu. Nằm lắc lư trong toa, nhìn ra những cánh đồng mênh mông,
những đồi, những núi, những làng mạc ẩn khuất gần xa…
chập chờn mờ tỏ trong đêm, chúng tôi chợt nhớ lại bài
pháp của Hòa thượng Ân sư.
- Có
một con tàu kỳ lạ gồm nhiều toa, nhiều hạng nhưng không
có người lái. Nó tự chạy đều đều tiếp nối liên tục
từ phố thị ra biển khơi với một vận tốc thật chậm.
Trên đó vô số người bị lính áp tải lên những toa khác
nhau, từ hạng tốt đến hạng xấu. Hành khách đều có mang
theo hành lý riêng. Tuy chung một con tàu nhưng họ rất khác
nhau. Có người ngủ vùi, có người mê say ăn uống, có người
vui đùa thâu đêm, có kẻ ẩu đả vì những canh bạc đỏ
đen… Bao nhiêu cảnh tượng chen lấn giành giâït miếng ăn
giấc ngủ liên tục xảy ra, mặc cho con tàu lăn bánh đưa
họ ra trùng dương.
Trải
qua quãng đường dài vạn dặm, hương thơm cỏ lạ, kỳ hoa
dị thảo dàn trải trước mắt. Nhưng cũng có lúc con tàu
chạy ngang qua những cánh rừng thâm u, cảnh tượng ma quái
ghê rợn, hoặc chui vào lòng núi băng giá, âm khí ngột ngạt…
Nơi nào vừa lòng thích ý, hành khách mong cho con tàu chạy
chậm lại để thỏa lòng thưởng thức. Nơi nào nghịch lòng
trái ý, họ muốn con tàu lướt nhanh. Song ác nghiệt thay, con
tàu lạ kỳ ấy vẫn không thể nào lùi chậm hay tiến nhanh
theo lòng người.
Đường
xa đắm cảnh khiến cho đa số hành khách trên tàu quên rằng
đoạn đường cuối cùng sẽ là biển khơi. Vui thú, đam mê
theo những hình ảnh đẹp, có người nhảy bổ ra ngoài và
chết mất. Đau lòng hơn, nhiều cảnh tranh giành lấn hiếp,
xô đẩy nhau đã khiến họ quăng đồng loại mình xuống vực
thẳm ven đường. Trong số đó, rất ít người còn lại trên
tàu, biết rằng số phận mình sẽ rơi xuống biển sâu, họ
không chạy theo ngoại cảnh, mà âm thầm lặng lẽ ngồi kết
từng mảnh cao su lại với nhau thành chiếc phao, mặc tình
những kẻ chung quanh cười chê.
Rồi
cũng đến lúc đại dương hiện ra trước mặt. Những ai quên
đi số phận của mình, bấy giờ hốt hoảng kêu la cầu cứu,
van nài con tàu dừng lại. Nhưng quy luật ấy không thể thay
đổi được. Nó đâm nhào xuống biển, kết thúc cuộc hành
trình dài vô vị, vô lý kia. Chỉ những người không chạy
theo huyễn duyên, không màng chuyện hơn thua phù phiếm, họ
đã có sẵn chiếc phao, để khi con tàu lao xuống biển, họ
trầm tĩnh nương chiếc phao lên bờ bình an vô sự.
Câu
chuyện được hợp pháp như sau: Bọn lính áp tải người
lên tàu ví cho nghiệp lực dẫn chúng ta thọ sanh vào các cõi.
Các toa tốt xấu dụ cho tùy phước hay tội mà chúng ta sanh
ra trong gia đình, xã hội, hoàn cảnh thuận nghịch, sang hèn
khác nhau. Cảnh vật bên ngoài là ngũ trần. Hiện tượng diễn
ra bên trong là tam độc, bát phong… Sự vận chuyển liên tục
không dừng là dòng thời gian. Điểm khởi và điểm đến
dụ cho sanh tử, chúng ta ai cũng sinh ra và cuối cùng lại chết
đi. Nếu người tỉnh giác thì không chìm đắm trong biển
vô minh, được lên bờ giải thoát. Ngược lại, kẻ si mê
quên đi việc sống chết vô thường đang theo đuổi mình từng
phút từng giờ thì hẳn phải trầm luân nơi biển khổ.
Bài
pháp ấy là một bài pháp sống đã đi theo chúng tôi trong
suốt cuộc hành trình, như một hồi chuông cảnh tỉnh, như
một ánh đuốc soi đường, hướng đạo kẻ lữ hành không
lạc vào mê lộ tử sinh.
CHÙA
TỪ ÂN - THÁP ĐẠI NHẠN
Ngày
13-5-2007
Khoảng
12h30 phút, đoàn đến Tây An. Nhiệt độ khoảng từ 16oC –
29oC, rất quen. Nghỉ trưa xong, chúng tôi đến chùa Từ Ân
và tháp Đại Nhạn bằng xe ô tô. Tây An là thủ phủ của
tỉnh Thiểm Tây và cũng chính là cố đô Trường An của các
triều Chu, Tần, Hán, Tùy, Đường, Minh… trước sau có đến
10 triều đại chọn nơi đây là trung tâm kiến thiết kinh
đô, trải dài hơn 1.100 năm. Xe chạy qua cổng thành cổ xưa
tạo cho ta cảm giác kính cẩn rụt rè như kẻ thứ dân bước
vào cổng nhà quan lớn. Chung lâu và Cổ lâu sừng sững trong
thành càng làm tăng thêm vẻ uy nghi đường bệ của một thời
cố đô cổ đại. Bóng mát của hai hàng cây ngô đồng được
rắc lên chút sắc chiều hoàng hôn, làm cho lối dẫn vào Tây
An như một đường ngầm xanh thẳm, lấm tấm điểm nắng
hồng. Cổ kim giao hưởng tạo nên một dáng dấp Tây An hôm
nay. Đẹp và cổ kính.
Chu
vi thành 11km, chung quanh có 4 cửa, người ta đào hào sâu bên
ngoài để giữ thành. Đồng thời làm thêm một con đường
bao quanh thành rộng đến 150m, hai bên đường trồng cây ngô
đồng và cây du. Ngày nay Tây An có khoảng 3 triệu dân. Thành
Trường An đời nhà Đường to lớn kỳ vĩ hơn thành Trường
An đời nhà Hán gấp bội. Từ sau đời Đường, kinh đô các
triều đại khác chuyển về phía đông. Đời Minh đổi Trường
An thành Tây An. Ngày nay chúng ta thấy tường thành và lâu
thành hoàn chỉnh như vầy đều là kiến trúc của đời nhà
Minh.
Nhà
khảo cổ Hạ Tân Thành cho biết thành Trường An đời Đường
là thiết kế tinh tế nhất của Trung Quốc, là một kinh đô
cổ đại có bố cục cân đối. Nam – Bắc 8,4km; Đông –
Tây 7,9km; với tổng diện tích 81,48km2. Vào thế kỷ thứ VIII,
IX Trường An được xem là kinh đô lớn nhất thế giới. Đông
tây nam bắc thành Trường An được thiết kế thẳng góc giống
như một bàn cờ. Thành Lạc Dương, thành Bắc Kinh sau này
đều mô phỏng theo quy cách ấy.
Thành
Trường An đời Đường có tới 12 cổng thành, chớ không
phải chỉ 4 cổng như bây giờ. Trong đó, nổi tiếng nhất
là cổng Khai Viễn nằm ở phía tây. Chính nơi đây Đường
Huyền Trang đã xuất phát, thực hiện một cuộc Tây du dài
5.000 dặm, để sau này Phật giáo Trung Quốc có được một
kho tàng kinh điển đồ sộ chưa từng thấy. Có thể nói cổng
Khai Viễn chính là khởi điểm ở phía đông của con đường
tơ lụa. Con đường mà không biết truyền nhân nào đã tìm
ra từ đầu công nguyên, để từ đó mở lối cho các cao tăng
Ca-diếp Ma-đằng, Trúc Pháp Lan, An Thế-cao, Cưu-ma-la-thập,
Pháp Hiển, Bồ-đề Đạt-ma, Huyền Trang và vô số những
tăng sĩ khác đưa Phật giáo vào Trung Quốc.
Trường
An vì thế đã trở thành cuốn sử vẫn chưa khép của một
dân tộc có 6.000 năm văn hiến, trải qua nhiều thăng trầm
biến đổi. Thành Trường An vào đời Đường có dân số
khoảng 1 triệu người, diện tích bao bọc thành khoảng 85km2.
Các đời sau do chiến tranh phá hoại, Trường An dần dần
bị suy thoái. Đến đời Minh, khu vực thành trì thu hẹp lại
chỉ còn 30,2km2. Nhưng đến thế kỷ XX, Trường An đã thành
Tây An và hoàn toàn đổi mới, với tổng diện tích lên đến
gần 100km2, vượt rất xa thành Trường An huy hoàng nhất trong
lịch sử của thời Thịnh Đường. Và có lẽ sống nơi một
thành phố từng là cố đô của nhiều đời vua chúa, nên
người dân thành Tây An ngày nay vẫn còn phưởng phất đôi
nét phong lưu nhàn nhã, giữa một dòng sống cuộn chảy theo
nền văn minh thời đại tiến nhanh như thác lũ.
Chúng
tôi đến Tây An là vì nơi đây có Đường Huyền Trang, một
Tam Tạng Đại pháp sư, danh xưng và công đức bất hư truyền.
Cùng với ngài Cưu-ma-la-thập, Đường Huyền Trang đã đi vào
lịch sử Phật giáo Trung Quốc như một ngôi sao Bắc đẩu,
sáng chói và vĩ đại nhất trong sự nghiệp dịch thuật kinh
điển, với một trình độ văn chương trác tuyệt và nội
dung chuẩn xác. Vì thế điểm thăm viếng đầu tiên của đoàn
là chùa Từ Ân nằm phía tây thành phố Tây An, ngôi chùa Đường
Tăng trụ trì đầu tiên và phiên dịch kinh điển, từ chữ
Phạn ra chữ Hán và ngược lại.
Chùa
Từ Ân được vua Đường Cao Tông lập ra để báo ân cho mẹ.
Đây là một ngôi chùa hoàng gia, thời đó cực kỳ tráng lệ
và rộng lớn, thường dân không được vào. Ngày nay diện
tích chùa đã thu hẹp lại nhiều mà vẫn còn thấy rộng.
Người ta bảo đến Tây An mà không thưởng ngoạn các kiến
trúc đời Đường thì đành lòng sao được! Chùa Từ Ân và
tháp Đại Nhạn là những di sản quý báu còn lại mang kiến
trúc thời ấy, đến bây giờ vẫn không hề thuyên giảm giá
trị mỹ thuật lẫn kỹ thuật của một thời Thịnh Đường.
Tại
Quang Minh Đường, nổi bật những bức tranh đồng, tranh gỗ
miêu tả lại cuộc đời và thuyết minh con đường thỉnh
kinh của ngài Huyền Trang thật sinh động, với những nét
vẽ và điêu khắc cực kỳ sắc sảo, đã làm cho khách chiêm
ngưỡng hết lòng khâm phục Đường Tăng. Riêng bức chân
dung Ngài mang giày cỏ, lưng đeo giá kinh bằng gỗ, phía trên
giá hơi nghiêng về phía trước và có treo một cây đèn dầu
lạc là thường thấy nhất ở những tự viện thờ Ngài.
Bức tranh này khiến cho nhiều người xúc động. Cây đèn
trước giá kinh có công dụng tỏa ra ánh sáng dù chỉ leo lét
thôi, cũng đủ thắp lên ngọn tâm đăng và niềm tin cho Đường
Tăng tiến lên trên hoang lộ dày đặc hiểm họa và tối tăm.
Ngài
Huyền Trang thế danh là Trần Huy, sinh năm 602 tại Hà Nam. Năm
thứ ba đời Đường Thái Tông (629), Ngài chỉ mới 27 tuổi,
hãy còn rất trẻ mà đã quyết chí vượt mọi khó khăn nguy
hiểm rời Trường An sang Tây Vực thỉnh kinh. Một mình qua
sa mạc Gobi dài non 500km, tới nước Cao Xương. Rồi leo núi
Thông Lãnh cao 7.200m trong dãy Thiên sơn, tiến theo con đường
tơ lụa tới Thiết Môn sơn, một nơi rất ư hiểm trở. Từ
đây Ngài theo hướng đông nam qua nhiều nước nhỏ, rồi vòng
qua Đại Tuyết sơn vào Tây Trúc. Trải qua hơn 5.000 dặm đường
đầy gian nan nguy khốn, ngày đêm chịu đói khát trên những
vùng cát cháy, tay vin núi tuyết, chân đạp trên đỉnh cô
phong, chỉ vì một tâm nguyện muốn Phật pháp được lưu
bố rộng khắp dài lâu trên đất nước Trung Hoa, làm lợi
lạc quần sanh.
Chiến
thắng mọi nguy khốn gian nan đối với người tu vẫn chưa
là điều đáng quý, chiến thắng chính mình mới là chiến
công oanh liệt nhất. Và ngài Huyền Trang đã hoàn toàn chiến
thắng trên cả hai trận tuyến ấy. Sau 16 năm xa quê, năm 645
Ngài trở về Trường An và đã thành một cao tăng 45 tuổi,
đi gần 30.000km, qua 128 nước, đem về cho Trung Quốc 657 bộ
kinh, chưa kể nhiều vật quý khác và niềm kính phục vô biên
của thời nhân cũng như hậu thế.
Về
tới Trường An, một tháng sau, ngài Huyền Trang bắt tay ngay
vào việc phiên dịch toàn bộ kinh điển đã mang về từ Thiên
Trúc. Công việc này được thực hiện đại quy mô và liên
tục trong suốt thời gian dài 19 năm, dưới sự tài trợ của
triều đình. Ngài tổ chức một ban dịch thuật chuyên môn,
có trình độ giáo điển uyên thâm và vốn liếng ngoại ngữ
dày dặn. Ngài mời các vị cao tăng thông cả Hoa ngữ lẫn
Phạn ngữ hợp tác. Phương pháp dịch thuật của Pháp sư
Huyền Trang rất khoa học và chu đáo, được chia làm 10 khâu:
phiên dịch chính, chứng nghĩa, chứng văn, sao chép, ghi nhận,
xuyết văn, tham dịch, san định, nhuận văn, Phạn suy([1]).
Nhờ thế, các dịch phẩm được soát đi soát lại nhiều
lần nên khá chính xác. ([1]) Phạn suy: Đối chiếu bản dịch
với chữ Phạn.
Những
bộ kinh khó nhất, ý nghĩa thâm sâu nhất, ngài Huyền Trang
trực tiếp phiên dịch. Ngài làm việc siêng năng miệt mài
vô cùng. Hằng ngày dịch kinh cho đến khuya, canh ba mới ngủ,
canh năm lại dậy. Thái độ làm việc rất nghiêm túc cẩn
thận, không hề lơi lỏng chút nào. Thật là tấm gương sáng
cho chúng ta noi theo. Tại Ấn Độ, môn học sở trường của
Ngài là Duy Thức. Vì vậy về đến Trung Quốc, Ngài thu lượm
tinh hoa của các bộ Đại luận thuộc tông Duy Thức, chuyển
sang Hán ngữ để tên là “Thành Duy Thức Luận”, tổng cộng
10 quyển. Do đó Pháp sư Huyền Trang cũng chính là Tông chủ
Pháp tướng tông tại Trung Quốc.
Tới
năm 663, Ngài dịch được 600 quyển. Ngoài ra, Ngài còn để
lại cho hậu thế bản dịch Đạo Đức Kinh từ tiếng Hoa
ra tiếng Phạn, giới thiệu triết học Trung Quốc với Ấn
Độ. Bản Đại Thừa Khởi Tín Luận cũng từ Hoa ngữ ngược
về Phạn ngữ, vì nguyên bản chữ Phạn ở Ấn Độ đã thất
lạc từ lâu, trong khi Trung Quốc còn giữ được bản chữ
Hán. Soạn một quyển ngữ pháp Phạn, giản lược mà sáng
sủa và chính xác. Viết bộ Đại Đường Tây Vực Ký gồm
12 quyển, chép những điều mắt thấy tai nghe trong suốt hành
trình thỉnh kinh. Bộ sách này là tài liệu rất quý cho các
nhà khảo cổ Ấn Độ và Trung Á về sau, đã được dịch
ra nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Nhật, Đức, Việt Nam…
đã giúp cho các học giả Ấn sửa lại nhiều điểm sai lầm
trong lịch sử của họ khoảng thế kỷ thứ VII.
Năm
664, giữa hương trầm quyện tỏa, bản kinh Bát-nhã vừa được
dịch xong, tâm nguyện đã viên mãn, thấy sắp đến giờ từ
biệt, Ngài lên chùa lễ Phật lần cuối rồi ngồi kiết-già
an nh