
Gần
đây trên mạng có xôn xao thảo luận vấn đề: “Kinh
điển Đại Thừa có phải do Phật thuyết hay không?”,
có không ít người hỏi tôi vấn đề này và có ý nhờ tôi
viết bài trả lời. Vì vậy, tôi viết bài này nhằm an lòng
Phật tử trong việc tu học theo truyền thống Phật giáo mà
mình đã chọn và tin chứ không nhằm mục đích công kích
bất cứ ai. Theo tôi, nếu người hiểu biết thì kinh nào cũng
là kinh Phật nói, dù là Tiểu thừa hay Đại thừa, còn nếu
người không hiểu thì dù kinh đó có do kim khẩu Phật nói
ra, cũng bị giải thích sai lạc. Nội dung bài viết này được
trình bày theo quan điểm cá nhân qua thực tiễn nghiên cứu
từ kinh điển, xin độc giả cùng tìm hiểu và chia sẻ.
Thật
ra, vấn đề này không mới mẻ và cũng đã được bàn cãi
từ hơn ngàn năm trong quá khứ cho đến hiện tại và ngay
cả trong tương lai vẫn tiếp tục có người đặt ra. Lý do
đơn giản là khi chúng ta đọc qua các lần kiết tập kinh
điển trong Phật giáo, nhất là lần kiết tập I, II và III,
không thấy đề cập đến tên của các kinh điển Đại thừa
mà chỉ thấy đề cập đến tên của các kinh A hàm và Nikya
và luật tạng, từ đó đưa ra nghi vấn. Cách đặt vấn đề
này không phải là không đúng, nhưng có một vấn đề quan
trọng hơn mà chúng ta không để ý đó là quá trình phát triển
kinh điển của Phật giáo. Ngang qua thời gian và không gian,
quá trình phát triển đó không thể giữ vẹn hình thức ban
đầu mà phải vay mượn một hình thức khác, để được
tồn tại và bảo vệ tính chất cơ bản của nó, nếu không
thì tự nó bị đào thải. Giống như một cậu bé A khi mới
sinh cần những thức ăn, y phục của trẻ sơ sinh rồi vài
ba năm sau cậu A lớn lên không thể tiếp tục ăn thức ăn
như vậy, mặc đồ như vậy được mà phải ăn thức ăn khác,
mặc chiếc áo khác, rồi 10 tuổi, 20 tuổi cũng thế, nhưng
có một điều không khác trong đó vẫn là cậu A. Cái thay
đổi là hình thức của kinh luật, cái không thay đổi đó
là tinh thần giáo dục trong kinh. Đây là điểm chúng ta cần
để ý. Tinh thần giác ngộ và giải thoát của đức Phật
không những chỉ có trong kinh điển Phật giáo Tiểu thừa
mà có cả trong kinh điển Phật giáo Đại thừa. Nếu cho rằng
kinh điển của Đại thừa là kinh phi Phật thuyết (không phải
do Phật nói), thì cần phải xác định kinh điển nào là do
Phật nói, căn cứ vào đâu để đưa ra quan điểm này?
Như
trên đã đề cập quan điểm cho rằng, kinh điển Đại thừa
không do Phật nói dựa vào các lần kiết tập chỉ đề
cập đến 5 bộ Nikya hay 4 bộ A-hàm, không đề cập đến
kinh điển Đại thừa. Do vậy, trước khi đi vào vấn đề
này chúng ta thử tìm hiểu nội dung kiết tập kinh điển lần
thứ nhất và lần thứ hai, hay nói một cách khác tìm hiểu
quá trình biên tập 5 bộ Nikya hay 4 bộ A hàm như thế nào.
1.
Cuộc kiết tập lần thứ nhất và lần thứ hai chỉ là khẩu
truyền
Sau
khi đức Thế Tôn thành đạo dưới cội cây Bồ đề, kể
từ đó Ngài đem khoảng thời gian còn lại 45 hay 49 năm, vì
chúng sinh giáo hóa. Những gì mà Ngài giảng dạy được gọi
là ‘Pháp’ hay ‘Giáo pháp’. Trong suốt thời gian Ngài còn
tại thế, khi nói pháp bản thân Ngài không ghi lại, không
viết thành sách, các đệ tử của Ngài cũng không ai ghi lại
khi Ngài giảng, vậy thì kinh điển mà hôm nay chúng ta đọc
tụng có từ lúc nào? Không ít người cho rằng, nó được
ghi lại ở lần kiết tập thứ nhất, vì điều đó đã được
hầu hết các bộ luật của các Bộ phái đều ghi lại nội
dung kiết tập lần này. Như “Ngũ Phần Luật”(五分律)của
phái Hóa Địa bộ (Mahi§saka) ghi:
“Những
kinh có nội dung dài được kiết tập lại thành một bộ
có tên là “Trường A hàm”; Những kinh có nội dung không
dài không ngắn kết tập thành một bộ gọi là “Trung A hàm”;
Vì các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Thiên tử,
Thiên nữ kết tập thành một bộ gọi là “Tạp A hàm”;
Những kinh có nội dung từ 1 pháp cho đến 11 pháp, kết tập
thành một kinh gọi là “Tăng Nhất A hàm”; Ngoài ra có nội
dung hỗn hợp kết tập thành một bộ, gọi là “Tạp Tạng.”[1]
“Thiện
Kiến Luật Tỳ Bà Sa” (善見律毘婆沙) của phái Đồng Diệp
Bộ (Tamra§tiya) lại ghi rằng:
“Những
gì gọi là A hàm?....Một là “Trường A hàm” (Dighanikya);
hai là “Trung A hàm” (Majjhimanikya); ba là “Tăng Dục Đa
A hàm” (Sa×yuttanikya); bốn là “Ương Quật Đa La A hàm”
(Aºguttaranikya); năm là “Khuất Đà Già A hàm” (Khuddakanikya)....Đây
là nội dung 500 vị A la Hán kiết tập”[2]
Qua
hai dẫn chứng của 2 bộ Luật vừa nêu trên đều cho rằng,
lần kiết tập thứ nhất bao gồm ‘Pháp’ (dhamma) và ‘Luật’
(vinaya). Riêng kiết tập Pháp tức kinh bao gồm: 1. “Trường
A hàm”, 2. “Trung A hàm”, 3. “Tạp A hàm”, 4 “Tăng Nhất
A hàm” và “Tạp Tạng.” Đó là tính theo Bắc truyền. Nếu
tính theo Nam truyền thì gồm có: 1. “Trường Bộ” (Dighanikya),
2. “Trung Bộ” (Majjhimanikya), 3. “Tương Ưng Bộ” (Sa×yuttanikya),
4. “Tăng Chi Bộ” (Aºguttaranikya), 5. “Tiểu Bộ” (Khuddakanikya).
Ở đây “Tiểu Bộ” cũng tức là “Tạp Tạng”, và chúng
ta thấy “Tiểu Bộ” hay “Tạp Tạng” cũng đã được
đề cập ở lần kiết tập lần thứ nhất, không phải đợi
đến lần kiết tập lần thứ hai.
Trên
thực tế các luật đã đề cập lần kiết tập thứ nhất
là 5 bộ kinh. Thế thì hình thức kiết tập như thế nào?
Có phải chỉ là hình thức khẩu truyền, tức do A Nan đại
diện đọc nội dung của kinh đã từng nghe Phật giảng, toàn
bộ đại chúng cũng biểu quyết bằng miệng, hay là kiết
tập bằng văn bản, tức dùng giấy mực hay dụng cụ nào
đó ghi lại? Vấn đề này, không có kinh luật nào, dù là
của Nam truyền hay Bắc truyền ghi rõ, chỉ đề cập đến
sự ‘Kiết tập’ (sa×g´ti), nhưng không ghi rõ hình thức
kiết tập như thế nào. Đây là trọng tâm của vấn đề,
cần làm sáng tỏ nó, để chúng ta xác định vấn đề thế
nào là kinh do Phật nói hay không do Phật nói.
Để
xác định kinh điển A-hàm hay Nikya được kiết tập bằng
văn tự ở lần thứ nhất hay thời nào, chúng ta không nên
dựa vào sự tưởng tượng hay suy luận thiếu căn cứ của
mình mà cần tiến hành khảo cứu nội dung được ghi lại
trong các kinh này, trong đó đề cập đến nhân vật nào, sự
kiện gì, những nhân vật sự kiện này ở vào thời đại
nào trong lịch sử Phật giáo. Nếu trong đó toàn là những
sự kiện lịch sử trước khi xảy ra cuộc kiết tập lần
thứ nhất, thì đó là một trong những bằng chứng để chúng
ta chứng minh kinh A-hàm và Nikya được kiết tập bằng chữ
viết ở lần thứ nhất. Ngược lại, nếu trong đó đề cập
đến những sự kiện lịch sử sau lần kiết tập này, thì
kinh điển đó không thể kiết tập bằng chữ viết ở lần
thứ nhất.
Căn
cứ phương pháp này, một cách cụ thể tôi tiến hành kiểm
tra 4 bộ A-hàm và 5 bộ Nikya phát hiện có nhiều chứng cứ
thể hiện 4 bộ A-hàm và cả 5 bộ Nikya không thể kiết
tập bằng chữ viết vào lần kiết tập thứ nhất. Để tiện
việc cho độc giả theo dõi, xin trích dẫn như sau:
“Kinh
Tương Ưng ” tập 4 đề cập sự kiện các Tỷ kheo thâu nhận
vàng bạc như sau:
“Lúc
bấy giờ trong cung vua, quần thần nhà vua đang ngồi tụ họp,
câu chuyện sau đây được khởi lên: "Các Sa-môn thuộc dòng
Thích tử được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử
được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử được nhận lấy
vàng bạc...."[3]
Như
chúng ta biết, sau khi Phật nhập diệt 100 năm, Tăng già xảy
ra cuộc kiết tập lần thứ hai gồm 700 vị A La Hán, với
nội dung cùng nhau quyết định ‘10 việc’[4] là phi pháp
hay hợp pháp. Trong đó, việc thứ 10 là Tỷ kheo được thọ
nhận cúng dường tiền bạc. Chính việc thứ 10 này là nguyên
nhân dẫn đến lần kiết tập này. Từ sự kiện này cho thấy,
nội dung đoạn kinh vừa trích dẫn có liên quan đến nội
dung kiết tập lần thứ hai. Dẫu rằng, kinh này không đề
cập đến lần kiết tập thứ hai. Nhưng “Kinh Tiểu Bộ”
lại đề cập đích danh lần kiết tập lần thứ hai và thời
điểm kiết tập:
“...sau
khi bậc Đạo sư nhập diệt, ngài (Sambhèta) được înanda
giáo hóa, xuất gia và chứng quả A la hán, Ngài sống trong
an lạc giải thoát, cho đến khi 100 năm sau khi đức Phật nhập
diệt, Vajj´ đề xướng mười tà pháp bị trưởng lão Niyasa
và các Tỷ kheo Kkanndaka chống lại và một kỳ kiết tập
được tổ chức với 700 vị A la hán...”[5]
Qua
nội dung của hai kinh vừa dẫn, chúng ta có đủ bằng chứng
để chứng minh 4 bộ A-hàm và 5 bộ Nikya không thể kiết
tập bằng văn tự ở lần thứ nhất xảy ra sau khi Phật nhập
diệt. Từ sự kiện này, nếu A-hàm hay Nikya kiết tập sớm
nhất cũng phải xảy ra sau lần thứ hai.
Trên
đây là những sự kiện lịch sử có liên quan đến lần kiết
tập lần thứ hai, tức sau đức Phật nhập diệt 100 năm.
Ngoài
sự kiện có liên quan đến 10 việc, trong “Kinh A hàm” và
Nikya có khá nhiều kinh đề cập đến sự kiện: “giết
cha, giết mẹ và giết A La Hán, phá hòa hợp tăng và làm thân
Phật chảy máu”. Thông thường chúng ta cho 5 tội này là
của Đề Bà Đạt Đa, nhưng trên thực tế Đề Bà Đạt Đa
chỉ phạm 2 tội trong 5 tội nghịch là: “Phá hòa hợp tăng
và làm thân Phật chảy máu”, 3 tội còn lại là của Đại
Thiên, được các nhà Hữu Bộ ghi trong “Đại Tỳ Bà Sa”,
quyển 99. Theo tôi, sự kiện Đại Thiên phải xuất hiện sau
sự kiện kiết tập lần hai và trước khi vua A Dục xuất
hiện, như vậy có thể vào năm 138 theo nguồn sử liệu của
Tây Tạng[6]. Vì theo các nguồn tư liệu để lại sự kiện
tranh cãi 10 việc vẫn chưa thấy chính thức công khai chia rẽ
tăng già. Như vậy, chính thức công khai chia rẽ vào năm nào,
đó chính là niên đại sau khi đức Phật nhập diệt vào năm
137, Đại Thiên đưa ra 5 việc mới chính thức làm tăng già
chia rẽ. Nếu như quan điểm này là đúng với lịch sử thì
trong kinh điển A-hàm và Nikya có khá nhiều kinh ghi lại sự
chia rẽ này. Ví dụ “Kinh Tăng Chi” (Aºguttaranikya) tập
2 ghi lại sự tranh tụng:
“Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, chúng Tăng bị chia rẽ. Khi chúng Tăng
bị chia rẽ, này các Tỷ-kheo, có sự mắng nhiếc lẫn nhau,
có sự đấu khẩu lẫn nhau, có sự kết tội lẫn nhau, có
sự tẩn xuất lẫn nhau. Ai không có tịnh tín, không tìm được
tịnh tín, và những ai có tịnh tín có thể đổi khác. Này
các Tỷ-kheo, đây là phi thời thứ năm để tinh cần….”[7]
Cũng
trong “Kinh Tăng Chi” này lại ghi:
“Tỷ-kheo
nào, này các Tỷ-kheo, là người gây ra cãi cọ, là người
gây ra tranh luận, là người gây ra đấu tranh, là người gây
ra các cuộc đấu khẩu, là người gây ra kiện tụng trong
Tăng chúng. Vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại. Thế
nào là năm? Không chứng điều chưa chứng được; thối thất
điều đã chứng được; tiếng ác đồn khắp; khi mạng chung,
tâm bị mê loạn; sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi
dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.”[8]
Ở
đây, các câu: “Khi chúng Tăng bị chia rẽ, này các Tỷ-kheo,
có sự mắng nhiếc lẫn nhau, có sự đấu khẩu lẫn nhau,
có sự kết tội lẫn nhau, có sự tẩn xuất lẫn nhau.”
Theo tôi, đó là những lời nói mô tả về sự tranh cãi giữa
Đại thiên và các nhà Thượng tọa bộ, vì chỉ có lần này
mới có sự tranh cãi mắng nhiếc lẫn nhau và cuối cùng dẫn
đến sự chia rẽ. Đó là thực trạng của lần tranh cãi giữa
Đại Thiên và các nhà Thượng tọa bộ. Quan điểm này, có
lẽ gặp phải sự không đồng tình của một số người nghiên
cứu, nhưng đó là quan điểm của riêng tôi. Nhưng thật ra
vấn đề mà tôi muốn trình bày ở đây không phải là niên
đại của Đại Thiên mà vấn đề chính là tôi muốn đề
cập là bản kinh A-hàm và Nikya được kiết tập thành chữ
viết rất muộn, không thể xảy ra ở lần kiết tập thứ
nhất.
Ngoài
sự kiện liên quan đến sự kiện lịch sử có liên quan đến
Đại Thiên, còn có khá nhiều kinh trong A-hàm và Nikya lại
ghi chép đến nhân vật vua A Dục là một nhân vật có liên
quan đến lịch sử kiết tập kinh điển Phật giáo. Tôi xin
trích dẫn để cùng tham khảo.
Trong
“Kinh Tạp A hàm”, kinh số 604, 640 và 641 đề cập đến
vua A Dục (Asoka). Tuy nhiên 3 kinh này được HT. Ấn Thuận trong
tác phẩm “Tạp A hàm Kinh Luận hội biện” sau đó cũng
được TT. Tuệ Sỹ viết lời Tiểu dẫn trong “Kinh Tạp A
hàm” bản dịch của Thích Đức Thắng cho rằng đây là những
kinh không thuộc A-hàm. Ngoài 3 kinh này, trong “Kinh Tiểu Bộ”
(Khuddakanikya) tập 3, phần “Trưởng Lão Tăng Kệ” Chương
hai kệ, Phẩm bốn, Vitsoka (Thera. 22) ghi rằng:
“Trong
thời đức Phật hiện tại, vào năm thứ 218, là em trai vua
Dhammsoka (A Dục), được đặt tên là Vitsoka. Đến tuổi
trưởng thành, ngài thành tựu những đức tánh thích hợp
với tuổi trẻ hoàng tộc. Rồi ngài trở thành đệ tử của
Trưởng lão Giridatta và thông hiểu về Kinh tạng và Luận
tạng A tỳ đàm.”
Đoạn
kinh vừa dẫn, đề cập đến nhà vua A Dục (Asoka) là nhân
vật cách đức Phật nhập diệt 218 năm, đây là niên đại
của vua A Dục theo truyền thống Nam truyền. Từ sự kiện
này, chúng ta có thể đi đến xác định sự kiện kiết tập
4 bộ A-hàm và cả 5 bộ Nikya không thể kiết tập bằng
chữ viết vào lần kiết tập thứ nhất, mà phải biên tập
sau niên đại 218 này tức vào thời đại vua A Dục. Cũng từ
sự kiện này, nó phản bác quan điểm cho rằng “Kinh Tiểu
Bộ” được kiết tập ở lần thứ hai.
Như
vậy, trong khoảng thời gian từ khi đức Phật nhập diệt
cho đến thời đại A Dục lời Phật dạy lưu truyền bằng
cách nào? Nếu không kiết tập bằng văn tự thì dĩ nhiên
bằng khẩu truyền, tức bằng hình thức thầy đọc lên cho
đệ tử nghe, đệ tử ghi nhớ và học thuộc lòng. Cứ thế
truyền đi từ người này đến người khác, từ thế hệ
này đến thế hệ khác. Cách ghi nhớ và học thuộc lòng đó
là cách truyền thừa Phật pháp sau khi Phật nhập diệt, kéo
dài hơn 200 năm. Cách đó cũng đã được ghi lại khá nhiều
nơi trong kinh điển A-hàm hay Nikya. Để làm sáng tỏ vấn
đề, ở đây xin trích dẫn một đoạn kinh trong “Kinh Tăng
Chi Bộ” (Aºguttaranikya) như sau:
“Ở
đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh, được
lãnh thọ sai lầm, với văn cú sắp đặt bị đảo lộn. Do
văn cú bị sắp đặt đảo lộn, này các Tỷ-kheo, nên nghĩa
lý bị hướng dẫn sai lạc. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp
thứ nhất đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông
hiểu các tập A-hàm, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu.
Các vị ấy không nói lại kinh cho người khác một cách cẩn
thận. Khi họ mệnh chung, kinh bị cắt đứt tại gốc rễ,
không có chỗ y cứ. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ ba
đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.”[9]
Trong
đoạn kinh thứ nhất, giải thích lý do tại sao đạo lý (diệu
pháp) của lời Phật dạy bị biến mất, đó chính là sự
học thuộc lòng kinh mà được lãnh thọ sai lầm. Khi người
thầy đã học thuộc lòng và nhớ sai lầm, không ai đính chính
sửa sai, rồi đem những điều thuộc lòng đó truyền lại
cho đệ tử. Do vì học thuộc lòng sai lầm, cho nên đạo lý
mà đức Phật muốn dạy cho chúng ta bị biến mất. Điều
đó cũng chẳng khác nào, như hiện nay chúng ta không trực
tiếp đọc kinh điển, chỉ nghe người này nói người kia
nói, rồi cho rằng đó là lời đức Phật dạy, do vậy đạo
lý trong sáng của đức Phật không còn, bản thân mình không
lợi, người khác cũng chẳng lợi gì. Ý nghĩa của đoạn
kinh thứ nhất mà tôi muốn đề cập ở đây chính là vấn
đề “học thuộc lòng”, chứng tỏ cách giữ gìn truyền
trao Phật pháp sau khi đức Phật nhập diệt là hình thức
học thuộc lòng; truyền trao cho nhau bằng hình thức nói và
nghe, cho nên quá trình tu tập của người thời bấy giờ là
văn (聞) tư(思) và tu(修). “Văn” là nghe dùng lỗ tai để
nghe, sau đó dùng trí tuệ suy nghĩ về lời dạy đó, có ích
lợi gì không, được gọi là “tư”. Sau khi suy tư, thấy
rằng lời dạy đó có lợi cho mình, cho người, cho nên quyết
định làm điều đó, cho nên gọi là “tu”. Quá trình này
cũng bắt nguồn từ “nghe” tức là văn, không phải như
ngày nay là hình thức tụng đọc kinh điển, biểu thị kinh
điển của Phật giáo vào thời bấy giờ vẫn chưa có chữ
viết.
Ở
đoạn kinh thứ hai, điểm mà chúng ta cần chú ý chính là
“Bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu”. Trì pháp tức
là người có bổn phận trách nhiệm học thuộc lòng và ghi
nhớ lãnh vực Kinh (sutta). Trì luật là người có bổn phận
trách nhiệm học thuộc lòng và ghi nhớ lãnh vực Luật. Trì
toát yếu, khái niệm này tiếng Phạn là mt¨k có nghĩa
là cốt lõi, đại cương, cương yếu, tiếng Hoa dịch là Bổn
mẫu (本母), có nghĩa là cái gốc. Như vậy, khái niệm “trì
toát yếu” có nghĩa là người có bổn phận trách nhiệm
học thuộc lòng và ghi nhớ những pháp mang tính đại cương,
cốt lõi như: ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới, tứ
đế....Nói một cách khác, “Bậc trì Pháp, trì Luật, trì
toát yếu” đây là cách phân chia, mỗi người phải có trách
nhiệm học thuộc lòng và ghi nhớ mỗi một lãnh vực nào
đó trong giáo pháp của đức Phật.
Như
vậy, sau khi đức Phật nhập diệt 4 bộ A-hàm hay 5 bộ Nikya
được lưu truyền dưới hình thức “khẩu truyền”.
Những kinh điển này được kiết tập thành văn tự sớm
nhất phải xảy ra vào thời đại vua A Dục. Cùng quan điểm
này, còn có A.K.Warder cho rằng: “Khi đức Phật còn tại
thế và sau đó một vài thế kỷ, lời giảng dạy của Ngài
không được ghi lại. Không ghi lại, không đồng nghĩa thời
bấy giờ không sử dụng chữ viết, mà nó không thông dụng
trong việc học tập và giảng dạy”[10] . Ngài Ấn Thuận
(印順) cũng cho rằng: “Khái niệm “kiết tập” ở thời
xưa không đồng nghĩa với khái niệm “biên tập” như thời
nay, vì ở vào thời điểm kiết tập đó vẫn chưa có công
cụ biên tập ghi chép thành kinh sách. Từ gọi là kiết tập
Phật pháp chỉ là do các đệ tử ưu tú của Ngài từng nghe
Ngài giảng ghi nhớ và khi kiết tập đọc lại cho mọi người
nghe mà thôi.”[11]
Qua
đó cho chúng ta thấy, 4 bộ A hàm hay 5 bộ Nikya mà chúng
ta lưu hành hiện nay, nếu được biên tập thành kinh sách
(chữ viết) sớm nhất là vào thời đại vua A Dục, tức 218
năm sau khi Phật nhập Niết bàn. Như vậy, trước đó kinh
điển chỉ truyền thừa bằng truyền khẩu và dùng ký ức
ghi nhớ. Vậy thì, vấn đề được đặt ra là, trong thời
gian hơn 200 năm đó, Phật pháp được người này truyền cho
người khác, rồi từ người khác lại truyền cho người khác
nữa, từ thế hệ này truyền đến thế hệ khác bằng phương
thức truyền khẩu và dùng ký ức ghi nhớ thì độ chính xác
của nó là bao nhiêu? Có bị quên hoặc có thêm ý kiến của
người sau vào không? Nếu như không bị quên thì tại sao trong
kinh lại ghi rằng: “các Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh, được
lãnh thọ sai lầm, với văn cú sắp đặt bị đảo lộn.”
Điều đó chứng tỏ đã có những Tỷ kheo đã quên hoặc
ghi nhớ kinh điển sai lầm, cho nên dẫn đến người học
cũng bị sai lầm. Nếu như đã nhớ sai lầm, hoặc tự thêm
ý riêng của người sau, thì bằng cách nào để chúng ta biết
điều đó là sai hoặc là do người sau thêm vào? Ở đây có
thể lấy một ví dụ: tại sao nội dung “Kinh Trung A hàm”
(Hán dịch) có đến 222 kinh, còn “Kinh Trung Bộ” chỉ có
152 kinh. Bên Hán tạng thêm vào hay bên Pli bớt đi? Căn cứ
vào đâu để xác định sự thêm hoặc bớt này? Nếu nó được
kiết tập lần thứ nhất thì tại sao có sự chênh lệch con
số quá lớn như vậy? Nếu như các kinh A-hàm và Nikya không
phải do các bộ phái kiết tập thì làm thế nào để lý giải
sự chênh lệch này? Chúng ta cần phải có thái độ khách
quan và nghiêm túc trong công tác nghiên cứu vấn đề này,
không nên có ý kiến xuất phát từ thành kiến hay cảm tình,
sẽ không có lợi cho Phật pháp.
Từ
những vấn đề được trình bày ở trên, tôi xin tóm tắt
một vài ý chính: Trong các luật ghi rằng, 4 bộ A-hàm hay 5
bộ Nikya được kiết tập lần thứ nhất. Nếu như đó
là sự thật thì hình thức kiết tập này chỉ là khẩu truyền,
tức các thành viên trong lần kiết tập đó dùng miệng quyết
định kinh và luật, không phải bằng văn bản, và kinh điển
được lưu truyền bằng hình thức học thuộc lòng, thầy
truyền cho trò và trò lại truyền cho trò, cứ thế từ thế
hệ này cho đến thế hệ khác. Cách truyền tụng này được
sử dụng cho đến thời kỳ vua A Dục sau Phật nhập diệt
218 năm (theo sử liệu Nam truyền) mới kiết tập bằng chữ
viết.
Thế
thì kinh điển được kiết tập sau 218 năm đó có giữ được
nguyên vẹn từ kim khẩu đức Phật giảng dạy khi Ngài còn
tại thế không, chắc chắn còn khá nhiều vấn đề rất thú
vị để chúng ta cùng nhau nghiên cứu và tìm hiểu.
(Trong
bài kế tiếp, tôi sẽ trình bày về sự xuất hiện kinh điển
Đại thừa và ý nghĩa của nó)
Taipei
ngày 05 tháng 10 năm 2008
Thích
Hạnh Bình
[1]
Phật Đà Thập và Trúc Đạo Sanh dịch sang Hán, “Ngũ Phần
Luật”(T22,No. 1421,p. 191a).
[2]
Tăng Già Bạt Đà La dịch sang Hán, “Thiện Kiến Luật Tỳ
Bà Sa” (CBETA, T24, no. 1462, p. 677, a16-b3).
[3]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tương Ưng Bộ” tập 4, Viện NCPHVN
ấn hành, 1995, trang 510. Tương đương “Kinh Tạp A hàm” kinh
số 911.
[4]
1.Tỳ kheo dùng muối gừng ướp thức ăn để dành qua đêm
vẫn hợp pháp, 2/ Tỳ kheo ăn xong, nhận được thức ăn khác
3/ Tỳ kheo ăn xong, rời khỏi chỗ, rồi ngồi ăn lại vẫn
hợp pháp, 4/ Tỳ kheo ăn xong, đi sang nơi khác ăn thêm vẫn
hợp pháp, 5/ Tỳ kheo dùng sữa đường hòa lại uống ngoài
bữa ăn chính vẫn hợp pháp, 6/ Tỳ kheo uống rượu tự chế
biến từ trái cây vẫn hợp pháp, 7/ Tỳ kheo tùy ý làm tọa
cụ lớn hoặc nhỏ vừa với mình vẫn hợp pháp, 8/ Tỳ kheo
có thể làm những việc mà lúc còn cư sĩ đã làm vẫn hợp
pháp, tất nhiên có việc có thể làm được và có việc không
thể làm được, 9/ Trong một trú xứ có một nhóm Tỳ kheo
làm pháp yết ma riêng, sau đó đến yêu cầu chúng Tăng chấp
nhận pháp yết ma ấy vẫn hợp pháp, 10/ Tỳ kheo có thể thu
nhận
và cất giữ vàng bạc, tiền của vẫn hợp pháp.
[5]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tiểu Bộ” tập 3, Viện NCPHVN ấn
hành, 2000, 219-220.
[6]
Bhavya (Thanh Biện) ,Bổn Tự Uyển Nhã dịch và chú “Dị
Bộ Tông Tinh Tuyển”, Đông Kinh, 1935, trang 8.
[7]
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tăng Chi Bộ” tập 2, Viện NCPHVN
ấn hành 1996, trang 412.
[8]
Sđd, trang 715.
[9]
Sđd, trang 95.
[10]
A. K. Warder, “Indian Buddhism”, Dehli: Motilal Banarsidass Publishers.,
p.199. (“It appears that during the Buddha’s lifetime and for some
centuries afterwards nothing was written down: Not because writing was
not in use at time but because it was not customary to use it for study
and teaching.”)
[11]
印順著,《原始佛教聖典之集成》,台北:正聞出版社,民國83年,頁
15。
Bài
Liên Quan:
Thế
nào là kinh điển ngụy tạo trong Phật giáo? Thích Lệ
Thọ
Đại
Thừa Kinh Có Phải Nguỵ Tạo Tân Tạo, Cư sĩ Huệ Chiếu
Kinh
Lăng Nghiêm Là Kinh Nguỵ Tạo Chăng, HT. Tuyên Hóa
10-14-2008
07:11:36