BÀI 3 -
KHAI THỊ ĐẠI CHÚNG
Đức
Phật trụ thế, thuyết pháp lợi sanh, khiến bốn chúng đều
được đắc độ. Ngài tuỳ cơ giáo hoá, mỗi mỗi đều có
phương tiện quyền xảo, khiến tất cả mọi loài đều được
lợi ích. Thí như trời mưa, cỏ cây đều được thấm nhuần,
tuỳ theo loại lớn nhỏ mà được sung túc, sanh trưởng. Thế
nên tuy pháp môn có thiên sai vạn biệt, nhưng quay về nguồn
thì không hai. Nếu dùng Phật tánh mà quán sát chúng sanh, thì
không có loài nào mà chẳng được độ. Dùng tự tâm mà quán
xét Phật tánh, thì ai ai cũng đều tu được cả. Song, chúng
sanh tự mê muội mà không biết điều này. Lại nữa, vì không
có thiện tri thức chân chánh dẫn dắt chỉ dạy, nên phải
cam chịu trầm luân, uổng thọ bao khổ não. Vì vậy, lúc Tổ
Huệ Năng vừa đến, ngũ Tổ Hoàng Mai liền hỏi : “Ngươi
là người xứ nào ?” Huệ Năng đáp : “Con là người xứ
Lĩnh Nam”. Ngũ Tổ nói : “Người Lãnh Nam mọi rợ lại có
Phật tánh ư ?”. Huệ Năng đáp : “Người có phân nam bắc,
nhưng Phật tánh chẳng hề có hai”. Lời này lưu bố khắp
nhân gian, như tiếng sấm nổ, khiến loài sâu bọ phải khiếp
đảm. Vùng Lãnh Nam trở thành cội nguồn của thiền đạo
Phật Pháp, khiến xuất sanh bao bậc trí giả và ngộ đạo.
Từ khi Lục Tổ hoằng hoá, đạo pháp được lưu truyền khắp
Trung Nguyên.
Ngày
nay, trước cửa môn đình, cảnh tượng tiêu điều, cỏ dại
mọc khắp nơi cả ngàn năm. Nhiều người đàm luận cho rằng
đó chẳng phải là vùng đất của thiện căn. Đây thật là
chưa đạt được ý chỉ Phật tánh. Tôi mong từ ân (của
nhà vua) chuyển đến Lôi Dương vào mùa xuân năm Bính Dần.
Đến mùa thu năm đó thì đến Ngũ Dương. Trong thành tôi chú
giải hoàn toàn bộ kinh Lăng Già. Mùa hè năm Mậu Tuất diễn
giảng cho chư đệ tử. Trong mỗi lần ngồi toạ, thấy chư
thiện nam tử hậu bối cố gắng mà đến, nên tôi rất mực
khen ngợi. Lại có hơn mười vị thiện sĩ lễ bái, khấn
cầu thọ năm giới của Ưu-bà-tắc. Tôi vui mừng chấp thuận,
nên làm pháp Yết Ma. Họ tự quy tâm ngày một tín thành, và
dốc lòng lắng nghe Phật Pháp. Tôi thương cho họ chưa liễu
ngộ và chưa biết cách tấn tu công phu tự độ. Vì vậy,
tôi dùng niệm Phật tam-muội, dạy họ chuyên tâm nơi tịnh
nghiệp, tức là chán chường duyên khổ, mà quy hướng Cực
Lạc. Trong kỳ hội mỗi tháng, lập ra quy chế ; trong ba thời
tu hành xưng danh lễ bái tụng đọc sám hối. Vì muốn tín
tâm ngày càng khẩn thành, tội chướng ngày càng tiêu bớt,
nên phải phát khởi nguyện vãng sanh. Nếu quả tình hành theo
pháp môn này, thì tuy thân tại trần lao, mà có thể bảo rằng
sống không hư, chết không phóng túng. Chẳng phải là công
hạnh chân thật sao ! Phật là giác, tức là Phật tánh của
chúng sanh. Vì mê mà làm chúng sanh. Nếu ngộ thì gọi là Phật.
Ngày nay niệm Phật, tức tự tánh Di Đà. Cầu vãng sanh cõi
Tịnh Độ, tức duy tâm Cực Lạc. Quý vị nếu thường niệm
niệm mà chẳng quên mất, thì tâm tâm Di Đà sẽ xuất hiện,
và từng bước lần hồi sẽ vê đến quê hương Cực Lạc.
Cần gì vọng mong nơi ngoài mười vạn ức cõi nước, còn
có cõi Tịnh Độ để quy hướng ! Thế nên, tâm tịnh thì
cõi nước thanh tịnh. Tâm cấu uế thì cõi nước uế trược.
Do đó, một niệm ác vừa dấy khởi, thì rừng kiếm cây đao
liền vung dậy. Một niệm lành sanh, thì đất báu hồ sen liền
hiện rõ. Thiên đường địa ngục, sao lại ngoài tâm này
ư ! Chư thiện nam tử ! Xin hãy suy nghĩ chín chắn ; phải luôn
thống niệm sanh tử đại sự, vô thường mau chóng. Một khi
mất thân này, thì muôn kiếp khó hoàn phục lại. Mặt trời
mặt trăng luôn xoay chuyển, và thời gian chẳng đợi mình.
Nếu phụ duyên này, thì lỡ mất cơ hội. Khi đại hạn đến,
hối hận chẳng kịp. Quý vị mỗi mỗi hãy nỗ lực. Trân
trọng ! Trân trọng !./.
Vi
tính : THÍCH ĐỨC TUẤN
