Đạo
Phật xuất hiện trên thế gian cách đây hơn 2.500 năm. Kinh
điển của đạo Phật được truyền tụng từ thế hệ này
sang thế hệ khác và chia ra nhiều bộ phái. Có thể có nhiều
khác biệt, nhưng về cơ bản vẫn dựa trên những nguyên tắc
về sự thật.
Trong
đạo Phật có quan niệm về hai loại sự thật: sự thật
tương đối và sự thật tuyệt đối. Trước khi nhập diệt,
Đức Phật đã nói một bài kệ nổi tiếng:
Chư
hạnh vô thường
Thị
sinh diệt pháp
Sinh
diệt diệt dĩ
Tịch
diệt vi lạc
Chư
hạnh là chỉ một sự vật, hiện tượng được tập hợp
thành bởi nhiều yếu tố và điều kiện. Ví dụ cái bàn
này là một hạnh. Vì bàn này là do gỗ, cây xanh, đất, nước,
lửa, gió, con người, thời gian, không gian cấu hợp lại mà
thành. Bông hồng trắng cũng là một hạnh. Cơn giận hoặc
nỗi buồn của mình cũng là những hạnh. Tất cả mọi sự
vật, hiện tượng đều biến đổi, không thường còn, nên
Đức Phật nói: “Chư hạnh vô thường”, chúng đều có
sinh, có diệt “Thị sinh diệt pháp”.
Cái
thế
giới vô thường, có sinh, có diệt ấy là một sự thật.
Đạo Phật gọi sự thật này là sự thật tương đối.
Nhưng
khi ta tiếp tục quan sát cho sâu sắc hơn, chúng ta tiếp xúc
được với thế giới bất sinh, bất diệt, thế giới bản
thể.
Hãy
quan sát đợt sóng, ta thấy trước khi đợt sóng vươn lên
thì hình như nó không có. Khi nó vươn lên thì có sóng, khi
nó chấm dứt thì hình như nó không còn nữa. Như vậy là
sóng lúc có, lúc không, có sinh, có diệt. Đó là thuộc về
sự thật tương đối. Nhưng có một thế giới khác nằm ngay
trong thế giới hiện tượng này mà không bị những cái có,
cái đó ràng buộc. Đó là thế giới của bản thể mà ở
đây chính là nước. Đối với nước thì ta không thể nói
về sóng.
Thế
giới của bản thể không sinh, không diệt. Đạo Phật cho
rằng đây là một sự thật nhưng là một sự thật tuyệt
đối “Sinh diệt diệt dĩ; Tịch diệt vi lạc”.
Giữa
sự thật tương đối và sự thật tuyệt đối là không chống
đối nhau, mà có sự liên kết với nhau. Nếu chúng ta tiếp
xúc sâu sắc với sự thật tương đối thì chúng ta tiếp
xúc được với sự thật tuyệt đối. Khi nào thấu hiểu
sinh tử một cách sâu sắc thì chúng ta cũng tiếp xúc được
với thực tại không sinh, không tử. Chùa khoá của sự giải
thoát là khi ta từ thế giới hiện tượng mà đi được tới
thế giới của bản thể. Đi tới được, thì ta đạt được
an lạc hạnh phúc.
“Hạnh”
trong đạo Phật được diễn đạt trong đạo lý duyên sinh.
Đạo lý duyên sinh có khi được dùng danh từ đạo lý duyên
khởi hay đạo lý nhân quả.
Khi
nói duyên sinh, chữ duyên có nghĩa là điều kiện. Chữ sinh
trong “duyên sinh” có nghĩa là phát khởi ra. Một vật phát
khởi, có thể không cần sinh ra, có thể nó đã có sẵn rồi,
giờ mới biểu hiện ra cho ta thấy. Chữ khởi này là biểu
hiện ra. Ví dụ khi một niềm vui phát khởi thì niềm vui đó
không hẳn là mới được sinh ra, nó chỉ phát hiện ra thôi.
Hạt giống của niềm vui có sẵn trong ta rồi. Nhưng lâu nay,
niềm vui đó không được tưới tẩm. Bây giờ nhờ có hiểu
được đạo Phật, thì niềm vui đó phát khởi: “Mùa xuân
nhẹ hạt đất tâm ướt; Hạt đậu năm xưa miệng hé cười”.
Trong
các kinh Nam Tông cũng như Bắc Tông, đạo lý duyên khởi được
trình bầy: “Cái này có cho nên cái kia có”; “Cái kia có
thì cái này có”, cả hai nương vào nhau mà hiện hữu. Ý
niệm về sinh nương vào ý niệm về diệt mà có mặt. Ý niệm
về diệt nương vào ý niệm về sinh mà phát hiện.
Trong
đời sống hàng ngày, chúng ta thấy mối quan hệ nhân quả
rất rõ: cái nhân ở trong quả và cái quả ở trong nhân. Thấy
được cái này ở trong cái kia, thấy được cái kia ở trong
cái này, thấy mỗi cái chứa đựng được tất cả, và thấy
tất cả mọi cái đều chứa đựng mọi cái.
Giáo
lý duyên khởi có thể coi là nguyên tắc cơ bản để khám
phá kho tàng giáo lý đạo Phật. Trong Tạp A Hàm, kinh 288, Samyutta,
112, Đức Phật nói rằng: “Người nào thấy được tính
duyên khởi là thấy được Phật, thấy được Phật trong
bản chất”.
Với
ngọn đuốc duyên khởi, chúng ta có thể đi vào giáo lý về
bốn sự thật và về Bát chính đạo – một giáo lý nền
tảng, phổ quát, bao trùm tất cả Phật pháp, vượt cả thời
gian. Suốt hơn 2.500 năm, giáo lý về Tứ diệu đế và Chính
đạo tiếp tục được xiển dương như xương sống của đạo
Phật.
Tứ
diệu đế là bài thuyết pháp đầu tiên được chép trong
Chuyển Pháp Luân Kinh, Đại Chuyển Pháp Luân Kinh hay Tam Chuyển
Pháp Luân Kinh. Pháp Luân là cái bánh xe giáo pháp, và chuyển
pháp luân có nghĩa là bắt đầu quay bánh xe pháp. Bánh xe giáo
pháp vốn có sẵn rồi nhưng cần phải chuyển. Phật nói bài
thuyết pháp đầu tiên, giống như hành động nắm lấy bánh
xe giáo pháp mà xoay mạnh và từ giờ phút đó bánh xe pháp
tiếp tục quay cho đến ngày hôm nay. Những tín đồ của đạo
Phật có bổn phận phải giúp cho bánh xe pháp đó tiếp tục
xoay chuyển. Pháp Luân Thường Chuyển nghĩa là bánh xe pháp
luôn luôn chuyển động.
Tứ
diệu đế tức là bốn sự thật mầu nhiệm: khổ, tập, diệt
và đạo (duhkha, Samudaya, nirodha, marga). Khổ tức là sự thật
thứ nhất mà chúng ta phải nhận ra, phải tìm hiểu. Tập
tức là những nguyên do đưa tới khổ, những thức ăn vật
chất, tinh thần đã được tiêu thụ và đã đưa tới đau
khổ. Đó là sự thật thứ hai cần phải nhận diện, cần
phải chuyển hoá. Sự thật thứ ba là diệt. Diệt ở đây
là sự vắng mặt, sự trừ diệt các nguyên do đã đưa tới
khổ. Và sự thật thứ tư là Đạo. Đạo tức là con đường,
là thức ăn, là các phương pháp thực tập dẫn tới sự vắng
mặt của những nguyên nhân gây khổ. Bốn sự thật có liên
hệ với nhau. Trong tứ đế có hai cặp nhân quả. Sự thật
thứ hai là nhân của sự thật thứ nhất. Sự thật thứ tư
là nhân của sự thật thứ ba.
Bốn
sự thật mầu nhiệm trong bài pháp thoại đầu tiên của Đức
Phật chứa đựng sự kỳ diệu của Đạo Phật. Trong đó
Bát chính đạo, con đường của tám sự hành trì chân chính
là xương sống của đạo Phật. Nếu chúng ta muốn an lạc
và hạnh phúc thì phải thực tập con đường Bát chính đạo.
Vì ở đâu có Bát chính đạo thì ở đó có tuệ giác và
an lạc.
Tứ
diệu đế là một diễn trình mang tính cách nhập thế của
đạo Phật. Trong Bát chính đạo có chính ngữ, chính nghiệp,
chính mạng v.v…Chính ngữ tức là sử dụng ngôn ngữ từ
ái, trung thực. Chính mạng tức là sử dụng các phương tiện
sinh sống chân chính, không vi phạm đức từ bi. Nếu đạo
Phật chủ trương chỉ dạy cho người sống trong rừng sâu
xa lìa đời sống, không cần nói chuyện với ai, không phải
làm nghề gì để sống ở đời, thì chắc đức Phật không
cần dạy về chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng. Vì sống
trong cộng động xã hội nên ta phải sử dụng ngôn ngữ,
phải có nghề nghiệp sinh sống chân chính. Người xuất gia
cũng như người tại gia phải có những phương tiện sinh sống
hợp pháp, phù hợp với từ bi và trí tụê. Bát chính đạo
có chính ngữ, chính mạng, chứng tỏ rằng đạo Phật ra đời
vì mọi người, để dạy cho mọi người trong xã hội. Và
như vậy đạo Phật là đạo của cuộc đời, đi vào cuộc
đời, đạo nhập thế, chứ không phải đạo của người
chán đời, từ bỏ cuộc đời.
Trong
bốn sự thật mầu nhiệm, giáo lý của đạo Phật nói sự
thật về khổ ở đây cần phải hiểu rằng “Tất cả đều
là khổ”. Rất nhiều người trong chúng ta ngộ nhận rằng
đạo Phật còn coi tất cả đời này là khổ hết. Kể cả
lạc thọ tức là niềm vui đó chẳng qua cũng chỉ là khổ
thôi. Người ta đã phân ra ba loại khổ: khổ khổ, hoại khổ,
hành khổ. Có người không hiểu chữ khổ khổ, nói rằng
đã khổ rồi lại càng chồng chất thêm cái khổ nữa, cuộc
đời chỉ có khổ thôi, không có gì là niềm vui nữa. Thực
ra khổ ở đây chỉ có nghĩa là một cảm thọ khó chịu.
Như đau đầu cảm giác đau nhức vì cảm cúm, hoặc khi bị
người ta chọc giận, chúng ta bực tức khó chịu, trời lạnh
mà lội xuống nước lạnh ta run lên cầm cập…Tất cả những
cảm thọ trên gọi là khổ thọ. Khổ thọ là loại khổ thứ
nhất, khổ khổ.
Hoại
khổ nghĩa là có những thứ vốn không khổ, nhưng khi tiêu
hoại thì sẽ tạo ra khổ. Bây giờ anh khoẻ đó, nhưng một
ngày kia anh sẽ già yếu, cho nên khỏe của anh là không thật,
chỉ nỗi khổ có thật mà thôi.
Hạnh
là các hiện tượng kết tập mà thành. Như phần đầu đã
nói: “Chư hành vô thường”. Vô thường, thay đổi thì thế
nào cũng đưa tới tan rã vì vậy nên khổ. Trong các hành,
các hiện tượng đều chứa đựng hạt giống của khổ đau
cả, do đó gọi là hành khổ.
Khuynh
hướng giải thích khổ bao trùm tất cả đã che mờ giáo lý
Tứ diệu đế của đạo Phật.
Nếu
dùng đạo lý duyên khởi soi chiếu ta sẽ thấy rằng khổ
cũng là một hiện tượng được tập thành, được kết tạo
bởi những thứ không phải là khổ. Nừu không hề có cái
không khổ thì làm sao có cái khổ. Nếu chưa bao giờ vui làm
thì làm sao có thể biết thế nào là buồn. Chưa bao giờ biết
ấm thì ta biết thế nào là lạnh v.v… Vì vậy, sự có mặt
của khổ đau chứng tỏ có tình trạng không khổ. Đó là
giáo lý duyên khởi, một sự thật rõ ràng.
Hơn
nữa trong Tứ diệu đế, khi nói sự thật thứ nhất là khổ
thì đạo Phật lại nói sự thật thứ ba là Diệt. Diệt là
sự vắng mặt của khổ đau, tức là không khổ. Đạo Phật
cũng nói rất nhiều đến sự thật thứ ba là hết khổ. An
lạc, ngay bây giờ ở đây là một sự thật, một lời tuyên
bố rất mạnh mẽ. Cho nên chúng ta phải dẹp bỏ quan niệm
cho rằng “tất cả đều là khổ”. Đây là một điều mà
đạo Phật không chủ trương. Đạo Phật chỉ muốn nói rằng
ta phải công nhận sự có mặt của đau khổ, phải tiếp xúc
trực tiếp với đau khổ, phải quán chiếu chúng thì mới
tìm ra đường thoát. Cái khổ cần được công nhận. Nếu
mình khổ mà không nhận diện được thực trạng đau khổ
thì làm sao đi xa hơn được. Nhận diện được đau khổ của
mình là hành động đầu tiên trên con đường giải thoát
khổ đau. Trong kinh Tập sinh, Đức Phật nói: “Cái gì xảy
ra cho ta, nếu ta quán chiếu sâu sắc vào tự thân nó, là ta
đã bắt đầu đi trên đường giải thoát”. Khi nhận diện
được khổ, thấy được khổ tập chính là con đường đưa
tới an lạc đã bắt đầu. Khổ có chứa đựng tập, khổ
chứa đựng diệt và khổ chứa đựng đạo. Nếu không hiểu
gì về Tập, Diệt và Đạo thì ta chưa hiểu được chữ khổ
trong Đạo Phật. Khi tìm hiểu về khổ đế mà không thấy
được nó chứa đựng hạt giống của Diệt, của Đạo và
của Tập đế, thì sẽ dẫn đến nhận thức sai lầm về
đạo Phật. Sự thật là chúng ta phải làm một cái gì phải
thực tập để chuyển hoá cái khổ cho thành cái không khổ.
Phương pháp của chúng ta là bắt đầu nhìn vào hiện tượng
khổ như một khổ thọ.
Dùng
ánh sáng của duyên sinh soi chiếu ta thấy rằng trong ta có
khổ và có cả không khổ. Con người thường sống trong quên
lãng, mình có cả trạng thái không khổ mà không nhìn thấy,
tức là mình có hạnh phúc mà mình không biết và cảm nhận
được. Không nên nghĩ rằng trong ta không có sẵn hạnh phúc,
có những điều kiện của hạnh phúc. Ta có hai mắt đang sáng,
có đôi chân đang khỏe, ta có thể nhìn thấy bầu trời xanh,
có thể đi đến mọi miền nơi ta muốn. Nếu không và cảm
thấy trạng thái này là hạnh phúc là vì ta coi thường hạnh
phúc mà ta đang có. Chỉ khi nào trạng thái hạnh phúc này
mất đi, thì lúc đó ta mới than trời, than đất. Vì ta không
để tâm chú ý tới, nên hạnh phúc có đấy cũng như không.
Thật sự là trong mỗi người chúng ta đã có mặt của hạnh
phúc, của niềm vui an lạc bây giờ và ở đây, vì không có
chính niệm nên ta không tiếp xúc được với hạnh phúc, thưởng
thức hạnh phúc đang có sẵn để ngày mai không hối tiếc.
Cho nên sự tu tập của chúng ta không phải chỉ tiếp xúc
với khổ, nhận thức cái khổ và chuyển hoá cái khổ mà
thôi. Chúng ta phải tiếp xúc cả với trạng thái không khổ,
nuôi dưỡng cái không khổ. Phải thực tập sống an lạc,
hạnh phúc.
Khi
ta thấy được bản chất tương tác và duyên sinh của khổ
và không khổ thì trong ta đã đạt tới sự vững chãi và
thảnh thơi, không còn bị mắc kẹt vào đời sống nữa. Nếu
cần sinh ra thì sinh, đến lúc già thì già, nếu phải bệnh
thì bệnh, rồi khi chết thì chết. Không còn vướng mắc vào
năm uẩn nữa.
Tứ
diệu đế là tiếng nói của tinh thần diệt khổ. Đạo
Phật ra đời là nhằm hướng con người diệt khổ đau, tạo
dựng một đời sống an bình và hạnh phúc. Giáo lý Tứ diệu
đế là tiếng nói của tinh thần lạc quan, nó xác nhận khả
năng chuyển hoá đau khổ để dẫn tới hạnh phúc.
TS.
Lễ Hữu Tuấn
(Tạp
chí Nghiên cứu Tôn giáo (số 1/2007))
05-30-2007
10:23:13