Lời
nói đầu :
Tình
cờ tôi thấy trong thư viện đại học Wisconsin-Madison bài
"The Buddhist Approach to Education", đăng trong tờ Vạn Hạnh cách
đây hơn hai mươi năm của Giáo Sư Đoàn Viét Hoạt. Nhận
thấy đây là một bài viết đặc sắc nói lên trung thực
phần nào thực chất Phật Giáo và quan niệm giáo dục của
Phật Giáo cho nên tôi dịch ra tiếng Việt để cống hién
quý độc giả; và cũng để ghi nhận sự đóng góp cho Phật
Giáo của Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt trong vấn đề giải hoặc
một số ngộ nhận về Phật Giáo mà vì lẽ nào đó đã kéo
dài trong tâm cảnh ngay cả những lãnh tụ "tôn giáo bạn"
cho tới tận ngày nay.
Một
điểm đặc biệt tôi nhận ra khi đọc bài này là nội dung
của bài khá mâu thuẩn đối với một số bài thơ trong cuốn
"Tâm tình của Đoàn Viết Hoạt" do Phong Trào Nhân Quyền Cho
Việt Nam Năm 2000 xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1995: những bài
"Bánh Thánh", "Giáng Sinh 1997", và "Chúa Sẽ Đến Với Ai" trong
đó có vẻ như tác giả đề cao vai trò "cứu rỗi" của Chúa
Giê-su. Trái lại, trong bài "Đường Hướng Giáo Dục Phật
Giáo" này, Đoàn Viết Hoạt đã dứt khoát không chấp nhận
quyền lực của Thượng Đế hay một Thần Quyền nào đối
với con người.
Thực
ra thì sau khi đọc và phân tích bài "Phúc Trình" của Đoàn
Viết Hoạt về vấn đề nhân quyền và chứng minh rằng bản
"Phúc Trình" đó không thể nào là của Đoàn Viết Hoạt (đã
dăng trên Thế Kỷ 21 và đưa lên Vietnet), trong những
bài thoo trong cuốn "Tâm tình.." tôi thực sự không biết bài
nào của Đoàn Viết Hoạt và bài nào không phải của Đoàn
Viết Hoạt.
Những
phần để trong dấu ngoặc đơn là của người dịch, hoặc
để bày tỏ vài ý kiến riêng, hoặc để làm rõ nghĩa hơn
một vấn đề trong bài. TCN
Trước
khi chúng ta thảo luận về đường hướng giáo dục Phật
giáo, tôi nghĩ chúng ta cần bác bỏ hai điều mà người
ta thường hay trách cứ Phật Giáo. Điều trách cứ thứ nhất
là: Phật giáo có một quan điểm bi quan về đời sống.
Điều này không đúng ngay với cả một sự hiểu biết ít
ỏi về căn bản Phật Giáo. Làm sao người ta có thể trách
cứ Phật giáo là có một quan điểm bi quan khi mà tất cả
những điều Đức Phật làm là can đảm nhìn vào bản chất
không sự thực của hiện hữu và đề nghị một lối thoát
ra ngoài cái ảo tưởng này, giải thoát ra khỏi Tham, Sân,
Si? Làm sao chúng ta có thể cho ràng Phật giáo có một quan
điểm bi quan khi Đức Phật đã bác bỏ sự thống trị của
những lực ngoài thế gian trên số phận con người, và đã
dạy chúng ta phải tự do tìm hiểu và độc lập đối với
mọi tín điều, đặt căn bản giáo lý của Người trên một
niềm tin sâu xa và mãnh liệt vào khả năng của con người?
(hãy tự mình tinh tiến tới giải thoát)? Thật vậy, con người
có quyền suy tư về giáo lý nào ít bi quan hơn, giáo lý dạy
con người có thể chấm sự khổ bằng chính những nỗ lực
của mình, hay là giáo lý dạy ràng sự giải thoát của con
người tùy thuộc vào một vị Thần, rằng chỉ có một số
nhỏ được Thần "chọn", đa số còn lại bị đày vĩnh viễn
nơi hỏa ngục?
Điểm
trách cứ thứ hai là: Phật Giáo là một giáo lý
ích kỷ, làm tê liệt năng lực con người. Chỉ cần
vài câu cũng đủ bác bỏ điều trách cứ này. Chính Đức
Phật, sau khi Giác Ngộ, đã thuyết giảng giáo lý của Người
cho mọi người trong suốt 45 năm. Một trong những giáo lý
căn bản của Phật Giáo là từ bỏ sự hiện hữu của một
cái Ta hay Ngã (thuyết Vô Ngã): mọi vật đều không có tự
tính. Niết bàn, cứu cánh tột đỉnh của Phật Giáo, là trạng
thái vô ngã, vô chấp, không thể đạt tới bằng sự ích
kỷ. Còn như làm tê liệt năng lực, Đức Phật đã dạy những
điều nên làm và không nên làm: làm những việc thiện, tốt,
và không làm những việc xấu. Người nói: "Có một đức
tính ảnh hưởng đến hạnh phúc lớn lao của con người.
Đó là nhiệt tâm làm những việc tốt lành một cách không
mệt mỏi". Nếu người ta có thể trách cứ Phật Giáo là
làm tê liệt năng lực thúc đẩy con người tạo nghiệp xấu.
Tôi không thấy ở nơi nào khác một sự đòi hỏi một năng
lực trường kỳ và nỗ lực như trong sự thực hành Bát Chánh
Đạo.
Sự
giải hoặc dài dòng ở trên là điều cần thiết vì nếu
Phật Giáo thật sự bi quan, ích kỷ và làm tê liệt năng lực
thì đâu cần phải nói đến đường hướng giáo dục Phật
Giáo làm chi, vì giáo dục là một qúa trình tích cực xã hội.
Vậy
thì mục đích của giáo dục, theo quan điểm của những nhà
giáo dục Phật Giáo là gì ? Mục đích này phù hợp với chính
mục đích của Phật Giáo. "Mục đích là dẫn học trò
đến tự giác, tự mình làn chủ chính mình". Đối
với những nhà giáo dục Phật Giáo, giáo dục không có mục
đích xã hội hoá đứa trẻ điều chỉnh đứa trẻ một sự
hiều biết dần dần về bản chất thực của sự hiện hữu,
bản chất thực sự của con người và của chính mình, qua
sự phân tích và thực hành. Mục đích chung cùng của giáo
dục là hướng nội chứ không hướng ngoại, giáo dục tâm
lý chứ không giáo dục xã hội. "Hãy nhìn vào chính mình;
ngươi chính là Phật". Mục đích là giải phóng con người
khỏi bị lôi cuốn bởi tham, sân, si để cho con người có
thể thấy được thực tại và chân lý nó là như vậy. Con
người có thể trở thành một người Giác Ngộ.(*)
Để
đạt mục đích tối hậu này, có hai mục đích phụ cần
đạt tới. Đó là sự phát triển suy lý phê bình và sự tin
cậy vào chính mình. Đức Phật cực lực phản đối một
niềm tin mù quáng. Người nói với các đệ tử: "Thật là
chính đáng và tự nhiên khi những nghi kiến khởi dậy nơi
các Thầy. Các Thầy phải từ bỏ niềm tin mù quáng. Đừng
có xét đoán dựa theo tin đồn, theo truyền thống, theo những
lời đoan chắc vô căn cứ, theo thẩm quyền của những cái
gọi là Thánh thư; đừng có xét đoán theo bề ngoài, hoặc
tin vào bất cứ gì mà một bậc tu hành hay một sư phụ đã
nói như vậy". Cho nên người Phật tử không tin vào bất cứ
điều gì cho tới khi tự mình nhận thức được rằng điều
đo là đúng. Trên con đường tiến tới Giác Ngộ, người
Phật tử tin cậy ở chính mình. Một bậc thầy chỉ là người
hướng dẫn, một người đã ngộ đạo nhưng không thể đi
thay đệ tử trên con đường này. Những lời cuối cùng của
Đức Phật nói với đệ tử là: "Các Thầy hãy tự mình tinh
tiến tới giải thoát". Trong một trường hợp khác, Người
nói: "Các Thầy phải tự mình cố gắng lên, Chư Phật chỉ
chỉ đường". Do đó, giáo dục phải được quan niệm như
là một phương tiện để phát triển lòng tự tin, sự tin
cậy vào chính mình, vào óc suy lý, những điều cần thiết
trong nỗ lực tiến tới Giải Thoát.
Để
phù hợp với những mục đích này, phương pháp giáo dục
phải dạy cả hai phần suy tư và từ bi, trí thức và luân
lý. Để gợi ra sự suy tư trong con người của học viên,
nhà giáo dục Phật Giáo nên tiến hành từ chỗ biết
đến chỗ chưa biết vì chỉ có từ chỗ biết học viên mới
có thể phát triển dần dần khả năng suy lý, sự tin cậy
vào chính mình và lòng tự tin. Người ta không thể đạt được
một kiến thức chân thật bằng cách cầu nguyện vào nơi
mình chưa biết rõ hoặc bằng những giả định
hay suy đoán có tính cách giáo điều. Chỉ bằng cách tìm hiểu
và phân tích những sự kiện cụ thể, khảo sát đời sống
hiện tượng một cách khách quan, tìm về nguyên nhân của
chúng, người ta mới biết được chân lý. Đây là "phương
pháp giải quyết vấn đề". Những trẻ em "phải được dạy
suy nghĩ như thế nào hơn là suy nghĩ cái gì". Tự do tư tưởng
thật cần thiết trong nền giáo dục hiện đại.
Những
suy tư và phân tích luận lý không đủ. Cần phải kèm theo
lòng từ bi. Không có lòng từ bi, sự dạy dỗ cũng như học
hỏi đều vô ích vì người ta chỉ có thể thấy được nguyên
nhân của những sai lầm, ảo tưởng và hành nghiệp xấu khi
người ta nhìn sâu vào tâm của chính mình và của những người
khác. Nếu người ta muốn thoát khỏi ảo tưởng thì ham muốn
chính là cái người ta phải dứt bỏ. Sự ham muốn có thể
hiểu được qua suy tư và phân tích nhưng chỉ có thể đoạn
diệt bởi tính hoàn toàn vô vị kỷ, hoàn toàn vô chấp, hoàn
toàn từ bi đối với mọi người cùng đang khổ. "Chân lý
đạt được không chỉ bằng luận lý, mà bởi sự tan biến
của ham muốn qua sự hiểu biết ".
Đặc
biệt là phương pháp giảng dạy của Phật Giáo cho chúng ta
những nguyên tắc hữu ích. Phương pháp này gồm có bốn cách
loại bỏ nghi kiến của học viên, và những quy tắc được
dùng trong sự giảng dạy Phật Pháp cho người thường, sự
nghiên cứu những điều học hỏi tinh thần của học viên
và tu tập bản thân. Bốn cách loại bỏ những nghi kiến là:
(a) vấn đáp; (b) trả lời trực tiếp; (c) trả lời từng
phần cho những phần trong câu hỏi; và (d) không trả lời
những câu hỏi không trả lời được. Về sự giảng dạy
Phật Pháp cho những người thường, Đức Phật đề nghị
những quy tắc sau đây: (a) đi dần từng bước một; (b) dùng
ái ngữ; (c) tránh những vấn đề ngoài lề; (d) phối hợp
chi tiết quanh một chủ đề; và (e) tránh dùng những lời
châm chọc càng nhiều càng tốt. Về sự nghiên cứu vấn đề
học hỏi tinh thần của học viên, phương cách hành trì, tính
tình của học viên v.v.. Nói ngắn gọn, "ngay cả trên quan
điểm sư phạm ngày nay những phương pháp của Đức Phật
thật đáng chú ý và có thể áp dụng trong nhiều trường
hợp."
Phật
Giáo nhấn mạnh đến vấn đề thực hành và áp dụng những
điều học hỏi được. Sự giảng dạy thật là vô nghĩa
trừ khi bậc thầy làm theo lời mình dạy. "Một trí giả hãy
tự mình đi trên chánh đạo rồi mới giảng dạy cho người
khác". Không có sự tương phản giưã lý thuyết và thực hành.
Chánh Tư Duy và Chánh Mạng thì tương quan với nhau nơi thiện
trí thức. Nguyên tắc này được áp dụng cho cả thầy lẫn
trò. Đức Phật nói: "Người nào biết Giáo Pháp mà không
tự mình thực hành thì cũng như một người chăn bò đếm
bò của người khác: không có phần gì trong cộng đồng những
người tu hành.
Do
đó, sự học hỏi phải liên quan tới đời sống thực sự.
Nhà giáo dục Phật Giáo gạt bỏ quan niệm giáo dục tháp
ngà, chỉ quan tâm tới tư tưởng thuần túy và lý thuyết.
Như Humphreys đã viết: "Không ở trong tôn giáo nào khác mà
người ta thấy sự áp dụng những điều học hỏi như ở
trong Phật Giáo. Phật giáo không chỉ là một hệ thống giáo
lý; đó là một Lối Sống."
Theo
quan điểm của nhà giáo dục Phật Giáo, nếu mục đích của
giáo dục không phải là điều chỉnh con người cho phù hợp
với những điều kiện ngoại vi trong xã hội, vậy thì chương
trình học không nên đặt trước và cố định. Học
hỏi là học viên có thể học được cái gì chứ không phải
cái mà ông Thầy muốn dạy mà không để ý đến nhu
cầu thật sự và khả năng của đứa trẻ. "Nhà giáo dục
Phật giáo phân biệt một học trình đã được vạch sẵn
và những cái mà học viên lãnh hội được trong quá trình
học hỏi. Nhà giáo dục chỉ cung cấp những phương tiện
cần thiết để cho sự học hỏi có thể thực hiện được.
Khi
hoạch định một học trình như vậy, nhà giáo dục nên coi
Tam Học (Giới, Định, Huệ, TCN) như là một tiêu chuẩn cần
thiết và hữu ích. Tam Học gồm có: (a) đạo đức cao hay
là tu tập đức tính; (b) suy tư sâu xa hay là tu tập thiền
định; và (c) nội quán hay tu tập trong sự hiểu biết để
tiến tới giác ngộ. Sự tu tập Giới gồm có lòng quảng
đại, đạo đức, tác phong và kiên nhẫn; sự tu tập về
Định liên hệ đến Thiền quán; và sự tu tập về Huệ là
sự tỉnh thức bắt nguồn từ trí tuệ thấy được chân
lý chung cùng. Sáu độ (Ba La Mật) trên là những tiêu chỉ
của nhà giáo dục Phật giáo khi hoạch định một học trình.
Một
lời cuối về giáo dục luân lý theo quan niệm của nhà giáo
dục Phật Giáo. Mọi hệ thống giáo dục đều có mục đích
phát triển luân lý đạo đức. Giáo dục Phật Giáo cũng nhấn
mạnh đến sự quan trọng của giáo dục luân lý; nhưng giáo
dục luân lý là phó sản của một nền giáo dục đúng -giáo
dục Con Người Giác Ngộ. Đức Phật không bao giờ dạy một
hệ thống đạo đức cố định. Người chỉ chỉ cho chúng
ta Chân Lý: Luật Duyên Sinh. Định luật này có thể phát biểu
một cách giản dị như sau: "Cái này có thì cái kia có; cái
nầy sinh thì cái kia sinh; cái nầy không có thì cái kia không
có; cái này diệt thì cái kia diệt". Những hành động tốt
thì mang tới kết qủa tốt; hành động xấu thì mang tới
kết quả xấu. Cái nào tốt? và cái nào xấu? Cái nào làm
tăng tham, sân, si và sự khổ thì xấu; cái nào giúp chúng
ta giảm và đoạn diệt được tham, sân, si và sự khổ thì
tốt. Định rõ là "cái tốt của bất cứ điều gì phải
được khám phá ra bất cứ lúc nào
bằng sự thực nghiệm, bằng sự xét đến mọi yếu tố,
kể cả những động cơ thúc đẩy chúng ta, liên hệ đến
vấn đề". Sự giáo dục luân lý này là phần cốt yếu trong
sự giáo dục Người Giác Ngộ vì, thật ra, Giác Ngộ không
chỉ gồm có trí huệ, mà cả ba : Giới, Định, Huệ. Thật
vậy, khi nói rằng đạo đức cao là Phật Giáo thì không xa
với một sự hiểu biết chân thật về Phật giáo. "Đừng
làm những điều ác; Hãy làm những điều thiện; giữ tâm
ý cho thanh tịnh; đó là lời chư Phật dạy". (Kinh Pháp Cú
73: "Chư ác mạc tác; Chúng thiện phụng hành; Tự tịnh kỳ
ý; Thị Chư Phật Giáo". TCN) Người ta cũng có thể nói rằng,
Giác Ngộ là trình độ đạo đức cao nhất mà con người
có thể đạt được. Do đó, giaó dục Phật Giáo là giáo
dục luân lý, giáo dục đạo đức cao nhất -Sự Giải Thoát
của nhân loại ra khỏi Vô Minh và Khổ.
Để
kết luận, nền giáo dục đúng cho người Phật tử là nền
giáo dục dẫn đến sự phát triển con người tới Giác Ngộ,
một con người thoát khỏi tham, sân, si và khổ, nhìn Thực
Tại nó là như vậy; một con người làm chủ được những
hành nghiệp của mình, dù sai hay đúng. Con người Giác Ngộ
này là mục đích tối hậu mà giáo dục Phật Giáo nhắm tới.
Sự phát triển để con người Giác Ngộ thật là cấp bách
cần thiết trong thời gian hiện tại, trong thời gian mà con
người bị xâu xé bởi tham, sân, si, nghi ngờ và
chiến tranh, một thời gian mà đặc tính là sự thống trị
của những yếu tố vật chất và kỹ thuật chế ngự con
người. Chỉ khi nào con người làm chủ được định mệnh
của chính mình, lòng tham của chính mình, tư tưởng và hành
động của chính mình, con người có thể hãnh diện về mọi
tiến bộ khác; chỉ khi đó nền văn minh mới là Văn Minh của
nhân loại và chúng ta có thể vinh dự vì nền văn minh này.
Ghi
chú:
(*)
Khi viết đoạn trên, có thể Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt chỉ
nhìn giáo dục trên một góc cạnh hướng về mục đích tu
tập trong Phật Giáo chứ không phải là toàn bộ giáo dục
trong Phật Giáo. Phật Giáo không quên những thực tế trong
xã hội. Thật vậy, trong Trường Bộ Kinh, Đức Phật đã
vạch rõ cho chúng ta thấy sự nghèo khổ là nguồn gốc của
vô luân và tội ác như trộm cướp, gian lận, bạo hành, sân
hận, độc ác v.v... Đức Phật đề nghị rằng muốn giải
quyết vấn đề tội ác, điều kiện kinh tế của dân chúng
phải được tăng tiến. Người đã chỉ rõ cho Phật tử tầm
quan trọng của sự cải tiến tình trạng kinh tế của con
người. Nhưng điều này không có nghĩa là Đức Phật khuyên
mọi người đi tích lũy của cải bằng bất cứ phương tiện
nào để thỏa lòng tham và chấp vào vật chất vì đây là
điều trái ngược với giáo lý căn bản của Người.
Đức
Phật đã dạy một người dân thường tên là Dighajanu là
có bốn điều kiện đưa hạnh phúc đến cho con người ở
trên cõi đời -Thứ nhất: chăm chỉ, cố gắng đạt tới
"nhất nghệ ting,nhất thân vinh"; Thứ nhì: phải bảo vệ tài
sản kiếm được một cách chính đáng bằng mồ hôi, nước
mắt; Thứ ba: kết bạn với các thiện tri thức nghĩa lá những
ngưới đạo đức. Học rộng, biết nhiều, phóng khoáng và
thông minh, để giúp mình tiến bộ trên Chánh Đạo, xa lánh
ác nghiệp; Thứ tư: tiêu pha trong khả năng và dành một phần
cho những việc thiện, không bần tiện mà cũng không hoang
phí.
Sau
đó Đức Phật nêu ra bốn đức tính đưa đến hạnh phúc
trong tương lai của con người, và đây mới là những mối
"phúc thật" chính tông: (1) Phải có lòng tin vào những giá
trị đạo đức, tinh thần và trí thức (Sanddha); (2) Phải
giữ năm giới căn bản của Phật tử (Sila); (3) Thực hành
hạnh bố thí, lòng quảng đại, không bám chặc vào của cải
(Caga); (4) Phát triển trí tuệ trên con đường diệt khổ,
nhằm cứu cánh Niết Bàn (Panna).
Như
vậy chúng ta thấy rằng giáo lý của Đức Phật nhằm tạo
ra sự ổn định kinh tế gia đình và từ đó đưa đến sự
ổn định và phát triển kinh tế quốc gia, mang lại hạnh
phúc cho dân chúng. Và những giáo lý này nhằm giáo dục con
người đối diện với những thực tế trong xã hội. TCN
04-05-2008
11:23:46