MỤC LỤC
(Click
vào hình loa phát âm để nghe giọng đọc Nguyên Hà)
Lời
Nói Đầu
Phần
Giới Thiệu
Tiểu
Sử Pháp Sư Cưu Ma LaThập
01
Phẩm Phật Quốc
02
Phẩm Phương Tiện
03
Phẩm Đệ Tử: Hàng Thanh Văn
Tôn
giả Xá Lợi Phất
Tôn
giả Mục Kiền Liên
Tôn
giả Đại Ca Diếp
Tôn
giả Tu Bồ Đề
Tôn
giả Phú Lâu Na
Tôn
giả Ca Chiên Diên
Tôn
giả A Na Luật
Tôn
giả Ưu Bà Ly
Tôn
giả La Hầu La
Tôn
giả A Nan
04
Phẩm Bồ-Tát
Bồ-tát
Di Lặc
Quang
Nghiêm Đồng Tử
Bồ-tát
Trì Thế
Trưởng
Giả Tử Thiện Đức
05
Phẩm Văn Thù Sư Lợi
06
Phẩm Bất Tư Nghì
07
Phẩm Quán Chúng Sinh
08
Phẩm Phật Đạo
09
Phẩm nhập “Pháp Môn Không Hai”
10
Phẩm Phật Hương Tích
11
Phẩm Hạnh Bồ-tát
12
Phẩm Thấy Phật A Súc
13
Phẩm Pháp Cúng Dường
14
Phẩm Chúc Lụy
Lời
kết
Lời
Nói Đầu
Ngược
dòng lịch sử hơn hai mươi lăm thế kỷ về trước, Đức
Phật ra đời khai môn giáo hóa, tế độ quần sanh ròng rã
trong suốt bốn mươi chín năm nhằm thắp đuốc tuệ soi đường
tăm tối và rưới nước từ bi để rửa bụi trần. Tuy biết
chúng sinh có kẻ thượng căn người hạ trí, thâm hiểu mau
chậm chẳng đồng nên Đức Phật tùy cơ duyên mà hóa độ,
bởi vậy giáo pháp mới có chỗ “Quyền” mà cũng có chỗ
“Thật”.
Kinh
Duy Ma Cật thuộc loại “Quyền Giáo” có nghĩa là Đức Phật
dùng những thí dụ để diễn tả Chân lý cao siêu huyền diệu
mà Chân lý thì thâm sâu mầu nhiệm nên ngôn ngữ, văn tự
con người không thể nào chuyên chở hết được. Vì thế
toàn bộ kinh điển Phật giáo không ngoài mục đích giúp chúng
sinh tìm về với Chân lý, thấy được Chân lý và tự mình
chứng nghiệm Chân lý.
Kinh
Duy Ma Cật cũng còn được gọi là kinh Bất Khả Tư Nghì Giải
Thoát Pháp Môn bởi vì người tu tập kinh nầy sẽ có sự
giải thoát ngay chính trong cõi đời nầy mà con người gọi
là thế giới xấu xa tội lỗi ô trược bất tịnh. Họ vẫn
sống, sinh hoạt bình thường như trăm ngàn chúng sinh khác,
nhưng bên trong họ có một sự giải thoát kỳ lạ, an lành,
thoải mái, thanh tịnh tự trong tâm hồn. Đây là sự giải
thoát không thể nghĩ bàn vì chỉ có người đó tự mình thấu
hiểu và tận hưởng sự thanh tịnh, tịch diệt của sự giải
thoát Niết bàn mà người kế bên không hề hay biết. Thế
gian đối với người còn vô minh phiền não thì bất tịnh,
tội lỗi xấu xa, còn kẻ được giải thoát thì lúc nào cũng
ung dung tự tại, thanh thoát an nhàn. Kinh Duy Ma Cật thuộc loại
Bát nhã nên sẽ dẫn dắt chúng sinh lìa hình Tướng giả huyễn
mà chứng nhập Bản Thể thanh tịnh bất sinh bất diệt. Khi
đã nhìn thấu thật Tướng của vạn pháp thì con người sẽ
không còn quan trọng và tùy thuộc vào cái hình tướng sinh
diệt bề ngoài cho nên kinh đã mở rộng cánh cửa giải thoát
cho tất cả mọi chúng sinh không phân biệt là xuất gia hay
tại gia vì ai ai cũng đều có Phật tánh như nhau.
Kinh
này do trưởng giả Duy Ma Cật là con người bất tư nghì,
nói kinh bất tư nghì, trình diễn cảnh bất tư nghì và dạy
chúng sinh tu pháp bất tư nghì để thành tựu trí tuệ bất
tư nghì mà đem lại kết quả giải thoát bất tư nghì vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ông Duy Ma Cật là một người
thường có vợ con, tài sản, địa vị trong xã hội như muôn
vạn chúng sinh khác trong thế giới này, nhưng ông nói chánh
pháp, thực hành chánh pháp và sống đúng với chánh pháp mà
không cần phải ở chùa, cạo đầu hay đắp y mà chỉ thể
hiện qua hình thức của một trưởng giả, một cư sĩ. Tuy
sinh hoạt như một người thường nhưng ông có tâm hồn và
đạo hạnh của một vị đại Bồ-tát nên mới gọi là con
người bất khả tư nghì.
Tại
sao lại gọi là kinh bất tư nghì?
Bởi
vì kinh Duy Ma Cật dẫn dắt chúng sinh có được sự giải
thoát ngay trong đời này và ngay trong thế giới này mà không
cần phải trông chờ mong đợi đến kiếp sau hay ở bất cứ
cõi Tịnh độ nào. Do đó tôn chỉ của kinh là:”Tùy kỳ
tâm tịnh tắc Phật độ tịnh” và “Dục tịnh Phật độ
tiên tịnh kỳ tâm” nghĩa là nếu tâm mình thật thanh tịnh,
không còn vô minh phiền não quấy phá thì thế giới này chính
là cõi Phật thanh tịnh như cõi Tịnh độ của chư Phật trong
mười phương không khác. Mà muốn có cõi Phật thanh tịnh
thì trước hết phải làm cho tâm mình thật thanh tịnh. Do
đó cốt tủy của kinh là khẳng định cho người Phật tử
xuất gia hay tại gia là ở đâu tu cũng được. Ở chùa, ở
nhà, ở chợ hay ngay cả ở trong sở làm thì nơi nào cũng
là đạo tràng thanh tịnh cả. Vì thế tâm tịnh thì Ta bà
thành Tịnh độ, ngược lại tâm cấu (bất tịnh) thì Tịnh
độ thành Ta bà.
Muốn
có tâm thanh tịnh kinh giới thiệu Nguyên Lý Bất Nhị tức
là vào Pháp Môn Không Hai để gạn lọc tất cả những sự
phân biệt đối đãi trong tâm thức mà chính là cội nguồn
của phiền não khổ đau.
Trong
thời đại thế sự quay cuồng, đạo tâm ngày một suy vi,
tâm người đắm mê theo vật dục tư kỷ cá nhân, nhưng từ-bi
bác-ái và tự giác giác tha vẫn là chủ điểm của kinh nên
chúng tôi mặc dù trí mỏng nghiệp dày nhưng vẫn cố gắng
dùng kiến thức thô thiển của mình để đem những Chân lý
huyền diệu nhiệm mầu giúp chúng sinh có đất phì nhiêu gieo
giống Bồ-đề mà vượt qua bể đời khổ lụy, nương theo
thuyền Bát nhã để quay về với bến bờ giác ngộ.
Kinh
thì cao siêu huyền diệu còn sự hiểu biết của chúng tôi
thì nông cạn thô thiển cho nên kinh này sẽ có rất nhiều
chỗ thiếu sót sai lầm, kính mong chư vị thiện tri thức hoan
hỷ chỉ bảo bổ khuyết cho.
Sau
cùng kính chúc quý vị cùng gia quyến thân tâm được vô lượng
an lạc, cố gắng thăng hoa đời sống thánh thiện để thoát
kiếp phiền não triền miên mà có được sự giải thoát ngay
trong đời nầy thì không riêng gì ông Duy Ma Cật mà tất cả
chúng ta cũng đều là con người bất khả tư nghì vậy.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Mùa
Phật Đản 2552 năm 2008
Lê
Sỹ Minh Tùng
Phần
Giới Thiệu
Kinh
Duy Ma Cật là bộ kinh thuộc hệ thống tư tưởng Đại thừa
viên đốn tức là giáo lý mãn tự. Viên là viên mãn và đốn
là nhanh. Giáo lý kinh Duy Ma Cật khai thị cho con người về
pháp môn giải thoát bất khả tư nghì. Đó là ai ai trong chúng
ta nếu có khả năng đoạn trừ sạch vô minh và phiền não
thì sẽ thành Phật. Kinh Duy Ma Cật khẳng định rằng:”Quả
vô thượng Bồ-đề không phải là cái hứa hẹn để cho mọi
người mỏi mòn ước mơ trông đợi. Mà trong tất cả chúng
sinh ai ai cũng có khả năng đạt đến bằng nghị lực và
trí tuệ của mình”.
Nguyên
nhân tại sao kinh Duy Ma Cật được ra đời?
Lịch
sử truyền bá chân lý của Đức Phật được diễn tiến
qua ba thời kỳ:
1)Thời
Phật giáo nguyên thủy hay là thời kỳ Đức Phật còn tại
thế. Trong suốt 49 năm hoằng pháp, chính Đức Phật cùng chư
tăng đã đem ánh đạo vàng đến cho mọi người từ thôn
quê đến thành thị, từ Nam đến Bắc, từ Đông qua Tây không
phân biệt nam nữ, giàu nghèo. Ngài đã gieo giống từ bi và
đem Pháp mầu giáo hóa chúng sinh. Biết bao người đã được
giải thoát giác ngộ vì đã thực hành chân lý huyền diệu
nầy. Chính Đức Phật và chư đệ tử đã hoạt động rất
tích cực, không ngừng nghĩ cho đến khi Ngài nhập diệt dưới
hai cây Sa-La song thọ. Ngài luôn chủ trương rằng đạo Phật
phải nhập thế vào đời để cứu vớt chúng sinh còn đang
lặn hụp trong vòng sinh tử triền miên. Lúc Đức Phật còn
tại thế Ngài và chư đệ tử thường tu tập và tĩnh dưỡng
tại núi Linh Thứu (Kỳ Xà Quật)(Grdhra-Kùta) vì khí hậu nơi
đây luôn luôn mát mẻ, nhưng hàng ngày Ngài vẫn xuống thành
Vương Xá (Rajagrha) để khất thực và thuyết pháp độ sanh
cho Phật tử tại gia và khi lên đỉnh Thứu-sơn thì thuyết
pháp cho chúng xuất gia.
2)Thời
các bộ phái tức là thời kỳ Tiểu thừa hay Nam Tông: Sau
khi Đức Phật nhập diệt và các đại đệ tử của Phật
như Đại Ca Diếp, Phú Lâu Na, A Nan…đều lần lượt qua đời,
tinh thần nhập thế cứu độ chúng sinh không còn tích cực
thi hành như trước mà các vị tăng sĩ Phật giáo bây giờ
lại ẩn tránh tận rừng sâu núi thẳm để tìm đường giải
thoát cho riêng mình và chỉ đề cao công đức xuất gia. Khoảng
100 năm sau ngày Đức Phật nhập Niết bàn, Phật giáo được
chia thành nhiều bộ phái và mỗi bộ phái giảng giải lời
Phật và giới điều theo ý của các vị trưởng lão cầm
đầu bộ phái. Tuy là nhiều nhưng phần lớn các bộ phái
được chia làm hai nhóm:
*Nhóm
bảo thủ: Đây là nhóm Tăng sĩ hợp ở thành Vaisaly với chủ
trương rằng:”không nên sửa đổi những điều luật của
Phật truyền dạy, mặc dù Đức Thế Tôn đã có di huấn là
nếu chư Tăng đồng ý cùng nhau nếu thấy điều luật nào
của Như Lai đã chế định là ít quan trọng thì được phép
sửa chửa”. Đây là chủ trương bảo thủ dựa theo quan niệm
của tôn giả Đại Ca Diếp khi ngài còn sống và nhóm nầy
được gọi là Thượng tọa bộ.
*Nhóm
cấp tiến: nhóm nầy chủ trương sửa đổi mười điều luật
của Phật sau khi nhóm hợp ở thành Vajji cho hợp với hoàn
cảnh xã hội thời bấy giờ. Đây là nhóm Đại chúng bộ
rất đông đảo gồm Tăng ni và Phật tử tại gia, mở đầu
cho sự canh tân của Phật giáo. Cải cách và bảo thủ luôn
luôn là hai thái cực đối chọi nhau tạo thành những xung
đột không thể tránh được trong tăng đoàn.
Mặc
dù có sự mâu thuẩn lớn giữa hai nhóm bảo thủ và cấp
tiến nhưng chí hướng tu hành của các vị Tăng sĩ Phật giáo
trong thời kỳ nầy vẫn là tự lợi, tự giác và xa lánh cuộc
đời tội lỗi xấu xa để mưu cầu giải thoát cho riêng mình
mà cứu cánh tột đỉnh là chứng đạt quả vị A La hán.
Vì đã ra khỏi tam giới tức là không còn vướng bận sinh
tử luân hồi nên họ luôn hưởng sự an lạc của Niết Bàn
mà quên mất biết bao chúng sinh còn đang trôi nổi trong biển
trầm luân. Còn chủ yếu hành đạo của người Phật tử
tại gia chỉ là bố thí, cầu phước mà thôi. Phật tử tại
gia được khuyên chỉ nên làm lành tránh dữ và đem tài sản,
sở hữu của mình cung cấp cúng dường cho chúng xuất gia.
Bố thí cho kẻ khốn cùng cho người nghèo khổ sẽ được
phước báo sinh lên cõi Trời, nhưng Phật tử tại gia không
có cơ hội tu học thấu triệt những chân lý cao siêu huyền
diệu để được thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi.
3)Thời
phát triển của Đại Thừa hay là Phật giáo Bắc Tông.
Khoảng
500 năm sau ngày Đức Phật nhập diệt tức là vào thế kỷ
thứ nhất trước Tây lịch, phong trào vận động Đại thừa
bắt đầu xuất hiện. Đây là thời kỳ đánh dấu một khúc
quanh mới cho lịch sử canh tân Phật giáo. Mặc dù tư tưởng
Đại thừa là tư tưởng mới, nhưng nó không hề tách rời
tư tưởng đạo Phật nguyên thủy, mà chỉ triển khai cho phù
hợp với tinh thần và bản ý của Đức Phật. Cũng nên nhấn
mạnh rằng sau mấy trăm năm tranh giành ảnh hưởng, các bộ
phái Tiểu thừa đã đưa Phật giáo đi quá xa tinh thần đạo
Phật nguyên thủy. Tệ hại hơn nửa, các bộ phái đã chấp
chặt vào kinh điển làm cho đạo Phật bị cứng ngắt. Vì
thế đạo Phật theo họ lui dần vào tận chốn sơn lâm cùng
cốc, xa lánh xã hội con người làm cho sinh khí Phật giáo
không còn hoạt động tích cực như thời Đức Phật còn tại
thế.
Thêm
nữa, đạo Phật nguyên thủy chủ trương rằng chỉ có người
xuất gia đã từ bỏ gia đình thế tục, không vợ không con,
không tài sản mới có thể tích cực tu tập thiền định
để chứng đạt Niết Bàn. Còn Phật tử tại gia vì vướng
bận thê nhi, tài sản và dục lạc khó mà tu tập và dĩ nhiên
nếu không thể đi sâu vào thiền định thì vĩnh viễn không
chứng đạt được chân lý. Vì thế vai trò của cư sĩ tại
gia chỉ là hộ pháp mà thôi. Do đó pháp môn cao nhất của
hàng Phật tử tại gia là tu tập Bát quan trai giới mà thôi.
Chủ
trương như vậy không có gì sai, nhưng đây không phải là
bản ý của Đức Phật vì tôn chỉ của Phật giáo là tự
độ, độ tha và tự giác, giác tha như chính Đức Phật đã
nhiều
lần khẳng định người tại gia nếu đoạn trừ các lậu
để tâm được hoàn toàn thanh tịnh thì vẫn được giải
thoát. Tuy nhiên, các bộ phái Tiểu thừa đã đóng chặt cánh
cửa cơ hội giải thoát của Phật tử tại gia và đạo Phật
chỉ dành riêng cho thiểu số Tăng sĩ mà thôi. Đây là con
đường đưa đạo Phật vào chỗ bế tắc vì mục đích và
cứu cánh của đạo Phật là cứu độ tất cả chúng sinh
thoát khổ.
Trong
Đại thừa, vai trò của Bồ tát và Bồ tát đạo dựa trên
nền tảng của Bát nhã. Thí dụ bố thí theo quan niệm Tiểu
thừa chỉ có mục đích tạo phước sinh thiên. Nhưng dựa
trên tư tưởng Bát nhã thì bố thí bây giờ không chỉ là
sự ban phát của cải vật chất mà là phương tiện dẫn đến
tự tánh thanh tịnh bản nhiên. Sự bố thí ấy không nhằm
mục đích sinh thiên nữa mà nhằm thẳng đến cứu cánh thành
Phật. Bố thí theo tư tưởng Đại thừa không chỉ nhắm vào
của cải vật chất mà bao hàm cả ba phương diện: Tài thí,
Pháp thí và Vô úy thí. Muốn thực hành viên mãn tài thí,
Bồ-tát phải giàu có. Muốn thực hành Pháp thí viên dung,
Bồ-tát phải có kiến thức và sau cùng muốn thành tựu pháp
môn vô úy thí, Bồ-tát cần có nghị lực và dũng cảm. Do
đó, ba đức tính Bi-Trí-Dũng là phương châm hành đạo của
Bồ-tát.
Đại
thừa là cỗ xe của Bồ-tát vì thế tư tưởng đại thừa
thì phải thương và gánh vác tất cả chúng sinh. Chủ yếu
của tư tưởng đại thừa là phục hưng tinh thần hoạt động
của Phật giáo Nguyên thủy. Đó là đề cao và khuyến khích
phong trào học Phật và tu Phật cho cả hai giới xuất gia và
tại gia. Tư tưởng cấp tiến nầy đã mang một luồng sinh
khí mới cho đạo Phật làm cho mọi người có cơ hội thực
hành Bồ-tát đạo và đem Phật pháp vào thế gian để tìm
sự giải thoát giác ngộ ở ngay trong cuộc đời nầy. Cứu
cánh tối hậu bây giờ của người xuất gia và Phật tử
tại gia là tự độ rồi độ tha và tự giác rồi giác tha.
Chính lý tưởng tự giác rồi giác tha sẽ đem con người gần
với nhau bởi vì tất cả chúng sinh đều có liên hệ mật
thiết với nhau, không thể tách rời được. Đó là tất cả
là Một và đây chính là chân lý Nhất như hay Nhất Chân Pháp
Giới vì chính Đức Phật đã khẳng định rằng trong tất
cả mọi chúng sinh đều có Phật tính như nhau, tức là có
khả năng thành Phật. Chân lý của đạo Phật là sống trong
thế gian mà không hề rời nhân thế vì thế nếu đem đạo
Phật vào thế gian, người tu hành vẫn có thể tìm thấy giải
thoát giác ngộ mà không cần lìa nhân thế. Đó là tại sao
mà Bồ-tát thấy chúng sinh đau khổ nên các Ngài tự nguyện
vào đời để tìm cách cứu độ mà không hưởng cảnh an
vui tịch diệt Niết Bàn cho riêng mình.
Ngược
lại với tư tưởng của các bộ phái Tiểu thừa là chỉ
mong tự lợi, tự giác nên họ không dám vào đời vì sợ
ô nhiễm làm động tâm nên họ chỉ rút tận vào rừng sâu
tu tập để mong chứng đạt Niết Bàn trong khi tư tưởng kinh
Duy Ma Cật chủ trương nhập thế, tích cực vào đời hoạt
động mà không hề bị ô nhiễm. Vì thế Đức Phật mới
dạy rằng:”Này các Tỳ kheo! Người biết sống một mình
không phải là người xa lánh đám đông mà là người biết
giữ được chánh niệm, biết sống với giây phút hiện tại
giữa đám đông, nhận biết mọi sự vật chúng quanh một
cách rõ ràng, sâu sắc mà không bị những sự vật đó chi
phối. Người biết sống một mình là người biết an trú
trong từng hơi thở hiện tại, không quay tìm quá khứ, không
đuổi bắt tương lai. Người như thế, dù sống giữa đám
đông vẫn là người sống một mình với bản tâm thanh tịnh”.
Cốt tủy của kinh Duy Ma Cật là khẳng định cho người Phật
tử xuất gia hay tại gia là ở đâu tu cũng được. Ở chùa,
ở nhà, ở chợ, hay ở trong công sở thì nơi nào cũng là
đạo tràng thanh tịnh cả. Vì thế kinh nầy xác định rằng:”Tùy
kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh” có nghĩa là khi tâm
của chúng sinh đã tịnh thì có cõi Phật thanh tịnh. Do đó
trong phẩm Phật quốc, kinh Duy Ma Cật đã giới thiệu một
khi tâm thanh tịnh thì chắc chắn có quốc độ tịnh. Tịnh
độ là một trong những chủ đề cốt lõi của kinh và quan
niệm về Tịnh độ nầy trong kinh Duy Ma Cật cũng là quan điểm
chung của các kinh điển Đại thừa như Bát Nhã, Hoa Nghiêm…Trong
kinh Hoa Nghiêm có câu:”Ưng quán pháp giới tính, nhất thiết
duy tâm tạo” có nghĩa là mức độ thanh tịnh của tâm đến
đâu thì thế giới được biểu hiện thanh tịnh tới đó.
Vì thế người Phật tử không kể già trẻ, trai gái, giàu
nghèo…ai ai cũng có thể tu để được giải thoát. Đây chính
là con đường Bồ-tát rộng thênh thang giúp con người phát
huy được lòng vị tha vô ngã để tiến về Phật quả mà
Phật tử tại gia là những người còn nhiều dính mắc thế
tục lại được tán thán nhiều hơn.
Nhưng
cũng cần phân biệt Tịnh độ tha lực và Tịnh độ Bồ-tát.
Tịnh độ tha lực nhằm mục đích giải thoát khỏi thế giới
Ta-bà được coi là nhơ bẩn tội lỗi nầy để sinh về một
thế giới thanh tịnh hơn được hiểu là Tây phương Cực
lạc của Phật A Di Đà. Tịnh độ Bồ-tát là thế giới lý
tưởng mà chính Bồ-tát tự xây dựng. Trước hết Bồ-tát
sinh ra trong một thế giới xấu xa, thoái hóa. Nhưng bằng ý
chí sắc đá và hành động tích cực và không ngừng nghĩ,
các Ngài đã biến đổi thế giới ô trược nầy thành cõi
Tịnh độ. Bởi vì tự trong bản chất tất cả các pháp vốn
thanh tịnh.
Kinh
Duy Ma Cật chủ trương chuyển Tâm chứ không chuyển Cảnh
bởi vì khi tâm hoàn toàn thanh tịnh thì cả thế giới chung
quanh sẽ thanh tịnh theo. Nội dung tư tưởng kinh Duy Ma Cật
lấy tư tưởng Bát Nhã, tức là tư tưởng tánh Không, làm
nền tảng và mang sắc thái của nguyên lý Nhất như, tức
là tất cả là một và một là tất cả bởi vì các pháp
vốn thanh tịnh, không sanh không diệt, bình đẳng bất nhị.
Kinh
Duy Ma Cật là kinh bất tư nghì mang tư tưởng bất tư nghì
giải thoát bởi vì tất cả những gì được biểu hiện trên
cõi đời nầy đều là biểu hiện của Thể tánh thanh tịnh
cho nên chúng là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, tức là bất
khả tư nghì. Đây chính là biểu hiện của hiện tượng duyên
khởi dựa trên nền tảng Tánh Không. Vì thế kinh nầy còn
có tên là Bất tư nghì giải thoát kinh.
Vậy
kinh Duy Ma Cật xuất hiện vào thời kỳ nào?
Sau
khi thành đạo dưới cội Bồ-đề, Đức Phật đã thuyết
pháp ròng rã 49 năm và được chia làm 5 thời kỳ:
1)Thời
Phật nói kinh Hoa Nghiêm: Sau khi thành đạo, Ngài nói trong thiền
định bộ kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày về giáo lý tối thượng
Đại thừa để dẫn dắt các vị Bồ-tát lên địa vị Đẳng
giác và Diệu giác. Các hàng Thanh Văn, Duyên Giác và sơ cơ
không thể hiểu được.
2)Thời
Phật nói kinh A Hàm: Đức Phật đã thuyết giảng 12 năm cho
hàng Tiểu thừa cũng còn gọi là Nguyên Thủy hay Nam Tông về
triết lý căn bản của Phật giáo.
3)Thời
Phật nói kinh Phương Đẳng: Đây là giai đoạn chuyển tiếp
từ Tiểu thừa sang Đại thừa và Đức Phật đã dùng 8 năm
để giảng dạy phương pháp tự giác ngộ cho chính bản thân
ta đến giác tha, tức là giúp chúng sinh cùng đến chỗ giác
ngộ như mình. Kinh Duy Ma Cật được ra đời vào thời kỳ
nầy.
4)Thời
Phật nói kinh Bát Nhã: Đức Phật đã thuyết giảng 22 năm
về tư tưởng của hệ Bát Nhã ngõ hầu giúp chúng sinh phá
được chấp ngã, chấp pháp để hiện lộ lý Không và sống
với cái tự tánh thạnh tịnh của mình.
5)Thời
Phật nói kinh Pháp Hoa và Niết Bàn: Trong 8 năm còn lại trước
khi Đức Phật nhập diệt, Ngài đã nêu rõ nguyên nhân tại
sao Ngài thị hiện trên thế gian nầy:”Khai thị chúng sinh
ngộ nhập Phật tri kiến”. Sau cùng Đức Phật đã quy tam
thừa về Nhất thừa Phật giáo hay Phật thừa, đó là đừng
chấp vào phương tiện mà cố gắng đạt đến cứu cánh là
giải thoát giác ngộ có nghĩa là đừng chấp ngón tay là mặt
trăng.
Như
thế kinh Duy Ma Cật được xuất hiện vào thời Phật nói
kinh Phương Đẳng tức là bước chuyển tiếp giửa Tiểu thừa
sang Đại thừa với mục đích phá các chấp Pháp của Tướng
tức là pháp hữu vi để bước sang thời Bát Nhã tức là
cái Thể, cái thật tướng bên trong hay là thế giới vô vi
thanh tịnh. Kinh Duy Ma Cật đã chứng minh một cách hung hồn
rằng tất cả những giáo pháp như Tứ Diệu Đế, Thập Nhị
Nhân duyên…mà hàng Thanh văn đã thực hành và chứng nghiệm
chỉ là những phương tiện tạm dùng trong buổi sơ cơ. Nay
đã đến lúc cần phải chuyển sang một hệ thống tư tưởng
mới đó là phải lìa Tướng nhập Tánh, lìa Tương đối chứng
ngộ Tuyệt đối, bỏ Ngả chấp và chấp Pháp mà tiến tu
theo con đường Bồ-tát để có thể quên mình mà cứu độ
chúng sinh. Vì thế người tu sẽ không còn kiến chấp hẹp
hòi, thô thiển mà sẽ khai thông trí tuệ để được tự
giác và giác tha và sau cùng đạt tới giác hạnh viên mãn.
Trí tuệ Bát Nhã sẽ cho con người thấy rằng tất cả nhân
sinh vũ trụ chẳng qua là kết quả của những hiện tượng
duyên khởi có nghĩa là từ cái Không mà sinh ra tất cả và
cũng từ tất cả trở về với bản thể thanh tịnh ban đầu
tức là Một là tất cả và tất cả chính là Một.
Nguyên
lý bất nhị hay Pháp môn không Hai là tư tưởng nòng cốt
trong kinh Duy Ma Cật. Bất nhị tức là không Hai chứ không
phải một. Tại sao? Vì nếu nói Một cũng không đúng. Chúng
ta nói Một là chỉ tạm gọi thôi vì nếu nói Một là ám
chỉ phải có cái khác là hai, là ba, là bốn…Mới nghe chúng
ta nghĩ đây là lối chơi chữ nhưng thật ra đó là phương
cách diễn đạt con đường buông xả đầy diệu dụng. Vì
thế mới gọi bất tư nghì là vậy. Trong thế giới tương
đối thì con người lúc nào cũng nhận thức vạn pháp qua
lăng kính nhị nguyên. Đó là nếu có trong phải có ngoài,
có thiện có ác, có tốt có xấu, có ta có người, có trên
có dưới…Đối với tư tưởng của thuyết nhị nguyên nếu
không có hai tức là không có đối tượng thì thế giới không
tồn tại. Ngược lại nguyên lý bất nhị trong kinh Duy Ma Cật
cho rằng cái hai ấy không phải là hai vì chúng là song lập,
cùng tồn tại bất khả phân ly. Nói một cách khác cái hai
ấy tồn tại trong thể duyên khởi. Do đó chúng ta không thể
nhìn riêng bất cứ pháp nào mà nhìn với cái nhìn toàn diện
của một pháp. Bất nhị là đúc kết lý thuyết chân không
diệu hữu mà trong kinh Bát Nhã và Hoa Nghiêm đã triển khai.
Đó là:”Sắc và Không là hai nhưng Sắc chính là Không và
Không tức là Sắc, không phải Sắc diệt mới Không mà là
Sắc tánh tự Không…” Như thế thì tư tưởng Bất nhị
mang sắc thái nguyên lý Nhất Như. Đó là Một là tất cả
và tất cả là Một.
Tuy
nhiên kinh Duy Ma Cật không ngừng lại ở triết lý siêu việt
mà đưa tư tưởng Bất Nhị vào đời sống để chúng sinh
có thể suy nghiệm rằng: Nhãn và Sắc là hai nhưng nếu biết
Nhãn đối với Sắc mà không phát khởi Tham-Sân-Si thì đó
là tịch diệt tức là Niết bàn.
Một
điểm sáng chói khác của kinh là thu gồm các đường lối
tu tập khác nhau, các phe phái khác nhau trong Phật giáo trở
thành Nhất thừa Phật giáo như trăm sông đổ vào một biển
và hòa tan trong đó bởi vì tất cả các pháp đều là Phật
pháp.
Trưởng
giả Duy Ma Cật là người bất tư nghì, Ngài thuyết bất tư
nghì pháp, biểu hiện bất tư nghì cảnh, tập họp bất tư
nghì đại chúng làm cho mọi người phát bất tư nghì tâm
nhưng chung quy vẫn là tán thán bất tư nghì công đức của
Phật để hướng dẫn cho mọi người đạt đến quả vô
thượng Bồ-đề là thành Phật.
Nhân
vật chính trong kinh nầy là một cư sĩ tại gia tên là VIMALAKIRTI
được dịch là Duy Ma La Cật Lị Đế, gọi tắt là Duy Ma
Cật. Duy Ma Cật là chữ Phạn và dịch sang tiếng Trung Hoa
là Tịnh Danh có nghĩa là Vô Cấu. Duy Ma La là Tịnh và Cật
Lị Đế là Danh. Nói về Tướng tức là về phương diện
vật chất thì Tịnh là trong sạch, không nhiễm bụi trần.
Còn nói về Thể tức là về phương diện tâm linh thì Tịnh
là vắng lặng, an nhiên tự tại và tâm không vọng động.
Danh là phần tâm linh của chúng sinh. Trong thập nhị Nhân Duyên
thì Danh là chỉ cho phần tinh thần, là tâm còn Sắc là cho
phần vật chất. Vì thế Tịnh Danh có nghĩa là tâm thanh tịnh,
tâm trong sạch. Tại sao? Bởi vì cư sĩ Duy Ma Cật là một
con người, một ông Trưởng giả giàu có, thê thiếp đầy
nhà, tiền bạc, tôi tớ đầy đủ mà ông không hề dính mắc.
Ông không mắc trong danh, trong lợi, trong tài, trong sắc cho
nên nói tâm ông trong sạch, thanh tịnh là như vậy. Vô cấu
là dịch ngược lại có nghĩa là không nhơ, không nhớp. Ông
Tịnh Danh hay cư sĩ Duy Ma Cật là người đã lau sạch bụi
trần, tâm hằng thanh tịnh và diệt hết nhiễm ô. Thật ra
khi dịch thì chữ Danh tức là Tâm ám chỉ Chân tâm tức là
tính thanh tịnh bản nhiên, bất cấu bất tịnh là đũ không
cần chữ Tịnh. Nhưng những vị cổ đức muốn cộng thêm
chữ Tịnh là có ý cho chúng sinh dễ dàng phân biệt Chân tâm
với Vọng tâm hay vọng thức nên mới thêm chữ Tịnh trước
chữ Danh.
Vì
muốn tạo cơ duyên để hoằng pháp lợi sanh, ông đã mượn
cớ bị bệnh để tạo cơ hội giảng giải giáo lý cho chúng
sinh. Đức Phật vì lòng từ bi mà lần lượt yêu cầu các
đại đệ tử của mình từ hàng Thanh Văn đến các đại
Bồ-tát thay mặt Ngài đi vấn an ông Duy Ma Cật. Tuy tất cả
đều là hàng xuất gia chứng Thánh quả mà trong quá khứ đã
từng bị ông Duy Ma Cật chất vấn về tâm pháp và sở học
mà không một ai trả lời trôi chảy trước kiến thức Phật
pháp uyên thâm và biện tài vô ngại của ông. Đây là điều
để nâng cao tinh thần của vị cư sĩ tại gia bởi vì một
khi cư sĩ tại gia tu hành đã chứng đắc thì họ cũng có
khả năng siêu việt mà hàng xuất gia không thể vượt qua
nổi. Và đó cũng chính là tinh thần bình đẳng của nhà Phật
vì giải thoát giác ngộ không chỉ dành riêng ưu đãi cho thành
phần xuất gia mà thôi. Có thể nói kinh Duy Ma Cật có tánh
cách như là một cuộc cách mạng của cư sĩ bởi vì từ xưa
đến nay chỉ có những người xuất gia mới chứng đạt được
Thánh quả, mà chưa ai nói đến người cư sĩ chẳng những
chứng đắc Thánh quả mà còn siêu xuất hơn cả người xuất
gia nữa.
Đệ
tử của Phật gia thì có hai hạng là xuất gia và tại gia.
1)
Xuất gia: Dựa theo kinh Phật thì người Tăng sĩ chỉ được
gọi là người xuất gia nếu họ thật sự đã xuất ra được:
Phiền
não chi gia: ra khỏi nhà phiền não, khổ đau.
Vô
minh chi gia: ra khỏi nhà vô minh, tăm tối.
Tam
giới chi gia: ra khỏi nhà ba cõi, đó là dục giới, sắc giới
và vô sắc giới.
Thế
tục chi gia: ra khỏi nhà thế tục tức là rời bỏ gia đình,
vợ con, thân bằng quyến thuộc. Rời bỏ ngay cả những địa
vị trong xã hội để vào chùa, giữ giới trì trai, tiêu diệt
phiền não, đập phá vô minh, vượt qua tam giới để chứng
đạt giải thoát giác ngộ.
Tuy
xuất gia là cố thoát ra khỏi nhà tam giới, nhà phiền não,
tham, sân, si, mạn, nhưng mục đích tối hậu vẫn là chứng
đạt quả Bồ-đề và tâm thanh tịnh an lạc của vô thượng
Niết bàn. Vì thế xuất gia có thể được hiểu một cách
rộng rãi như sau:
Thân
xuất gia, tâm xuất gia tức là phải xuất gia theo Chánh pháp
và sống đúng với Chánh pháp.
Thân
xuất gia, tâm không xuất gia tức là có hình tướng người
xuất gia mà sống không đúng với Chánh pháp.
Tâm
xuất gia, thân không xuất gia: tuy vẫn còn gia đình, thế tục
tức làm thân cư sĩ mà phát tâm Vô thượng Bồ-đề thì cũng
xem như xuất gia, thọ cụ túc giới và sống đúng Chánh pháp.
Tâm
không xuất gia, thân cũng chẳng xuất gia thì trôi nổi trầm
luân trong lục đạo luân hồi, đời nầy qua thì đời khác
đến không tìm ra lối thoát.
2) Tại gia: Đệ tử tại gia thường được hiểu là những
người còn ở trong nhà thế tục. Họ có gia đình, vợ chồng,
con cái và còn liên hệ với cha mẹ, anh em, thân bằng quyến
thuộc… Họ làm ăn buôn bán, hòa nhập và xây dựng xã hội.
Vì bận rộn việc đời nên phần lớn những đệ tử tại
gia không có cơ hội tu hành rốt ráo nên tâm còn nhiều phiền
não, trí tuệ khó phát sinh và rất khó mà xuất ra khỏi nhà
tam giới.
Trong
đạo Phật danh từ Phật tử được phổ biến rất rộng
rãi và chúng ta thường tự nhận mình là Phật tử tức là
con Phật, nhưng chính mình có phải là một Phật tử thuận
thành không? Kinh Phật có câu:”Tòng Phật khẩu sinh, tòng
Pháp hóa sinh, đắc Phật Pháp phần, cố danh Phật tử” có
nghĩa là theo miệng Phật mà sinh ra, theo Chánh Pháp mà hóa
ra, được vài phần Phật Pháp nên được gọi là Phật tử
tức là con Phật. Nếu chúng sinh nghe theo lời Phật dạy, ngoài
trì tam quy giữ ngũ giới còn phải tu tâm dưỡng tánh, cải
tà quy chánh, bỏ ác phục thiện, tu nhân tích đức, thân tâm
thanh tịnh để phát huy trí tuệ thì mới xứng danh là Phật
tử. Nếu chưa được hoàn toàn thì cũng được vài phần
chớ đừng nghĩ mình vào chùa quy y để có pháp danh và ở
nhà cũng lập bàn thờ Phật nhưng thân tâm không tu sửa, không
học theo Chánh Pháp mà tin theo tà pháp mê tín dị đoan như
xin xăm bói quẻ cầu an cầu siêu, Tham-Sân-Si không bớt, dâm
sát đạo không chừa, hay nghĩ mình là con cầu tự nên tự
xưng là con Phật thì chỉ là Phật tử bề ngoài. Nhưng đây
chỉ là cái nhìn của phàm phu vì tâm chúng ta còn phân biệt
còn đối với Phật và chư Bồ-tát thì các Ngài không phân
biệt ai là Phật tử, ai là không Phật tử vì lòng từ bi
các Ngài chỉ thấy tất cả là chúng sinh đáng thương xót
như nhau, tâm bình đẳng vốn không hai tức là bất nhị.
Trong
kinh nầy nhân vật chính là cư sĩ Duy Ma Cật. Danh từ cư sĩ
là dành để gọi một đệ tử Phật tu tại gia, có gia đình
vợ con, có địa vị và bổn phận trong nhân quần xã hội,
nhưng giữ tròn ngũ giới hoặc 58 Bồ-tát giới, tinh tấn tu
hành các lời Phật dạy, thực hành Bồ-tát đạo để quên
mình mà làm lợi ích cho chúng sinh. Tuy thân còn lẫn lộn trong
chốn bụi trần nhưng tâm hoàn toàn thanh tịnh không bị nhiễm
ô. Vì thế cư sĩ là những vị đã thanh tịnh tu hành tiến
xa trên con đường đạo. Các ưu-bà-tắc, ưu-bà-di tức là
thiện nam, tín nữ là những người thân cận với Tam bảo
để phụng sự, cúng dường và tu học chỉ là Phật tử tại
gia. Cư sĩ Duy Ma Cật là trường hợp đặc biệt vì tuy là
một cư sĩ tại gia nhưng ông ta đã chứng đắc Vô Sanh Pháp
Nhẫn, thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi, trí tuệ vô song
nhưng dùng phương tiện thị hiện trong cõi Ta bà ô trược
nầy làm ông trưởng giả để hoằng pháp cứu độ chúng
sinh. Vì thế ông chính là:
Thân
tuy ở cõi Ta bà
Mà
lòng đã gởi bên tòa hoa sen.
Kinh
Duy Ma Cật là do Đức Thích Ca nói ở thành Tỳ Xá Ly, Phạn
âm là Veiseli, Hán dịch là Thành Quảng Nghiêm. Tôn giả A Nan
được nghe và thuật lại. Đây là bộ kinh Đại thừa do Đức
Phật nói cho hàng Bồ-tát và các đệ tử phát Bồ-đề tâm
nghe để diễn tả rõ ràng cảnh giới của các Bồ-tát chứng
nhập. Đây là một triết lý diễn tả một cái gì hết sức
huyền diệu nhiệm mầu cao tột mà không thể dùng trí thức
phàm phu hiểu được. Muốn có vài ý niệm về ý nghĩa huyền
diệu nầy con người phải cố gắng bỏ qua những hình tướng
bề ngoài để thấy cái Thể bên trong tức là bỏ Tướng
để nhập Tánh, bỏ cái phân biệt của phàm phu để hòa nhập
vào đại trí tuệ Bát Nhã. Vì thế kinh nầy còn có tên là:”Bất
Khả Tư Nghì Giải Thoát Kinh” tức là sự giải thoát không
thể nghĩ bàn.
Trước
hết thế nào là bất khả tư nghì?
Bất
khả tư nghì là vượt ra ngoài những khái niệm suy tư phân
biệt của tất cả những sự hiểu biết thông thường của
con người. Nói một cách khác là sự kiện bất tư nghì cũng
được hiểu là những hiện tượng xưa nay chưa từng xảy
ra mà nay có.
Khi
chúng ta uống một tách trà vừa nóng vừa thơm ngon. Hương
vị của trà và độ nóng làm chúng ta thích thú. Cái biết
của sự thích thú nầy chỉ có ta biết cho dù chúng ta cố
gắng giải thích cho người ngồi kế bên là trà nóng và thơm
ngon như thế nào thì người kế bên cũng không tự mình biết
được. Vậy cái biết nầy không thể nghĩ bàn hay nói được
thì gọi là bất khả tư nghì.
Ngày
xưa khi con người chưa đặt chân lên mặt trăng thì mỗi lần
nói về mặt trăng các nhà văn thơ thường dùng những cảnh
tượng đẹp đẽ, hoa thơm cỏ lạ, núi cao rừng thẳm của
địa cầu để diễn tả và so sánh với mặt trăng. Nào là
chú cuội, chị Hằng…nào là mặt trăng cũng giống như địa
cầu chỉ khác là nhỏ hơn địa cầu mà thôi. Đây là mượn
những đối tượng cụ thể để diễn tả một vật có hình
có tướng mà còn khó khăn đến mức nào mới hình dung ra
được. Bây giờ nếu mượn một vật có hình có tướng để
diễn tả một cái gì vô hình vô tướng, chân không diệu
hữu thì chắc chắn sẽ khó khăn muôn ngàn lần hơn.
Thêm
nữa nếu thật sự muốn hiểu thấu suốt pháp môn bất nhị
nầy thì con người không thể nào dùng lời nói hay văn tự
mà diễn đạt được bởi vì bất cứ cái gì có thể nói
hay viết được thì chỉ là trong tính tương đối còn cái
không nói, không viết được thì mới là chân lý tuyệt đối.
Bởi vì chân Không thì không hình, không tướng, không kích
thước, nặng nhẹ thì làm sao mà diễn tả bằng ngôn ngữ
hay văn tự của con người.
Thí
dụ có một ông nhà giàu, công danh thành đạt, tiền dư bạc
để, vợ đẹp con xinh. Nhưng sau khi thâm nhập Phật pháp mới
biết rằng đây là những chướng ngại để đưa con người
lún sâu vào vòng sinh tử luân hồi nên ông ta quyết chí xả
bỏ hết tất cả để vào chùa quy y tu Phật. Khi vào chùa
tinh tấn thanh tịnh tu hành và không còn ước mơ những dục
lạc của thế gian giúp ông ta được giải thoát giác ngộ.
Sự giác ngộ nầy thì có thể nói được tức là tư nghì
vì dám từ bỏ thì sẽ được giải thoát. Trong khi đó cư
sĩ Duy Ma Cật là một nhà trưởng giả giàu sang phú quý, vợ
đẹp con xinh, tiền rừng bạc biển mà nói giải thoát thì
làm sao tin được? Bởi vì thường tình nếu có vợ có con,
có tiền có của, có tôi có tớ thì còn dính liền với phiền
não khổ đau. Nhưng ông Duy Ma Cật tuy sống trong những cảnh
dẫy đầy ô nhiễm đó mà tâm không hề dính mắc, ông thực
hành tất cả Phật sự mà không chướng ngại thì cái giải
thoát nầy làm sao có thể nghĩ bàn cho được. Vì thế mới
gọi bất khả tư nghì giải thoát là vậy. Duy Ma Cật là người
bất tư nghì. Ông thuyết bất tư nghì pháp cho bất tư nghì
đại chúng để khởi động bất tư nghì tâm. Ông dùng trí
tuệ và thần thông vi diệu qua sự trình diễn bất khả tư
nghì cảnh để xiển dương Phật pháp và xưng tán Đại thừa.
Cũng
như cả đời Đức Phật luôn thuyết pháp độ sanh mà sau
cùng Ngài nói:”Ta không nói một chữ” cũng bởi vì có bỏ
qua văn tự, lời nói thì mới thể nghiệm được Bản Thể
Chân Như. Do đó mới có câu: “tri giả bất ngôn, ngôn giả
bất tri” có nghĩa là người đã biết, đã tu chứng thì
không chịu nói vì nói không được còn chúng ta thì nói rất
nhiều cũng bởi vì chưa thấy biết được chân lý.
Trong
thế gian, chư Phật và chư Bồ-tát thường dùng mọi thân
hình thị hiện để cứu độ chúng sinh. Các Ngài sống chung
đụng với thế gian, có khi hiện thân làm quan, làm dân, làm
kẻ giàu sang, cũng có lúc làm kẻ tật nguyền…để giáo
hóa và cứu độ chúng sinh mà không bao giờ tiết lộ tung
tích của mình. Đôi khi các Bồ-tát thị hiện làm người
tham ăn, tham sắc, lười biếng, tội lỗi bị đời khinh rẻ,
ruồng bỏ rồi sau đó hối hận sửa đổi và trở thành người
tốt để giáo hóa, làm gương cho chúng sinh thấy biết rằng
những người xấu như vậy mà nếu chuyên tâm tu sửa thì
ai cũng có thể tu sửa được. Có khi Bồ-tát thị hiện làm
ăn buôn bán kiếm lời nhưng không tham đắm, lời không vui,
lỗ không buồn, chỉ làm trợ duyên cho người khác có phương
tiện tu hành. Các Ngài tự nguyện vào đời bằng cách dùng
một thân bình thường như mọi chúng sinh khác để khuyến
khích chúng sinh tinh tấn tu hành chứ không hiện thần thông
bay trên trời hay chiếu hào quang rực rỡ. Khi rời bỏ xác
phàm, có lúc các Ngài để lại một bài kệ thì mọi người
mới biết đó là Phật hay Bồ-tát giáng trần thị hiện để
cứu độ chúng sinh.
Dựa
theo kinh điển, chúng ta đã biết Đức Phật Thích Ca và các
đại đệ tử của Ngài như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên,
Phú Lâu Na, A Nan, Đại Ca Diếp…là những nhân vật lịch
sử có thật. Họ là những người bằng xương bằng thịt,
sống ở Ấn độ cách đây trên 2500 năm. Họ sinh ra ở đâu,
con cái của ai, vì nhân duyên gì mà quy y theo Phật đã được
kinh điển ghi chép rõ ràng và khi nhập diệt có để lại
những di vật hay Xá lợi được cất giữ cho đến ngày nay.
Còn Đức Phật A Di Đà, Đức Phật Dược Sư, chư Bồ-tát
Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền,
Địa Tạng…không phải là những nhân vật lịch sử bằng
xương bằng thịt. Sở dĩ chúng ta biết được các Ngài là
do Đức Phật Thích Ca nói cho biết.
Kinh
Duy Ma Cật thuộc loại “quyền giáo” có nghĩa là Đức Phật
dùng những thí dụ để diễn tả Chân lý cao siêu huyền diệu
mà không thể nào diễn đạt được bằng những danh từ,
ngôn ngữ của con người. Thí dụ như Đức Phật, muốn khuyên
con người hiếu thảo với cha mẹ, nên Ngài mới kể câu chuyện:
-
Có một đời, ta hành hạnh Bồ-tát, làm con chim Anh Võ. Khi
đó mẹ ta bịnh nằm trong ổ, ta phải đi tha mồi về nuôi
mẹ, rồi có người đánh lưới bắt được ta, ta cất tiếng
van xin họ…
Mới
nghe, chúng ta đâm ra nghi ngờ rằng sao Phật nói nghe hoang đường
mê tín quá! Nếu tin câu chuyện là thật thì chúng ta bị mắc
kẹt vì cho “Quyền” là “Thật”. Chủ yếu của Đức
phật là muốn dạy con người phải hiếu thảo với cha mẹ
nên Ngài mới đưa ra một câu chuyện để dạy chúng sinh.
Đó là dùng quyền nói lên cái thật. Chúng ta phải biết đoạn
kinh nào thuộc về quyền và đừng chấp nơi quyền mà tìm
ra lẽ thật. Đó mới là người biết nghe kinh và biết học
kinh. Vì thế khi Phật Thích Ca nói có Đức Phật A Di Đà ở
cõi Tây phương Cực Lạc thì chúng ta tin Phật nói không sai.
Nhưng dựa theo kinh điển đại thừa thì có lúc Phật nói
thật, có lúc Phật nói quyền. Vậy đừng lấy quyền làm
thật, đừng chấp mặt trăng là địa cầu mà cần suy tư
quán chiếu tìm ra sự thật qua các thí dụ thì chân lý mới
hiện bày.
Vì
là bất khả tư nghì nên có nhiều giả thuyết về thân phận
của ông Duy Ma Cật. Vậy cư sĩ Duy Ma Cật có phải là một
nhân vật lịch sử không?
Có
hai lý luận về thân phận của ông Duy Ma Cật:
1)Cư
sĩ Duy Ma Cật là người có thật: Ông là một trưởng giả
ở thành Tỳ Xá Ly bên Ấn độ, có gia đình vợ con và sống
cùng thời với Đức Phật Thích Ca. Chính Đức Phật đã chứng
minh cư sĩ Duy Ma Cật là một đại Bồ-tát, tu hành chứng
đắc, được vô sanh pháp nhẫn, biện tài vô ngại, du hí
thần thông, được chư Phật khen ngợi và Trời người kính
trọng. Vì muốn độ người nên ông dùng phương tiện khéo
thị hiện làm thân trưởng giả để độ chúng sinh. Đức
Phật dạy rằng:”Có cõi nước tên là Diệu Hỷ, Phật hiệu
Vô Động, ông Duy Ma Cật này ở nước đó chết rồi sinh
nơi đây…”. Để xác định chuyện nầy Ngài Tam Tạng
Trần Huyền Trang khi sang Ần Độ vào năm 629 Tây lịch đã
đến Tây Bắc cung thành Tỳ Xá Ly cách năm sáu dặm có một
già lam, cạnh già lam có một ngôi tháp. Đó là chỗ xưa Đức
Phật nói kinh Duy Ma Cật. Đông Bắc cách đó ba bốn dặm cũng
còn một ngôi tháp. Đó là nhà cũ của cư sĩ Duy Ma Cật. Tuy
là trải qua gần ngàn năm mà ngôi nhà đó hãy còn nhiều sự
linh dị. Cách ngôi nhà không xa có một phòng chất đá chung
quanh và đó là chỗ ông Duy Ma Cật hiện bịnh thuyết pháp.
Bên cạnh đó có nhà của cư sĩ Bảo Tích và nhà cũ của
Yêm ma la nữ. Thêm nữa ngài Thái Hư có ghi rằng: Đời Đường
có Vương Huyền Sách từng đến Ấn độ thì bấy giờ nhà
của ông Duy Ma Cật vẫn còn. Trong kinh ông nghe nói nhà này
nhỏ nhưng có thể chứa được 900 vạn người và 32,000 tòa
sư tử cao lớn. Vì tính hiếu kỳ nên khi đến nơi ông lấy
thước để đo chu vi nhà thì bốn phía đều chỉ được mười
thước. Do vậy mà ông tán thán thần lực của ông Duy Ma Cật.
Khi ngài Huyền Trang đến thấy cái nhà nhỏ, bụng nghi kinh
nói không thật, muốn viết lên vách nhà để tỏ ý mình.
Nào ngờ khi sắp hạ bút thì vách tường càng lúc càng xa,
sờ cũng không thấu. Gần trọn ngày mà không viết được
chữ nào nên ngài gác bút tán thán rằng:”…di tích mà còn
thế, huống chi là thần lực ngày xưa”.
Thêm
nữa, trong kinh Nguyệt thượng nữ có chép ngài Duy Ma Cật
họ Lôi, vợ là Kim Cơ, con trai là Thiện Tư, con gái là Nguyệt
Thượng. Như thế cư sĩ Duy Ma Cật là người có thật.
Những
ghi chép trên đây chứng tỏ cư sĩ Duy Ma Cật không những
là một người thật và sống cùng thời với Đức Phật Thích
Ca mà ông ta còn là một vị đại Bồ-tát có thể gọi là
Bồ-tát bất khả tư nghì. Thật vậy, ông Duy Ma Cật chính
là một vị đại Bồ-tát đã chứng thánh quả, nhưng khéo
hiện thân làm cư sĩ nhưng với tâm thanh tịnh, không còn ô
nhiễm chấp trước. Ông đã tận diệt Tham-Sân-Si nên vào
đời mà vẫn giữ tự tánh thanh tịnh, không tạo nghiệp và
nhập thế mà tâm thường trụ Niết bàn. Ông chứng minh rằng
không nhất thiết phải xuất gia mới đắc đạo mà một cư
sĩ tại gia tu hành chân chánh thì cũng được giác ngộ và
giải thoát. Ông đề cao vai trò của người Phật tử tại
gia là tuy sống giữa chốn bụi trần mà không hề bị ô nhiễm.
Tuy ca tụng lối tu tại gia nhưng cư sĩ Duy Ma Cật không hề
chống đối xuất gia. Ông dạy chúng sinh là đừng quan trọng
hóa vấn đề tại gia hay xuất gia vì cả hai lối tu đều
hướng về một cứu cánh là giải thoát giác ngộ miễn là
lúc nào cũng giữ tâm thanh tịnh, trong ngoài như như bất động.
Giữ giới thì tâm định và trí tuệ sẽ phát sinh. Muốn tu
Giới, Định, Tuệ thì một khi vọng niệm khởi, phải biết
nó là vọng, đừng cho tiếp tục nổi lên thì vọng niệm
sẽ dừng tức là ra khỏi nhà vô minh, thì đây mới chính
là chân xuất gia vậy. Muốn thực hiện được những lý tưởng
nầy thì ông phải là người bằng xương bằng thịt để
cho mọi người trông thấy, trò chuyện. Ông cũng thi thố oai
lực thần thông siêu việt khiến mọi người kính phục tin
theo. Các đại đệ tử của Phật như Đại Ca Diếp, Xá Lợi
Phật, A Nan…cũng đã gặp được ông. Ngay cả những vị
Bồ tát như Di Lặc, Văn Thù…cũng đã từng diện kiến ông.
Đức Phật Thích Ca đã nói rõ như vậy thì tất nhiên cư
sĩ Duy Ma Cật là người có thật.
2)Cư
sĩ Duy Ma Cật là một nhân vật huyền thoại: Đức Phật Thích
Ca đã sáng tạo ra nhân vật Duy Ma Cật để diễn tả chân
lý cao siêu tuyệt vời. Đó là nguyên lý Bất nhị và lý tưởng
bất khả tư nghì giải thoát. Chủ yếu của kinh vẫn là tâm
thanh tịnh vì nếu có tâm thanh tịnh thì thế giới sẽ được
thanh tịnh và đây là con đường đưa chúng sinh đến chỗ
giải thoát giác ngộ. Phật nói kinh Duy Ma Cật là muốn giới
thiệu một phương cách tu hành viên mãn để khai thị chúng
sinh thấy con đường phá trừ chấp Có chấp Không. Những
nhân vật đã từng gặp ông Duy Ma Cật thì một phần là nhân
vật lịch sử như Đức Phật, các tôn giả Xá Lợi Phất,
Mục Kiền Liên, A Nan…cùng các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, đại
chúng…và một phần là những nhân vật ẩn mặt siêu hình
như các Bồ-tát Di Lặc, Văn Thù, Quán Thế Âm…chư Thiên
Long Bát Bộ, Thiên Thần Hộ Pháp, Địa Thần, Quỷ Thần…từ
các cõi khác đến nghe Pháp thì cũng khó mà kết luận ông
Duy Ma Cật là người có thật.
Thêm
nữa, cư sĩ Duy Ma Cật có thần thông biến hóa bất khả tư
nghì làm cho chư Phật khen ngợi và mọi người cung kính nghe
theo thì trong lịch sử loài người chưa có người nào được
như vậy ngoài Đức Phật Thích Ca.
Vấn
đề cư sĩ Duy Ma Cật là người có thật hay chỉ là một
nhân vật thần thoại thì không quan trọng và tin hay không
tin là tùy khả năng am hiểu hay thấu triệt triết lý
bất khả tư nghì của chúng sinh. Nhưng chắc chắn điều quan
trọng hơn là chúng ta phải thấu biết, thâm nhập Lý kinh
và biết đem nó ra áp dụng để lìa xa chấp Có chấp Không
và ngộ được Chân lý. Có ứng dụng nguyên lý Bất nhị
vào cuộc sống thì mới biết được sự diệu dụng siêu
việt của kinh. Vì đây là pháp môn giải thoát bất khả tư
nghì nên chúng ta không cần nghĩ bàn, tranh luận mà hảy tinh
tấn tu hành, cố gắng thực hành những lời dạy trong kinh
để chuyển Tâm cho được hoàn toàn thanh tịnh. Tâm có tịnh
thì thế giới chung quanh sẽ tịnh và khi đạt tới chỗ Bất
Nhị thì chắc chắn chúng ta sẽ biết cư sĩ Duy Ma Cật là
người thật hay chỉ là một nhân vật thần thoại.
Tóm
lại người Phật tử muốn thấu hiểu huyền nghĩa của kinh
Duy Ma Cật thì phải vận dụng công phu trong việc “Tư Duy”
tức là suy nghĩ, quán chiếu sâu sắc thì mới thật thấy,
thật biết và thật chứng những đề tài vi diệu thậm thâm
của kinh. Thiền của kinh Duy Ma Cật là Đại thừa thiền.
Thiền ở đây không phải là ngồi kiết già mà thiền của
Đại thừa chính là tư duy hay tĩnh lự tức là suy nghĩ để
tìm ra câu giải đáp cho một đối tượng của tâm thức.
Đó là thiền mà không cần trốn tránh trách nhiệm, không
từ chối bổn phận trong bất cứ việc làm nào có lợi ích
cho chúng sinh. Thêm nữa, tinh thần thiền của Duy Ma Cật đối
với Tục đế là người Phật tử không một việc gì lợi
ích cho chúng sinh mà không làm. Còn đối với Chân đế, cho
dù đó là Niết bàn, hay quả vị Phật thì cũng không cầu,
không mong, không đợi. Đây chính là đúng với tinh thần:”Bất
Tận Hữu Vi, Bất Trụ Vô Vi” vậy. Tu học kinh Duy Ma Cật
là tu học pháp môn Bất tư nghì giải thoát cho nên người
tu sẽ được giải thoát ngay trong cuộc sống hiện tại, giải
thoát ngay trong thế giới Ta bà nầy mà kinh gọi là Cảnh Giới
Bất Tư Nghì Giải Thoát.
Riêng
cho những người tu Tịnh Độ thì kinh Duy Ma Cật giúp họ
tăng thêm năng lực, ý chí và phương tiện thiện xảo để
được vào thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà. Tại sao?
Đối với người tu Tịnh độ thì chẳng những chú trọng
đến tha lực (Phật lực A Di Đà) mà công phu về tự lực
cũng không kém quan trọng. Muốn nghiêm trì sáu căn: mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ý được viên mãn để cho ba nghiệp :
thân, khẩu, ý được thanh tịnh mà có được Nhất tâm tức
là phần tự lực thì người tu nên lìa Sự Tướng mà thấy
được Bản Thể thanh tịnh làm cho tham-sân-si tan biến và
vọng niệm tiêu tan. Kinh Duy Ma Cật sẽ là cổ xe chuyên chở
người tu trên suốt lộ trình tiến về mục đích ấy. Nếu
đời nầy chúng sinh có được Niết bàn, có tâm thanh tịnh
thì chắc chắn chỉ cần một câu niệm Phật sẽ đưa họ
vào thế giới an vui cực lạc của Phật A Di Đà. Khi đã bỏ
được ngã chấp, pháp chấp, tâm phân biệt thì tâm Bồ-đề
hiễn hiện. Có tâm thanh tịnh tức là chúng sinh đang sống
với chân tâm của mình thì họ mới có thể thông cảm được
với chân tâm của chư Phật. Kinh Duy Ma Cật giúp chúng sinh
giải thoát, sống an vui tự tại trong đời nầy thì chắc
chắc đời sau chúng sinh sẽ được giải thoát. Quý Phật
tử muốn nguyện về Tây phương Cực Lạc mà tâm chất đầy
vọng tưởng, tánh tham tật đố không chừa, lòng còn đầy
chấp trước, phân biệt thì làm sao có được Nhất tâm. Không
đạt được công phu Nhất tâm bất loạn tức là quý vị
chưa sống được với chân tâm, tâm thanh tịnh của mình thì
làm sao thông cảm được với chân tâm của Phật A Di Đà?
Không thông cảm được với chân tâm của chư Phật thì làm
sao Phật cảm thông mà dẫn dắt chúng ta về cõi Cực Lạc?
Cũng như muốn gọi điện thoại cho ai thì chúng ta phải bấm
đúng số. Còn muốn Phật A Di Đà thông cảm thì chúng sinh
và Phật phải cùng tần số tức là cùng có chân tâm, Phật
tánh như nhau. Mà muốn bấm trúng số hay cùng tần số thì
chúng sinh phải biết nghiêm trì sáu căn và ba nghiệp cho được
hoàn toàn thanh tịnh. Đây là phần tự lực mà Tịnh độ
gọi là Hạnh, rất quan trọng mà phần lớn chúng ta bỏ quên
đi. Nên nhớ nếu muốn Phật A Di Đà trả lời điện thoại
thì phải bấm trúng số tức là chúng sinh phải hoàn thành
phần tự lực của mình trước. Đó là có được tâm thanh
tịnh tức là chân tâm vậy. Khi có tâm thanh tịnh tức là
bấm trúng số thì bây giờ chúng sinh chỉ cần chí thành chí
nguyện về cõi Tây phương Cực Lạc thì Phật A Di Đà sẽ
cấp chiếu khán ngay và khi chết chắc chắn sẽ được vãng
sanh.
Bộ
kinh Duy Ma Cật từ Tây vực truyền sang Trung quốc trước sau
có sáu nhà dịch:
1)
Đời nhà Hán (25-220 Tây lịch) có ngài Nghiêm Phật Điều
dịch với nhan đề là Cổ Duy Ma Kinh.
2)
Đời nhà Ngô (220-280 Tây lịch) có cư sĩ Cung Minh Chi Khiêm
dịch với nhan đề là Duy Ma Cật Sở Thuyết Bất Tư Nghì
Pháp Môn.
3)
Đời Tây Tấn (265-317 Tây lịch) có ngài Trúc Pháp Hộ dịch
lấy tên là Duy Ma Cật Sở Thuyết Pháp Môn Kinh.
4)
Ngài Trúc Pháp Lan dịch với nhan đề là Tỳ La Cật Kinh.
5)
Đời Diêu Tần (344- 413 Tây lịch) có ngài Cưu Ma La Thập dịch
lấy tên là Duy Ma Cật Sở Thuyết Bất Khả Tư Nghì Giải
Thoát Pháp Môn Kinh.
6)
Đời Đường (603-678 Tây lịch) có ngài Huyền Trang dịch với
nhan đề là Phật Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh.
Nội
dung tư tưởng các bản dịch chung quy không khác nhau nhiều,
nhưng ý nhị uyên thâm thì có sâu có cạn. Nhưng bản dịch
của ngài Cưu Ma La Thập không những nổi tiếng về ý nghĩa
mà còn sáng chói về mặt văn chương do đó hầu hết các
vị đại sư danh tiếng khi phiên dịch từ Hán tự sang tiếng
Việt đều chọn bản dịch của ngài.
Tiểu
Sử
Pháp Sư Cưu
Ma La Thập
Pháp
sư Cưu Ma La Thập tiếng Phạn là KUMARATRA gốc người Ấn
Độ sinh ra trong thời Diêu Tần tức khoảng 400 năm sau Tây
lịch và gần 1000 năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Ngài là
người trí tuệ vô song, làu thông tam tạng kinh điển nên
được gọi là Tam Tạng Pháp Sư.
Khi
còn ở Ấn Độ, dòng họ của Ngài là một gia đình nối
truyền nhau làm quan Tướng quốc (chức Thủ tướng ngày nay)
đến khi thân phụ ngài là Cưu Ma La Viêm (Kumarayàna) thì ông
nầy bỏ ngôi Tướng quốc, xuất gia tu Phật và xuất ngoại
vào nước Cưu Ty, miền Tây vực nay thuộc tỉnh Tân Cương,
Trung Hoa. Quốc vương nước nầy rất kính mến nên phong ông
làm Quốc sư. Nhà vua có người em gái tên là Kỳ-Bà (Jivà)
mới hai mươi tuổi mà tư chất thông minh xuất chúng nên muốn
đem ép gả cho Cưu Ma La Viêm. Sau đó sinh ra ngài Cưu Ma La Thập.
Tuy tuổi rất trẻ nhưng ngài đã biểu hiện nhiều thiên tài
thần diệu. Lúc lên bảy tuổi ngài theo mẹ vào chùa để
xuất gia, thấy một cái bình bát làm bằng thiết thì ngài
liền lấy đội lên đầu. Lúc ấy trong tâm ngài phát sinh
ý niệm cái bình bát nầy rất nặng thì bổng nhiên cái bình
bát nặng lên mấy trăm lần. Nhưng điều thần diệu là tự
nhiên trong ngài sinh lực cũng tăng lên mấy trăm lần tương
xứng với sức nặng của bình bát để giúp ngài đủ sức
đội. Từ đó mà ngài thấu được câu:”Vạn Pháp Duy Tâm”
có nghĩa là tất cả mọi việc trong thế gian nầy đều do
tâm mình tạo. Khi tâm mình nghĩ thiện thì có cảnh thần tiên,
ngược lại nếu tâm mình nghĩ ác thì thấy cảnh địa ngục,
A-tỳ.
Sau
khi xuất gia không lâu, ngài học hiểu, thông suốt tất cả
tam tạng kinh điển và phát sinh đại trí tuệ. Ngài có biện
tài vô ngại nên nhà vua rất quý trọng bèn sai đúc một cái
pháp tọa bằng con sư tử vàng để ngài ngồi lên mà thuyết
pháp.
Bấy
giờ ở bên Trung Hoa vào đời nhà Đông Tấn có vua Tần Phù
Kiên của nước Tần vì nghe đại danh của ngài Cưu Ma La Thập
nên sai đại tướng Lữ Giang cử bảy vạn binh đánh vào Tây
vực buộc vua nước Cưu Ty phải giao Pháp sư cho họ. Vua nước
Cưu Ty khước từ nhưng cuối cùng bị thất trận đành phải
giao Pháp sư cho vua Tần. Khi vừa đến đất Lương Châu thì
nghe tin vua Tần Phù Kiên bị ông Dao Trành giết chết, Lữ
Giang tự chiếm đất Lương Châu và tự phong mình làm vua là
Tam Hà Vương, lập ra nhà Hậu Lương.
Vua
Dao Trành lập ra triều đại Hậu Tần mà kinh điển thường
gọi là Dao Tần hay Diêu Tần. Vua Dao Trành qua đời con là
Dao Hưng lên nối ngôi mới cất binh qua đánh vua Lữ Giang,
nhưng Lữ Giang vừa qua đời con là Lữ Long lên thay chịu đầu
hàng. Nhà vua liền rước Pháp sư về Tràng An, tôn làm Quốc
sư và ngự tại Tiêu Diêu Viên và Tây Minh Các để kiểm duyệt
lại tất cả kinh điển.
Pháp
sư Cưu Ma La Thập xem xét lại kinh điển thì thấy phần lớn
đều sai lệch chẳng đúng với phạm-bản liền cho mời các
vị danh tăng như Tăng Triệu, Tăng Duệ, Tăng Lãnh, Đạo Sanh,
Đạo Dung, Đạo Hằng, Huệ Quang, Huệ Nghiêm, Đạo Thường,
Đạo Phiêu mà được người đời gọi là :”Thập môn, Thập
triết” tức là mười nhà, mười vị bác học cùng với
các vị Đại đức khác tổng cộng trên 108 người cùng nhau
dịch ra các bản kinh luật mới, trước sau hơn 390 quyển.
Trước
khi lâm chung, ngài Cưu Ma La Thập cho mời tăng chúng đến dặn
rằng:
- Sau
khi ta mệnh chung, hãy đem nhục thể của ta hỏa thiêu. Nếu
quả thực các kinh điển do ta phiên dịch không có điều gì
sai lầm thì lưỡi của ta không bị hoại. Còn như nếu là
sai với tâm ý của Phật thì lưỡi của ta tất bị thiêu
hóa.
Sau
khi lửa tàn, thi thể cháy hết mà lưỡi của Pháp sư vẫn
giữ màu hồng tươi như khi còn sống. Xem như vậy mới biết
rằng tất cả các kinh do ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch hoàn
toàn không sai lạc, thật đúng với tâm ý của Phật.
Giảng
Giải Kinh Duy Ma Cật (Chân Lý đưa đến Giải thoát Giác Ngộ
ngay trong đời này) Giọng Đọc Nguyên Hà:
Bấm
vào để download (MP3
)1.82GB)
Kinh
sách liên quan (đọc thêm):
Kinh
Duy Ma Cật Giảng Giải, HT. Thích Thanh Từ
Kinh
Duy Ma Cật, HT. Thích Huệ Hưng Dịch
Kinh
Duy Ma Lược Giải, TT. Thích Trí Quảng
Kinh
Duy Ma Cật Giảng Luận, Minh Tâm
Kinh
Duy Ma Cật Sở Thuyết, T.T. Thích Tuệ Sỹ
Kinh
Duy Ma Cật Sở Thuyết Trực Chỉ Đề Cương, Pháp Sư Thích
Từ Thông
11-25-2008
07:23:52