Giáo
pháp (dharma) của Phật là một tổng thể hữu cơ. Mọi thành
phần đều gắn liền với nhau và mỗi yếu tố chỉ có thể
được hiểu trong điều kiện của tổng thể ấy. Chúng ta
hãy bắt đầu bằng tuệ giác.
Thế
giới quan Phật giáo (Boeddhistische wereldbeeld)
Có
hay không có một thế giới quan Phật giáo? Hiện tại ở Tây
phương, chúng ta đang ở trong một tình trạng rất hi hữu,
đó là nhiều truyền thống Phật giáo khác biệt đang cùng
có mặt ở nơi này. Nếu chúng ta đảo mắt nhìn một vòng
quanh các tông phái khác nhau, chúng ta sẽ thấy rõ ràng thế
giới quan không phải là điểm chung, nối kết các truyền
thống lại với nhau. Trong những tạng kinh xưa cũ nhất của
Phật giáo nói về nhân vật lịch sử Thích Ca Mâu Ni, chúng
ta sẽ nhận ra lại thế giới quan Ấn Ðộ. Trong truyền thống
Thiền, chúng ta sẽ tìm thấy thế giới quan của Trung Hoa,
và trong Phật giáo Tây Tạng, chúng ta cũng sẽ tìm thấy thế
giới quan của Tây Tạng.
Phật
giáo, như thế, không chịu ảnh hưởng của một thế giới
quan nhất định nào đó mà luôn tự tìm cách diễn đạt và
biểu lộ một cách mới mẻ qua ngôn ngữ và thế giới quan
của địa phương, nơi mà Phật giáo phát triển và nảy nở.
Ðiều này giải thích vì sao ý niệm luân hồi rất quan trọng
trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng trong khi gần như không
được nhắc đến trong truyền thống Thiền. (Chuyện kể một
hoàng đế Trung Hoa hỏi một thiền sư điều gì sẽ xảy ra
sau khi chết. Thiền sư trả lời là ông không biết. “Nhưng
ngài là một thiền sư mà”, hoàng đế nói to. “Ðúng thế,
nhưng tôi đang còn sống đây”, thiền sư trả lời.) Vì thế
cho nên muốn hiểu tường tận kinh điển, điều quan trọng
tối thiểu là phải quen thuộc với thế giới quan tạo nên
ngữ cảnh của kinh điển. Thông điệp đặc thù của Phật
giáo nằm chính ở chỗ mà sự dị biệt so với thế giới
quan truyền thống bắt đầu xuất hiện hoặc khi [Phật giáo]
cho vào đó một số nét riêng biệt của mình.
Jack
Kornfield kể lại, trong thời gian tu tập nhiều năm ở những
tu viện sâu trong rừng già Thái Lan, anh tình cờ khám phá rằng
một tăng sĩ Thái đồng tu mà anh rất kính phục, không biết
rằng quả địa cầu chúng ta đang ở có hình cầu. Khi anh
giải thích cho người bạn tu về sự kiện địa lý này, vị
tu sĩ chăm chú lắng nghe và cuối cùng bình thản nói: “Hay
đấy, nhưng cũng chẳng có chi quan trọng cho lắm”. Tưởng
tượng nếu Phật giáo đặt chân đến Âu châu vào thời trung
cổ, thì chắc hẳn Phật giáo sẽ biết cách tự diễn đạt
bằng ngôn ngữ và thế giới quan của thời trung cổ, để
rồi uyển chuyển bước từng bước theo ông Copernicus và những
khám phá khoa học.
Thế
giới quan của Phật giáo Tây phương đương đại là [tổng
hợp] của khoa học, tâm lý học và triết học hiện nay. Có
thể điều này là một trong những lý do giải thích được
sức thu hút của Phật giáo trong thời đại của thế tục
hóa (secularisatie) ngày nay.
Nghiệp
(Karma)
Trọng
tâm của tuệ giác Phật giáo được gói trọn trong bốn sự
thực mầu nhiệm:
* Xác nhận [sự có mặt] của khổ đau
* Nguyên nhân của khổ đau nằm trong sự ràng buộc (behoeftigheid)
* Có khả năng (mogelijkheid) để giải thoát
* Con đường của tuệ giác, giới luật và thiền định sẽ
đưa tới giải thoát.
Những
sự thực này không phải là những giáo điều (dogma). Tin hay
không tin chẳng quan trọng gì. Bốn sự thực này (trong kinh
sách ghi là “Tứ diệu đế”) phải được xem như những
giả định có thể chứng minh được.
Tứ
diệu đế còn bao hàm 2 điều:
* Có một quan hệ nhân quả (oorzakelijke verband) giữa cách hành
xử của chúng ta và hậu quả do chúng mang lại,
* Sự nghiêm túc (intentie) và khéo léo (vaardigheid) khi hành xử
là điều thiết yếu.
Ðây
là quan điểm của Phật giáo về nghiệp (karma). Nghiệp có
thực nghĩa là “tác động” (werking). Danh từ này vẫn thường
được dịch là lý nhân quả (causaliteit). Nhưng ở đây nghiệp
không có dính dáng gì đến luật nhân quả của vật lý học
mà là hệ quả đạo đức trong cách hành xử của chúng ta.
Ý niệm về trách nhiệm (verantwoordelijkheid) mà chúng ta thường
nhắc đến khá sát với ý niệm này.
Câu
chuyện về Angulimala trong kinh điển Pali đã minh họa một
cách hùng hồn cho ý niệm về luân hồi của Phật giáo. Angulimala
là một kẻ sát nhân khét tiếng. Tên của ông được lấy
từ sự kiện ông đeo trên cổ một xâu chuỗi kết bằng những
ngón trỏ tay phải của các nạn nhân mà ông đã giết hại
(Anguli có nghĩa là ngón tay và mala là xâu chuỗi). Quân lính
của triều đình lùng bắt ông, còn dân chúng thì hoảng sợ
không dám ra khỏi nhà. Khi ông bắt gặp Phật đang đi khất
thực trên đường, ông tiến lại gần, hươi gươm lên và
bảo: “Ông thầy tu kia, dừng lại”. Phật nhìn ông và trả
lời bình thản: “Ta đã dừng lại từ lâu rồi. Bao giờ
thì ông dừng lại?”. Thái độ và câu trả lời của Phật
đã làm cho Angulimala kinh ngạc và đột nhiên hối hận. Phật
liền làm lễ thế phát cho Angilimala trở thành một tu sĩ ngay
tại chỗ. Từ đó về sau, Angulimala [pháp danh mới là Ahimsaka]
đã tu tập rất tinh tấn, trở thành một trong những đại
đệ tử của Phật và đạt được giác ngộ sau đó.
Câu
chuyện này như một gáo nước lạnh tạt vào thế giới quan
truyền thống của Ấn Ðộ. Một kẻ sát nhân hàng loạt như
Angulimala bình thường sẽ phải trải qua không biết bao nhiêu
kiếp luân hồi trong địa ngục mới mong trả cho xong nợ nghiệp
chướng và mới mong có được một cơ hội mới để đầu
thai. Sự kiện ông đã đạt được đạo giải thoát ngay trong
kiếp sống hiện tại là một điều hoàn toàn không thể hiểu
được.
Chúng
ta hãy thử quay về với ta, bây giờ và ở đây. Hãy quán
chiếu đời sống của bạn lúc này. Vì đâu mà cuộc đời
bạn [trở nên] như thế. Ðó là một chuỗi kết hợp phức
tạp của những quan hệ nhân quả. Một số yếu tố là kết
quả từ những quyết định và hành xử của chính bạn. Bạn
phải chịu trách nhiệm về những điều này. Nhưng còn một
phần lớn những quan hệ nhân quả khác, theo như bạn thấy,
không phải do bạn tạo tác ra. Dù [tình trạng] hiện tại
được diễn biến theo những chọn lựa cá nhân hay không,
nó vẫn là [tình trạng] duy nhất mà bạn hiện đang có. Trong
giây phút tới, tình trạng sẽ chuyển biến ra sao tùy thuộc
một phần do những quyết định bạn làm vào lúc này. Trách
nhiệm duy nhất thực sự của chúng ta nằm ngay trong lúc này,
tại đây; vì bây giờ và ở đây là [cơ hội] duy nhất mà
chúng ta có để hành xử.
Trong
tứ diệu đế, vấn đề hạnh phúc (geluk) hay không hạnh phúc
(ongeluk) không dính dáng đến câu hỏi bạn có được hài
lòng hay không trong lúc này, mà là bạn đã ứng xử như thế
nào trong giờ phút hiện tại. Một ví dụ nổi bật là câu
chuyện của Fleet Maul khi anh bị tòa tuyên một án rất nặng
so với tội [buôn bán] ma túy. Ở trong tù, anh đã tổ chức
chăm sóc xoa dịu cho những bạn tù đang hấp hối. Nhiều người
tuy bị xem là phạm tội nhưng vẫn cảm thấy mình vô tội.
Chúng ta có thể kể ra rất nhiều yếu tố luôn luôn nằm
ngoài trách nhiệm của chính chúng ta, chúng góp phần khiến
ta đã hành xử như thế. Chẳng hạn như yếu tố giáo dục.
Anh Fleet Maul chắc sẽ đau khổ hơn rất nhiều nếu trong suốt
thời gian ngồi tù, anh đã liên tục cay đắng và bực tức
về bản án nặng nề của mình, về sự tàn ác và bất công
mà đời sống dành cho anh. Ngoài thí dụ trên đây – một
trường hợp đặc biệt khắc nghiệt – đương nhiên còn
vô số những thí dụ khác trong đời thường của những người
đã nhận lấy trách nhiệm ngay bây giờ và ở đây cho tình
trạng mà họ đang lâm vào.
Ðặc
tính của thực tại (werkelijkheid)
Theo
Phật giáo, thực tại biểu hiện trước mắt chúng ta có ba
đặc tính. Ba đặc tính này không gì khác hơn là ba nhận
định đơn giản và hoàn toàn có thể kiểm chứng được.
Danh từ Pali được dùng ở đây là dukkha, anicca và anatta,
vẫn được dịch là khổ đau, vô thường và vô ngã. Lý do
các thuật ngữ Pali còn được dùng ở đây là vì những danh
từ này vẫn chưa được dịch một cách chính xác.
Dukkha
xưa nay vẫn thường được dịch là khổ đau. Những phiên
dịch khác là stress, thất vọng… Dukkha không phải chỉ là
khổ đau bình thường. Ở đây, đó là sự kiện thực tại
không bao giờ làm chúng ta hoàn toàn thỏa mãn. Không bao giờ
những nhu cầu của chúng ta đạt được một sự thỏa mãn
căn bản (fundamentele bevrediging). Bạn vui được bao lâu sau
khi nhận được một món quà? Bao nhiêu lần bạn đã từng
nghĩ: “Nếu mà được cái đó mình sẽ bằng lòng…”. Và
sau đó không bao lâu bạn lại ao ước những điều khác nữa?
Bạn hãy nhìn chung quanh. Rồi nhìn lại chính mình. Thật là
một chuỗi bất tận.
Dukkha
là đặc tính của thực tại và như thế không là một sự
kiện khách quan thuần túy. Ý tưởng có được một [khả
năng] diễn đạt thực tại một cách khách quan, một thực
tại [tồn tại] độc lập với chủ thể quan sát là một
phát kiến độc đáo của Tây phương, điều này cuối cùng
đã làm nảy sinh ra khoa học. Còn các phát biểu trong Phật
giáo nói tới mọi liên hệ của chúng ta với thực tại. Chẳng
hạn như khi cho rằng tất cả chỉ là ảo tưởng, điều đó
không nói chút gì về tự thân của thực tại (werkelijkheid
an sich), mà chỉ có nghĩa là chúng ta làm tất cả hóa ra ảo
tưởng đối với chúng ta. Ðiều được bàn tới ở đây
là những hiện tượng trình hiện trước mắt chúng ta. Sự
đào sâu một cách có hệ thống trong cách tiếp cận với
thực tại này trong Phật giáo đã cống hiến cho chúng ta một
nền tâm lý học phong phú và đa dạng.
Anicca
có nghĩa là tàn hoại (vergankelijkheid), vô thường (impermanentie).
Ðiều
này có thể dễ dàng được kiểm chứng. Tất cả có đó
rồi mất đó. Ngay thực tại khách quan cũng thế. Tất cả
đều đang chuyển động trong một dòng chảy liên tục. Ðiều
này cũng đúng trong trường hợp của các cảm thọ và nhận
thức của chúng ta. Niềm vui chất ngất rất đẹp nhưng không
kéo dài mãi. Nỗi buồn quay quắt, may mắn thay, cũng thế.
Chính nhờ sự liên tục thay đổi của tất cả mọi vật
mà sự sống mới có thể có mặt. Một tình trạng bất biến
liên tục chỉ có thể đồng nghĩa với sự chết. Tuy sự
thực này đơn giản và rõ ràng như vậy, nhưng chúng ta vẫn
không dễ dàng chấp nhận. Dù cho ta có được gì đi chăng
nữa, ngày nào đó chúng ta cũng sẽ đánh mất nó. Có là ai
đi nữa, một ngày kia chúng ta cũng không còn đó. Dù có gắn
bó với ai đến đâu, một ngày kia chúng ta cũng phải chịu
chia lìa. Chúng ta biết thế nhưng chúng ta cứ làm như không
biết. Chúng ta sống như thể không có chuyện gì xảy ra cho
đến khi chạm trán với thực tế thì chúng ta mới giật mình
hoảng hốt, cuống cuồng lên.
Anatta
có nghĩa đen là không có tự thân, vô ngã. Ðiều đó muốn
nói rằng tất cả sự vật khi biểu hiện trước mắt chúng
ta, chúng không có tự tính riêng biệt (eigen essentie).
Dưới
đây là một thí dụ của nhà vật lý học Tây phương D. R.
Hofstadter. Hãy nhìn một tờ nhật trình. Tờ nhật trình là
gì? Có phải đó là tờ báo sáng nay nằm trong thùng thư không?
Nếu bạn nói đã đọc được tin gì đó trên báo, không nhất
thiết có nghĩa là tin đó đã được đăng trên tờ báo sáng
nay. Rồi tờ báo sáng nay đó có còn là tờ báo của ngày
mai không, nếu tối nay bạn dùng nó để châm lò sưởi? Hay
có thể tờ nhật trình là một phần của bản hợp đồng
mua báo hàng tháng? Rồi chúng ta phải gọi người làm việc
cho tờ báo như thế nào? Ví dụ này cho tới đây vẫn mới
chỉ là vấn đề ngôn từ (taalkundig). Trong mọi trường hợp,
“tờ báo” không chỉ một cái gì đó nhất định. Cứ thử
lấy ví dụ tờ báo sáng nay. Cái gì là tự tính của tờ
báo? Tờ báo là một thứ tổng hợp của giấy, mực, thông
tin, của người viết bài và người đọc, người đưa thư,
thùng thư và bàn ăn sáng… Tất cả làm cho tờ báo trở thành
tờ báo. Càng cố gắng đào sâu, bạn càng nhận thức rõ
ra rằng không sao tìm ra được một tự tính nào tạo ra tờ
báo. Tờ báo tự nó không có một cái ngã riêng biệt (eigen
zelf).
Cũng
vậy trong sự suy luận cho câu hỏi “ta là ai”? Tờ báo không
có cái ngã riêng đã đành. Nhưng nếu như ta đây mà cũng
không có hoặc không phải là ta…? Sự thực này cũng đơn
giản rõ ràng như sự thực về khổ đau và vô thường. Một
số nhân sinh quan đã gặp rất nhiều khó khăn với nhận định
này nên đã bịa đặt ra những cái ngã vô thường hoặc thường
hằng, linh hồn hoặc tự tính. Nhưng những tạo tác này không
bao giờ có thể được minh chứng và được quy nạp qua suy
luận biện chứng. Phật giáo bác bỏ các cách giải quyết
giả tạo này. Phật giáo chấp nhận rằng con người không
có một cái ngã riêng biệt, cho dù nhận thức này có làm
cho một số người hoang mang, có cảm giác mình bị sỉ nhục.
Ý tưởng có một linh hồn bất tử không gì khác hơn là một
tưởng tượng không thể kiểm chứng được.
Con
đường ở giữa (trung đạo)
Phật
giáo tự nhận mình là một trung đạo. Trên mặt thực hành,
điều này có nghĩa là Phật giáo nằm giữa khổ hạnh và
dục lạc. Về mặt triết lý, đó là con đường đi giữa
chủ nghĩa tuyệt đối và chủ nghĩa hư vô.
Ví
dụ về tờ báo cho thấy, càng đào sâu, chúng ta càng không
tìm ra cái có thể được gọi là tờ báo. Không có gì là
một đặc tính rõ rệt (eenduidige identiteit) cho “tờ báo”.
Nhưng cũng thật vô lý nếu nói tờ báo, người đọc và người
hàng xóm không thực sự có mặt. Chủ nghĩa hư vô vì thế
cũng không đúng. Sự phân tích về thực tại này không ngăn
chận việc tôi đọc tờ báo mỗi buổi sáng và sau đó chuyển
cho người hàng xóm đọc. Trong Phật giáo, điều này được
gọi là thực tại tương đối (relatieve) hay thực tại ước
lệ (conventionele). Ngôn ngữ, cũng là một thứ ước lệ, là
một công cụ hữu dụng của thực tại ước lệ đó.
Việc
nhầm lẫn thực tại ước lệ với thực tại tuyệt đối
là nguyên nhân của nhiều đau khổ. Ðã bao lần chúng ta bám
vào một cái gì đó, mà cái đó không giúp chúng ta được
một mảy may? Ðã có bao nhiêu người đã ngã xuống cho hàng
loạt ý kiến và ý thức hệ [được mệnh danh là] chính thống
(fundamentalismes)?
Thực
tại ước lệ là một phần của chiếc mề-đai. Mặt kia của
thực tại là một thực tại thoát ra khỏi ràng buộc của
tất cả ước lệ, tất cả ý niệm, tất cả huyễn giác.
Ðương nhiên đó cũng cùng một thực tại [như thực tại
ước lệ], nhưng được nhìn bằng cặp mắt khác. Phật giáo
gọi đó là thực tại tối hậu (uiteindelijke) hoặc là thực
tại tuyệt đối (absolute).
Trong
Phật giáo, tuệ giác về thực tại tột cùng này được đánh
giá là tuệ giác cao nhất. Ðiều này đương nhiên dễ gây
ra ngộ nhận. Nếu ai đó đem một từ ngữ như thực tại
tuyệt đối ra sử dụng, kẻ đó sẽ tạo ra vô số những
tưởng tượng lãng mạn hay thần bí có thể nghĩ bàn (denkbaar),
những điều mà, trên thực chất, không dính dấp gì đến
[thực tại tối hậu]. Thực tại tối hậu chính là việc
bỏ lại phía sau những tưởng tượng cuồng loạn.
Ðiều
này không có nghĩa là ta không thể nói điều gì về thực
tại tối hậu. Thực tại rốt ráo này là một tầm nhìn (perspectief)
về thực tại, khác biệt với tầm nhìn ước lệ về thực
tại, nhưng cũng không phủ nhận tính hiệu lực (validiteit)
của tầm nhìn ước lệ. Mỗi kinh nghiệm, dù là kinh nghiệm
về nếm thử rượu hay về thực tại tột cùng, đều có
thể bàn thảo được. Nhưng điều được nói ra không bao
giờ có thể thay cho kinh nghiệm, tựa như ngón tay chỉ mặt
trăng, sẽ không bao giờ có thể trở thành mặt trăng.
Sự
tan biến ảo giác to lớn (grote desillusie)
Tuệ
giác Phật giáo là một tiến trình tan biến càng lúc càng
tăng (toenemende) của ảo giác. Sự tan biến ảo giác này không
đưa đến tiêu cực chủ nghĩa (negativisme) hoặc hư vô chủ
nghĩa (nihilisme) mà được trải nghiệm một cách tích cực
như sự giải thoát khỏi ảo giác. Thực tại lúc đó sẽ
được biểu hiện ra tròn đầy, rộng mở (toegankelijk) và
có thể cảm nhận được (leefbaar).
Ðiều
này đặt ra cho Phật giáo một vấn đề giáo khoa (didactisch).
Với lý thuyết thuần túy chúng ta không thể đi xa. Chúng ta
đã nói tới một tầm nhìn về thực tại. Ðiều này chỉ
có thể thể nghiệm được khi chúng ta thực sự đứng vào
vị thế của phối cảnh đó [để nhìn về thực tại]. Ðiều
này lại đưa chúng ta trở về khởi điểm của bài viết
này. Tuệ giác triết học tự nó (op zich) không có ý nghĩa
gì đối với Phật giáo. Tuệ giác chỉ thực sự có ý nghĩa
khi được thực tập trên con đường của trì giới, thiền
định và tuệ giác.
Nguyễn
Thanh Hùng (dịch)
(PhatTuVN.org)