Về
đức tin trong đạo Phật, người ta có thể đặt câu hỏi
: Có đức tin hay không trong đạo Phật ? Hay nói một cách
khác : đạo Phật có cần đến đức tin hay không ? Nếu có,
đức tin trong đạo Phật có khác gì với đức tin trong các
tôn giáo khác không?
- Nếu
khác, đức tin này có những đặc điểm gì ?
- Và
cuối cùng, có những khác biệt gì về đức tin giữa các
tông phái Phật giáo, giữa đạo Phật nguồn gốc, Nguyên Thủy
và Đại Thừa, giữa Thiền, Tịnh Độ và Mật tông ?
Thiết
tưởng việc đầu tiên là định nghĩa đức tin và các loại
đức tin.
Định
nghĩa các loại đức tin
Tin
(croire, to believe), theo từ điển, có nghĩa là : 1. cho là đúng
sự thật, là có thật. 2. đặt hoàn toàn hi vọng vào người
nào hay cái gì đó. Từ đó có những chữ ghép như : tin cẩn,
tin cậy, tin dùng, tin tưởng, tin yêu. Đặc biệt tin tưởng
(avoir confiance en, to trust on) có nghĩa là : tin ở cái gì hoặc
một người một cách chắc chắn, có cơ sở. Ngược lại,
cả tin là tin một cách dễ dàng, nhẹ dạ, không suy xét.
Tin
tiếng Hán Việt là tín. Từ đó có những chữ ghép như :
tín chủ, tín dụng, tín điều, tín đồ, tín hiệu, tín nghĩa,
tín ngưỡng, tín nhiệm, tín phục, cuồng tín, mê tín, sùng
tín.
Đặc
biệt tín ngưỡng (religion) có nghĩa là : tin theo một tôn giáo
nào đó (ngưỡng là nhìn lên với lòng thành kính).
Tín
điều (dogme) là những điều do tôn giáo đặt ra để tín
đồ tuân theo, hoặc những điều được tin theo một cách
tuyệt đối.
Sùng
tín (dévotion) là tin theo hoàn toàn một tôn giáo nào đó, với
tinh thần kính trọng và ngưỡng mộ.
Mê
tín (superstition) là tin theo một cách mù quáng, không biết
suy xét, thường là vào những chuyện thần bí hoang đường.
Chữ mê tín thường đi cùng với chữ dị đoan, tức là những
điều quái lạ huyền hoặc do tin nhảm nhí mà có.
Cuồng
tín (foi aveugle) là tin theo một cách mãnh liệt, điên cuồng,
mù quáng.
Như
vậy, chúng ta thấy có nhiều loại đức tin, với những cường
độ khác nhau, với phần đóng góp của lý trí khác nhau. Có
thể nói trong tin tưởng có cả hai phần lý trí và đức tin,
trong sùng tín đức tin trội hơn lý trí, nhưng trong mê tín
và cuồng tín không còn lý trí nữa, nhất là trong cuồng tín
sức mạnh của đức tin mù quáng làm con người mất trí khôn,
mất tự chủ, dễ gây nên bạo động. Đa số chiến tranh
tôn giáo, chiến tranh ý thức hệ, chiến tranh chủng tộc cũng
là do sự cuồng tín gây nên.
Lý
trí và đức tin
Từ
xưa đến nay, lý trí và đức tin luôn luôn chống đối với
nhau, trong lý thuyết cũng như trong hành động. Tại Tây phương,
tương quan giữa ratio và fides đã là một vấn đề sôi nổi
từ thời kỳ Trung Cổ, gây nhiều xung đột giữa các tổ
chức tôn giáo và xã hội thế tục.
Lý
trí dùng lý luận và suy tư, phát xuất từ kinh nghiệm và
nhận xét, trong khi đức tin nằm trong phạm vi tình cảm, không
thể lý luận, suy xét, giảng giải được, đó là phần phi
lý trí của con người. Tin, believe bắt nguôn từ chữ Đức
cổ xưa liebe, có nghĩa là yêu. Do đó, trong các tôn giáo thần
khải, tin vào Thượng Đế cũng có nghĩa là yêu Thượng Đế.
Nói như Blaise Pascal : " Đức tin là như vầy : Thượng Đế
cảm nhận được bằng trái tim, không phải bằng lý trí (Voilà
ce que c'est que la foi : Dieu sensible au coeur, non à la raison) ".
Đối tượng của đức tin vượt khỏi lý trí con người,
có tính chất siêu nhiên, và không thể nào giải thích nổi
bằng khoa học. Người ta chỉ có thể tin hay không tin, nhưng
không thể nào biện hộ hay phủ nhận được lòng tin.
Lý
trí và đức tin không tránh khỏi đi ngược lại với nhau
: khi có lý trí thì không có đức tin, và nói chung đức tin
lùi dần trước khoa học, điều đó khó lòng phủ nhận được,
tuy rằng có nhiều nhà khoa học vẫn giữ lòng tin nơi một
Đấng tối cao. Y học đã chứng minh được rằng khối óc
con người có hai bán cầu, bên trái chuyên về lý trí, ngôn
ngữ, bên phải về linh tính, tình cảm và có thể là về
đức tin. Vậy thì sự kiện trong một cá nhân có trộn lẫn
cả hai phần, lý trí và đức tin, điều đó cũng không có
gì là lạ lùng.
Một
khía cạnh nữa của đức tin là : người ta tin, chính vì lý
do tin không chắc chắn. Bởi vì nếu chắc chắn, thì đã không
cần đến lòng tin. Chẳng hạn như không ai nói "Tôi tin có
mặt trời", vì đó là một điều chắc chắn do kinh nghiệm
hàng ngày đưa tới ; hoặc là "Tôi tin rằng bạn có một vật
gì trong tay", trong khi bàn tay đó mở toang. Ngược lại, nếu
bạn nắm tay lại và nói rằng trong bàn tay bạn có một vật
gì, thì tôi có thể tin hay không tin vào điều đó. Nói chung,
khi một điều gì đã chứng minh hay chứng thực được rồi,
thì không còn có lòng tin.
Và
dù nói "Tôi vững lòng tin, hay tôi tin chắc rằng...", đức
tin vẫn có thể lung lay, suy xuyển được. Người nào nói
"Tôi tin ở Thượng Đế, tôi tin ở đức Phật", cũng có thể
một ngày kia, vì một lý do nào đó, mất đi lòng tin. Do đó,
các tôn giáo thường dùng các phương pháp tự kỷ ám thị
(auto-suggestion) để cho lòng tin các tín đồ mỗi ngày một
thêm vững mạnh, bằng cách đặt ra những nghi lễ thường
xuyên, như cầu nguyện tụng niệm nhiều lần trong một ngày.
Đức
tin là một động lực, một động cơ đưa tới hành động,
dù là tích cực hay tiêu cực. Đó là một sức mạnh không
thể chối cãi được, có khả năng " lấp biển dời non ".
Trong khi đó, nghi hoặc không thể nào đưa tới một hành động
nào. Cũng như Voltaire khi nói về sự đam mê và lý trí, lama
Anagarika Govinda thường so sánh đức tin với luồng gió thổi
vào ngọn buồm và lý trí với chiếc chèo lái của chiếc
thuyền. Không có gió thì thuyền sẽ không đi tới, mà không
có chèo lái thì thuyền sẽ quay vòng tại chỗ.
Đạo
Phật là một tôn giáo hay một triết lý ?
Đặt
vấn đề đức tin trong đạo Phật cũng không khác gì đặt
lại một câu hỏi cổ điển : "Đạo Phật là một tôn giáo
hay là một triết lý ?"
Bởi
vì tôn giáo đặt nặng vào đức tin, trong khi triết lý dựa
lên lý trí.
Nói
chung thì triết lý đặt lên những câu hỏi tổng quát về
cuộc đời, không tin vào thần linh, không dựa lên các tín
điều, nghi lễ, tổ chức, trong khi tôn giáo đưa ra những
câu trả lời nằm sẵn trong các tín điều, tôn thờ thần
linh, dựa lên các nghi lễ và tổ chức giáo hội.
Thật
ra, đạo Phật không thể nào đóng khung lại vào trong một
trong hai khuôn khổ đó. Chính tùy theo cách nhìn của người
Phật tử, hay nhà Phật học, mà đạo Phật xuất hiện như
một triết lý hay một tôn giáo. Và ngay cả đối với một
người Phật tử, có những lúc đặt trọng tâm vào giáo lý,
có những lúc lại nghiêng về tín ngưỡng, tùy theo tình trạng
tâm lý nhất thời.
Đứng
về mặt lịch sử, có thể nói rằng đạo Phật trong nguồn
gốc là một triết lý, nhưng trong sự phát triển đã nhiễm
mầu sắc tôn giáo, và khía cạnh này đã trở thành chính
yếu đối với đa số Phật tử trên thế giới. Đức Phật
Thích Ca lịch sử chỉ là một con người như những người
khác, ngài không phải là một đấng thần linh, cũng không
phải là một vị giáo chủ, mà chỉ là một người dẫn đường,
một vị thầy, một vị Như Lai (Tathagata, ainsi allé, đã đi
tới). Chỉ sau khi ngài tịch diệt, người ta mới tôn thờ
ngài, sùng tín ngài như các vị Phật khác và các vị Bồ
Tát.
Như
vậy có thể nói rằng trong đạo Phật, có đức tin mà cũng
không có đức tin, tùy theo người ta nhìn dưới góc độ nào,
tùy theo tông phái và nhất là tùy theo lòng tin như thế nào.
Đức
tin trong đạo Phật nguồn gốc (1)
Theo
truyền thống Ấn Độ cổ xưa, người ta thường phân chia
các con đường giải thoát ra làm 3 loại : đường sùng tín
(bhakti-magga), đường lễ nghi (kamma-magga) và đường trí tuệ
(ñana-magga). Có thể nói rằng đạo Phật thuộc loại đường
thứ ba, tuy không có nghĩa rằng hai loại đường kia hoàn toàn
không có mặt trong đạo Phật.
Trong
giáo lý căn bản của đức Phật, vô minh (avijja) là điểm
khởi đầu của vòng tròn mười hai nhân duyên (paticca-samuppada)
đưa tới sinh tử, khổ đau, và như vậy chỉ có trí tuệ
(ñana hay pañña) mới đánh tan được vô minh và dẫn tới
giải thoát. Trí tuệ đó không phải ở trên trời rơi xuống,
cũng không phải do Thượng Đế hay thần linh nào ban cho, mà
là do mình tự phát triển, theo con đường giải thoát vạch
ra bởi đức Phật.
Trong
con Đường chánh tám nẻo (ariya-atthangika-magga) đó, chánh kiến
(samma ditthi) là quan trọng nhất, bởi vì điều cốt yếu là
nhìn thấy sự thật như vậy (yatha bhutam). Trong kinh điển
Phật giáo thường nói đến " con Mắt của sự thật ", khi
một người đã thấy rõ được chân lý. Và ngay sau khi đức
Phật Thích Ca tịch diệt, khắp nơi đều vang lên tiếng than
vãn : " Con Mắt của thế giới đã mất rồi ! Con Mắt của
thế giới đã mất rồi ! "(2). Giáo lý của đức Phật còn
được gọi là ehi-passika " lại đây xem ", chứ không phải
là " lại đây tin ".
Chúng
ta cũng nhận thấy trong tám nẻo đường chánh đó còn có
: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tư duy, chánh
tinh tấn, chánh niệm, chánh định, nhưng không có chánh tín.
Phải
chăng như vậy phải hiểu rằng đức tin không phải là một
điều quan trọng đối với đạo Phật, và người Phật tử
không cần đến đức tin mà chỉ cần tinh tấn ?
Thật
ra, trong đạo Phật nguồn gốc, cũng có đức tin, gọi là
saddha theo tiếng pali, và sraddha theo tiếng sanskrit, nhưng tin
theo nghĩa tin tưởng (foi de confiance), chứ không phải theo nghĩa
sùng tín (dévotion) như trong các tôn giáo thần khải. Người
Phật tử tin tưởng vào đức Phật và giáo lý của ngài,
cũng như người chưa quen đường đặt tin tưởng vào người
dẫn đường, tức là người đã đi trước, đã thực nghiệm
con đường và chỉ dẫn cho các những người theo sau. Đức
Phật Thích Ca không phải là một vị thần thánh phép lực
vô biên, mà là một con người đã quyết tâm đi tìm con đường
giải thoát, và đã đạt được giác ngộ bằng sự cố gắng
của chính mình. Trong suốt cuộc đời còn lại và qua bao nhiêu
thế hệ sau, bằng giáo pháp của ngài, ngài vẫn tiếp tục
chỉ dẫn cho tất cả những ai muốn đi theo con đường đó.
Do đó, trong tất cả những danh hiệu của ngài, có lẽ "đức
Đạo Sư" là chính xác và thích hợp hơn cả.
Dĩ
nhiên, người đi đường phải đặt sự tin tưởng, lòng tin
cậy ở người dẫn đường, bởi vì lần đầu tiên đi trên
con đường này, cũng như một người mắt kém đi trong bóng
tối, lỡ có khi sai bước sẩy chân, thì có thể té ngã bất
cứ lúc nào, do đó lúc đầu phải vững lòng tin. Rồi dần
dần, bằng kinh nghiệm bản thân, người đi đường sẽ tự
mình nhìn rõ lối đi và không còn phụ thuộc vào người dẫn
đường, không còn cần đến lòng tin nữa.
Chính
đức Phật cũng đã dậy cho các đệ tử của mình, trước
khi ngài viên tịch : "Các con hãy là những hải đảo, những
ngọn đuốc cho chính mình. Hãy nương tựa vào chính mình,
không nương tựa vào nơi nào khác"(2). Ngài cũng nhắc lại
trong Kinh Pháp Cú : "Các người hãy tự cố gắng, Như Lai chỉ
là kẻ dẫn đường..."(3)
Trong
kinh điển Pali, có một bài kinh còn được gọi là Kinh Đức
Tin, đó là bài kinh Kalama(4). Một ngày kia, đức Phật đi qua
một thị trấn nhỏ, tên là Kesaputta, thuộc vương quốc Kosala.
Người dân tại đó, gọi là dân Kalama, liền tới thăm đức
Phật và trình bầy sự hoang mang của họ trước sự kiện
các sa môn và tu sĩ Bà La Môn đi ngang qua đây đều đề cao
tôn chỉ của mình và chê bai tôn chỉ người khác. Như vậy
họ đâm ra nghi ngờ, không biết người nào nói thật, người
nào nói sai, không biết nên tin theo ai. Đức Phật bèn giảng
cho họ về mười nền tảng của một đức tin chân chính,
và khuyên họ luôn luôn giữ tinh thần phê phán, không chấp
nhận một sự thật nào trước khi tự mình kiểm chứng và
thực nghiệm.
- "Này
các vị Kalama, các vị đừng tin vì nghe lời nói lại, đừng
tin vì theo truyền thống, đừng tin vì nghe lời đồn đại,
đừng tin vì có trong kinh điển, đừng tin vì lý luận siêu
hình, đừng tin vì suy diễn hay dựa lên những dữ kiện, đừng
tin vì thấy thích hợp với mình, đừng tin vì người nói
có vẻ có uy quyền, đừng tin vì nghĩ rằng vị ấy là thầy
của mình. Nhưng này các vị Kalama, khi nào các vị tự mình
biết rõ : 'Các pháp này là bất thiện (akusala, gây nghiệp
không tốt), các pháp này nếu được thực hiện, sẽ đưa
đến bất hạnh khổ đau', thì các vị hãy từ bỏ chúng.
Và khi nào các vị tự mình biết rõ : 'Các pháp này là thiện
(kusala, gây nghiệp tốt), các pháp này nếu được thực hiện,
thì sẽ dẫn đến hạnh phúc an vui ', thì các vị hãy đi theo
và hành trì".
Có
lẽ trong suốt lịch sử nhân loại, chưa có một triết gia,
một nhà tôn giáo nào có một thái độ tự do, cởi mở, đề
cao lý trí và thực nghiệm như vậy. Ngoài đức Phật ra, ai
có thể nói được rằng : đừng tin vào kinh điển, đừng
tin vào lời dậy, ngay của chính ta, bởi vì " tất cả những
điều ta dậy cũng như ngón tay chỉ mặt trăng "(5) ? Nhân một
dịp khác, đức Phật còn cảnh cáo thêm : " Tin ta mà không
hiểu ta, tức là phỉ báng ta vậy ".
Do
đó, điều cần thiết nhất đối với người Phật tử là
sự tin tưởng ở chính mình, tin tưởng ở khả năng tự giác
của mình, đồng thời tin tưởng ở Tam Bảo (ti-ratana), tức
là Phật, Pháp, Tăng. Lễ Quy y Tam Bảo (ti-sarana), là nghi lễ
nhập môn cho tất cả các Phật tử, cũng không nằm ngoài
tinh thần đó : nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng, chính là
đặt sự tin tưởng vào con đường, những người đã đi
trước và những người dẫn đường.
Theo
tinh thần tin tưởng đó, đức tin không đi ngược lại với
lý trí, và còn đóng một vai trò quan trọng trên con đường
giải thoát bằng cách mang lại nghị lực cần thiết cho sự
tinh tấn, kiên trì tu tập. Không có lòng tin lôi kéo, thúc
đẩy, con người sẽ trì trệ, buông lơi và nhiều khi lùi
bước trước những khó khăn, thử thách gặp phải. Có thể
nói rằng tin tưởng và lý trí bổ túc cho nhau một cách cân
đối trong đạo Phật nguồn gốc.
Đức
tin trong sự phát triển của đạo Phật
1.
Sự sùng tín trong đạo Phật nguồn gốc và Nguyên Thủy
Tại
Ấn Độ trong những thế kỷ sau khi đức Phật tịch diệt,
song song với tinh thần tin tưởng (saddha) nói trên, tinh thần
sùng tín (dévotion)(bhakti) vẫn tiếp tục bành trướng trong
dân gian và không khỏi ảnh hưởng vào sự tiến hóa của
đạo Phật. Có thể nói rằng đức tin đã dần dần xâm nhập
vào đạo Phật bằng những hình thức nghi lễ, sùng bái của
một tôn giáo.
Đọc
Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparanibbana-Sutta) tiếng Pali, chúng
ta cũng thấy rõ rằng tinh thần sùng bái, tín ngưỡng thật
ra đã xuất hiện rất sớm. Ngay sau khi đức Phật tịch diệt
tại Kusinara, các vua chúa vùng lân cận đã kéo binh mã tới,
tranh giành nhau những di tích hoại thể của đức Phật, như
những viên xá lợi, răng, tóc để đem về thờ phụng tại
nước họ. Rốt cục, để bảo tồn hòa bình, các đệ tử
của đức Phật đồng ý phân chia những phần còn lại trong
hoại thể của ngài ra làm 8 nơi để được thờ phụng.
Thật
ra, sự sùng bái di tích hoại thể đó đi ngược lại với
lời căn dặn của đức Phật với các đệ tử của ngài
trước khi ngài tịch diệt : " Sau khi ta chết đi, điều mà
các con phải giữ gìn là Chánh Pháp. Chính Chánh Pháp sẽ thay
thế ta ở cõi đời này. Hãy giữ gìn lấy Chánh Pháp "(2).
Tiếc thay, trong tâm lý con người, Chánh Pháp là một cái gì
quá trừu tượng để mà nương tựa vào, trong khi một chân
răng, một sợi tóc, một viên xá lợi, dù không phải là của
đức Phật đi chăng nữa, cũng đủ gây nên sự sùng bái và
nuôi dưỡng lòng tin.
Như
vậy, nói rằng không có sùng tín trong đạo Phật Nguyên Thủy
(là sự tiếp nối của đạo Phật nguồn gốc), là một điều
không chính xác. Chỉ cần nhìn cách tôn thờ thành khẩn và
ảnh hưởng của Phật giáo trên đời sống xã hội tại các
nước theo đạo Phật Nguyên Thủy, như Tích Lan, Miến Điện,
Thái Lan, Campuchia, Lào, là chúng ta đủ thấy rõ tinh thần
sùng tín ở đây mạnh mẽ như thế nào.
Nói
chung, sự sùng tín Tam Bảo tại các nước theo đạo Phật
Nguyên Thủy có thật, nhưng thường ngừng ở một mức độ
phải chăng, và điều quan trọng là không có tính chất quá
khích và cũng mang ít tính chất vụ lợi, cầu xin danh lợi
cho mình và thân quyến. Cũng có thể nói rằng đức tin tại
đây có tính chất đơn giản và thuần túy hơn là tại các
nước theo đạo Phật Đại Thừa, theo ý nghĩa chỉ tôn thờ
đức Phật Thích Ca thay vì hàng chục vị Phật và Bồ Tát.
2.
Sự sùng tín trong đạo Phật phát triển (Đại Thừa)
Khi
so sánh các kinh điển của đạo Phật Nguyên Thủy (Tam tạng
Pali) với các kinh điển Đại Thừa (như Kinh Hoa Nghiêm, Pháp
Hoa, Duy Ma Cật, Lăng Nghiêm, Di Đà, v.v.), thì người ta không
khỏi nhận thấy sự khác biệt giữa cách trình bầy giản
dị, tự nhiên, tuy có phần khô khan và lập đi lập lại,
của kinh điển Nguyên Thủy, và cách trình bầy phóng đại,
phi thường, hoa mỹ của kinh điển Đại Thừa, như " đức
Phật phóng hào quang, hương thơm tỏa ngào ngạt, đất trời
rung chuyển ", v.v., với những hiện tượng siêu nhiên, thường
có mặt trong khuôn khổ của sự sùng bái.
Như
chúng ta biết, các đặc điểm của Đại Thừa là tôn thờ
chư Phật và chư Bồ Tát, dựa lên thuyết " tam thân " của
đức Phật (trikaya)(6), đặt nặng vào hạnh nguyện Bồ Tát,
đưa từ bi và đức tin lên ngang hàng với trí tuệ, và dùng
đến một số phương tiện thiện xảo (upaya kausalya). Về
giáo lý, Đại Thừa dựa lên những bộ kinh xuất hiện sau
Tam Tạng Pali, mỗi tông phái lấy một hay nhiều bộ kinh làm
kim chỉ nam (7).
Và
giữa các tông phái, đức tin có một tầm quan trọng khác
nhau, một cường độ khác nhau, và có thể nói là đóng một
vai trò khác nhau.
a)
Với tư tưởng Bát Nhã, được trình bầy trong bộ Kinh
Bát Nhã Ba La Mật Đa (Mahaprajnaparamita-sutra), và luận giải
bởi ngài Long Thụ (Nagarjuna), thì trí tuệ ( pañña tiếng pali,
prajña tiếng sanskrit) là điều quan trọng hơn hết, tuy rằng,
tuy rằng ngài Long Thụ công nhận rằng " Con đường đức
tin là con đường dễ, con đường trí tuệ là con đường
khó ". Vì vậy con đường ngài đề xướng ra, Trung Quán (Madhyamaka),
còn được gọi là " Tân phái Trí tuệ ", để phân biệt với
con đường " Cổ phái Trí tuệ " của Trưởng Lão Bộ (Sthaviravada).
Tư tưởng Bát Nhã, thể hiện qua hai bài Bát Nhã Tâm Kinh và
Kinh Kim Cương, đã ảnh hưởng sâu đậm vào sự phát triển
của Thiền tông tại Trung Hoa và các nước lân cận.
Đối
với Thiền tông, đức tin không phải là một điều quan trọng.
Vì không có gì để tin, " vạn pháp giai không ", chỉ có cái
tự tánh rỗng lặng, tĩnh tịch. Người Thiền sinh chỉ cần
tin tưởng vào khả năng giác ngộ của mình, tin tưởng vào
người thầy chỉ đường cho mình trong những bước đầu,
lấy sự tin tưởng đó làm phương tiện. Rồi sau đó rời
bỏ nó, quên nó đi, như quên ngón tay để theo mặt trăng.
" Trực
chỉ nhân tâm " thì không cần gì những hình tượng Phật,
như danh sắc, như thanh hương, là những gì ở ngoài tâm.
Chúng
ta hẳn còn nhớ câu chuyện của một vị thiền sư già và
người đệ tử đi đường bỗng nhiên gặp bão tuyết, nên
tạm tránh trong một hang động.
Vị
thiền sư sai người đệ tử đi vào trong động tìm củi để
sưởi ấm. Sau một thời gian, người đệ tử trở ra. " -Bạch
thầy, không có củi gì để đốt. -Ngươi có chắc không ?
vị thiền sư gặn hỏi. -Dạ chắc. -Thật không có gì trong
động hết sao ? -Dạ, chỉ có một pho tượng Phật bằng gỗ
". Vị thiền sư đi xăm xăm vào trong động, khiêng ra pho tượng
Phật, và trước mắt người đệ tử, lấy búa bổ pho tượng
ra từng mảnh, rổi châm lửa đốt. Ánh lửa bùng lên, và
người đệ tử bỗng nhiên hoát ngộ.
Phật
là Phật, củi là củi, tin vào củi chẳng phải là tin vào
Phật. Thờ kính tượng Phật chẳng phải là thờ kính Phật.
Sống theo lời Phật dậy mới chính là thờ kính Phật. Cũng
như lời dậy trong Kinh Kim Cương : " Nếu lấy sắc thấy ta,
lấy âm thanh cầu ta, thì người theo tà đạo, không thể thấy
Như Lai " (8).
b)
Ngược lại, đối với Tịnh Độ tông, đức tin là
chính yếu. Đức tin theo nghĩa sùng bái (bhakti), yêu kính chư
Phật để được các ngài cứu độ lên cõi xứ hay thế giới
của các ngài, và cuối cùng được giải thoát. Cõi xứ quen
thuộc nhất là cõi Tây Phương cực lạc (Sukhavati) của đức
Phật A Di Đà (Amitabha, Amitayus), Vô lượng Thọ Quang Phật.
Nhưng còn có vô số cõi xứ Phật, còn gọi là trường Phật
(champs de Bouddha) bàng bạc khắp nơi, dưới muôn hình vạn
trạng, và cuối cùng cũng chỉ là một. Khắp nơi đều có
Phật, như lời của ngài Duy Ma Cật : " Tất cả những thiên
cung tráng lệ, tất cả những thế giới Tịnh Độ đều thể
hiện nơi đây, trong chính căn phòng này " (9).
Về
thực hành, các vị tổ sáng lập ra Tịnh Độ tông quan niệm
rằng đạo Phật đã tới thời kỳ " mạt pháp ", cho nên người
Phật tử cần phải dùng đến những phương tiện thiện xảo
như tụng niệm kinh kệ, và đặc biệt niệm Phật A Di Đà
(tiếng Nhật gọi là nembutsu), với một niềm tin mãnh liệt,
nhằm được tái sinh lên xứ Phật và cuối cùng được giải
thoát. Vì không đủ " tự lực " (tiếng Nhật gọi là jiriki),
cho nên người Phật tử phải kêu gọi đến " tha lực " (tariki),để
các ngài cứu độ và truyền sức mạnh vào mình.
Tịnh
Độ tông dựa lên 3 tâm căn bản là : tín tâm, thành khẩn
tâm và chuyên nhất tâm ; và 3 bộ kinh chính là : kinh A Di Đà,
kinh Quán Vô Lượng Thọ và Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm (7).
Nhìn
dưới khía cạnh tâm lý, thì đức tin của người Phật tử
Tịnh Độ không có vẻ gì khác biệt với đức tin của tín
đồ Ky Tô giáo hay Hồi giáo, tức là đức tin hướng về
Thượng Đế, chúa Ky Tô, Allah hay ngài Mohamed. Thật ra, nhìn
kỹ hơn, ta sẽ nhận thấy một sự khác biệt không nhỏ :
đó là tính chất phương tiện và tạm thời của lòng tin
nơi chư Phật và Bồ Tát. Các vị tổ Tịnh Độ tông vẫn
nhắc nhở rằng " đức tin là con đường dễ tu cho những
người có căn cơ thấp ", nhưng giác ngộ Niết Bàn vẫn là
cứu cánh thực sự và duy nhất.
Như
vậy có thể nhìn Tịnh Độ dưới hai khía cạnh, hay hai mức
độ, là " Tịnh Độ tha phương " và " Tịnh Độ tự tâm ",
tức là xem Tịnh Độ như một thế giới khác mình mong cầu
tái sinh lên, hoặc xem Tịnh Độ như là cõi xứ an tịnh trong
tâm của mình. Theo kinh Duy Ma thì " Nếu Bồ Tát muốn được
Tịnh Độ, thì phải tịnh cái tâm của mình. Khi nào tâm tịnh
rồi, thì cõi Phật sẽ tịnh ". Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân
Tông cũng nói về Tịnh Độ như sau : "Tịnh Độ là lòng trong
sạch, Chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương. Di Đà là tính
sáng soi, Mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc ".
c)
Mật tông, Tantrayana (hay Kim Cương Thừa, Vajrayana), là
tông phái của Đại Thừa dùng nhiều phương tiện thiện xảo
nhất, với những lễ nghi, những thực hành có tính chất
bí truyền (ésotérique), ngược lại với tính chất công truyền
(exotérique) (10) của giáo lý nguồn gốc và Nguyên Thủy. Về
mặt lý thuyết, Mật tông dựa lên giáo lý của Trung Quán
và Duy Thức, nhưng điều này không ngăn cản sự phát triển
của vô số thần linh, lễ nghi, bùa chú, ấn quyết, trộn
lẫn với tôn giáo dân gian bản xứ. Vì quan niệm " luân hồi
là Niết Bàn ", cho nên điểm đặc biệt của Kim Cương Thừa
là dùng tất cả những kinh nghiệm sống của con người, tất
cả những trạng thái tâm thần, dù là xấu xa, hèn kém, để
chuyển hóa chúng, nhằm vượt khỏi thế giới nhị biên và
đạt tới chân lý. Trên con đường tu học khó khăn và phức
tạp này, sự hướng dẫn của một vị thầy (guru) là một
điều cốt yếu. Người đệ tử cần phải có một đức
tin vững chắc vào mối liên hệ thầy-trò này (như mối liên
hệ giữa các ngài Tilopa, Naropa, Marpa và Milarepa), cũng như
lòng tin ở khả năng giác ngộ của chính mình. Nhìn bề ngoài,
Mật tông có vẻ mang đầy mầu sắc lễ nghi, hình thức phức
tạp, nhưng thật ra, trong chiều sâu và trên mức độ cao nhất,
đó chính là một con đường tìm kiếm thuần túy của sự
toàn giác, với một con người toàn diện.
Tóm
tắt và kết luận
Điều
quan trọng nên ghi nhớ trong đạo Phật là : đức tin chỉ
là một phương tiện. Trí tuệ cũng chỉ là phương tiện,
nhưng là phương tiện cốt yếu, trong khi đức tin là một
phương tiện thứ yếu, tạm thời. Mục đích tối hậu của
đạo Phật là giải thoát, là giác ngộ. Đó cũng là mục
đích duy nhất và mục đích chung của tất cả các tông phái
Phật giáo.
Đức
tin có thể được so sánh với một chiếc gậy, để chống
vịn vào, khi bắt đầu đi trên những quãng đường khúc khuỷu,
tối tăm. Nhưng rồi sau đó, khi đường đi đã sáng sủa,
thênh thang, thì không còn cần đến chiếc gậy nữa. Đức
tin cũng có thể được so sánh với một chiếc phao, nên đeo
lúc ban đầu để tập bơi, nhưng phải rời bỏ khi đã biết
bơi. Cũng như không cần đến chiếc bè khi đã qua kia sông,
không cần đến ngón tay khi đã thấy mặt trăng.
Nhưng
đôi khi bỗng nhiên cơn bão tố ập tới trong đời, làm con
người cảm thấy yếu đuối và tuyệt vọng. Đức tin lúc
bấy giờ lại xuất hiện như một chiếc phao với được
trong biển động, cần thiết hơn bao giờ hết...
Đức
tin trong đạo Phật nguồn gốc và Nguyên Thủy, là tin tưởng.
Tin tưởng ở những vị đã giác ngộ, tức là Phật, tin tưởng
ở con đường các ngài đã vạch ra, tức là Pháp, tin tưởng
ở những vị thầy đã đi trước, tức là Tăng. Điều quan
trọng là tin tưởng nhưng không bao giờ quên chiêm nghiệm,
thực chứng những điều đã học được. Và nhất là tin
tưởng ở chính mình, ở khả năng tự giác của mình.
Đức
tin trong đạo Phật phát triển (Đại Thừa), theo pháp môn
Tịnh Độ, là sự sùng tín chư Phật và Bồ Tát, nhưng sự
sùng tín đó, cũng như sự kêu gọi tới " tha lực " của các
ngài, không làm quên đi cứu cánh tối hậu là giải thoát,
là nhận chân được Phật tánh trong mình.
Thật
ra, nếu lấy " tâm " làm chủ, nếu hiểu được rằng " Phật
tại tâm ", thì có gì khác biệt giữa " tự lực " và " tha
lực " ? Khi kêu gọi đến tha lực, thì tha lực ấy ở đâu
mà có, nếu không phải là sức mạnh trong chính tâm mình ?
Chư Phật, chư Bồ Tát ở đâu, nếu không phải ở thế giới
trong tâm mình ? Thế giới Tịnh Độ ở đâu, nếu không phải
là sự thanh tịnh trong tâm mình, ở lúc này và tại đây ?
Đức
tin trong Mật tông (hay Kim Cương Thừa) cũng như vậy. Ngoài
tin tưởng ở Tam Bảo ra, Mật tông còn xem mối liên hệ thầy-trò
là cốt yếu, và dùng nhiều phương tiện thiện xảo để
đạt tới giác ngộ, trong khi trong Thiền tông, tuy có sự ấn
chứng của vị thầy " dĩ tâm truyền tâm ", nhưng cái chính
là chỉ thẳng vào tâm để nhận chân Phật tánh, không cần
đến các phương tiện thiện xảo, mà chỉ cần đến chánh
niệm trong tỉnh thức.
Nói
cho cùng, tất cả cũng là ở niềm tin nơi chính mình. Tin tưởng
ở Tam Bảo, sùng tín chư Phật, Bồ Tát thật ra cũng chính
là tin vào mình, vào cái tự tánh chân thật của mình...
Còn
mê tín và cuồng tín ?
Mê
tín và cuồng tín không có chỗ đứng trong đạo Phật.
Bởi
vì đạo Phật là con đường của trí tuệ, của sự phá bỏ
vô minh. Và vô minh là nguồn gốc của mê tín và cuồng tín,
lòng tin lầm lạc dẫn tới khổ đau.
Với
đạo Phật, không bao giờ có chiến tranh tôn giáo, tranh chấp
về giáo lý, đả kích về đức tin.
Lý
do giản dị là : bẻ vặn tay nhau làm chi, khi chỉ có mặt
trăng là chính yếu !
Olivet,
01/10/2006
Trịnh
Nguyên Phước
Chú
thích
(1)
Đạo Phật nguồn gốc, sơ khởi hoặc cổ xưa (bouddhisme primitif
ou ancien) là đạo Phật vào những lúc ban đầu, khi đức Phật
Thích Ca còn tại thế, và trong một thời gian sau khi ngài viên
tịch, trước khi tăng đoàn bị phân chia ra làm hai ngành chính,
là Trưởng Lão Bộ (Sthaviravada) và Đại Chúng Bộ (Mahasanghika),
vào lúc Đại hội kết tập lần thứ 3. Đạo Phật Nguyên
Thủy (Theravada) là đạo Phật phát xuất từ Trưởng Lão Bộ,
sau nhiều phân chia, biến hóa, và có mặt cho tới ngày hôm
nay tại các nước gọi là " Nam truyền ". Cả hai đạo Phật
nguồn gốc và Nguyên Thủy đều có thể gọi chung là đạo
Phật theo truyền thống Pali, vì dựa lên kinh điển Pali, đặc
biệt là Tam Tạng (Tipitaka).
(2)
Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparanibbana-Sutta) tiếng Pali, thuộc
Trường Bộ Kinh (Digha-nikaya). Đừng lầm với Kinh Đại Bát
Niết Bàn của Đại Thừa, nguyên văn viết bằng tiếng Phạn,
dịch sang tiếng Hán và tiếng Tây Tạng, dài hơn và nội dung
có hơi khác.
(3)
Kinh Pháp Cú (Dhammapada, 276)
(4)
Kinh Kalama, trong Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara-nikaya, I. 189-92)
(5)
" Nhất thiết Tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ ", Kinh Viên
Giác (Mahavaipulyapurnabuddha-sutra)
(6)
tức là : a/ Ứng thân (Nirmanakaya), tức là thân xác trong đó
Phật xuất hiện trước mắt mọi người, b/ Báo thân (Sambhogakaya),
tức là thân trong đó Phật sống trong thế giới Tịnh Độ,
thế giới Cực Lạc của chư Phật, và c/ Pháp thân (Dharmakaya),
là Chân tướng của Phật, là sự thực siêu nhiên bình đẳng
của mọi pháp.
(7)
Chẳng hạn như Thiền tông dựa lên bộ kinh Đại Bát Nhã
Ba La Mật Đa (Mahaprajnaparamita-sutra), đặc biệt Bát Nhã Tâm
Kinh (Prajnaparamita-hridaya-sutra) và kinh Kim Cương (Vajrachchedika-prajnaparamita-sutra),
kinh Lăng Già (Lankavatara-sutra), kinh Pháp Bảo Đàn (Tổ Huệ
Năng). Tịnh Độ tông dựa lên kinh A Di Đà (Amitabha-sutra),
kinh Quán Vô Lượng Thọ (Amitayurdhyana-sutra) và Vô Lượng Thọ
Trang Nghiêm (Sukhavati-vyuha), kinh Pháp Hoa (hay Diệu Pháp Liên
Hoa) (Saddharmapundarika-sutra), kinh Hoa Nghiêm (Avamtasaka-sutra),
kinh Duy Ma Cật (Vimalakirtinirdesha-sutra)... Mật
tông (hay Kim Cương Thừa) cũng lấy kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa
và kinh Lăng Già, theo hai trường phái Trung Quán (Madhyamaka)
và Duy Thức (Vijnanavada hoặc Yogacara), làm căn bản.
(8)
" Nhược dĩ sắc kiến ngã, Dĩ âm thanh cầu ngã, Thị nhân
hành tà đạo, Bất năng kiến Như Lai ", Kinh Kim Cương Bát
Nhã Ba La Mật Đa (Vajrachchedika-prajnaparamita-sutra)
(9)
Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết (Vimalakirtinirdesha-sutra)
(10)
Như đức Phật Thích Ca đã nói với ngài A Nan ít lâu trước
khi ngài viên tịch : " Trong khi dậy đạo Pháp, ta không hề
phân biệt những gì bí truyền và những gì không bí truyền.
Lời dậy của Như Lai không như bàn tay nắm chặt của người
thầy (acariya-mutthi) ". (Kinh Đại Bát Niết Bàn, Mahaparanibbana-Sutta,
tiếng Pali)
Trịnh
Nguyên Phước