Thái
độ của Phật giáo liên quan đến sự hòa điệu phi thường
này như thế nào? Phật giáo có chấp nhận ý niệm có một
Đấng Sáng Tạo toàn tri hay là một nguyên lý sáng tạo có
khả năng điều chỉnh sự tiến triển của vũ trụ một cách
tuyệt vời? Hay Phật giáo cho rằng sự hòa điệu chính xác
và tuyệt vời của vũ trụ chẳng qua chỉ là một tình cờ
may mắn? Vấn đề có hay không một Đấng Sáng Tạo?
1. Sự hòa
điệu của vũ trụ.
Ngành
vũ trụ học đương đại đã khám phá rằng những điều
kiện cho phép đời sống và tri giác xuất hiện trong vũ trụ
này có vẻ như được mã hóa trong các phẩm tính của mỗi
nguyên tử, tinh tú và thiên hà trong vũ trụ, cũng như có mặt
trong tất cả những định luật vật lý chi phối, vận hành
chúng. Vũ trụ được xuất hiện trong một hòa điệu lý tưởng
như được tạo ra để dành cho một con người quan sát thông
minh có khả năng thưởng thức cái cấu trúc và sự hòa điệu
này. Cái ý tưởng vừa nêu chính là cơ sở của “nhân bản
thuyết” vốn phát xuất từ danh từ “anthropos” có nghĩa
là “con người” của Hy Lạp.
Về
thuyết lý này, có hai nhận xét cần được đặt ra. Thứ
nhất, cái định nghĩa mà chúng tôi vừa trình bày chỉ liên
hệ đến cái mặt “mạnh” của nhân bản thuyết. Đồng
thời cũng còn có một mặt “yếu” cho là không giả định
trước bất cứ ý hướng nào trong việc tạo thành thiên nhiên.
Nó có vẻ như rất gần với phép lặp thừa - những phẩm
tánh của vũ trụ phải được tương xứng với sự có mặt
của con người- và đây là điều mà tôi cũng sẽ không bàn
thảo đến. Thứ hai, cụm từ “nhân bản thuyết” là không
thích đáng bởi vì nó hàm ý rằng nhân loại là mục đích
mà vũ trụ được tạo ra. Trong thực tế, những lập luận
về nhân bản thuyết có thể được áp dụng cho bất kỳ
các loài có tri giác nào ở trong vũ trụ.
Đâu
là cơ sở khoa học của nhân bản thuyết? Cách thế mà vũ
trụ của chúng ta được tạo ra dựa vào hai loại dữ kiện:
1) những điều kiện sơ khởi, cụ thể như tổng số khối
lượng và năng lượng mà chúng có, độ trương nở ban đầu...
và 2) khoảng 15 hằng số vật lý: hằng số trọng lực, hằng
số Plank, tốc độ ánh sáng, khối lượng của các hạt cơ
bản không phân tách được...
Chúng
ta có thể đo được trị số của những hằng số này một
cách cực kỳ chính xác, tuy nhiên chúng ta không có bất cứ
lý thuyết nào để tiên đoán chúng. Bằng cách cấu trúc “những
mô hình vũ trụ” với những điều kiện sơ khởi và những
hằng số vật lý, những nhà vật lý không gian đã khám phá
ra một điều rằng tất cả những yếu tố này phải được
phối trí trong một trật tự cực kỳ hòa điệu: chỉ cần
một sai biệt cực nhỏ trong những hằng số vật lý và những
điều kiện sơ khởi này thì chúng ta hẳn đã không có mặt
ở đây để nói về chúng. Cụ thể như, chúng ta hãy xem cái
tỷ trọng ban đầu của vật chất trong vũ trụ. Vật chất
có một lực kéo phản ứng lại với lực trương giãn của
vũ trụ gây ra bởi vụ nổ Big Bang và làm tiết giảm độ
trương nở của vũ trụ. Nếu cái tỷ trọng ban đầu này
quá cao, vũ trụ sẽ sụp đổ sau một thời gian tương đối
ngắn ngủi -một triệu năm, một thế kỷ, hoặc một năm
không chừng, tùy theo độ chính xác của tỷ trọng. Với một
sinh mệnh ngắn ngủi như thế rất khó cho những tinh tú có
thể hoàn tất được sự biến đổi hạt nhân để có thể
sản xuất ra những nguyên tố nặng, cụ thể như các-bon vốn
cần thiết cho đời sống.
Ngược
lại, nếu tỷ trọng ban đầu của vật chất quá thấp, sẽ
không có đủ trọng lực để những vì sao có thể hình thành.
Và không có những vì sao, tức là không có những nguyên tố
nặng, và không thể có đời sống! Như vậy, tất cả mọi
vật đều được duy trì ở trong một trạng thái quân bình
hoàn hảo. Tỷ trọng ban đầu của vũ trụ phải được cố
định ở một con số thật chính xác là 10^-60. Sự chính xác
tuyệt vời này có thể được đem so sánh với một tay bắn
cung thiện nghệ nhắm trúng mục tiêu 1centimet vuông (1cm2) được
đặt cách xa 14 tỷ năm ánh sáng, ngay tận đầu bờ vũ trụ
mà khả năng ta có thể quan sát được! Mức chính xác của
sự hòa điệu biến đổi tùy theo hằng số đặc biệt hay
điều kiện ban đầu, thế nhưng trong mỗi trường hợp, chỉ
một thay đổi nhỏ cũng đủ làm cho vũ trụ khô cằn, trống
vắng sự sống và ý thức.
2. Có một
nguyên lý nào chi phối cấu trúc vũ trụ?
Chúng
ta suy nghĩ như thế nào trước một sự hòa điệu tuyệt vời
như thế? Với tôi, hình như chúng ta có hai cách thế chọn
lựa khác nhau: Có thể xem sự hòa điệu này là hệ quả của
một tình cờ may mắn hoặc là một tất yếu (nói theo nhan
đề một cuốn sách của nhà sinh vật học Pháp, Jacques Monod,
“Ngẫu Nhiên và Tất Yếu,” Alfred A. Knoff, New York, 1971).
Nếu xem đây chỉ là một ngẫu nhiên, thì chúng ta phải mặc
nhận một số lượng vô hạn những vũ trụ khác bên cạnh
vũ trụ của chúng ta cấu thành cái được gọi là “đa vũ
trụ”. Mỗi một vũ trụ này sẽ bao gồm một phối hợp
của riêng mình với những hằng số vật lý và điều kiện
sơ khởi.
Tuy
nhiên chỉ riêng vũ trụ của chúng ta là được khai sanh ra
bởi một tổng hợp hoàn chỉnh để có thể tạo nên sự
sống. Tất cả đều là những kẻ thua cuộc, chỉ có
chúng ta là người thắng cuộc, giống như bạn chơi xổ số
vô số lần, kết cuộc có ngày bạn cũng sẽ trúng số. Ngược
lại, nếu chúng ta bác bỏ giả thiết cho rằng có một cái
đa vũ trụ như thế và mặc nhiên công nhận rằng chỉ có
một vũ trụ đơn lẻ, cái mà chúng ta đang sống, thế thì
chúng ta phải mặc nhận sự hiện hữu của một nguyên lý
về sáng tạo đã điều chỉnh sự tiến triển của vũ trụ
một cách tốt đẹp.
Làm
thế nào để chọn lựa giữa hai khả năng này? Khoa học không
giúp ích được gì cho chúng ta ở đây bởi vì nó cho phép
cả hai tình huống đều có thể xảy ra. Nếu xem đây là một
tình cờ, có rất nhiều cách được đưa ra để giải thích
về sự sáng tạo một đa vũ trụ. Cụ thể như, nghiên cứu
chung quanh xác suất miêu tả về thế giới lượng tử, nhà
vật lý học Hugh Everett đã đề xuất rằng vũ trụ tách ra
thành vô số những cái giống hệt nhau tùy theo những khả
năng và chọn lựa được thực hiện. Một vài vũ trụ chỉ
khác nhau bởi vị trí của một electron trong một nguyên tử,
những cái khác có thể khác biệt căn bản hơn. Những định
luật vật lý và hằng số cũng như những điều kiện sơ
khởi của chúng có thể không giống nhau.
Một
giả thuyết khác cho là trong một chu kỳ tuần hoàn của vũ
trụ, đã có một loạt những vụ nổ Big Bang và Big Crunch.
Bất cứ lúc nào vũ trụ được tái sanh từ đống tro tàn
của mình để bắt đầu lại trong một vụ nổ Big Bang mới,
nó lại được khởi đầu với một tổng hợp mới của
những hằng số vật lý và điều kiện sơ khởi. Cũng còn
một giả thiết khác nói về sự sáng tạo vũ trụ, đó là
lý thuyết do nhà vật lý Andrei Linde và một số người khác
đề ra, cho rằng mỗi một trong vô số lượng những đám
bọt lượng tử sơ khai trôi nổi bập bềnh trong không gian
đã cấu thành vũ trụ. Như thế thì vũ trụ của chúng ta
chỉ là một cái bong bóng nhỏ trong một cái siêu vũ trụ
được tạo nên bởi vô số những cái bong bóng khác. Ngoại
trừ cái của chúng ta, không có cái nào trong số những vũ
trụ đó nuôi dưỡng được sự sống bởi vì những hằng
số vật lý và những định luật của chúng đã không thích
hợp.
3. Không hề
có một Đấng Sáng Tạo trong Phật Giáo.
Điểm
then chốt trong việc phân biệt giữa Phật giáo với các truyền
thống tín ngưỡng lớn trên thế giới là vấn đề có hay
không một Đấng Sáng Tạo? Đối với Phật giáo, ý niệm
về một “nguyên nhân đầu tiên” không hề được đặt
ra để lý giải do bởi ý niệm về tánh không và duyên khởi
đã được bàn đến trước đây. Phật giáo xem vấn đề
“sáng tạo” là không liên quan bởi vì theo họ, thế giới
hiện tượng thực sự không được sinh ra, trong cái ý
nghĩa là chúng trải qua tình trạng từ phi hữu trở thành
hiện hữu. Chúng có mặt trong một cách thế được gọi là
“tục đế” và không hề là một thực tại chân thực.
Tục đế hay thực tại quy ước có mặt do sự cảm nghiệm
của ta về một thế giới mà chúng ta cho rằng trong đó mọi
sự vật hiện hữu một cách khách quan.
Phật
giáo quan niệm rằng những nhận thức như thế là sai lầm
bởi vì thế giới hiện tượng, nhìn một cách rốt ráo không
phải là những thực tại khách quan, có nghĩa là chúng không
hề là những hiện hữu tự thân. Đây được gọi là “chân
đế”. Trong những ý nghĩa này, vấn đề sáng tạo trở thành
một vấn nạn giả. Cái vấn nạn về một “nguồn gốc nguyên
thủy” chỉ bắt nguồn từ sự xác tín vào thực tại tuyệt
đối của thế giới hiện tượng. Cái ý tưởng về sáng
tạo chỉ cần thiết khi chúng ta tin là có một thế giới
khách quan. Nó tan biến đi khi chúng ta nhận thức rằng thế
giới hiện tượng, cho dù là chúng ta có thể thấy chúng rõ
ràng, không hề có một hiện hữu độc lập, “khách quan”.
Và một khi sự sáng tạo không còn là một vấn đề, ý niệm
về Đấng Sáng Tạo cũng không còn là một yêu cầu được
đặt ra.
Tuy
nhiên, quan điểm của Phật giáo không hề loại bỏ cái khả
năng về một sự hiện bày của thế giới hiện tượng. Một
điều hiển nhiên, cái thế giới mà chúng ta nhìn thấy chung
quanh mình không phải là phi hữu, tuy nhiên Phật giáo cho rằng
nếu chúng ta khảo xét cách thế mà chúng hiện hữu, chúng
ta sẽ nhận ra ngay là chúng không thể được xem như bao gồm
một loạt những thực thể độc lập, có hiện hữu tự thân
riêng biệt.
Nhà
triết học lớn của Phật giáo Ấn Độ vào thế kỷ thứ
hai, Thánh giả Long Thọ, đã nói: “Bản tánh của vạn pháp
là duyên khởi; tự nó, vạn pháp không hề có tự tánh”.
Như thế sự tiến triển của chúng không phải do tình cờ
may mắn mà cũng không phải bởi một sự can dự thiêng liêng
nào. Thay vào đó chúng bị chi phối bởi luật nhân quả trong
một mối liên hệ duyên khởi và nhân quả hổ tương bao trùm
lên tất cả. Bởi vì vạn pháp không hề có thực tại độc
lập, chúng không thể nào ‘bắt đầu’ và ‘kết thúc’
một cách thực sự như là những thực thể tách biệt.Và
như thế, ý niệm về một sự khởi đầu và kết thúc của
vũ trụ thuộc về tục đế chứ không phải chân đế.
Như
vậy, quan điểm này phù hợp với nền khoa học vũ trụ đương
đại như thế nào? Chúng ta thấy duy chỉ có loại vũ trụ
không có khởi điểm và tận cùng là loại vũ trụ tuần hoàn
với một loạt những vụ nổ vô tận của Big Bang và Big Crunch
ở trong quá khứ và tương lai. Thế nhưng cái trạng huống
mà trong đó vũ trụ của chúng ta tự sụp đổ vào một ngày
nào đó bởi một Big Crunch có vẻ như không phù hợp với
những quan sát đương đại khi cho rằng mật độ khối lượng
của những quang chất (0.5% trong tổng số khối lượng và
năng lượng tích chứa trong vũ trụ), vật chất tối (29.5%)
và năng lượng tối (70%) cộng lại với nhau chỉ là cái tỷ
trọng tới hạn. Điều này có nghĩa rằng cái hình học của
vũ trụ là một hình học phẳng, tức là nó sẽ trương giãn
đến bất tận và độ gia tốc trương giãn này sẽ không
đi đến số không sau một khoảng thời gian vô tận ở tương
lai. Như thế, với mức độ kiến thức hiện nay có vẻ như
chưa chấp nhận được ý niệm về một loại vũ trụ tuần
hoàn.
4. Những
suối nguồn
của ý thức
cộng hữu với thế giới vật chất.
Bây
giờ trở lại vấn đề nhân bản thuyết. Theo như Phật giáo
quan niệm, sự hòa điệu tuyệt vời của vũ trụ đủ để
cho ý thức xuất hiện không hề là công trình của một Đấng
Tối Cao nào cả, bởi vì nhân vật này không hề hiện hữu.
Đây cũng không phải là sản phẩm của một tình cờ may mắn
mà những người ủng hộ lý thuyết về một đa vũ trụ đề
xuất: chúng ta có mặt và sống ở đây, trong vũ trụ này,
chỉ là một ngẫu nhiên đầy may mắn do sự phối hợp chính
xác của những hằng số và điều kiện vật lý. Phật giáo
cho rằng cái vũ trụ vật chất này và ý thức đã luôn cộng
hữu với nhau từ vô thủy. Để cộng hữu, cái thế giới
hiện tượng này phải phù hợp một cách hổ tương, và do
đó tạo ra sự hòa điệu kỳ diệu. Cái sau sinh khởi bởi
vì vật chất và ý thức không thể loại trừ nhau, và bởi
vì chúng có mối liên hệ duyên khởi. Quan điểm này phù hợp
như thế nào với khoa sinh học thần kinh đương đại?
Khoa
sinh vật học quả là vẫn đang còn trên một lộ trình dài
lâu mới có khả năng lý giải được nguồn gốc của ý thức
Tuy nhiên, đại đa số những nhà sinh vật học quan niệm rằng
không cần thiết giả định rằng những suối nguồn của
ý thức cộng hữu với vật chất, bởi vì theo họ, cái sau
có thể xuất hiện từ cái trước, rằng tâm thức có thể
sinh khởi từ vật chất. Tâm thức phát sinh một khi mà hệ
thống của những tế bào não bộ trong các sinh vật đạt
đến ngưỡng cửa của một phức hợp. Trên quan điểm này,
ý thức đã xuất hiện, cũng giống như sự sống, từ sự
phức hợp của những nguyên tử vô sinh.
Đến
đây một câu hỏi được đặt ra: Một khi Phật giáo cho rằng
ý thức được phân lìa và vượt qua tình trạng vật lý,
phải chăng Phật giáo cũng rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên tâm-thân
phân lìa của Descartes, qua đó cho rằng có hai loại thực tại,
một của tâm (hay tư tưởng) và một của thế giới vật
chất? Câu trả lời là không. Quan điểm của Phật giáo hoàn
toàn khác biệt từ căn bản với chủ nghĩa nhị nguyên của
Descartes. Chỉ có một sự khác biệt trên mặt tục đế giữa
vật chất và ý thức, bởi vì ở điểm tận cùng, cả hai
đều không có một hiện hữu tự thân. Bởi vì Phật giáo
bác khước cái thực tại rốt ráo của thế giới hiện tượng,
nó đồng thời cũng bác khước luôn cái ý tưởng cho rằng
ý thức là độc lập và hiện hữu tự thân.
V. Khoa học
và tâm linh: hai cửa sổ mở vào thực tại.
Vừa
rồi chúng tôi đã cố gắng chứng tỏ rằng đã có những
điểm đồng quy nổi bật giữa quan điểm về thực tại của
Phật giáo và nền khoa học đương đại. Ý niệm về “vô
thường”, một ý niệm then chốt trong Phật giáo, tương ứng
với ý niệm về tiến hóa trong khoa học về vũ trụ, địa
chất và sinh vật. Không có gì ở trong thể tĩnh, tất cả
đều thay đổi, chuyển động và tiến triển, từ một hạt
nguyên tử cực nhỏ cho đến một cấu trúc lớn lao nhất
trong vũ trụ. Vũ trụ tự nó cũng đã có một lịch sử. Thuyết
tiến hóa của Darwin kết hợp với sự chọn lọc tự nhiên
chi phối những đổi thay liên tục trong thế giới sinh vật.
Ý
niệm về “duyên khởi”, cũng là trọng tâm của giáo lý
Phật giáo, cộng hưởng với tính toàn thể, bất khả phân
của không gian được hàm chứa trong thí nghiệm EPR về các
cấp độ nguyên tử và hạ nguyên tử, cùng với thí nghiệm
quả lắc Foucault về các tầng vũ trụ. Ý niệm về “tánh
không” của Phật giáo, với sự vắng mặt về sự hiện
hữu của một thế giới hiện tượng thường hằng và độc
lập, tương đương với tính chất lưỡng tánh của ánh sáng
và vật chất trong thế giới lượng tử của khoa học. Bởi
vì một photon sẽ là sóng khi ta không quan sát chúng và là
hạt khi ta đo lường, thế nên ta có thể nói là nó không
có một hiện hữu độc lập, tự thân, sự xuất hiện của
nó hoàn toàn tùy thuộc vào người quan sát.
Chúng
tôi cũng đã nêu rõ rằng Phật giáo phản bác cái ý niệm
về một sự khởi đầu của vũ trụ cũng như về một vị
Thượng Đế hay là một nguyên lý sáng tạo có khả năng hòa
điệu những phẩm tánh của mình, từ đó tạo điều kiện
cho ý thức xuất hiện. Phật giáo cho rằng ý thức cộng hữu
với vật chất nhưng không hề bắt nguồn từ vật chất.
Bởi vì cả hai đều tương tác và duyên khởi nên không cần
thiết phải điều chỉnh thế giới vật chất để phục vụ
cho ý thức trong một thể hòa điệu.
Những
điểm đồng quy nói trên không có gì là đáng ngạc nhiên
bởi vì cả khoa học lẫn Phật giáo đều đã sử dụng những
tiêu chuẩn nghiêm ngặt và chân xác để vươn đến chân lý.
Bởi vì mục tiêu của cả hai là mô tả thực tại, họ phải
gặp nhau ở những mẫu số chung mà không hề loại trừ nhau.
Trong khoa học, những phương pháp cơ bản để khám phá sự
thật là thí nghiệm và lý thuyết hóa dựa vào phân tích;
trong Phật giáo, quán tưởng là phương pháp chính. Cả hai
đều là những cánh cửa sổ cho phép ta hé nhìn vào thực
tại. Cả hai đều vững vàng trong những phạm trù chuyên biệt
của mình và bổ túc lẫn nhau. Khoa học khám phá giùm ta những
kiến thức “qui ước”.
Mục
tiêu của nó là hiểu rõ thế giới hiện tượng. Những áp
dụng kỹ thuật của nó có thể gây nên những hệ quả xấu
hay tốt đối với đời sống thể chất của con người. Thế
nhưng quán tưởng, khi giúp ta nhìn rõ bản tánh chân thật
của thực tại, có mục đích cải thiện nội giới để ta
có thể hành động nhằm cải thiện đời sống của tất
cả mọi người. Những nhà khoa học còn sử dụng đến những
thiết bị tối tân hơn để khám phá thiên nhiên. Trái lại
trong hình thức tiếp cận bằng quán tưởng, thiết bị duy
nhất là tâm. Hành giả quan sát những tư tưởng của mình
được đan kết lại cùng nhau như thế nào và dính mắc vào
y ra sao. Y khảo sát cái cơ chế vận hành của hạnh phúc và
đau khổ để từ đó cố gắng khám phá ra những tiến trình
tâm linh nhằm nâng cao sự an bình nội tâm, làm cho cõi lòng
mình rộng mở hơn đối với tha nhân để giúp họ cùng phát
triển, cũng như từ đó thấy rõ được những tiến trình
gây ra những hệ quả độc hại để loại bỏ chúng. Khoa
học cung cấp cho ta những dữ kiện, nhưng không mang lại sự
tiến bộ tâm linh và chuyển hóa.
Trái
lại sự tiếp cận tâm linh hay quán tưởng chắc chắn phải
đưa ta đến một sự chuyển hóa bản thân sâu sắc trong cách
thế mà chúng ta nhận thức về thế giới để dẫn đến
hành động. Hành giả Phật giáo một khi nhận thức rằng
vật thể không hề có hiện hữu tự thân sẽ giảm thiểu
sự dính mắc vào chúng, từ đó giảm bớt khổ đau. Nhà khoa
học, với cùng một nhận thức như thế, sẽ xoa tay hài lòng,
xem đó như là một tiến bộ tri thức hầu sử dụng vào những
công trình nghiên cứu khác, sự khám phá này không hề làm
thay đổi thị kiến cơ bản của y đối với thế giới và
cách thức mà y hướng dẫn đời sống của mình.
Trịnh
Xuân Thuận
(Tia
sáng)
08-08-2007
06:23:45