ĐỊA VỊ
NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG GIÁO LÝ
ĐỨC PHẬT
Thích
Nữ Huệ Hướng
Thích
ghét mặc nhiên chuyện của đời
Nữ
nam phân biệt thế gian nơi
Huệ
tâm Phật tánh thường tỏ rạng
Hướng
tới chân như sáng tuyệt vời.
Mục
lục
A.
Dẫn Nhập:
- Khái quát phong trào Nữ quyền
B.
Nội Dung:
Chương
I: Phụ nữ trong các chế độ xã hội thời Phật tại thế
1. Người phụ nữ trong tư tưởng cổ truyền phương Tây
2. Người phụ nữ trong quan niệm cổ truyền phương Đông
Chương
II: Người phụ nữ trong giáo lý Phật giáo
1. Phẩm hạnh người phụ nữ được đề cao
2. Quyền bình đẳng trên ba phương diện:
a) Bình đẳng về mặt hiện tượng xã hội
b) Bình đẳng về mặt giáo đoàn
c) Bình đẳng về mặt tu chứng.
Chương
III: Tìm hiểu một số vấn đề dẫn đến hiểu sai về địa
vị người phụ nữ trong giáo lý Phật Giáo
1. Vấn đề Bát kỉnh pháp.
2. Mạt pháp sớm hơn 500 năm (khi nữ giới xuất gia)
3. Vấn đề ngũ chướng.
Chương
IV: Ảnh hưởng Phật giáo đối với phụ nữ trong xã hội.
1. Phật giáo với phụ nữ trong đời thường
2. Phật giáo với phong trào bình đẳng nam nữ hiện nay.
C.
Kết Luận:
- Nhận xét khách quan
- Kết thúc vấn đề
Cuộc
sống là một chuỗi dài bất tận của những vấn đề trong
tương quan đối lập: đen trắng, tốt xấu, thiện ác, nam
nữ, .... tất cả luôn đối nghịch nhau.
Ở
một góc độ nào đó, nếu khách quan mà nhìn chúng ta chắc
chắn sẽ tìm được một sự công bằng, bình đẳng nào đó.
Nhưng thực tế, khi đã nói ?chúng ta nhìn? tức đã nhuốm
màu ngã tính với cái nhìn đây của ta, là của ta, là tự
ngã của ta. Và đó cũng chính là nguyên nhân của
biết bao sự bất bình đẳng, sự kỳ thị màu da chủng tộc,
đặc biệt là sự phân biệt nam nữ.
Do
vậy, khi nói đến phụ nữ người ta thường nghĩ ngay đến
những phong trào đòi bình quyền, đòi quyền sống, đến những
quan niệm kỳ thị nam nữ. Những ý kiến ủng hộ hay
chống đối những quan niệm ấy chia ra hai phe rõ rệt mà người
bênh vực sự kỳ thị dĩ nhiên đa số là phái nam, và người
chống đối sự bất bình đẳng thì luôn luôn là phái nữ.
Tựu
trung, vần đề kỳ thị nam nữ có thể so sánh với vấn đề
kỳ thị màu da, chủng tộc, nó bao hàm một sự tranh chấp
về quyền lợi và thế lực.
Như
chúng ta đã biết, trong khoảng bốn mươi năm gần đây phong
trào nữ quyền (Feminism) không ngớt làm sôi động dư luận.
Chỉ riêng với tổ chức Liên Hiệp Quốc, nằm 1952 bản Tuyên
Ngôn về Quyền chính trị của Nữ giới được long trọng
tuyên khải. Năm 1975 được gọi là năm quốc tế Nữ
quyền, và Liên Hiệp Quốc triệu tập Hội nghị Thế giới
và Nữ quyền tại Mexico.
Hội
nghị đầu tiên về Quyền sinh sản làm mẹ và quyền tự
do lựa chọn ngừa thai, giữ thai hay phá thai họp tại Nairobi,
Phi Châu năm 1985. Mười năm sau, 1995, Liên Hiệp Quốc
tổ chức Đại hội Nữ quyền Thế giới tại Bắc kinh, thủ
đô nước Trung hoa. Hội nghị kết hợp một trăm tám
mươi lăm (185) quốc gia, gồm bốn ngàn đại biểu chính phủ,
thảo luận trong mười ngày nhằm thay đổi đường lối, chính
sách của các quốc gia để cải thiện phương tiện y tế,
giáo dục, kinh tế và chính trị trong đời sống người phụ
nữ.
Trong
lãnh vực tôn giáo cũng vậy, phong trào Nữ quyền hợp lực
với các phong trào Canh tân Tôn giáo, đang làm rung chuyển tận
gốc rễ giáo lý của Gia tô giáo, nhằm khai phóng người phụ
nữ khỏi bị ràng buộc vì các điều ngăn cấm của nhà thờ
trong đời sống gia đình như ly dị, ngừa thai, phá thai ...,
và cho người nữ tu được thực thi mọi nhiệm vụ linh thiêng
và hưởng trọn vẹn quyền lợi của người nam tu sĩ.
Ở
vào một vị trí địa dư khác, tại các quốc gia Hồi giáo,
giáo hội Hồi giáo muốn đề phòng các khuynh hướng thay đổi
địa vị người phụ nữ ở trong gia đình và thánh đường
cũng như ở ngoài cộng đồng xã hội; lại muốn nhấn mạnh
các nguyên tắc độc tôn của giáo lý Hồi giáo (Fundamentalist
Islam) đã và đang chi phối quyền hạn của người phụ nữ.
Câu
hỏi người viết đặt ra bây giờ là phản ứng của đạo
Phật trước các diễn biến nói trên như thế nào?
Từ lâu, đối với một số người, đạo Phật bị xem như
là yếm thế, là bi quan, là bảo thủ đối với những vấn
đề then chốt của đời sống hàng ngày. Như khi bàn
đến ?giá trị và hạn chế của Phật giáo trong phương pháp
tư duy của người Việt? giáo sư Nguyễn Tài Thư trong bài
Phật giáo và thế giới quan người Việt Nam trong lịch sử
cho rằng:
?Phật
giáo chỉ thấy cá nhân con người mà không thấy xã hội con
người, chỉ thấy con người nói chung mà không thấy con người
thuộc các giai cấp đối kháng nhau trong xã hội trước đây,
không thừa nhận sự đấu tranh giai cấp trong xã hội.
Do đó, không thấy được nguyên nhân xã hội đưa đến sự
khổ ải của con người, không thấy được sự cần thiết
phải đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Và vì thế
quan niệm từ bi, bác ái của Phật giáo có trường hợp bất
lợi cho sự đấu tranh giải phóng quần chúng bị áp bức?.
(1)
Sự
thật có phải vậy chăng?
Người
viết tự hỏi: ngày xưa đức Phật nhìn vị trí của nữ
giới trong xã hội và trong tôn giáo như thế nào?
Phải chăng do đạo Phật ?không thấy con người thuộc các
gia cấp đối kháng nhau trong xã hội trước đây? nên ?không
thấy được sự cần thiết phải đấu tranh chống áp bức,
bóc lột? của quần chúng nói chung và sự đấu tranh đòi
quyền bình đẳng của phụ nữ nói riêng? Tìm hiểu rõ
vấn đề này, ta có thể dự phóng được lập trường của
đạo Phật trong phong trào nữ lưu canh tân ngày nay.
Trong
bài tiểu luận này, người viết trước hết tìm hiểu địa
vị người phụ nữ trong lịch sử loài người vào thời Phật
tại thế. Từ đó, sẽ khảo sát quan niệm về nữ giới
trong giáo lý Phật giáo để rồi phân tích xem lời dạy của
đức Phật (đối với một số vấn đề) có phải là hạn
hẹp, chống cởi mở đối với nữ giới hay chỉ là một
điều ngộ nhận của một số người nào đó. Và sau
cùng, người viết sẽ tìm hiểu sự ảnh hưởng của đạo
Phật đối với phụ nữ trong đời sống xã hội hiện nay.
Để
hướng việc nghiên cứu đề tài vào một hệ thống, người
viết đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp và dùng
những thuật ngữ chuyên môn theo cuốn Phật học từ điển
của Hòa Thượng Minh Châu (nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội,
1991). Vì đây là đề tài quan trọng mà kiến thức thì còn
quá non kém nên để làm được bài tiểu luận này, người
viết đã dựa vào không ít kinh sách Phật học và tham khảo
khá nhiều kiến giải tri thức của chư Tôn đức Thân giáo
sư. Nhưng, dù đã cố gắng hết sức người viết vẫn
không sao tránh khỏi những điều thiếu sót đáng tiếc, cúi
xin các bậc Cao minh từ bi chỉ giáo.
B.
Nội Dung
Chương
I
Phụ
Nữ Trong Các Chế Độ Xã Hội Thời Phật Tại Thế
Địa
vị xã hội của mỗi cá nhân là cái mà xã hội công nhận
nơi mỗi cá nhân đó. Một cách tổng quát, trong bậc
thang xã hội giữa vị trí xã hội và địa vị xã hội có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Một vị trí nhất định
có giá trị tương ứng trong bậc thang xã hội phản ánh thế
lực và quyền lợi mà cá nhân đó được hưởng.
Nhưng
trên thực tế, có một loại địa vị được gọi là "địa
vị gán" (2) và cá nhân nào đã bị xã hội gán một địa
vị nào đó thì không hề được quyền lựa chọn. Đó
chính là trường hợp của những người phụ nữ trong các
chế độ xã hội cùng thời Phật tại thế.
1.
Phụ nữ trong tư tưởng cổ truyền phương Tây:
Ở
phương Tây, địa vị người phụ nữ được nhào nặn trong
tư tưởng Hy Lạp và La Mã và trong truyền thống đạo Do Thái.
Vào khoảng thế kỷ VI trước Tây lịch, các nhà triết học
đầu tiên của Hy Lạp xuất hiện. Với sự xuất hìện
này, lầu đầu tiên loài người dám suy nghĩ độc lập dựa
vào lý trí của mình, tách khỏi thần thoại và tôn giáo.
Hai
trong những triết gia Hy Lạp dựng nên tư tưởng phương Tây
là Plato và Aristotle. Plato là một triết gia đương thời
với đức Phật, sanh trong một gia đình quý tộc. Với
tư tưởng tiến bộ: mong muốn xây dựng một xã hội lý tưởng
căn cứ trên đạo đức chứ không phải bằng bạo lực.
Ông chủ trương người phụ nữ giới thượng lưu (và chỉ
trong giới thượng lưu mà thôi) phải được giáo dục và
huấn luyện để lãnh đạo. Nhưng trên thực tế,
tư tưởng của Aristotle thịnh hành hơn. Ông chủ
trương người phụ nữ phải "thụ động, phục tùng và ít
lời".
Còn
riêng xã hội La Mã ngay trong thời tiền sử, các bộ tộc
người La Tinh sống ở bờ biển miền trung và tây nước Ý
này đã thời phụng rất nhiều thần linh và numina (những
lực lượng siêu nhiên và thần bí sống chung quanh con người
trong các nơi: rừng, sông, suối,.... và cả ở trong nhà có
người ở).
Với
sự phát triển lớn mạnh của thành phố La Mã vào thế kỷ
VI trước Tây lịch, tôn giáo La Tinh cũng phát triển theo hai
hướng cực kỳ nhanh chóng: một hướng đi vào cuộc sống
người nông dân, hướng thứ hai đi vào thành phố La Mã.
Lúc bấy giờ các thần linh cũng phát triển thành những thiên
thần như Jupiter - vị thần cõi trời lớn nhất, Mars - thiên
thần của thực vật và chiến tranh, Juno - vợ của Jupiter,
cai quản giới phụ nữ cũng như nữ thần Hy Lạp Hera vậy,
nữ thần Minerva trông coi nghệ thuật và thủ công,... Như
vậy, ở một phương diện nào đó, các vị nữ thần trong
đời sống tư tưởng cổ truyền La Mã đã thể hiện phần
nào quyền hạn và địa vị người phụ nữ trong xã hội
đương thời. Nhưng, nói chung, đại đa số nữ giới
La Mã vẫn bị chèn ép và bóc lột không khác gì ở phương
Đông.
Mặt
khác, ở phương Tây trên bình diện tôn giáo, người phụ
nữ của mẫu mực Do Thái bị hạn chế trong vai trò người
vợ và người mẹ. Giáo lý Do Thái khoan hồng với chế
độ đa thê, người đàn ông có quyền bỏ vợ. Trong
gia đình, mẹ phải dạy và kiểm soát con về giáo lý nhưng
vào nhà thờ, phụ nữ không được dâng lễ.
Trong
đạo Do Thái, có khá nhiều nghi lễ do luật Toral đặt ra nhằm
phân biệt cái thanh tịnh với cái không thanh tịnh, cái phàm
tục với cái thiêng liêng; kể cả vấn đề ?người đàn
ông không được mặc áo quần người đàn bà?:
- Chết
được xem là không thanh tịnh, kinh nguyệt và một vài loại
bệnh được xem như là không thanh tịnh? (3)
Hoặc
là khi cả gia đình đi lễ ở lễ đường:
- Đàn
ông ngồi ở hội trường lớn, còn phụ nữ thì ngồi tập
trung ở một khoảng nhà thờ dành cho họ? (4)
Với
sự phải cầu kinh ở nơi riêng, phải cách biệt với nơi
đàn ông làm lễ, cho thấy quyền lợi của người phụ nữ
trong Do Thái giáo truyền thống khó mà kiếm được một sự
bình đẳng tương đương với nam giới. Từ đó ta biết,
trong xã hội phưuơng Tây bấy giờ, người phụ nữ tuy đã
có nhiều sự ưu đãi được thể hiện qua hình tượng các
nữ thần, nhưng vẫn không sao tránh khỏi những thiệt thòi
mất mát mà xã hội loài người đã gán cho.
2.
Phụ nữ trong quan niệm cổ truyền phương Đông:
Cùng
nhịp đập của nhân loại, người phụ nữ trong các chế
độ xã hội của phương Đông lúc bấy giờ không kém phần
chịu nhiều tủi nhục. Đông phương có hai nền văn minh
căn bản là Trung Hoa và Ấn Độ. Địa vị người phụ
nữ ở Đông phương từ xưa cho đến lúc tiếp xúc với Tây
phương hoàn toàn lệ thuộc vào nam giới.
Đạo
Khổng, căn bản của tổ chức xã hội Trung Hoa bấy giờ,
khép kín người phụ nữ sau cánh cửa gia đình (khuê môn bất
xuất) với các nguyên tắc ?tam tòng tứ đức, phu xướng phụ
tùy?. Nhưng nay ta đang khảo sát đến những vấn đề
liên hệ giữa đạo Phật và nữ quyền, và vì đạo Phật
phát sinh từ Ấn Độ, ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn lịch sử nữ
quyền tại Ấn Độ.
Ấn
Độ là một trong những vùng đất có nền văn minh cổ nhất
của lịch sử loài người. Đấy là nền văn minh ở
thượng lưu sông Indus (sông Ấn), trải xuống cả thượng
lưu sông Ganges (sông Hằng). Có thể nói trung tâm và linh
hồn của nền văn minh tương đối thuần chất và cổ nhất
Ấn Độ đã tập trung ở vùng này, nơi mà giống dân Dravidian
sinh sống.
Đến
thế kỷ XIII trước Tây lịch, bộ lạc Aryan du mục tràn từ
các cánh đồng Urals, miền ranh giới hai châu Âu Á ngày nay,
xuống Ấn Độ, trước tàn sát một phần, sau đồng hóa người
Dravidian lập nên nền văn minh Vệ Đà (Vedas). Bà la môn
giáo lầy Vedas làm căn bản, đã thiết lập một trật tự
chặt chẽ gồm bốn đẳng cấp:
1.
Bà la môn (Bràhmana): chủ trương việc nghi lễ tôn giáo.
2.
Sát đế lợi (Khattiya): giai cấp vua quan, nắm quyền thống
trị.
3.
Tỳ xá (Vessa): giai cấp bình dân, nông, công, thương.
4.
Thủ đà la (Sudda): giai cấp tiện dân, bần cùng.
Chế
độ đẳng cấp này dựa trên đức tin thần linh, và ảnh
hưởng rất nhiều đến mọi lãnh vực, mọi bình diện: kinh
tế, chính trị, xã hội, ... Trong mỗi giai cấp, lại phân
biệt người đàn ông là chúa, người đàn bà là tôi.
Người
phụ nữ bấy giờ, bị khinh rẻ và chỉ là những món đồ
tiêu khiển của đàn ông thuộc giới quyền quý.
Sự bắt cóc, cưỡng ép, cũng như sự buôn bán phụ nữ, thiếu
nữ thường xuyên xảy ra. Trong đời sống thường nhựt,
người phụ nữ phải chịu khá nhiều thiệt thòi: họ không
được ra khỏi nhà mà không che mặt, không có quyền trong
các hoạt động xã hội, không có mặt trong lãnh vực tôn
giáo... Những ngày vô tận của họ chỉ là để chờ
đợi trong thầm lặng sự viếng thăm của người đàn ông,
cho đến khi người này chết thì phải chịu sự thiêu sống
để đi theo người đã chết (tục lệ Sati).
Sự
đau khổ, sự bất công đang tràn ngập khắp các nẻo đường,
khắp các phố phường thành thị, ai là người dắt lối đưa
đường? Các nhà triết lý, lịch sử có nghi lại có
sáu mươi hai vị, lại thêm Kỳ Na giáo (đạo Jaina) nhưng chỉ
bàn luận về những vấn đề siêu hình, về bản thể vũ
trụ, về sự hữu biên hay vô biên của thế giới, về sự
hiện hữu hay không hiện hữu của linh hồn, về sự có tưởng
hay không có tưởng sau khi chết, về sự đoạn diệt hay không
đoạn diệt bản ngã, ... tất cả đều không đáp ứng được
khát vọng của dân chúng.
Ngay
trong môi trường sinh thái này, đức Phật Thích Ca ra đời,
sáng lập nên một tôn giáo bình đẳng, vị tha. Ngài
phủ nhận giai cấp bất công, đem chế độ bình đẳng để
đãi ngộ mọi hạng người trong xã hội. Và từ đó,
Ngài đã mở ra cho nữ giới con đường giải phóng không những
ra khỏi một thân phận đen tối thấp hèn, lệ thuộc vào
nam giới, mà còn ra khỏi ngục tù bản ngã nhỏ hẹp để
vươn lên Chân lý, Niết bàn.
Chương
II
Người
Phụ Nữ Trong Giáo Lý Đạo Phật
1.
Phẩm hạnh người phụ nữ được đề cao:
Đề
cao phẩm hạnh của người phụ nữ trong xã hội ngày nay là
chuyện khá bình thường, nhưng nếu đem sự việc đó trở
lui về quá khứ đến xã hội Ấn Độ cách đây trên hai ngàn
năm trăm năm quả là điều nan thuyết. Thế mà đức
Phật đã làm điều khó làm; đã nói điều khó nói này trong
thời điểm ấy. Ngài đã giải phóng người phụ nữ
khỏi những tư tưởng áp bức cố hữu, đã nâng cao quy chế
cho hàng phụ nữ và dắt dẫn nữ giới thực hiện địa vị
quan trọng của mình trong xã hội.
Như
chúng ta đã biết, nữ giới trong xã hội Ấn Độ bấy giờ
được xem là không xứng đáng để hưởng bất luận điều
gì cao hơn hàng tôi tớ của chồng, của cha, hay của anh.
Họ không bao giờ được sắp ngang hàng với nam giới trong
xã hội. Điều này dẫn đến một tư tưởng thật cổ
hủ: "Sinh con gái là một điều bất hạnh - còn hơn vậy nữa
- là một đại họa". Quan kiến hẹp hòi này không phải
chỉ có ở người dân thường mà nó còn tồn tại trong cả
hàng vua chúa.
Trái
hẳn với trào lưu tư tưởng đó, Phật cho rằng nơi người
nữ vốn tiềm ẩn nhiều đức tính tốt như thông minh, nhẫn
nhục, ôn hòa, bao dung, độ lượng, ... Nên khi thấy vua Pasenadi
nước Kosala muộn phiền vì nghe tin báo hoàng hậu Mallika vừa
hạ sinh công chúa, Phật liền khuyên:
"Này
Nhân chủ, ở đời,
Có
một số thiếu nữ,
Có
thể tốt đẹp hơn,
So
sánh với con trai,
Có
trí tuệ, giới đức,
Khiến
nhạc mẫu thán phục.
Rồi
sinh được con trai,
Là
anh hùng, quốc chủ,
Người
con trai như vậy,
Của
người vợ hiền đức,
Thật
xứng đáng là Đạo sư,
Giáo
giới cho toàn quốc". (5)
Đức
Phật đã chỉ cho quần chúng thấy rằng: người phụ nữ
là mẹ của đàn ông. Không ai xứng đáng cho ta kỉnh
mộ tôn sùng bằng mẹ của mình. Vì:
"Mẹ
hiền còn sống gọi là mặt trời giữa trưa chói sáng
Mẹ
hiền khuất bóng gọi là mặt trời đã lặn
Mẹ
hiền còn sống gọi là mặt trăng sáng tỏ
Mẹ
hiền khuất rồi gọi là đêm tối u ám". (6)
Mẹ
là mặt trời chói sáng, là mặt trăng dịu hiền.
Với biện pháp so sánh độc đáo giữa người mẹ với hai
hình ảnh độc nhất vô nhị phải chăng là cách tuyên dương
đức hạnh cao quý của người phụ nữ?
Như
chúng ta biết, trong những lãnh vực hoạt động khác nhau thì
con người sẽ có những địa vị khác nhau. Như thế
trong xã hội, người đàn ông nắm giữ những địa vị then
chốt thì trong gia đình, giềng mối lại do người phụ nữ
nắm giữ.
Bởi
thế đức Phật thường dùng danh từ màtugàma có nghĩa là
"hạnh làm mẹ", hay "xã hội những bà me"? để tỏ ý kính
trọng khi nói về những phụ nữ lớn tuổi và danh từ Pàramàsakhà
(những người bạn tốt của chồng họ) để chỉ những phụ
nữ đã kết hôn. Và chúng ta sẽ bắt gặp rất nhiều
hình ảnh cao quý của người phụ nữ nói chung và người
mẹ nói riêng trong giáo lý Phật giáo. Như ở Tăng chi
bộ kinh, đức Phật khuyên con cái phải kính trọng cha mẹ
trong nhà, vì theo Ngài "cha mẹ ngang bằng với Phạm Thiên":
"Phạm
Thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các
Đạo sư thời xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ
cha. Đáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng
nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều,
này các Tỳ kheo, là cha mẹ đối với con cái, nuôi chúng lớn,
dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời". (7)
Và
Ngài cũng dùng kệ để tán thán công đức mẹ cha:
"Mẹ
cha gọi là Phạm Thiên,
Bậc
đạo sư thời trước,
Xứng
đáng được cúng dường,
Vì
thương đến con cháu,
Do
vậy, bậc hiền triết,
Đảnh
lễ và tôn trọng,
Dâng
đồ ăn đồ uống,
Vải
mặc và giường nằm,
Thoa
bóp (cả thân mình)
Tắm
rửa cả chân tay,
Với
sở hành như vậy,
Đối
với mẹ và cha,
Đời
này người hiền khen,
Đời
sau hưởng thiên lạc" (8)
Rõ
ràng, tuy đề cập đến cha lẫn mẹ, nhưng ở đây chúng ta
cũng ghi nhận được tinh thần tôn trọng và kính nể hàng
nữ lưu trong giáo lý Phật giáo. Là mẹ, người phụ
nữ được hưởng danh dự xứng đáng trong Phật giáo.
Bà mẹ được xem là cây thang thích nghi để con cái nương
theo đó mà ?đời sau hưởng Thiên lạc? và ?tạo nên
nhiều phước đức?:
"Do
chánh hạnh đối với hai (hạng người), bậc hiền trí ...
tạo nên nhiều phước đức. Đối với hai hạng người
nào? Với mẹ và với cha. Do chánh hạnh đối với
hai (hạng người) này, bậc hiền trí ... tạo nên nhiều phước
đức".(9)
Với
những lời thuyết giáo chơn chánh, đức Phật đã ghi sâu
vào tâm não của dân chúng thời bấy giờ nhu cầu phải kính
nể và tôn trọng phái nữ. Ngài dạy người nam nên xem
người nữ như chị, như em gái và hết lòng bảo vệ họ,
nên đối xử hiền hòa, dịu dàng với vợ, xem vợ là ngang
hàng với mình, và cho con gái những cơ hội thăng tiến giống
như con trai.
Ngài
chưa từng khinh rẻ và xem nữ giới là những "ngọn đuốc
soi sáng con đường dẫn xuống địa ngục" (Naraka màrgadvàrasya
dìpikà) như Hemacondra, nhà văn hào Ấn. Thực ra, đức
Phật tôn trọng, không xem rẻ phẩm giá người nữ không có
nghĩa là Ngài không ghi nhận bẩm chất yếu đuối của họ.
Theo
Ngài, tất cả tánh thiện, ác; tốt, xấu ... đều có cả
trong hai giới, nam và nữ. Do vậy trong giáo huấn, Ngài
đặt mỗi giới vào đúng vị trí của họ. Nam hay nữ
không còn là trở ngại cho việc thanh lọc thân tâm hay phục
vụ độ tha. Đấy cũng chính là tinh thần bình đẳng giành
cho nữ giới được thể hiện trong giáo lý Phật giáo.
2.
Quyền bình đẳng trên ba phương diện:
Giáo
lý Phật giáo đề cao phẩm hạnh người phụ nữ, nhưng trong
Phật giáo không chỉ tôn trọng nữ giới trên lý thuyết suông
mà ngay sau sự ưu đãi này là một vấn đề rất thiết thực:
quyền bình đẳng. Ở đây, tuy nói về quyền bình đẳng
giành cho nữ giới trên ba phương diện: xã hội, giáo đoàn,
và vấn đề tu tập giải thoát nhưng kỳ thật đã bao hàm
mọi mặt: vật chất, tinh thần; tánh, tướng; thế gian và
xuất thế gian, ...
a)
Bình đẳng về mặt hiện tượng xã hội:
Đề
cập đến quyền bình đẳng của người phụ nữ trên mặt
hiện tượng xã hội tức là bàn đến quyền lợi và nghĩa
vụ mà nữ giới có được như nam giới. Rõ ràng ở
chế độ xã hội bấy giờ, nói đến quyền lợi của người
phụ nữ trong cuộc sống thật là điều rất khó. Vì
rằng, trong tâm tư con người thời ấy, xã hội ấy, người
nữ mãi mãi ở vào một địa vị xã hội thấp hèn và không
bao giờ được hưởng chút quyền lợi gì của xã hội nói
chung và của nam giới nói riêng. Nhưng đức Phật
đã phủ nhận quan niệm cổ hủ này, gây nên một biến động
lớn lao trong mọi giới, đặc biệt là hàng nữ lưu.
Với
tâm từ mẫn, vị tha, đức Phật đã thuyết những lời pháp
đúng đắn, thiết thực cho cuộc sống tạo điều kiện cho
hàng nữ lưu có dịp ngẩng cao đầu để hưởng tất cả
quyền lợi của mình. Nhưng chúng ta cũng biết, đức
Phật thuyết pháp độ sanh chỉ vì ?lợi ích của phần đông?,
chỉ vì sự an lạc hạnh phúc, sự giải thoát tâm linh của
nhân sinh, nên khi đọc giáo lý Phật giáo chúng ta khó mà tìm
được câu kinh nào đề cập trực tiếp tới phong trào nam
nữ bình quyền.
Tuy
nhiên, chúng ta thường xuyên bắt gặp những câu kinh gián
tiếp nói đến quyền bình đẳng dành cho nữ giới đại loại
như kinh Thiện Sanh. Trong kinh này, có đoạn đức Phật
đã dạy cách người chồng phải đối xử với người vợ
như sau:
"Người
chồng nên lấy năm điều mà yêu thương cấp dưỡng vợ.
Năm điều đó là gì? Một là yêu thương vợ. Hai
là không khinh rẻ. Ba là sắm các thứ chuỗi ngọc, đồ
trang điểm. Bốn là ở trong nhà để vợ được tự
do. Năm là xem vợ như chính mình. Người chồng
lấy năm điều để thương yêu, cấp dưỡng vợ".(10)
Và
cũng trong bài kinh ấy đức Phật khuyên người phụ nữ phải
bày tỏ lòng thương kính chồng bằng các cách như làm tròn
phận sự của mình; ân cần đón tiếp thân bằng quyến thuộc
bên chồng; trung thành với chồng; cẩn thận giữ gìn tiền
bạc của cải mà chồng đem về; luôn siêng năng, không bao
giờ tháo trút công việc ...
Bằng
cách nói đến bổn phận người chồng đối với vợ và vợ
đối với chồng như vậy, đức Phật đã âm thầm gieo vào
lòng quần chúng tư tưởng thương yêu, tôn trọng và đề
cao nữ giới. Vô hình chung, vấn đề bình đẳng nam nữ trên
phương diện quyền lợi đã dần dần được thiết lập trong
xã hội. Nhưng, quyền lợi bao giờ cũng đi đôi
với nghĩa vụ. Vậy, liệu người phụ nữ có khả
năng thực thụ để xứng đáng hưởng quyền lợi trên không?
Nếu
trả lời "không" đồng thời cũng có nghĩa là người phụ
nữ đã quyết định vị thế đứng của mình trong xã hội
và việc giành quyền bình đẳng nam nữ sẽ trở nên hư cấu.
Trên
thực tế, người nữ vốn có khả năng không thua kém gì nam
giới, những gì người nam làm được thì người nữ cũng
làm được. Đó cũng chính là trường hợp nữ gia chủ,
mẹ của Nakula nói với cha của Nakula:
"...
Thưa gia chủ, gia chủ có thể suy nghĩ: "Nữ gia chủ, mẹ của
Nakula, sau khi ta mệnh chung, không có thể nuôi dưỡng các con
và duy trì nhà cửa". Thưa gia chủ, chớ có nghĩ như vậy!
Thưa gia chủ, tôi khéo léo dệt vải và chải lông cừu.
Thưa gia chủ, sau khi gia chủ mệnh chung, tôi có thể nuôi dưỡng
các con và duy trì nhà cửa. Do vậy, thưa gia chủ, chớ
có mệnh chung với tâm còn mong cầu ái luyến! Đau khổ,
này gia chủ, là người khi mệnh chung với tâm còn mong cầu
luyến ái. Thế Tôn quở trách người khi mệnh chung tâm
còn mong cầu luyến ái.
Thưa
gia chủ, gia chủ có thể suy nghĩ như sau: "Nữ gia chủ, mẹ
của Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ đi đến một gia đình
khác". Này gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Thưa
gia chủ, gia chủ cũng đã biết, trong mười sáu năm chúng
ta sống làm người gia chủ, tôi đã sống thực hành phạm
hạnh như thế nào...
Thưa
gia chủ, gia chủ có thể suy nghĩ như sau: "Nữ gia chủ, mẹ
của Nakula, sau khi ta mệnh chung, sẽ không còn muốn đến yết
kiến Thế Tôn, sẽ không còn muốn yết kiến chúng Tăng".
Thưa gia chủ, chớ có suy nghĩ như vậy! Sau khi ta mệnh
chung, tôi sẽ muốn yết kiến Thế Tôn nhiều hơn, sẽ muốn
yết kiến chúng Tăng nhiều hơn...".(11)
Như
vậy, trên phương diện xã hội, quyền bình đẳng nam nữ
đã được thể hiện khá đặc biệt trong giáo lý Phật giáo.
Nhưng còn về mặt người nữ xuất gia trong giáo đoàn Phật
giáo thì sao? Đó là điều ta cần tìm hiểu ở mục kế.
b)
Bình đẳng về mặt giáo đoàn:
Khi
nói đến quyền bình đẳng về mặt giáo đoàn, điều đầu
tiên khiến ta chú ý là vấn đề Phật cho phép nữ giới xuất
gia sống đời sống phạm hạnh trong Tăng đoàn Phật giáo.
Và như chúng ta biết, Tăng đoàn Phật giáo vốn dĩ có nghĩa
là một tập đoàn người sống hòa hợp, bình đẳng, thanh
tịnh để cùng nhau tu tập giải thoát. Như vậy, trong
ý nghĩa này, hàng nữ giới xuất gia tất nhiên có quyền bình
đẳng với nam giới xuất gia.
Ở
đây, chúng ta cũng nên ghi nhận thêm rằng đức Phật đã
cho phép thành lập giáo hội Tỳ kheo ni vào một thời điểm
và địa điểm mà người nữ bị xếp vào địa vị thấp
kém nhất trong xã hội. Làm điều này, đức Phật là
người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã nâng cao vị
trí của hàng phụ nữ đến mức quan trọng nhất.
Đây
là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong rất nhiều
hệ thống tôn giáo và trường phái tư tưởng được biết,
trước và trong thời Phật tại thế. Đây là một sự
canh tân phi thường vì nó đã tạo điều kiện cho hàng phụ
nữ đặc quyền tiếp thụ giáo lý đạo Phật và từ đó
nỗ lực tu tập phát huy bản chất cao quý, khả năng thấm
nhuần trí tuệ thâm sâu ngang hàng với nam giới của họ.
Nói
như thế vẫn chưa lột tả được tính bình đẳng thực thụ
trong Tăng đoàn Phật giáo, mà chúng ta cần đào sâu hơn, nghiên
cứu giáo lý Phật giáo nhiều hơn để tìm cho ra nét cơ bản
về những đặc quyền của ni giới.
Như
trong kinh Bộ Tăng Chi có đoạn nói về tính chất bình đẳng
của Tăng chúng không hề thiên vị một ai, dù sang hèn, giàu
nghèo, đẹp xấu; dù sanh trong giai cấp nào, hoặc dù nam hay
nữ, ... sau khi xuất gia sống đời Phạm hạnh cũng đều là
Sa môn đệ tử Phật bình đẳng không phân biệt như trăm
sông đổ về biển:
"Ví
như, này Paharada, phàm có các con sông lớn nào, ví như sông
Hằng, sông Yamunà. sông Aciravatì, sông Sarabhù, sông Mahì, các
con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ trước,
trở thành biển lớn. Cũng vậy, này Pahàràda, có bốn
giai cấp này: Sát đế lỵ, Bà la môn, Phệ xá, Thủ đà, sau
khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia trong pháp
và luật được Như Lai tuyên bố này, chúng từ bỏ tên và
họ của chúng từ trước, và chúng trở thành những Sa môn
Thích tử".(12)
Đoạn
kinh trên tuy không có từ nào đề cập đến nữ giới nhưng
khi đọc kinh ta vẫn hiểu được ý gồm thâu cả hai giới
nam nữ. Vì rằng trên thực tế trong nếp sống tu tập
của tăng đoàn đã biểu thị điều này rất rõ nét.
Trong giáo hội Phật giáo xưa cũng như nay đều có sự hiện
diện của hai bộ Tăng (đoàn thể Tỳ kheo tăng và đoàn thể
Tỳ kheo ni) một cách song hành.
Nói
về giáo phẩm, nếu bên nam giới có Hòa Thượng, Đại đức
thì phía nữ có Hòa Thượng Ni, Đại đức ni (13) tất nhiên
chữ "ni" chỉ dùng thêm cho mọi người biết đó thuộc nữ
giới chứ hoàn toàn không có sự sai khác gì.
Còn
nói về nhiệm vụ, nếu bên nam giới có hai vị đại đệ
tử: Sàriputta (Xá Lợi Phất) - trí tuệ đệ nhất, và Moggallàna
(Mục Kiền Liên) - thần thông đệ nhất - quán xuyến giáo
hội Tỳ kheo tăng, thì bên nữ giới cũng có hai vị đại
đệ tử: Khema và Uppalavannà đều là những vị trí tuệ vô
song, thần thông vượt bực ... Và nếu như nói về sở trường
của chư vị đại đệ tử Phật, thì các vị nữ đệ tử
Tỳ kheo ni không chút thua kém gì:
"1)
Trong các vị nữ đệ tử Tỳ kheo ni đã lâu ngày của Ta,
tối thắng là Mahà Pajàpatì Gotamì.
2)
Trong các vị ... đại trí tuệ, tối thắng là Khemà.
3)
Trong các vị ... đầy đủ thần thông, tối thắng là Uppalavannà.
4)
Trong các vị ... trì luật, tối thắng là Patàcàra.
5)
Trong các vị ... thuyết pháp, tối thắng là Dhammadinnà.
6)
Trong các vị ... tu thiền, tối thắng là Nanadà.
7)
Trong các vị ... tinh cần tinh tấn, tối thắng là Sonà.
8)
Trong các vị ... có thiên nhãn, tối thắng là Sakulà.
9)
Trong các vị ... có thắng trí mau lẹ, tối thắng là Bhaddà
Kundalakesà ..."(14)
Chúng
ta cũng nên biết thêm, trong khi chế độ xã hội bấy giờ
không tạo điều kiện để phát huy khả năng của người
phụ nữ thì ngược lại ở trong giáo đoàn Phật giáo phụ
nữ chẳng những có thể tự độ mình giải thoát mà còn
có thể thuyết pháp độ sanh, đó là trường hợp của Tỳ
kheo ni Pháp Lạc trong kinh Trung A Hàm IV (trang 605). Như
vậy, về mặt giáo đoàn, quyền bình đẳng giành cho nữ giới
cũng được thực thi trong giáo hội Phật giáo. Và hơn
thế nữa, về mặt giải thoát tâm linh người phụ nữ cũng
được Phật giáo tiếp nhận.
c)
Bình đẳng về mặt chứng đắc:
Tôn
chỉ của giáo lý Phật giáo là hướng dẫn người tu tập
đạt đến mục đích tối hậu - giác ngộ giải thoát.
Mọi chúng sanh nếu phát tâm tu tập, hành trì chánh pháp đều
được đạt đến kết quả cứu cánh như nhau.
Vì
chân lý tuyệt đối, thành quả giải thoát không dành riêng
cho ai, kể cả đức Như Lai. Như khi Cundì, con gái vua
sau khi ghe anh mình nói: "Nếu có người đàn bà hay đàn ông
quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, từ bỏ sát sanh, từ
bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ
bỏ nói láo, từ bỏ say đắm rượu men, rượu nấu, người
ấy sau khi thân hoại mạng chung, người ấy nhất định được
sanh lên cõi lành, không vào cõi dữ", đã đến bạch hỏi
Phật phương pháp tu tập thì được Phật giảng giải như
sau:
"Dầu
cho các loại hữu tình nào, này Cundì, không có chân hay hai
chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng
hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc
A la hán, Chánh đẳng giác được xem là tối thượng!
Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, chúng đặt lòng tin
vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào
tối thượng, chúng được quả dị thục tối thượng".(15)
Như
vậy, không còn nghi ngờ gì nữa về vấn đề bình đẳng
trên phương diện giác ngộ giải thoát của người phụ nữ.
Trong Phật giáo, người nữ không những được bình đẳng
trên phương diện xã hội, giáo đoàn mà còn được quyền
bình đẳng trong các phương diện giải thoát tâm linh.
Đó là trường hợp của hoàng hậu Khemà đã đắc quả A
la hán trước khi xuất gia, là trường hợp của Isidàsi, một
người phụ nữ đau khổ có bốn đời chồng, sau khi xuất
gia sống đời giải thoát đã diễn tả trong một bài thơ
nỗi niềm sung sướng vì đã thoát khỏi một cách vinh quang
ba điều khó chịu là ?cối, chày và người chống bất chính?
và cuối cùng vị này hân hoan tán thán pháp lạc tuyệt vời
của người đắc quả Vô sanh:
"Tôi
đã giải thoát khỏi sống và chết,
Tôi
đã cắt đứt sợi dây luân hồi". (16)
Người
phụ nữ có khả năng chứng đắc quả vị giải thoát điều
này không còn nghi ngờ gì nữa. Bao lâu nay theo quan niệm
cổ truyền, mọi người trong xã hội Ấn đều nghĩ rằng
phương diện tinh thần và đạo đức người phụ nữ thấp
kém hơn người nam, thì nay Phật giáo cho mọi người thấy
nữ tính không phải là trở ngại cho việc tiến bộ.
Chính
đức Phật đã xác định điều này khi ngài A Nan hỏi Phật:
"Không biết nữ nhân sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình ...
có thể chứng được quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất
lai hay quả A la hán không?":
"Này
Ananda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình
trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể
chứng được Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả hay
A la hán quả".(17)
Cũng
vì lẽ đó, nên khi du sĩ ngoại đạo Vacchagotta hỏi đức
Thế Tôn ngoài các Tỳ kheo, đức Phật có một vị Tỳ kheo
ni đệ tử nào đã đoạn trừ các lậu hoặc, chứng đạt
thắng trí ngay trong hiện tại không, đức Phật trả lời:
"Này
Vaccha không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm,
năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Tỳ kheo ni,
đệ tử của ta, đã đoạn trừ các lậu hoặc, với thượng
trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện
tại, vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát".(18)
Và
không thua gì những nam cư sĩ, hàng nữ cư sĩ tại gia cũng
có khả năng vượt bực, chứng đắc vô sở uý:
"Này
Vaccha không phải chỉ một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm,
năm trăm mà còn nhiều hơn thế nữa là những Nữ cư sĩ,
là đệ tử sống tại gia, mặc áo trắng, hưởng thụ vật
dục, nhưng xây dựng Thánh giáo, chấp nhận giáo huấn, đã
độ nghi đoạn hoặc, chứng đắc vô sở úy, không dựa vào
người khác, sống trong Thánh giáo của bậc Đạo sư". (19)
Rõ
ràng chỉ điểm qua một vài câu kinh, chúng ta đã có thể
thấy cụ thể địa vị người phụ nữ trong giáo lý đạo
Phật. Giáo lý nhà Phật cho mọi người thấy rằng: người
phụ nữ xứng đáng có một chỗ đứng danh dự ngang hàng
với nam gìới về phương diện khả năng và thành đạt mục
tiêu Niết bàn, và trên nấc thang thành tựu của nhân loại,
người nữ cũng có khả năng trèo đến mức tột đỉnh mà
người nam có thể đến.
Chương
thứ ba
Tìm
hiểu một số vấn đề dẫn đến sự hiểu biết sai về
địa vị người phụ nữ trong Phật giáo
Nữ
giới có một địa vị xứng đáng trong Phật giáo, điều
này đã quá rõ ràng. Nhưng thực tế không phải không
có những vấn đề khiến một số người chưa thâm nhập
Phật pháp, hoặc một số người chỉ cưỡi ngựa xem hoa hiểu
sai về địa vị người phụ nữ trong giáo lý Phật giáo,
như vấn đề người nữ phải tuân thủ Bát kỉnh pháp, vấn
đề mạt pháp sớm hơn năm trăm năm nếu nữ giới xuất gia,
vấn đề người nữ bị năm điều chướng ngại....
Thực
chất những vấn đề này như thế nào? Có phải người
phụ nữ trong giáo lý Phật giáo chưa thật được bình đẳng?
Hay vì chúng ta chưa hiểu hết ý Phật? Để được một
nhận thức đúng đắn hơn về vấn đề trên, chúng ta nên
lần lượt nghiên cứu những phần trong chương ba này.
1.
Vấn đề bát kỉnh pháp:
Trong
Phật giáo, một vị Tỳ kheo ni bên cạnh việc thọ trì Giới
bổn Patimokkha (Ba la đề mộc xoa) còn lãnh thọ thêm Bát kỉnh
pháp (Garudhamma), trọn đời cung kính, tôn trọng không được
vượt qua. Nội dung của tám điều cần tôn kính ấy
là:
"Dầu
cho thọ đại giới một trăm năm, một Tỳ kheo ni, đối với
Tỳ kheo mới thọ đại giới trong một ngày ấy, cũng phải
đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay, xử sự đúng pháp.
Pháp này sau khi cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường,
cho đến trọn đời không được vượt qua.
Tỳ
kheo ni không có thể an cư mùa mưa tại chỗ không có Tỳ kheo...
Nửa
tháng một lần, Tỳ kheo ni cần phải thỉnh chúng Tỳ kheo
hỏi ngày trai giới và đến để thuyết giới...
Sau
khi an cư mùa mưa xong, Tỳ kheo ni cần phải làm lễ "tự tứ"
trước hai Tăng chúng về ba vấn đề được thấy, được
nghe và nghi...
Tỳ
kheo ni phạm trọng tội, phải hành pháp man na đõa cho đến
nửa tháng...
Sau
khi học tập sáu pháp trong hai năm, phải đến xin thọ cụ
túc giới trước hai Tăng chúng...
Không
vì duyên cớ gì, một Tỳ kheo ni có thể mắng nhiếc, chỉ
trích một Tỳ kheo...
...Có
sự giáo giới phê bình giữa các Tỳ kheo về các Tỳ kheo
ni, không có sự giáo giới phê bình giữa các Tỳ kheo ni về
các Tỳ kheo..." (20)
Có
sự bất bình đẳng trong tám điều luật này, người vô văn
phàm phu có thể nghĩ như vậy. Nhiều người đã căn
cứ vào tám điều cung kính này và căn cứ trong luật Phật
chế giới điều của Tỳ kheo ni nhiều hơn giới điều dành
cho Tỳ kheo tăng mà cho rằng trong đạo Phật có sự kỳ thị
nam nữ.
Thật
ra cũng dễ hiểu, vì phái nữ có những điều kiện vật chất
và tinh thần, tâm lý khác hẳn nam giới cho nên giới luật
cũng khác nhau. Nếu ở trong nam giới, trí tuệ được
đề cao thì đức tính được đề cao ở nữ giới chính là
từ bi, bởi thế mà những hình tượng tượng trưng cho đức
từ bi đều mang hình thù phụ nữ.
Nếu
ở nam giới, lòng can đảm gan dạ, chí khí được tán dương
thì ở nữ giới chính là sự nhẫn nhục ôn hòa, đức bao
dung tha thứ. Nếu ở nam giới, sự ăn to nói lớn, hoạt
bát hùng hồn là một đức tính thí trái lại, đức tính
phái nữ nằm trong sự im lặng tự xóa mình. Nếu ở
nam giới quyền lực uy phong được ca tụng thì ở nữ giới,
đức tính cần thiết là nhũn nhặn khiêm tốn, không xem mình
là quan trọng.
Nhưng
những đức tính vừa kể đối với nữ giới cũng có những
mặt trái của nó. Chẳng hạn mặt trái của lòng từ
bi có thể là sự si ái, lòng kiêu căng. Vì người phụ
nữ đóng một vai trò quan trọng trong vìệc đem lại sự sống,
nên họ dễ xem mình là tất cả, dễ nghĩ rằng không có ta
đây thì không xong.
Lại
nữa, "từ bi" đôi khi bị đánh lừa bởi một lòng ngụy tín
để đi đến chỗ si ái, sướt mướt uỷ mị. Đức
tính im lặng nhẫn nhục nơi phụ nữ có thể có bộ mặt
trái của nó là sự chấp trước, phiền não, ôm khư khư một
mối hận đến nỗi mang nó theo xuống tuyền đài và khiến
cho phụ nữ khó giải thoát, khó "siêu thăng" để nói theo
từ ngữ Tịnh Độ.
Đức
tính nhũn nhặn khiêm tốn cần thiết nơi phụ nữ cũng thế,
có thể có mặt trái là sự nhút nhát ỷ lại, tánh làm đỏm,
tự xem mình cần phải lệ thuộc vào một cái gì mới sống
nổi. Chính vì muốn phát huy những đức tính và sửa
trị những mặt trái những tính xấu nơi phụ nữ, mà đức
Phật đã chế ra Bát kỉnh pháp và những giới luật riên
cho hàng nữ xuất gia. Ở đây, chúng ta có thể đi ngược
dòng lịch sử để xét lý do vì sao đức Phật đã chế ra
tám điều cung kỉnh.
Chúng
ta biết rằng, trong đoàn thể xuất gia đầu tiên của Phật
không có hàng nữ lưu. Mãi đến năm năm sau khi thành
lập Tăng đoàn, bà dì và cũng là mẹ nuôi đức Phật, di
mẫu Mahapajapatì (Ma Ha Ba Xà Ba Đề), cùng với namm trăm nữ
nhân dòng Thích Ca mới đến ngỏ lời cầu xin Phật cho phép
được thế phát xuất gia. Phật từ chối và bỏ đi
nơi khác.
Lần
thứ hai khi nghe đức Phật đang ở Kỳ hoàn tịnh xá, di mẫu
cùng năm trăm nữ nhân ấy từ xa xôi lặn lội, đi bộ rách
cả gót chân, y phục lấm lem đất bụi, đến nơi đứng ngoài
cửa khóc lóc thảm thương. Ngài A Nan thấy thế động
lòng can thiệp giúp cho di mẫu và sau ba lần Ngài năn nỉ,
Phật mới bằng lòng cho bà và năm trăm vị nữ nhân xuất
gia với điều kiện phải tuân Bát kỉnh pháp. Điều
này có nghĩa là gì? Tại sao đức Phật không độ người
nữ xuất gia liền như nam giới mà lại tỏ thái độ từ
chối đến ba lần?
Trước
hết chúng ta thử suy nghĩ: phải chăng do Phật biết tâm lý
kiêu căng cố hữu của người phụ nữ, mặt trái của bản
năng làm mẹ, ưa bảo bọc và tự cho mình quan trọng?
Bà
Mahaprajapatì là một vì đương kim thái hậu, lại là mẹ nuôi
của Thái tử Tất Đạt Đa (đức Phật trước khi xuất gia).
Bà đã nuôi nấng Thái tử từ khi mới ra khỏi lòng mẹ được
bảy ngày. Như thế bà có đủ tất cả lý do để kiêu
căng ngã mạn khi bước vào hàng ngũ xuất gia vậy. Nếu
đức Phật không chế ra Bát kỉnh pháp thì điều gì có thể
xảy ra? Chúng ta biết đó, nếu ở đời bà đương
kim thái hậu này đã sai bảo được lính tráng quan hầu, thì
không lý do gì khi vào đạo và lại là mẹ của Phật, bà
lại không sai bảo được những vị tu sĩ đáng đầu con cháu
bà? Do đó mà ta thấy một trong tám điều cung kỉnh rất
có ý nghĩa và chỉ có thể nhắm vào Kiều Đàm Di Mẫu (Mahprajapatì);
điều ấy như vầy?: "Dù cho thọ đại giới một trăm năm,
một Tỳ kheo ni đối với Tỳ kheo thọ giới trong một ngày,
cũng phải đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay, xử sự đúng
pháp".
Bên
cạnh ý nghĩa đã giải thích trên, một lý do nữa đã được
đặt ra. Ở đây, chúng ta nên nhìn đức Phật ở cương
vị một đức Phật lịch sử chúng ta sẽ thấy vấn đề
này rõ hơn. Đức Phật lưỡng lự, từ chối đến ba
lần mới cho nữ giới xuất gia, đâu phải Ngài trọng nam
khinh nữ. Đó là Ngài đang tìm giải pháp thích hợp cho
hàng nữ giới sau khi xuất gia sống đời Phạm hạnh trong
Tăng đoàn.
Chúng
ta cũng biết, vào thời ấy, xã hội Ấn Độ đang ở trong
thời kỳ bán khai, người xuất gia phải rời bỏ gia đình,
sống không gia đình trong rừng rú. Người nam tu sĩ có
thể tự vệ chống bọn cướp, thú dữ, rắn rết ..., nhưng
người tu nữ hoàn toàn không thể tự bảo vệ được mình,
nên Phật đã dạy: "Tỳ kheo ni không thể an cư tại chỗ không
có Tỳ kheo". Và một lý do sâu xa khác của việc chế
Bát kỉnh pháp là đức Phật muốn có sự cách biệt trong
hòa khí giữa Tăng bộ và Ni bộ. Nữ giới hay thiên
về sự quá đà; hoặc quá thân mật thì mất sự cung kỉnh
và dễ lờn, hoặc quá sơ thì dễ đi đến chỗ kiêu căng
tự phụ cho rằng ta đây có thể tự lập không cần ai dắt
dẫn. Do đó một điều cung kỉnh khác trong tám pháp cung
kính bắt buộc Ni chúng phải thỉnh thoảng đi đến Tỳ kheo
tăng để xin chỉ giáo, để luôn luôn nhớ đến địa vị
khất sĩ của mình, nghĩa là phải tầm cầu Chánh pháp.
Chúng
ta được biết thêm, cũng chính trong kinh Bộ Tăng Chi này đức
Thế Tôn đã giải thích lý do tại sao Ngài ban hành Bát kỉnh
pháp:
"Ví
như, này Ànanda, một người vì nghĩ đến tương lai xây dựng
bờ đê cho một hồ nước lớn để nước không thể chảy
qua, cũng vậy, này Ànanda, vì nghĩ đến tương lai, Ta mới
ban hành tám kính pháp này cho các Tỳ kheo ni cho đến trọn
đời, không được vượt qua".(21)
Ngày
nay trên cương vị của một người đi tìm Tuyệt đối "phàm
xuất gia giả, phát túc siêu phương", chúng ta cũng có thể
nhận thấy Bát kỉnh pháp không có gì là quá đáng, và còn
phải được lãnh hội một cách sâu xa hơn, ấy là: chúng
ta phải kính trọng tất cả, vì điều trở ngại lớn nhất
cho người tìm Đạo chính là thói kiêu mạn. Hơn nữa
là người tu học giáo lý Vô ngã, thì những vị nữ tu sĩ
nào thực tình muốn xóa bỏ ngã chấp không có lý do gì để
mặc cảm về Bát kỉnh pháp, và vị nam tu sĩ nào thực tình
là một con người đi tìm tuyệt đối cũng không có lý do
gì để tự hào.
2.
Vấn đề mạt pháp sớm hơn năm trăm năm:
Bây
giờ ta khảo sát một câu nói khác trong kinh đã khiến cho
nhiều người nghĩ rằng đức Phật bi quan với thân thế người
nữ:
"Này
Ananda, nếu nữ nhân không được xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng,
thời này Ananda, phạm hạnh được an trú lâu dài và diệu
pháp được tồn tại đến một ngàn năm. Vì rằng này
Ananda, nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không
gia đình trong Pháp và Luật này, nay này Ananda, diệu pháp sẽ
được tồn tại năm trăm năm". (22)
Thực
sự có phải phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài và
diệu pháp cũng chỉ được tồn tại năm trăm năm khi nữ
giới xuất gia hay không? Điều này khó mà xác định
được. Nhưng trên thực tế, với một câu kinh như vậy
ít nhiều đã tác động cho người đọc cảm giác Phật giáo
chưa thật sự dành quyền bình đẳng cho nữ giới. Ngay
đây, chúng ta có thể hiểu được gì trong câu kinh trên?
Theo
một số học giả, các kinh sách nói về sự tích bà Gotamì
và việc thành lập ni đoàn đều viết vào khoảng năm trăm
năm sau Đại Bát Niết Bàn. Trong khi đức Phật giác ngộ
dưới gốc bồ đề năm 423 trước Tây lịch. Năm năm
sau, năm 418 trước Tây lịch, Ni đoàn được thành lập.
Các
cuốn kinh thuật lại việc thành lập ni đoàn viết năm trăm
năm sau, tức là vào khoảng cuối thế kỷ I Tây lịch, vào
lúc trường phái nguyên thủy ở Ấn Độ nhường bước cho
trường phái Đại thừa đang phát triển mạnh. Vì phát
triển mạnh, bấy giờ, đề cao địa vị người nam trên tư
thế người nữ. Bởi lẽ đó mà dư luận trọng nam khinh
nữ được đem vào kinh. Vấn đề này, nếu đứng trên
diện lịch sử, vẫn có khả năng xảy ra. Vì như
chúng ta biết, tất cả kinh điển Phật giáo đã trải qua
nhiều lần kết tập và được viết thành sách sau thời gian
đức Phật Diệt độ và như vậy khó mà tránh khỏi những
sự sai khác, nên bà C.A.F.Rhys Davids viết:
"Một
trong những điều khó khăn nhất khi diễn dịch kinh Pali chính
vì kinh có nhiều chỗ xuất xứ khác nhau, có nhiều chỗ sửa
chữa, viết lại, nhìn qua thấy rõ ràng là đã bị thay đổi
do các vị Tỳ kheo đến sau. Ta phải nhận cho rõ những
nơi thay đổi do người đời sau gây ra hầu có thể tìm cách
điều chỉnh. Do đó, nhiều đoạn kinh thiên vị rõ ràng
nam giới, thiên vị rõ ràng tăng đoàn (so với cư sĩ), thiên
vị rõ ràng người đàn ông so sánh với người đàn bà, và
các đoạn kinh này được cố trình bày như chính là lời
đức Phật".(23)
Thật
là một lời bình khá mạnh mẽ. Nhưng dù sao vẫn là
một lời bình và cũng trên vấn đề này chúng ta vẫn có
thể có một quan điểm khác. Ở đây, ta nên tìm hiểu
nguyên nhân phát sinh vấn đề lời tuyên bố phạm hạnh sẽ
không tồn tại lâu dài khi nữ giới xuất gia. Rõ ràng
nếu chỉ trích ra một đoạn kinh văn nói về vấn đề nay,
thì chúng ta khó mà hiểu hết ý Phật. Nên biết, câu
kinh trên cùng nằm trong kinh Gotamì nói về việc thành lập
ni đoàn và Phật đã từng đắn đo với những lý do đã được
giải thích ở phần Bát kỉnh pháp. Câu kinh này không
phải đứng riêng lẻ, mà ngay tiếp theo là ví dụ của đức
Phật:
"Ví
như, này Ànanda, những gia đình nào có nhiều phụ nữ ít
đàn ông, thời những gia đình ấy rất dễ bị đạo tặc,
trộm nghè não hại. Cũng vậy, này Ànanda, vì rằng nữ
nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình
trong Pháp và Luật này, nên Phạm hạnh không được an trú
lâu dài...".(24)
Ngay
trong trường hợp này ta có thể khẳng định: câu kinh trên
chỉ nhằm giải thích thêm cho sự quyết định chế ra tám
điều cung kính cho phù hợp với căn cơ của người phụ nữ
và như vậy sẽ không có một sự bất bình đẳng hay mâu
thuẫn nào trong giáo lý Phật giáo. Vì rằng, cũng chính
trong kinh Bộ Tăng Chi, khi giải thích cho Tôn giả Kimbila nguyên
nhân khiến cho diệu pháp không còn tồn tại lâu dài sau khi
Như Lai nhập diệt:
"Ở
đây, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, các Tỳ kheo, Tỳ kheo
ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ không cung kính, không tùy thuận bậc
Đạo sư, sống không cung kính, không tùy thuận Pháp, sống
không cung kính, không tùy thuộc chúng Tăng, sống không cung
kính, không tùy thuận học pháp, sống không cung kính, không
tùy thuận, sống phóng dật, sống không cung kính, không tùy
thuận tiếp đón. Này Kimbila, đây là nhân, đây là duyên,
khiến khi Như Lai nhập diệt, diệu pháp không tồn tại lâu
dài".(25)
Và
đến đây đức Phật cũng cho biết thêm nguyên nhân dẫn đến
Chánh pháp tồn tại sau khi đức Phật nhập Niết bàn:
"Ở
đây, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, các Tỳ kheo, Tỳ kheo
ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính tùy thuận đức Đạo
sư, sống cung kính tùy thuận Pháp, sống cung kính tùy thuộc
chúng Tăng, sống cung kính tùy thuận học pháp, sống cung kính
tùy thuận không phóng dật, sống cung kính tùy thuận tiếp
đón. Này Kimbila, đây là nhân, đây là duyên, khiến khi
Như Lai nhập diệt, diệu pháp được tồn tại lâu dài". (26)
Đến
đây, chúng ta có thể xác định Chánh pháp có tồn tại lâu
dài hay không tồn tại lâu dài, không nhất thiết là do có
nữ giới xuất gia, mà điều này phụ thuộc vào việc tứ
chúng đệ tử Phật có tu theo chánh pháp hay không. Vì
dù cho người nữ không xuất gia trong Pháp và Luật của Phật,
nhưng nếu nam giới sống không cung kính, không tùy thuận Phật,
Pháp, Tăng, đồng thời sống buông lung theo cảnh trần, thân,
khẩu, ý tạo ra những nghiệp bất chánh, ... Chánh pháp có
thể tồn tại lâu dài trong một Tăng chúng như vậy chăng?
3.
Vấn đề ngũ chướng:
Trong
chương tìm hiểu một số vấn đề đưa đến sự hiểu sai
về địa vị người phụ nữ trong giáo lý Phật giáo này,
chúng ta đã lần lượt đi qua các vấn đề Bát kỉnh pháp
và việc mạt pháp đến sớm hơn năm trăm năm, nay chúng ta
tiếp tục bàn đến năm điều chướng ngại của người phụ
nữ. Đó là:
"Này
A nan, có năm việc nữ nhân không làm được. Nếu
nói rằng nữ nhân được thành Như Lai, bậc Vô Sở Trước
Đẳng Chánh Giác, hoặc Chuyển luân vương, Thiên Đế thích,
Ma Vương hay Đại Phạm thiên, thì điều này nhất định không
thể có. Nhưng có năm việc nam nhân làm được.
Nếu nói rằng nam nhân được thành Như Lai, bậc Vô Sở Trước
Đẳng Chánh Giác, hoặc Chuyển luân vương, Thiên Đế thích,
Ma Vương hay Đại Phạm thiên, thì điều này chắc chắn có
thật".(27)
Lại
một vấn đề mang tính bất bình đẳng giữa người nữ với
người nam phát sinh. Thực ra năm điều chướng ngại
ấy thật có đối với nữ giới không? Tại sao ngoài
kinh Cù Đàm Di (Trung A Hàm II) kinh Mâu Ni Vương Nữ (Tăng Nhất
A Hàm), lại có thêm kinh Không Thể Xảy Ra của Kinh bộ Tăng
Chi I đề cập đến:
- Sự
kiện này không xảy ra, này các Tỳ kheo, không có được:
"Một phụ nữ có thể là bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác",
sự kiện này không xảy ra. Sự kiện này có xảy ra,
này các Tỳ kheo: "Người đàn ông có thể là bậc A la hán,
Chánh Đẳng Giác?, sự kiện này có xảy ra".
- Sự
kiện này không xảy ra, này các Tỳ kheo, không có được:
"Một phụ nữ có thể là vị Chuyển Luân Vương", sự kiện
này không xảy ra...
- Sự
kiện này không xảy ra, này các Tỳ kheo, không có được:
"Một phụ nữ có thể là vị Đế Thích ..., là Ác ma ...,
là Phạm Thiên", sự kiện này không xảy ra...(28)
Một
phụ nữ không thể làm bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác, không
thể làm Chuyển Luân Vương, làm Đế Thích, Ác ma, Phạm Thiên.
Vì sao? Vì không đủ trí để lãnh nhiệm những ngôi
bậc đó ư (A la hán, Chánh Đẳng Giác, Chuyển Luân Vương,
Đế Thích, Ác ma, Phạm Thiên là năm ngôi vị tượng trưng
cho sự thành đạt lớn lao)? Nếu như vậy là đồng quan
niệm với những gì Ác ma nói với Tỳ kheo ni Somà: người
nữ không có trí làm sao có khả năng thành tựu chánh quả?
"Địa
vị khó chứng đạt,
Chỉ
Thánh nhân chứng đạt,
Trí
nữ nhân hai ngón,
Sao
hy vọng chứng đạt" (29)
Sự
thật là vậy chăng? Người phụ nữ không đủ trí đức,
không đủ khả năng để hoàn thành những việc nam nhân làm
chăng? Chúng ta nên lắng nghe Tỳ kheo Somà nói kệ đáp
lời Ác ma:
"Nữ
tánh chướng ngại gì,
Khai
tâm khéo thiền định,
Khi
trí tuệ triển khai,
Chánh
quán pháp vi diệu"
Ai
tự mình tìm hỏi:
"Ta,
nữ nhân, nam nhân,
Hay
ta là ai khác?
Xứng
nói chuyện Ác ma,
Ác
ma thật cân xứng". (30)
Phật
tánh vốn đồng thì làm sao có thể có sự sai khác giữa các
chúng sanh trong việc chứng ngộ chân lý. Nhưng trong thực
tế, chúng ta cũng nên công nhận rằng đa số phụ nữ có
xu hướng thiên về tình cảm, ít có tánh cương quyết nên
cũng ít có khả năng lãnh đạo, tuy nhiên đó không phải là
tất cả.
Như
vậy, đứng trước vấn đề ngũ chướng chúng ta có thể
hiểu đấy là một trong những trường hợp ?tùy duyên thuyết
pháp?. Sự giải thích này chắc chắn chưa làm thỏa mãn
người đọc. Vì cũng có người nhận định một cách
mạnh mẽ rằng vấn đề ngũ chướng không do đức Phật
thuyết giảng mà do người đời sau đem vào trong kinh:
"Qua
phương pháp phân tích, so sánh, các tác giả trên (giáo sư
Kajiyamaywichi, học giả Diana Mary Paul, ...) kết luận là ý niệm
ngũ chướng tìm được trong một số kinh sách, khi có trong
tạng Pàli lại thiếu trong Hán tạng, hoặc ngược lại, có
trong Hán tạng lại thiếu trong Pàli tạng, chứng minh được
là ngũ chướng không phải là lời dạy của đức Phật vào
thời nguyên thủy, mà chính là do dời sau đem vào kinh".(31)
Tuy
nhiên, theo thiển ý người viết, năm điều chướng ngại,
ràng buộc người phụ nữ dù cho đã được đức Phật đề
cập trong kinh vẫn chỉ là dùng để thể hiện những quan
điểm, những tư tưởng hoàn toàn bất lợi với người phụ
nữ của thế gian và xã hội, mà trong Phật giáo thì ngược
lại. Và chính điểm này ta mới thực sự thấy
được việc đề cao giá trị đạo đức và khả năng đồng
đẳng với nam giới của phụ nữ trong giáo lý Phật giáo
là một điều chính đáng. Như trong kinh Tăng Nhất A Hàm
II, Phật đã bác bỏ điều này qua việc đức Phật Bảo Tạng
Như Lai thọ ký quả Phật cho Mâu Ni Vương Nữ:
"Trong
vô lượng số kiếp về sau, nhà người ra đời sẽ gặp Phật,
và được đức Phật ấy thọ ký thành Phật".(32)
Như
vậy, trong chương ba này, chúng ta đã lần lượt tìm hiểu
một số vấn đề khiến người học kinh khó mà tránh khỏi
ý niệm sai lệch về quan điểm của đức Phật đối với
người phụ nữ. Những vấn đề này tuy không phải là
nhiều nhưng cũng đủ để cho người đã từng hiểu sai về
đạo Phật xác định lại ý kiến của mình và rút ra kết
luận đúng đắn nhất về địa vị người phụ nữ trong
giáo lý Phật giáo.
Chương
thứ tư
Ảnh
Hưởng Phật Giáo Đối Với Phụ Nữ Trong Xã Hội
Nếu
chỉ tìm hiểu địa vị người phụ nữ trong giáo lý Phật
giáo được tôn trọng, được bình đẳng, ... mà chúng ta
không biết đến những ảnh hưởng của Phật giáo đối với
người phụ nữ trong xã hội là một điều thiếu sót lớn
lao. Vì trong vấn đề này sẽ khẳng định thêm việc
đạo Phật có bi quan yếm thế, có bất bình đẳng với hàng
nữ lưu trong xã hội không? Đồng thời chúng ta
sẽ được biết thêm vai trò quan trọng của Phật giáo đối
với phụ nữ ngày nay.
1.
Phật giáo với phụ nữ trong đời thường:
Như
chúng ta biết, sự thành lập Ni bộ của đức Phật đã được
các nhà dân tộc học cho là một việc làm vô cùng cách mạng,
nếu ta xét đến yếu tố thời gian cách đây 2500 năm và không
gian là xứ Ấn Độ đầy thành kiến đối với phái nữ.
Không
những ngày xưa mà ngay hiện tại nhiều nơi ở Ấn vẫn còn
giữ tục lệ Pardah tức là tục che mặt của phụ nữ khi
ra đường, và họ phải sống trong phòng the khóa kín.
Họ không được giáo dục, không làm được những công việc
ngoài đường dù nhỏ nhặt đến đâu, tất cả đều do đàn
ông đảm trách vì đó là tục lệ của Ấn giáo.
Ở
Ấn Độ, sinh con gái là một điều bất hạnh cho mọi gia
đình, vì phải lo việc gả chồng và sắm của hồi môn.
Hơn nữa, trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ, cũng như ở
Trung Hoa, Nhật Bản hay Việt Nam, mọi gia đình đều xem con
trai là trường cột trong việc nắm giữ giềng mối tổ tông
và lo việc tế tự thờ cúng. Do đó, nếu một người
phụ nữ không sinh được con trai thì người chồng có thể
cưới vợ khác và có thể trục xuất họ ra khỏi gia đình.
Nhưng kể từ khi đạo Phật xuất hiện, những truyền thống
xã hội Ấn Độ đã trải qua một cuộc đổi thay.
Phật
giáo dạy rằng sự hy sinh phải bắt nguồn từ nội tâm, bằng
cách gột rửa những tư tưởng ngã chấp, thiêu đốt tham,
sân, si. Hoàng hậu Mallikà nhờ thấm nhuần những tư
tưởng ấy của đạo Phật, đã trở nên một Phật tử chơn
chánh, và thuyết phục được chồng bà, vua Pasenadi khỏi làm
một cuộc tế lễ vĩ đại trong đó nhiều muông sinh đáng
lẽ sẽ bị giết để chuộc mạng sống cho vua, theo lời khuyên
của một người Bà la môn giáo.
Lại
nữa, trong giáo lý Phật giáo mỗi người tự trách nhiệm
lấy luân hồi sinh tử của mình, đã bật tung gốc rễ của
niềm tin truyền thống mà trong đó có ít nhiều tai hại cho
phụ nữ như tin rằng nhờ tế tự thần linh mới sinh được
con trai, hay tin rằng linh hồn người cha sẽ trở về quấy
nhiễu nếu việc cúng tế không chăm sóc chu đáo. Với
thuyết nghiệp báo, đạo Phật không tin vào những vụ cúng
tế kia, dù là để cầu con trai hay để chuộc tội lỗi.
Như
vậy, với sự xuất hiện của Phật giáo, người phụ nữ
Ấn không còn phải quá lo ngại và bị ngược đãi khi không
sinh được con trai. vì người ta đã nhận thức được rằng
cuộc sống đời sau của người cha hoàn toàn tùy thuộc vào
những hành vi hiện tại của ông, chứ không phải do sự cúng
tế của người con trai hay con gái nào cả. Và sự kế
nghiệp gia đình cũng không còn quá lệ thuộc vào người trưởng
nam như trước.
Ngày
nay ở bờ biển Tây Ấn còn có một giai cấp Bà la môn rất
cổ xưa gọi là Nairs có truyền thống chỉ trao quyền thừa
kế cho con gái. Điều này có thể là do một trong những
ảnh hưởng của Phật giáo.
Trong
Phật giáo hiện đại cũng thế, những công tác xã hội đề
hàn gắn những vết thương của đồng loại trong lúc gặp
thiên tai giặc giã, phần nhiều là do những vị ni và nữ
Phật tử, nhiều từ tâm xả kỷ. Hàng nữ xuất gia cũng
như tại gia hiện tại cũng đóng một vai trò không kém phần
quan trọng đối với những công trình của giáo hội, thường
thường là vai trò xúc tiến những cuộc lạc quyên gây ngân
quỹ.
Về
phương diện tinh thần, đoàn thể ni chúng là một tấm gương
sáng, một niềm khích lệ an ủi cho nhiều phụ nữ bất hạnh
trong sinh hoạt gia đình. Những lúc tinh thần căng thẳng
rối loạn vì đời sống hôn nhân, họ đến chùa và được
tăng thêm tự tín khi có những người con gái đáng đầu con,
em họ đang dạn dĩ bước đi một mình trên đường đời,
lấy chân lý làm bạn và lấy chúng sinh đau khổ làm gia đình.
Họ bỗng nhận ra rằng một gia đình nhỏ với dăm ba đứa
con hóa ra không phải là mục tiêu duy nhất của người phụ
nữ, vì nhiều phụ nữ khác có thể sống trọn vẹn hơn mà
không cần gì đến những thứ phụ tùng phiền toái như họ.
Biết
bao nhiêu người phụ nữ đau khổ đã được cảm hóa khi
biết hướng tâm hồn họ về ánh sáng Phật pháp thay vì quanh
quẩn trong bóng tối của một bản ngã nhỏ hẹp với những
vấn đề thế nhân bất tận trước mắt mà họ không thể
nào tìm ra giải pháp.
Nhiều
phụ nữ đã thú thật rằng nếu không nhờ Phật giáo thì
họ có thể hóa ra điên cuồng hay ít ra cũng thân tà ma dại.
Quả thế, Phật giáo đã cống hiến rất nhiều cho giới phụ
nữ, cũng như đã tạo nhiều phương tiện giúp hàng nữ lưu
phát huy nguồn năng lực dồi dào của họ mà từ lâu bị
xã hội chôn vùi trong quên lãng.
Đặc
biệt là ngày nay, khi cơn bệnh của thế kỷ (bệnh AIDS) từng
bước bành trướng khắp hoàn cầu thì hơn ai hết những nữ
tu sĩ Phật giáo, kế thừa gia bảo Chánh pháp của Phật, đã,
đang và sẽ tiếp tục truyền thống thuyết pháp độ sanh,
ban trải tất cả pháp môn tu hành xoa dịu nổi đau nhân thế.
Đọc
lá thư cuối cùng của Tim Sullivan, người mắc bệnh AIDS, viết
ngày 26/6/1994 gởi cho Sư cô T. Wongmo từ tiểu bang Chicago (Hoa
Kỳ) chúng ta sẽ thấy rõ điều này hơn:
"Là
một người đồng tính luyến ái mắc bệnh AIDS, tôi có nhiều
thời gian để chấp nhận hoàn cảnh bi đát của mình.
Nhưng khi nói chuyện với Sư cô về vấn đề chết và hấp
hối, tôi cảm thấy mình có một nhận thức sâu sắc về
cuộc sống và chấp nhận căn bệnh quái ác này. Qua phương
pháp thiền chữa bệnh, kỹ thuật khống chế cơn đau và nhiều
lần tranh luận với Sư cô ... giờ đây tôi cảm giác bình
yên kỳ lạ, một cảm giác chưa từng có trong đời của tôi...".(33)
Rõ
là chỉ qua một vài nét về sự ảnh hưởng của Phật giáo
với phụ nữ trong cuộc sống hàng ngày xưa cũng như nay, ta
có thể đi đến một sự khẳng định chắc chắn rằng: Phật
giáo chưa hề và không hề có một chút gì gọi là bi quan,
gọi là không ưu đãi hàng nữ lưu, mà ngược lại còn quan
tâm, giúp đỡ họ rất nhiều. Phật giáo đã và đang
từng bước đi vào lòng quần chúng nói chung và phụ nữ nói
riêng.
2.
Phật giáo với phong trào bình đẳng nam nữ hiện nay:
Ngày
nay trên khắp thế giới đều dậy lên phong trào canh tân nữ
giới. Với khoa học phát triển, với phương pháp truyền
thông đại chúng ngày càng nhiều, ngày càng rộng rãi, phụ
nữ nhận thức được rằng họ không có điều gì phải thua
kém nam giới. Trên mọi lãnh vực xã hội: kinh tế, chính
trị, văn hóa, giáo dục, ... những gì nam giới làm được
họ đều có thể xông xáo vào và có khả năng của người
phụ nữ còn vượt trội hơn nam nhân. Phụ nữ không
còn bị liệt vào một địa vị thấp kém của xã hội như
ngày xưa nhằm thời Phật tại thế (dĩ nhiên đây không phải
là tất cả).
Nói
đến đây, chúng ta mới thực sự thấy đức Phật lịch sử
là một nhân vật vĩ đại. Ngài đã làm nên một cuộc
cách mạng lớn lao, chẳng những giải phóng cho hàng phụ nữ
thoát khỏi sự áp bức của xã hội mà còn tạo điều kiện
cho nữ giới vững bước vào đời.
Thế
nhưng, không phải ai cũng thấy được những đóng góp lớn
lao ấy của Phật giáo đối với phụ nữ nên cũng có một
số người chưa hiểu Phật pháp cho rằng giáo lý Phật giáo
với thuyết Vô ngã, thuyết nghiệp báo, luân hồi sanh tử,
... đã làm trì hãm tính năng động của người phụ nữ,
và phụ nữ sẽ rất khó thực hiện phong trào đòi quyền
bình đẳng với nam giới nếu họ học tập giáo lý