*
Dẫn nhập của Chagdud Tulku
1
Núi Huy Hoàng Màu-Đồng Đỏ: Cõi Thuần tịnh của Đức Padmasambhava
2
Những Quán chiếu trong Tấm Gương Pha lê: Sáu Cõi Bất tịnh
3
Núi Potala: Cõi Thuần tịnh của Đức Avalokiteshvara
4
Yulokod: Cõi Thuần tịnh của Đức Tara
5
Cầu Thang đưa tới Giải thoát: Tóm lược những Hậu quả
của Đức hạnh và Ác hạnh
*
Chú thích
DẪN
NHẬP
CHAGDUD
TULKU
Khi
còn là một đứa bé ở Tây Tạng, thỉnh thoảng tôi tìm thấy
mẹ tôi, Delog Dawa Drolma, được những thính giả vây quanh
và hết sức chăm chú lắng nghe bà nói về những cuộc du
hành của bà tới các cõi giới khác. Khuôn mặt bà sáng ngời
khi đề cập tới các Bổn tôn trong các cõi thanh tịnh; những
giọt nước mắt tuôn rơi khi bà tả lại những khốn khổ
của chúng sinh trong địa ngục và các ngạ quỷ (preta), hay
các tinh linh đau khổ. Bà nói về việc gặp gỡ những thân
quyến đã chết của những người nào đó, và từ người
chết bà tiếp âm tới người sống những bận tâm về những
công việc không ngừng dứt (có thể là những đồng tiền
hay châu báu được chôn dấu mà không thể xác định vị
trí) hoặc những van nài khẩn thiết xin được cầu nguyện
hoặc cử hành các buổi lễ. Bà cũng đem về lời dạy tâm
linh của những Lạt ma cao cấp đã lìa bỏ thế giới này
và các Lạt ma ở bờ bên đây của cái chết đã đáp lại
nó bằng sự cung kính sâu xa.
Mẹ
tôi được tôn kính trên khắp đất nước Tây Tạng bởi
những năng lực siêu phàm như một Lạt ma, nhưng bà nổi tiếng
hơn vì là một delog (phiên âm theo Anh ngữ là DAY-loak), người
đã vượt qua ngưỡng cửa của cái chết và trở về thuật
lại chuyện đó. Điều bà thuật lại không phải là một
kinh nghiệm cận tử hão huyền hay nhất thời. Suốt năm ngày,
bà nằm lạnh ngắt, ngừng thở, và không có bất kỳ dấu
hiệu nào của sự sống, trong khi tâm thức bà du hành tự
do tới các cõi giới khác, luôn luôn được vị thiên nữ
trí tuệ Tara Trắng hộ tống. Bà thực hiện cuộc du hành
của mình như một delog phù hợp với các giáo huấn đã nhận
từ Đức Tara trong các linh kiến, nhưng đi nghịch lại ước
muốn của các Lạt ma của bà, các ngài nài xin bà đừng làm
một việc mạo hiểm như thế.
Đặc
biệt là bà, một thiếu nữ mười sáu tuổi, có nhiều xác
quyết trong thiền định khiến bà trổi vượt hơn các vị
Lạt ma hết sức uyên thâm và lớn tuổi hơn bà. Tuy thế,
bản thân bà được xác nhận là một hiện thân của Đức
Tara Trắng, một năng lực mạnh mẽ của tâm giác ngộ vì
sự trường thọ và giải thoát của chúng sinh. Suốt thời
thơ ấu, Dawa Drolma đã biểu lộ một lòng bi mẫn sâu xa. Không
người hành khất nào tới lều của chúng tôi phải ra đi
mà không có quà tặng của bà là bất kỳ thứ gì bà có thể
đặt tay lên - gia đình tôi phải cất dấu những món quý
giá kẻo bà đem cho mất.
Căn
lều bằng nỉ đen của gia đình chúng tôi có thể chứa bốn
trăm người trong suốt những buổi lễ lớn. Mọi người thể
hiện lòng tôn kính đối với Dawa Drolma bằng cách mời bà
ngồi trên một cái ngai cùng với các Lạt ma cao cấp khác,
kể cả bốn người chú của bà là những vị nổi tiếng
khắp miền đông Tây Tạng. Bản thân bà là người cầu toàn
trong việc cử hành nghi lễ. Vài năm trước tôi đã gặp một
nhà sư, ông nhớ lại vẻ giận dữ của bà khi ông thổi kangling
(kèn lễ) quá tệ. Sự hiện diện của bà thôi thúc mọi người
phải cẩn trọng trong từng giai đoạn thực hành nỗ lực
lẫn việc nhận ra rằng bản tánh nền tảng của những giai
đoạn này là sự tỉnh giác không cần dụng công.
Những
giấc mơ và linh kiến của bà là những khám phá của sự
chứng ngộ, và chúng chuẩn bị cho kinh nghiệm delog của bà
được rõ ràng đáng tin cậy trong các giáo huấn. Những e
ngại của các Lạt ma khẩn nài bà đừng thực hiện một
cuộc du hành như thế - đúng ra là ăn chay, dùng thuốc, và
cử hành các buổi lễ - không phải là không có căn cứ, tuy
nhiên - sau khi bà mất và đi tới cõi thuần tịnh của Đức
Padmasambhava, bà gặp người chú quá cố của bà là Đạo sư
tôn kính Khakyod Wangpo, ngài cảnh báo là bà sẽ gặp nguy hiểm
khi ở lại và bảo bà nên trở về cõi người để làm lợi
ích chúng sinh.
Sau
này, khi bà du hành qua bardo, hay trạng thái trung gian giữa cái
chết và sự tái sinh, và tới các cõi địa ngục và ngạ
quỷ, một hiện thân của nữ Bổn tôn Vajravarahi tỏ vẻ nghi
ngờ việc Dawa Drolma có thể đem lại nhiều lợi lạc. “Con
gái của ta, có thể con cần trở về cõi người. Nhưng.. khi
đã tái sinh làm một phụ nữ, con sẽ có chút uy quyền.. Sẽ
khó làm cho chúng sinh trong thời đại suy hoại này tin rằng
những tường thuật của con là chân thực.”
Đức
Tara Trắng không đồng ý với tuyên bố này, Ngài nói: “Cô
ta là một nữ anh hùng với tâm hồn dũng cảm,” và nói thêm
rằng bà đừng nên nghe lời những ai cố gắng gây trở ngại
cho bà. “Nếu cô ta trở về thế giới con người, cô ấy
có thể nói rõ những chọn lựïa đạo đức trong việc chấp
nhận những thiện hạnh và từ bỏ các ác hạnh. Cô ấy có
thể xoay chuyển tâm thức của chúng sinh hữu tình.”
Quả
thực kinh nghiệm trực tiếp về những cõi giới khác đã
làm cho mẹ tôi có một quyền lực tâm linh vĩ đại khi bà
giảng về hành vi đúng đắn và nhân quả nghiệp báo. Không
ai nghi ngờ điều bà nói, không chỉ vì những Lạt ma vĩ đại
như Tromge Trungpa đã chứng kiến tử thi của bà trở lại
cuộc đời, mà cũng bởi bà đã biết chỗ cất dấu những
đồng tiền và những hành động của người đã khuất trước
khi họ chết - là những việc mà bà không thể biết nếu
không được những người bà gặp trực tiếp cho biết khi
bà là một delog. Sau này trong đời bà, một trong những người
cộng tác nhiệt thành nhất trong những công trình của bà
là một thương gia Tây Tạng, ông ta từng là một người vô
thần cứng đầu trong vùng cho tới khi mẹ tôi gởi tới ông
thông tin về số tiền chôn dấu của người chị quá cố
của ông.
Ở
đây, tường thuật của Dewa Drolma sống động như tường
thuật của một du khách miêu tả một xứ sở người ấy
đã viếng thăm, tuy thế tường thuật của bà thực sự là
một cuộc hành trình của tâm thức qua những phô diễn thanh
tịnh và bất tịnh của tâm. Nó bắt đầu khi, như Đức Tara
chỉ dạy, “Tôi để tâm tôi an trụ. Trong một tâm thái khoáng
đạt và cực kỳ hỉ lạc, tôi kinh nghiệm một trạng thái
hoàn toàn trong sáng.. Tôi hoàn toàn tỉnh giác về trạng thái
nền tảng của tâm tôi trong mọi tính chất thông thường
của nó. Bởi giác tánh đó không bị ngăn che, tôi như thể
nghe được tất cả những âm thanh và tiếng nói trong mọi
xứ sở, chứ không chỉ ở vùng lân cận.”
Khi
sự tham luyến, sân hận và si mê thông thường của sự nhị
nguyên đối tượng-chủ thể hoàn toàn biến mất, ta kinh nghiệm
giác tánh không bị tạo tác, trần trụi - tuyệt đối, không
hai, siêu vượt ý niệm, tánh Không tràn đầy mọi phẩm tính
thuần tịnh và năng lực để hiển lộ như hình tướng bất
khả phân với tánh Không. Đây là Phật tánh, bị ngăn che
và không được nhận ra trong tâm chúng sinh, nhưng hoàn toàn
được hiển lộ nơi những bậc giác ngộ.
Để
làm lợi ích chúng sinh, các bậc giác ngộ hóa hiện một cách
tự nhiên các cõi của sự xuất hiện thuần tịnh, chẳng
hạn như Núi Huy Hoàng Màu-Đồng Đỏ của Đức Padmasambhava,
Núi Potala (Phổ Đà) của Đức Avalokiteshvara, và Yulokod của
Đức Tara. Những hành giả đã tịnh hóa dòng tâm thức và
những người đã tích tập công đức rộng lớn nhờ thiện
hạnh của họ có thể kinh nghiệm các cõi thuần tịnh trong
các linh kiến, trong các giấc mơ, hoặc, như mẹ tôi đã làm,
như một delog. Đứng về phương diện địa lý vũ trụ thì
tường thuật của bà hết sức đặc biệt. Nó được miêu
tả đầy đủ chi tiết, tuy thế chắc chắn là những cõi
giới mà bà thăm viếng là sự phô diễn tráng lệ của bản
tánh tâm, được kinh nghiệm khi thiền định xuyên thủng những
giới hạn của tri giác bình phàm.
Các
cõi thuần tịnh là sự phô diễn của tâm, nhưng vì thế nó
cũng là trạng thái bardo và sáu nơi đến của sự tái sinh.
Khác biệt nằm ở chỗ các cõi thuần tịnh là sự phô diễn
của giác tánh giác ngộ, trong khi sáu cõi và bardo là sự phô
diễn của mê lầm và sự phóng chiếu của những độc chất
của tâm. Cõi địa ngục là một phóng chiếu của sự thù
ghét, sân hận và ác hạnh sát sinh; cõi ngạ quỷ là một
phóng chiếu của sự tham lam và thèm muốn; cõi súc sinh là
một phóng chiếu của sự ngu si; cõi bán thần là phóng chiếu
của đức hạnh bị ô nhiễm bởi sự ganh tị; cõi trời là
một phóng chiếu của đức hạnh bị hư hỏng bởi sự kiêu
ngạo; cõi người là một phóng chiếu của một sự hòa trộn
tất cả năm độc kết hợp với đức hạnh tối thiểu để
ngăn chặn việc tái sinh nơi các cõi thấp. Tái sinh làm người
may mắn được đặt nền trên một số lượng đức hạnh
rộng lớn và giúp cho ta thực hành một con đường tâm linh.
Mẹ tôi thường nói: “Cho dù cuộc sống làm người của
con có khó khăn tới đâu, nhưng những khó khăn ở đây không
thể so sánh với những khốn khổ trong các cõi thấp.”
Loài
người và súc sinh cùng sống trong thế giới này và cùng có
khuynh hướng nhìn mọi sự như cái gì hết sức vững chắc,
thật có. Khi cái chết chia cách tâm và thân, và lột trần
sự kiên cố tương đối của sắc tướng, tâm thức trần
trụi đi vào trạng thái bardo sau-cái chết. Nếu không sớm
đạt được giải thoát trong sự phô diễn thuần tịnh của
bardo chân tánh của thực tại, thì tâm thức của ta bị đẩy
vào bardo trở thành, sau giai đoạn này nó sẽ tái sinh ở một
trong sáu cõi của kinh nghiệm phù hợp với nghiệp của ta.
Như
thể trong một giấc mơ hay ảo giác, chúng sinh trôi lềnh bềnh
ở trong và ngoài tri giác của Dawa Drolma như những bông tuyết.
Trong chốc lát bà gặp gỡ một người quen đang chịu đựng
những đau khổ ghê gớm nhất của địa ngục hay một ngạ
quỷ trải qua những thống khổ của sự thiếu thốn cực
độ; giây lát kế tiếp bà gặp một người đức hạnh trên
đường đi tới một cõi thuần tịnh hay một vị trong một
cõi trời. Thỉnh thoảng, bà thấy toàn bộ đoàn người trong
địa ngục hay chúng sinh trong bardo đi tới các cõi thuần tịnh,
được dẫn dắt bởi một Lạt ma hay hành giả vĩ đại là
những người tới cứu giúp chúng sinh bằng năng lực của
những ước nguyện vị tha của mình. Điều này thực sự
có ý nghĩa khi ta cầu nguyện “xin vét tận đáy sâu của
luân hồi sinh tử và giải thoát chúng sinh.”
Dawa
Drolma đối mặt với Yama Dharmaraja, Thần Chết, và cùng với
Đức Tara, bà đã tán thán ông ta bằng một bài ca chứng ngộ:
Nếu
nhận ra được, thì chính là đây - bổn tâm của ta;
nếu
không nhận ra, đó là Thần Chết phẫn nộ vĩ đại.
Thực
ra, đây chính là Đấng Chiến Thắng, Pháp Thân Phổ Hiền
(Samantabhadra):
Chúng
con đảnh lễ và tán thán dưới chân Dharmaraja.
Thật
ra, mặc dù trong ý nghĩa tuyệt đối, các cõi luân hồi sinh
tử có bản tánh trống không, chỉ là những phóng chiếu của
những mê lầm của tâm thức, nhưng trên bình diện tương
đối, nỗi khổ mà chúng sinh phải chịu đựng thì không thể
phủ nhận được. Khi Dharmaraja cùng các thuộc hạ của ông
liên tục đưa ra nhiều bằng chứng, thì chẳng có cách nói
dối hay giả đò nào làm giảm bớt được nghiệp quả của
ta. Cuộc đời của ta trôi qua trước mắt ta với từng hành
vi tốt và xấu được vạch rõ; những nghiệp quả phát sinh
một cách tương ứng. Những mô tả ớn lạnh của Dawa Drolma
về những hậu quả khủng khiếp của việc sát sinh và hãm
hại người khác cảnh báo thật rõ ràng để ta tránh làm
những hành động như thế. Mặt khác, những mô tả quyến
rũ của bà về những cõi thuần tịnh khiến ta hứng khởi
thực hành thiền định Bổn tôn và để chứng ngộ bản tánh
thuần tịnh của những phẩm tính của tâm.
Sau
cái chết, ngay cả khi các nghiệp lực xô đẩy tâm thức ta
tái sinh trong vòng luân hồi, nhưng nếu trước đó ta đã từng
thực hành khá tốt đẹp để tỉnh giác khẩn cầu Bổn tôn
thiền định của ta với đức tin, thì ta tức thời tái sinh
trong cõi thuần tịnh của vị Bổn tôn đó.
Sau
kinh nghiệm delog của mình, Dawa Drolma làm một cuộc hành hương
tới Lhasa, ở đó, với phối ngẫu của bà là một Lạt ma
cao cấp, bà đã mang thai tôi. Bà sống với ông bà tôi cho
tới khi tôi lên bốn, sau đó di chuyển tới tu viện Tanp’hel
Gonpa, muốn tới đó phải mất khoảng một tuần trên lưng
ngựa. Một ngôi nhà với quang cảnh đẹp đẽ được xây
cao trên sườn núi, và bà sống ở đó, được kính trọng
như một Lạt ma và một Dakini, một hiện thân nữ của trí
tuệ và hoạt động giác ngộ. Sau đó, bà sinh em gái tôi,
T’hrinlay Wangmo, một đứa trẻ phi thường mà cuối cùng được
xác nhận là hóa thân của một yogini trí tuệ. Cả em tôi
lẫn tôi đều hoang dã và ngang ngạnh, và thỉnh thoảng tôi
vẫn còn cảm thấy ân hận về những rắc rối mà tôi đã
gây nên cho mẹ tôi. Bà không kềm chế việc sử dụng kỷ
luật nghiêm khắc với tôi, nhưng bà cũng quả quyết rằng
nếu tôi thực hành Pháp mạnh mẽ và với động lực thanh
tịnh thì tôi sẽ đem lại lợi lạc cho chúng sinh. Những lời
khuyên dạy của bà gia hộ sâu xa cho con đường của tôi.
Bà
mất năm 1941, không lâu sau khi sinh một bé trai, nó cũng chết
hai năm sau. Mẹ tôi mất khoảng giữa tuổi ba mươi, khi ấy
tôi mười một tuổi. Xác bà vẫn ở tư thế thiền định
trong vài ngày, sau đó đổ gục xuống, cho thấy là tâm thức
đã thoát đi. Bà được hỏa táng trên mái nhà bà. Các cầu
vồng xuất hiện và năm con kên kên, mà trong Phật Giáo Kim
Cương thừa là những con vật tượng trưng cho nhãn kiến siêu
việt của yogin chứng ngộ, bay liệng trên đầu. Tôi tin chắc
rằng bà đã trở về những cõi thuần tịnh, nhưng tôi cũng
không nghi ngờ là bà cũng đã trở lại các cõi địa ngục
và ngạ quỷ để cứu thoát tất cả những ai có liên hệ
với bà. Với lòng bi mẫn, bà tuyệt đối không sợ hãi.
Tôi
rời Tây Tạng năm 1959, ngay trước cuộc củng cố xâm lược
tàn bạo của Trung Quốc. Năm 1982, sau gần ba mươi năm không
có tin tức của gia đình, bất ngờ tôi nhận được một
lá thư ngắn của em gái tôi, trong đó kể rằng cô có một
bản tường thuật delog của mẹ tôi, đó là bản duy nhất.
Sự kiện này giống như một cái móc từ Tây Tạng thả xuống
California, tuy thế tôi không thể chụp được nó mãi cho tới
năm năm sau khi lập trường chính trị của Trung Quốc đã
có phần mềm dẻo hơn. Sau cùng khi tôi về thăm T’hrinlay
Wangmo, cô bảo tôi rằng bản văn đã từng bị tịch thu nhưng
cô biết được ai giữ nó. Trong những năm tháng khủng khiếp
của cuộc Cách Mạng Văn Hoá, khi Kinh điển bị người Trung
Quốc dùng làm giấy vệ sinh, cô chẳng thể làm được gì,
nhưng ngay khi cảm thấy an toàn, cô đã biếu một số tiền
rất lớn để có được bản tường thuật. Chỉ có vài trang
bị mất.
Tôi
không muốn lấy đi bản gốc của em tôi, nhưng người Trung
Quốc ở Szechuan (Tứ Xuyên) thủ phủ của Chengdu (Thành Đô)
không cho phép tôi sao chụp nó. Hiểu rằng tôi phải lén đưa
nó ra ngoài, tôi có đem sách Tây Tạng từ Hoa Kỳ vềø và
đã liệt kê chúng trong tờ khai quan thuế. Tôi ghi thêm bản
tường thuật delog vào danh mục sách của tôi và không bị
phiền nhiễu khi quá cảnh ở phi trường.
Vài
năm sau, tôi trở về Tây Tạng để đưa cho em gái tôi một
bản sao. Tôi vẫn còn giữ bản gốc, tính đến nay tuổi thọ
của nó đã hơn sáu mươi, được một người sao chép ghi
lại bằng chữ viết tay thật đẹp khi Dawa Drolma thuật lại
tiểu sử của bà.
Có
những tường thuật delog khác – một trong số đó là tường
thuật khá nổi tiếng của nữ hành giả Delog Ling Zha Chhodron.
Thư viện Tác phẩm và Văn khố Tây Tạng ở Dharamsala có ít
nhất là một tá cuốn. Các delog thường là phụ nữ; một
số xuất hiện như những cư sĩ bình thường, nhưng chính
kinh nghiệm là một dấu hiệu của sự chứng ngộ thiền định
vĩ đại, vì thế thực ra các ngài không thể là những người
bình thường. Những tường thuật của các ngài làm tăng thêm
lòng tin của mọi người nơi giáo lý của các Lạt ma về
các cõi vô hình.
Tôi
không rõ có những tường thuật nào khác từng được dịch
ra các ngôn ngữ Tây phương hay không. Tôi thật may mắn có
mối liên hệ với dịch giả tuyệt hảo Richard Barron (Chokyi
Nyima) và chủ bút rất có năng lực Mary Racine, họ đã cho
ra đời bản dịch Anh ngữ tường thuật của Dawa Drolma. Richard
Barron chịu trách nhiệm về các chú thích cuối mỗi chương.
Mặc dù các chương được viết với ba cõi thuần tịnh ở
phần đầu rồi tới cõi bất tịnh nằm trong chương thứ
tư, nhưng nội dung của bản văn dường như cho thấy cuộc
du hành không được biểu lộ theo thứ tự như trong quyển
sách được xuất bản ở đây: Núi Huy Hoàng Màu-Đồng Đỏ,
các cõi bất tịnh, Núi Potala, và Yulokod. Chương cuối cùng,
được con trai tôi là Jigme Tromge Rinpoche đem từ miền đông
Tây Tạng tới Hoa Kỳ năm 1994, là một tóm lược mà phần
chính yếu là những kinh nghiệm của Dawa Drolma trong các cõi
bất tịnh. Để dễ đọc, bản Anh ngữ là một dịch phẩm
bằng văn xuôi có phần thoát ý hơn là một bản dịch thật
sát nghĩa theo nguyên bản Tây Tạng được viết theo thể thơ.
Cách phiên âm ngữ âm học của cấu trúc ngôn ngữ Tây Tạng
được dựa trên một hệ thống mà Nhà Xuất bản Padma sử
dụng.
Kinh
nghiệm delog thật phi thường, kỳ diệu, ngay cả trong phạm
vi bí truyền của các trường phái Phật Giáo Kim Cương thừa
Tây Tạng. Tuy thế, tường thuật của Delog Dawa Drolma có năng
lực và sự gần gũi của kinh nghiệm trực tiếp, và tôi tin
rằng những ai đọc nó sẽ nhận ra rằng các hiện tượng
của các cõi giới thì tương ứng với những khía cạnh kinh
nghiệm của bổn tâm họ. Cầu mong những nhắn nhủ của bà
sẽ thôi thúc thành tựu tâm linh tối thượng; cầu mong tất
cả những ai đọc những lời chỉ dạy ấy sẽ được đưa
dẫn tới những quốc độ của các Đấng Chiến Thắng.
(*)
Ghi chú của BBT:
THE
TIBETAN WORD DELOG
(DAY-loak) refers to one who has crossed the threshold of death and returned
to tell about it. For Delog Dawa Drolma, a woman renowned as one of the
great realization holders of Vajrayana Buddhism in this century, being
a delog meant that she lay without any vital sign of breath, pulse, or
warmth for five days. During that time the link between her mind and body
was released and her consciousness journeyed to other realms of experience.
What
she saw then, recounted in these pages, engendered in her a limitless compassion
for sentient beings. She experienced the almost unimaginable contrast between
existence within the pure display of enlightened mind and existence within
samsaric delusion and ignorance.