|
.
Charlotte
Joko Beck, năm nay 81. Bà bắt đầu tu Thiền khi đã hơn 60, sau
khi hoàn thành nhiệm vụ một mình nuôi bốn con trưởng thành.
Bà trưởng thành trong một gia đình theo đạo Tin Lành ở New
Jersey. Ở đại học Oberlin, bà theo học dương cầm, và sau
đó biểu dương chuyên nghiệp, chuyện mà theo bà "chẳng có
gì đáng kể". Tuy nhiên bà kiếm sống lại bằng các nghề
dạy học, thư ký, và cuối cùng là quản lý phòng hóa
học ở trường Ðại học San Diego. Năm 1977, bà hưu trí, về
sống ở Trung Tâm Thiền Los Angeles. Vào năm 1983, bà thành lập
Trung Tâm Thiền San Diego, hướng dẩn các thiền sinh. Phương
pháp dạy của Bà là luôn luôn cởi mở, đón nhận những
điều mới mẻ. "Tôi sẽ tiếp nhận tất cả những gì tôi
xét thấy là hữu ích. Vấn đề là cách nhìn để nhận ra
những gì thật sự chuyển đổi cuộc sống của con người".
Tại
sao bà bắt đầu tu Thiền?
Tôi
có một đời sống ít sóng gió. Chồng tôi bịnh tâm thần,
chúng tôi ly dị, nhưng ông ấy rất tốt. Các con tôi đều
ngoan. Tôi có một nghề nghiệp vững vàng. Nhưng tôi thường
thức giấc với câu hỏi: "Sống chỉ có thế ư?"
Thế
rồi tôi gặp được Roshi Maezumi. Một lần Roshi đến giảng
ở nhà thờ Unitarian, tôi đi cùng với người bạn. Sau đó
chúng tôi lập thành nhóm tu Thiền mà bắt đầu chỉ có hai
người, tôi là người thứ ba.
Do
đâu bà lập ra Trung Tâm Thiền?
Chúng
tôi chung tiền lại mua hai ngôi nhà sát liền nhau. Tôi cần
một nơi để ở, và họ cần một nơi để đến tọa Thiền.
Chúng tôi chia nhau không gian ấy. Không hoàn toàn lý tưởng,
nhưng cũng nhờ đó mà nơi nầy thành thú vị. Không có hoàn
cảnh nào xảy ra hoàn toàn theo ý mình, nên chúng tôi phải
tập sống với cái mình có, và coi đó là một cách tu tập.
Ðôi khi những điều không như ý cũng có ích cho ta.
Việc
tu tập ở Trung tâm nầy ra sao?
Thiền
sinh rất đông, khó mà nhận hết được -chúng tôi phải giới
hạn ở con số 50. Khóa tu dài nhất là năm, hay sáu ngày. Năm
ngày là đủ. Ðủ để chuẩn bị hành trang cho họ khởi hành.
Buồi sáng chúng tôi trở dậy lúc năm giờ, làm vệ sinh cá
nhân khoảng một giờ. Sau đó, tất cả thời giờ còn lại
dành cho việc tu tập cho đến mười giớ tối.
Các
Thiền sinh thực tập như thế nào?
Căn
bản là các Thiền sinh mới học làm quen với thân tâm mình.
Tập thói quen đặt tên các vọng tưởng của họ. Không có
nghĩa là họ phải phân tích, mổ xẻ tư tưởng mình. Cũng
gần giống như Thiền Vipassana, nhưng thay vì nói: "Nghĩ, nghĩ",
tôi yêu cầu họ nói lại tư tưởng của mình. Nếu bạn thực
tập như thế trong vòng ba, bốn năm, bạn sẽ biết rất rõ
tâm bạn hoạt động ra sao.
Làm
sao đặt tên tư tưởng?
Thí
dụ: "Có nghỉ về Mary... Có nghĩ rằng tôi không thích cô
ấy...Có nghĩ rằng tôi không thể chịu được cách cô ấy
hoạnh hẹ mọi người". Chúng ta có suy nghĩ như thế phải
không? Với phương cách đó -quán sát tâm, dần dần sự suy
nghĩ của ta sẽ trở nên khách quan hơn. Phần đông chúng ta
thay vì dừng lại ở chỗ có nghĩ đến Mary, lại đi xa hơn.
"Ôi, tôi không thể chịu nổi cô ta, cô ấy làm tôi điên
lên được". Và thế là họ bị lôi cuốn theo dòng tư tưởng
đó. Ðiều ta cần làm là tập nhìn một ý tưởng theo đúng
thực chất của nó -một tâm hành, rồi cảm nhận ảnh hưởng
của nó trên thân: sự căng thẳng ở thân chẳng hạn. Khi
bạn đang giận ai, bạn thấy căng thẳng, phải không? Vì thế
hãy sống với trạng thái đó. Ngay giờ phút đó, hãy quên
cái ý tưởng đi, hãy chỉ là cái giận, sự xung đột, hay
căng thẳng. Khi làm như thế, có nghĩa là bạn không cố gằng
chuyển đổi cơn giận của mình. Bạn hoàn toàn hòa nhập
vào nó. Rồi thì tự nó sẽ chuyển đổi.
Sự
chuyển đổi này rất khác với sự thay đổi -một khác biệt
quan trọng. Tôn giáo thường có khuynh hướng thay đổi con
người: Họ nói "Bạn không tốt; bạn phải thay đổi làm
người tốt". Nhưng ở đây, trong quá trình đặt tên và tự
kinh nghiệm, bạn tập luyện để trở nên bớt cảm tính,
bớt bị lôi cuốn bởi tất cả những gì đi qua đầu mình.
Tánh hay nóng giận sẽ giảm, sẽ bớt sức mạnh, cho tới
một lúc nào đó bạn sẽ nhận thấy sự chuyển đổi ở
mình. Có thể bạn vẫn phản ứng một cách giận dữ trước
một việc gì đó, nhưng giờ bạn có thể quán sát nó. Và
người quan sát viên ngày càng sắc sảo.
Hành
giả tiến đến cái Không như thế nào?
Tôi
không nghĩ người ta có thể thấy tính Không, mà chỉ có thể
hòa nhập vào đó, một cách tự tại. Tính Không đơn
giản chỉ là sự vắng mặt của các phản ứng. Trong liên
hệ, không có tôi, có anh, và trong tâm chúng ta không có những
sự so sánh nọ kia. Khi tất cả những thứ đó không còn,
thì ta đạt được tính Không. Thật khó diển tả những điều
ấy bằng lời. Ðó là một vấn đề đối với nhiều người.
Họ cố gắng để chứng nghiệm được tính Không. Nhưng tu
tập không phải là để được cái gì cả. Tu tập chỉ có
mục đích là để chuyển đổi được bản thân mình. Vì
thế tôi thường nói với mọi người: "Bạn không thể đi
tìm cái gì đó. Bạn phải để sự chuyển hóa tự thành hình".
Có nghĩa là phải tinh tấn, khổ nhọc huân tập mổi ngày.
Tôi không bao giờ để một ý tưởng giận hờn đi qua đầu
mà không quán sát nó. Không phải là mổ xẻ nó, mà chỉ là
dừng nó lại. Phải có khả năng dừng lại, nhìn lại để
quán sát nó. Không phải để nói đó là tốt hay xấu, nhưng
chỉ là thuần quan sát xem bằng cách nào nó đã đến với
tâm bạn.
Bà
nghĩ tại sao ngày nay nhiều người tìm đến với Thiền, với
Phật giáo?
Vì
người ta tin rằng Phật giáo hay Thiền có thể giải thoát
họ khỏi những khổ đau, thất vọng. Khi đó họ nói: "Tôi
sẽ thử hành thiền". Nhưng trừ khi bạn hiểu rỏ tại sao,
thái dộ đó chỉ làm trở ngại thêm cho bạn. Bạn phải hiểu
sự thực tập của mình không phải để dẹp bỏ đau khổ
hay thất vọng mà là để có thể sống với chúng.
Ngày
nay khi bà ngồi Thiền, tâm bà nghĩ gì?
Không
có gì nhiều. Vọng tưởng đến rồi đi, chẳng ngại gì -nhiệm
vụ của tâm là suy tưởng mà. Nhưng tôi cố gắng tĩnh thức
càng nhiều càng tốt. Chỉ có thế. Tôi không lo lắng phải
làm sao cho tốt hơn thế nữa. Tâm tôi khá yên tĩnh, nên tôi
không bị nó phiền hà.
Có
phải trước đây bà có tánh nóng nảy?
Vâng,
tôi hay liệng đồ. Chọi đá vào cửa sổ. Người tốt cũng
có những cơn giận ghê gớm lắm. Không phải lúc nào tôi
cũng thế, nhưng tôi rất dể nóng giận.
Làm
thế nào việc tu tập có thể thay đổi được bà?
Bạn
phải đối mặt với nỗi sợ hãi của mình, thay vì chạy
trốn nó, hay biện hộ cho nó. Tất cả là do lòng sợ hải
mà ra. Bạn phải nhìn thẳng nó, tập làm quen với chính những
điều làm bạn sợ. Thí dụ như gọi điện thoại để
xin lổi một người bạn. Không phải để chứng tỏ điều
gì, chỉ là để tiếp xúc trực tiếp với nỗi sợ thể hiện
qua những cảm giác nơi thân. Làm được những điều bạn
không muốn làm rất hữu ích.
Cuộc
đời đầy những bài học cho ta tu tập, nếu ta có đủ kiên
trì. Thí dụ bạn thấy mình không có kiên nhẫn với người
nào đó. Ngay lúc ấy, hãy tự hỏi: "Sự bực bội này là
gì đây? Tại sao ta có thái độ này?" Nếu bạn hay bực mình,
thì bất cứ điều gì cũng khiến bạn nóng giận. Còn nếu
bạn không để mình bận tâm, thì bạn sẽ thấy mọi thứ
trên đời đều dể chịu.
Diệu
Liên Lý Thu Linh
(Lược
dịch theo Life’s Not a Problem, Tricyle : Buddhist Review 1998)
Danai
Chanchaochai, người Thái, một doanh nhân thành đạt, đồng
thời cũng là tác giả, dịch giả của nhiều đầu sách
nổi tiếng. Ông được mời tham gia viết các chuyên mục
của tờ Bangkok Post và nhiều tờ báo uy tín khác.
Danai cũng thường được thỉnh giảng ở các tổ chức trong
nước và quốc tế.
Bên
cạnh những thành công kể trên, Danai còn dẫn các chương
trình giao lưu trên đài phát thanh về quản lý, thị trường
và phát triển bản thân theo tinh thần Phật giáo, là đề
tài mà ông rất am tường.
Trên
tất cả, ông đã nguyện tuân và thực hành theo giáo lý của
Đức Phật trong thiền định và trong đời sống hằng ngày.
Ông đã được công nhận rộng rãi là một ‘vị Đại sứ
Phật giáo’.
Đối
với Danai, mổi thời khắc trong cuộc đời là mỗi thời khắc
sống theo Pháp.
Đức
Phật đã ban đem cho chúng ta những lời khuyên
về
kinh tế rất thiết thực trong giáo lý của Ngài.
Dường
như mỗi ngày chúng ta đều bị tấn công bởi bao thông tin
về kinh tế. Mỗi tờ báo đều có những trang dành cho chủ
đề đó. Tất cả các đài phát thanh và truyền hình
đều có các chuyên mục về kinh doanh thương mại, nơi các
phát triển kinh tế mới nhất trên thế giới được nghiên
cứu, thảo luận.
Đắm
chìm trong những lo toan trong đời sống hằng ngày, phần đông
chúng ta ít muốn nói đến việc cân bằng chi tiêu, lạm phát,
giá cả sinh hoạt hay những thứ đại loại như thế. Có thể
chúng ta tin chắc rằng các thông tin kinh tế không liên quan
gì đến ta, hoặc còn tin cả rằng, là Phật tử, chúng ta
không nên quan tâm đến những điều đó, vì ta xem cả thế
giới kinh doanh thương mại như là bất thiện - một điều
gì đó cần phải tránh xa.
Dĩ
nhiên thực tế là chúng ta không thể trốn tránh nó. Bất
cứ chúng ta làm gì, dầu ta sống đơn giản đến đâu, mỗi
chúng ta là một bộ phận không thể tách rời của toàn hệ
thống. Nếu chúng ta không thể thoát khỏi các hậu quả bao
trùm của cái mà hiện nay được coi như là khoa học kinh tế,
thì chúng ta có thể chấp nhận các quy luật của nó để
phản ảnh các quan niệm Phật giáo của chúng ta không? Thực
ra có thể có, một thứ được coi như là kinh tế Phật giáo
(Buddhist Economics) không?
Nếu
ta chấp nhận rằng kinh tế thật ra là một khoa học, thì
nó có thể không giữ một vai trò quan trọng trong việc mang
lại lợi ích cho nhân loại, giúp tạo nên những xã hội phồn
thịnh, hòa hợp, mang đến sự bình ổn, và một mức sống
có thể chấp nhận được cho tất cả mọi người sao? Câu
trả lời rõ ràng là có, nó cần phải như thế, nhưng chúng
ta cũng có thể thấy rõ ràng không kém là nó đã thất bại,
nó không thể thực hiện được những điều đó. Thật ra,
trong nhiều quốc gia trên thế giới, những sự quản lý kinh
tế tồi tệ đã đem lại nghèo đói, cùng với các hậu quả
xã hội bất an và xáo trộn.
Các
nền kinh tế thị trường thường thất bại vì mục tiêu
của chúng hạn hẹp và không màng đến các giá trị đạo
đức. Đối với một nhà kinh tế thị trường, một chai rượu
whisky và một quyển sách nói về sự áp dụng các nguyên tắc
Phật giáo trong thưong mại, cả hai đều có cùng một giá
trị
kinh tế. Những tác dụng tai hại tiềm tàng trong rượu có
thể mang đến cho cá nhân và xã hội hoặc những ích lợi
của các nguyên tắc thương mại dựa trên Phật giáo, có rất
ít ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng gì đến việc quyết
định mở một tiệm rượu hay một tiệm sách của họ.
Theo
quan điểm Phật giáo, kinh tế không được xem như là một
phạm trù hiểu biết đặc biệt. Đúng hơn, nó cần phải
được xem như là một trong số những nguyên tắc tương quan
hòa hợp với nhau để tiến tới một mục đích chung là đảm
bảo an toàn cho cá nhân, xã hội, và môi trường.
Rất
lâu trước khi kinh tế được coi như là một “khoa học”,
Đức Phật đã đề ra những nguyên tắc cho việc thực hành
kinh tế bền vững, và ngay chính trong thế giới hiện đại
với những công ty liên doanh đa quốc gia và với nền
kinh tế vĩ mô, chúng vẫn còn đúng, và có thể được áp
dụng cả cho các công ty lớn hay cho các cá nhân.
Đức
Phật dạy rằng điều tiên quyết trong các nguyên tắc này
là khi chúng ta làm việc để có được tài sản, chúng ta
phải thực hiện nó một cách đạo đức, không lợi dụng
người khác hoặc tham gia vào những công việc hay các thứ
kinh doanh không ‘Chánh mệnh’ (Right Livelihood), nói một cách
khác là ‘bất thiện’ (unwholesome). Thí dụ, trong danh sách
này phải kể đến việc buôn bán vũ khí, buôn bán nô lệ,
bán thú vật còn sống cho các lò giết mổ, buôn bán rượu
và những chất gây nghiện khác, và kiếm sống bằng việc
cho vay lấy lãi.
Danh
sách này còn có thể kéo dài thêm nữa, nhưng chúng ta cũng
không cần phải được nhắc nhở rằng ngày nay, trong phần
lớn các quốc gia trên thế giới, tất cả các loại kinh doanh
thương mại này đóng một vai trò quan trọng trong việc phát
triển nền kinh tế của các quốc gia ấy.
Các
nhà lãnh đạo cộng đồng thường khuyến khích mọi người
phải góp tay vào việc giúp đỡ để chiến đấu với sự
đe dọa của ma tuý. Đó là một thông điệp nhắm thẳng
đến những người đang phải chịu đau khổ nhất vì chúng
– người tiêu dùng. Không có kinh doanh nào có thể trường
tồn nếu không có khách hàng.
Đặc
biệt là những người trẻ, cần được khuyến khích tuân
theo Bát Chánh Đạo và sống cuộc đời của họ theo ngũ giới.
Chỉ riêng hành động đơn giản này cũng bảo đảm rằng
sẽ không còn có khách hàng nào cho những kẻ buôn bán ma túy.
Nguyên
tắc kinh tế thứ hai của Đức Phật nói đến sự quan trọng
của việc cẩn thận tích trữ tiền bạc và của cải mà
chúng ta đã kiếm được. Đó là sự khôn ngoan biết
để dành tiền cho những ‘ngày mưa bão’, những lúc khó
khăn -của việc tiêu dùng đồng tiền một cách khôn ngoan
chứ không phải cho một cuộc sống bê tha, phung phí.
Sống
trong giới hạn của mình là trọng tâm của nguyên tắc thứ
ba. Ngày nay, khi có quá nhiều người trẻ tự làm mình bị
vướng vào nợ nần vì đã tiêu xài thẻ tín dụng quá mức,
lời dạy cơ bản này đặc biệt quan trọng.
Lời
khuyên thiết thực thứ tư của Đức Phật là tạo ra những
người bạn tốt trong đời. Đức Phật đã nhấn mạnh đến
sự quan trọng của đức tính này, đặc biệt trong phạm vi
kinh tế, bằng cách dạy rằng chỉ lo thu gom, tích trữ và
sử dụng của cải thì chưa đủ tốt. Chúng ta cần phải
tìm kiếm, đào tạo những người tốt để làm việc chung,
trước khi ta có thể sử dụng tài sản của mình. Đức Phật
cũng khuyên trong khi kiếm sống, chúng ta cần tránh giao tiếp
với những người phạm giới.
Lời
khuyên của Đức Phật đối với những vấn đề liên quan
đến kinh tế thực tiển một cách đáng ngạc nhiên đến
mức độ có cả những lời khuyên ta nên phân chia và quản
lý ngân sách gia đình như thế nào. Một phần cần được
để dành cho nhu cầu sinh hoạt gia đình, một phần để giúp
đỡ bạn bè, một phần để dành cho những ngày khó khăn
hay trường hợp khẩn cấp, một phần cho từ thiện, và một
phần để cúng dường quý tăng ni.
Nhưng
bạn có thể nói, có người gần như kiếm không đủ sống,
làm sao họ có thể nghĩ đến việc để dành? Có người còn
bị đẩy đến việc trộm cắp hay phạm các loại hình sự
khác chỉ để nuôi nấng con cái.
Bạn
cảm thấy tội nghiệp cho họ, rồi bạn trách chính phủ,
đổ thừa cho lương bổng thấp giống như các viên chức cảnh
sát tham nhũng mà ta đọc mỗi ngày trên báo.
Hãy
nghĩ kỹ lại xem bạn có thực sự tin rằng việc trộm cắp,
việc đòi hỏi và nhận hối lộ có thể được chấp nhận
đơn giản vì người đó ham muốn nhiều hơn khả năng có
thể có của họ?
May
mắn thay vẫn còn có những câu chuyện để cho ta thấy một
mặt khác của đồng tiền. Đó là câu chuyện của những
bậc cha mẹ chịu thương, chịu khó, làm bất cứ những công
việc tay chân vất vả gì và sống trong những hoàn cảnh nghèo
khổ phải tranh đấu mỗi ngày để nuôi nấng, chăm sóc, và
giáo dục con cái, ươm trồng cho con họ những đức tính của
lòng chân thật, ngay thẳng - của Chánh mạng. Họ quản
lý những đồng tiền mà họ có một cách khôn ngoan và đôi
khi còn có thể giúp đỡ người khác.
Sự
quản lý kinh tế của họ dựa trên những nguyên tắc thiết
thực, bền vững, những nguyên tắc của nền kinh tế Phật
giáo.
Diệu
Liên Lý Thu Linh
(trích
dịch theo Dhamma Moments, NXB Third Printing International Ediition)
Thiền
sư S.N.Goenka đã giảng dạy về thiền Minh Sát (Vipassana) hơn
ba mươi mốt năm và rất nổi tiếng, có lẽ vì những khóa
tu thiền tích cực 10 ngày của thiền sư, được tổ chức
tại các trung tâm thiền ở khắp nơi trên thế giới hoàn
toàn miễn phí, nhờ vào sự hỗ trợ của các cựu thiền
sinh.
Thiền
sư S.N.Goenka sinh năm 1924, tại Mandalay, Miến Điện, là đệ
tử của Ngài Thiền Sư Sayagyi U Ba Khin (1899-1971). Sau mười
bốn năm tu tập, ngài S.N.Goenka đã quyết định từ bỏ vị
trí của một nhà doanh nghiệp thành đạt để dốc toàn lực
vào việc dạy thiền. Ngày nay Thiền sư coi quản một
tổ chức với hơn tám mươi trung tâm thiền trên thế giới
và đã thành công vang dội trong việc mang thiền Minh Sát (Vipassana)
vào các trại giam, đầu tiên là ở Ấn Độ, rồi lan rộng
đến nhiều nước trên thế giới. Tổ chức này ước
tính đã có khoảng hơn 10,000 phạm nhân, cũng như nhiều thành
viên trong ngành cảnh sát, và quân đội, đã dự các khóa
thiền 10 ngày này.
Bà
Helen Tworkov, biên tập viên của tạp chí Tricycles đã phỏng
vấn thiền sư S.N.Goenka nhân dịp Thiền sư đến tham dự Hội
Nghị Thượng Đỉnh về Hòa Bình Thế giới Thiên Niên Ký
tại Liên Hiệp Quốc vào mùa Thu, năm 2000.
Nhân
dịp Thiền sư S.N.Goenka sắp đến Việt Nam để tổ chức
hai khóa thiền Minh Sát 10 ngày tại TX Ngọc Thành, Thủ Đức,
chúng tôi xin trích dịch bài phỏng vấn này để giới thiệu
với bạn đọc một số nét về Thiền sư và phương pháp
tu thiền Minh sát (Vipassana) của Ngài.
Theo
một số người thì thiền Minh Sát (Vipassana) là một phương
pháp thiền đặc biệt của hệ phái Nguyên Thủy; theo một
số khác, thì đó là một dòng thiền độc lập. Thưa
theo ý Thiền sư thì như thế nào?
Đó
là một dòng thiền, nhưng không liên quan đến một hệ phái
nào. Theo tôi, Đức Phật chẳng bao giờ thiết lập ra
các tông phái. Khi tôi bái kiến ngài Sayagi U Ba Khin, thầy
tôi, ngài chỉ hỏi tôi vài điều. Ngài hỏi, là một
người Ấn Độ có danh phận, tôi có phản đối việc giữ
giới (sila) không? Làm sao tôi lại phản đối việc giữ
gìn đạo đức, giới luật chứ? Nhưng làm sao giữ được
giới luật khi tâm ta không ổn định? Ngài bảo, ta sẽ
dạy cho con thực hành giữ giới với tâm bình ổn. Ta
sẽ dạy con thiền định (samadhi). Đồng ý không?
Làm sao có thể không chấp nhận thiền định? Rồi sư
phụ tôi tiếp, nhưng chỉ đơn thuần được định cũng không
ích lợi gì –định chỉ có thể thanh lọc tâm con ở bề
nổi. Sâu thẳm bên trong còn có những điều phức tạp
hơn, có những thói quen hành động mà thiền định không thể
phá vỡ. Ta sẽ dạy cho con prajna, trí tuệ, giúp con đi
sâu hơn vào tâm thức, cội nguồn, nơi phát sinh của những
ô uế, bất thiện, rồi nhân rộng, tích lũy chúng, để ta
phải ra sức tiêu trừ.
Do
đó khi sư phụ bảo tôi: Ta sẽ dạy cho con chỉ ba điều
–giới, định và tuệ- và không có gì hơn thế nữa, tôi
hoàn toàn bị thuyết phục. Tôi trả lời: Xin ngài, hãy
cho con được thử.
Làm
sao có thể giữ được giới chỉ bằng cách theo dõi tâm?
Khi
tôi bắt đầu học thiền Minh Sát (Vipassana), tôi đi đến
kết luận rằng Đức Phật không phải là người tạo dựng
nên một tôn giáo, Ngài là một nhà khoa học, một nhà khoa
học tâm linh siêu việt. Khi Đức Phật dạy về Giới,
dĩ nhiên, mục đích là vì chúng ta là những con người, sống
trong xã hội loài người, thì chúng ta không nên làm bất cứ
điều gì có thể xâm hại đến xã hội. Điều đó hoàn
toàn đúng. Nhưng rồi –như một nhà khoa học- Đức
Phật nói những lời sau đây, khi ta làm hại người, khi ta
làm những điều bất thiện, thì ta sẽ là nạn nhân đầu
tiên. Trước tiên là ta hại mình, rồi mới hại đến
người. Ngay khi một tư tưởng ô uế, bất thiện phát
khởi trong tâm, thì tự nhiên ta sẽ cảm thấy bứt rứt, bất
an. Tuệ minh sát đã dạy cho tôi biết điều đó.
Như
thế nếu người ta có thể thấy rằng tâm bất thiện tạo
ra sự đau khổ, bất an cho bản thân, thì đó có phải là
sự khởi đầu của giới và tâm bi mẫn?
Nếu
bạn có thể chuyển hóa điều đó thành tâm bi mẫn, thì lúc
đó một thực tại khác sẽ trở nên rõ ràng. Nếu thay
vì dấy khởi sân, oán thù, sợ hãi, ngã mạn, tôi phát khởi
lòng thương yêu, bi mẫn, thiện tâm, thì rồi tự nhiên tôi
sẽ được đáp trả. Tôi sẽ cảm thấy rất tự tại,
bình an trong nội tâm. Tương tự, nếu tâm tôi ô uế,
bất thiện thì tôi sẽ bị trừng phạt bằng cách này hay
cách khác, cũng như khi tôi thanh lọc tâm thì tôi sẽ được
đền đáp bằng cách này hay cách khác.
Khóa
thiền Minh Sát (Vipassana) 10 ngày là gì?
Cả
quá trình là một phần của sự chứng nghiệm hoàn toàn, quá
trình của sự tự chứng, chân lý liên quan đến bản thân,
do bản thân, tự trong bản thân. Đó không phải là một
trò chơi của lý trí, cũng không phải là trò chơi của tình
cảm
hay lòng tín ngưỡng: “Ồ, Đức Phật nói rằng, và rằng
. . . Thật quá tuyệt vời, tôi phải chấp nhận chúng
thôi. . . “. Trái lại, nó hoàn toàn khoa học,
tôi phải thật sự hiểu điều gì đang xảy ra bên trong tôi.
Chân lý nào ở bên trong tôi? Chúng ta bắt đầu bằng
hơi thở. Có vẻ như là một khái niệm vật lý, hơi
thở vào, ra. Đúng là thế. Nhưng ở một mức độ
sâu xa hơn, hơi thở gắn kết chặt chẻ với tâm, với những
uế nhiễm, bất thiện trong tâm. Trong khi hành thiền,
chúng ta theo dõi hơi thở, nhưng khi tâm bắt đầu phóng đi
xa –về những kỷ niệm trong quá khứ, những viễn ảnh trong
tương lai- thì lập tức ta nhận thấy hơi thở không còn bình
thường: hơi gấp rút, hơi nặng nề. Và ngay khi các uế
nhiễm qua đi, thì hơi thở trở lại bình thường. Điều
đó có nghĩa là hơi thở được kết nối với tâm một cách
mãnh liệt, không chỉ với tâm bình thường, mà còn với các
tâm uế nhiễm. Do đó, chúng ta có mặt ở khóa thiền
10 ngày là để trải nghiệm, khám phá ra những gì đang xảy
ra bên trong ta. Ở một mức độ sâu xa hơn, người ta
thấy rằng tâm và thân gắn kết nhau qua các cảm xúc (sensations).
Điều
này đưa đến một sự khám phá lớn khác –rằng bạn không
phản ứng với một đối tượng bên ngoài. Thí dụ tôi
nghe âm thanh và tôi nhận ra đó là lời khen hay tiếng chê
của ai đó. Tôi trở nên hài lòng hay giận dữ.
Ở bề nổi thì là bạn đã phản ứng lại với âm thanh.
Đúng. Bạn đang phản ứng. Nhưng Đức Phật cho
rằng chính là bạn đang phản ứng lại với cảm xúc, cảm
xúc nơi thân. Rằng khi bạn cảm nhận một cảm xúc nơi
thân, và nếu bạn vô minh, thì bạn cứ tiếp tục làm uế
nhiễm tâm mình bằng lòng ham muốn, hay ghét bỏ, bằng ái
dục hay sân hận. Vì bạn không biết điều gì đang xảy
ra.
Khi
bạn nghe lời khen hay tiếng chê, có phải là phản ứng được
lọc qua tâm lý để đưa đến cảm xúc nơi thân, hay cả hai
xảy ra cùng một lúc?
Việc
này xảy ra tiếp theo việc kia, nhưng vì chúng xảy ra quá nhanh
đến nỗi bạn không thể tách rời chúng ra. Quá nhanh!
Cho đến một lúc nào đó, tự động bạn có thể bắt đầu
nhận thức được rằng, “Hãy xem điều gì đang xảy ra này!
Tôi vừa khởi tâm giận”. Và người thiền sinh hành
minh sát tuệ sẽ lập tức nói: “Ồ, rất nhiều sân hận!
Rất nhiều sân hận nơi thân, mạch đang nhảy liên hồi.
. . Ôi, tôi khổ sở quá. Khổ sở quá”.
Nếu
không đối mặt với những cảm giác nơi thân, thì ta chỉ
đối phó với nó trên lý trí. Bạn có thể nói, “Sân
hận là không tốt”, hay “Tham là không tốt”, “Sợ hãi
là không . . . “. Tất cả đều là tri thức, những đạo
đức chúng ta được dạy từ ấu thơ. Tuyệt vời.
Cũng ích lợi. Nhưng khi đã tu tập, bạn sẽ hiểu tại
sao chúng không hoàn hảo. Không chỉ là chúng ta đem lại
tai hại cho người khác, bằng cách phát khởi những uế nhiễm
của tâm sân hận hay đam mê, sợ hãi, hay thủ đoạn, mà ta
cũng hại chính bản thân.
Thiền
Minh sát quán sát sự thật. Với hơi thở tôi đang quán
sát chân lý ớ bề nổi, ở trên mặt. Nhưng từ đó
nó đưa tôi đến những tầng sâu, sâu hơn nữa. Trong
ba ngày thực tập rốt ráo, tâm trở nên sắc bén, vì bạn
luôn thực tập quán sát chân lý. Không phải là sự tưởng
tượng, không phải là triết lý hay tư duy. Chân lý, hơi
thở, chân lý cũng như là hơi thở, sâu hay cạn. Tâm
trở nên rõ ràng, sắc bén quanh vùng mũi, bạn bắt đầu cảm
nhận được một số phản ứng sinh hóa (biochemical), nghĩa
là một số cảm xúc nơi thân. Những cảm xúc này luôn
có mặt khắp thân, nhưng tâm thô lậu chỉ có thể cảm nhận
được những cảm xúc mạnh mẽ như đau đớn hay gì đó.
Trong khi có biết bao cảm xúc khác nơi thân mà tâm không thể
nhận ra.
Thưa
Thiền sư có phải phương cách tu tập này là trọng tâm của
Phật giáo?
Đúng
vậy. Nếu sự quán sát đúng đắn không được hướng
đến các cảm giác thì chúng ta sẽ không thể đi vào những
tầng thức sâu hơn trong tâm. Tầng thức sâu nhất của
tâm, theo Đức Phật, luôn kết nối với các cảm giác nơi
thân. Và bạn chỉ có thể khám phá ra điều đó bằng
thực hành.
Vai
trò của người thầy như Ngài là như thế nào?
Một
người thầy vì lòng bi mẫn và thương yêu, thấy rằng ai
đó đang đau khổ nên muốn chỉ cho họ con đường. Nhưng
chính mỗi cá nhân phải tự đi trên con đường đó.
Người thầy không có phép mầu gì. Chắc chắn như thế.
Ông chỉ là người chỉ đường. Đó là nhiệm vụ duy
nhất của người thầy, không có gì hơn thế nữa.
Thiền
sư đã tạo dựng nên hệ thống tu thiền này khắp thế giới,
nhưng dường như Ngài không có người kế thừa.
Có
quá nhiều người theo học, do đó để chọn ra một người
nào đó để kế thừa sẽ làm xáo trộn sự thanh tịnh.
Đức Phật chẳng bao giờ đề cử ai để làm người kế
thừa. Vậy tôi là ai mà chọn lựa? Tất cả năm
hay sáu trăm người thầy tôi đã huấn luyện, họ sẽ kế
thừa. Nếu tôi không còn có mặt, họ vẫn tiếp tục.
Không phải vì họ có lòng tin vào vị thầy –mà họ có lòng
tin vào phương pháp, vào phương pháp đã đem đến cho họ
kết quả. Đó là những gì sẽ còn tồn tại. Nếu
không, họ sẽ nghĩ rằng vì thầy ta còn đó nên ta được
tất cả mọi điều lợi ích –khi thầy không còn nữa, tất
cả đều cũng mất. Đó là sự sùng bái cá nhân.
Phương pháp thiền Minh sát này rất tuyệt vời. Nó sẽ
tồn tại. Đừng lo (cười). Tôi rất tự tin.
Nó sẽ tồn tại.
. .
.
Nhìn về Á châu, thấy các quốc gia như Miến Điện, Sri Lanka,
với những sự bạo động, đau thương trong các quốc gia Phật
giáo này –chúng ta có thể sử dụng sự tu tập, thực hành
của mình như thế nào để có thể mang lại hòa bình, thưa
Thiền sư?
Qua
bao thế kỷ, trong lịch sử của Phật giáo chưa từng có một
sự kiện nào trong đó người Phật tử nhân danh truyền bá
đạo pháp để gây ra đổ máu. Phật giáo đi tới đâu,
cũng mang theo tình thương yêu, lòng bi mẫn. Vì thế truyền
thống đó đã nói lên rằng đây là con đường không có bạo
động hay đổ máu. . .
Theo
giáo lý của Đức Phật, theo khoa học, khoa học nhân văn,
và thực tại mà chúng ta đang đối mặt, chúng ta rất mong
muốn hòa bình trong xã hội loài người. Chắc chắn là
ai cũng mong muốn điều đó. Phật tử hay không Phật
tử, đều mong muốn điều đó. Nhưng làm sao có một
xã hội hòa bình, nếu con người sống trong xã hội đó không
có hòa bình, an lạc. Nếu các cá nhân luôn giận dữ,
sôi sục, thì không thể có an lạc. Thì làm sao ta có
được xã hội hòa bình. Theo tôi, đó là điều không
tưởng. Không hợp lý chút nào.
Thưa
Thiền sư, không sử dụng từ “Phật giáo” có ích lợi
không, như thế ai cũng có thể tiếp cận với nó, tất cả
mọi người?
Có
hai từ tôi tránh dùng trong suốt ba mươi mốt năm qua.
Trong suốt ba mươi mấy năm qua kể từ khi tôi bắt đầu giảng
dạy, tôi không dùng từ “Phật giáo”. Tôi cũng không
bao giờ dùng từ “tôn giáo”, để nói về giáo lý của
Đức Phật. Theo tôi, Đức Phật chưa bao giờ thiết lập
ra một tôn giáo. Đức Phật chưa bao giờ dạy về Phật
giáo. Đức Phật chưa biến ai thành một Phật tử.
Mọi
người công nhận rằng mọi tôn giáo trên thế giới đều
có những yếu tố chung, mà tôi gọi đó là cốt lõi nội
tại của tôn giáo –đạo đức, làm chủ tâm, thanh tịnh
tâm, vân vân. Tôi coi đó là cốt lõi, cốt lõi thiện
của tất cả mọi tôn giáo. Rồi mới đến cái vỏ bên
ngoài. Cái vỏ bên ngoài của mỗi tôn giáo có khác nhau.
Hãy để mọi người tự do, bằng lòng với các nghi lễ, hình
thức tôn giáo của họ -nhưng họ không được quên điều
cốt lõi bên trong. Nếu họ quên điều đó, mà lại tự
xưng, tôi là người theo tôn giáo này hay tôn giáo kia vì tôi
đã tuân theo các nghi lễ, các quy cách, thì là họ tự lừa
dối mình, họ đang lừa dối người. . .
Diệu
Liên Lý Thu Linh
(trích
dịch từ Superscience: An Interview with S.N.Goenka, Tricycles, Winter
2000)
Ngài
Sokei Shigetsu Sakaki, một trong những thiền sư Nhật Bản đã
đến truyền đạo từ rất sớm ở Mỹ, và đã hiến cả
cuộc đời mình để giới thiệu về Thiền đốn ngộ (Sudden
Awakening Zen) cho người Mỹ. Thiền sư bắt đầu thuyết
giảng ở Manhattan từ những năm 1930. Khi thiền sư
Shigetsu chuẩn bị sang Mỹ hoằng pháp, một người bạn đã
hỏi ông, “Làm sao ông giáo huấn được những kẻ không
biết gì đó?”. Ngài Sokei trả lời: “Tôi giáo
huấn họ bằng sự Im lặng”. Thiền sư mất vào tháng 5 năm
1945.
Bài
này trích trong The Zen Eye (Con Mắt Thiền) là tổng hợp các
bài giảng về Thiền của Thiền sư.
Trong
Dighanikaya (Trường Bộ Kinh), cổ kính lâu đời nhất của
Phật giáo, có nói về quan điểm của Đức Phật –niềm
tin của chính Ngài.
Đức
Phật trong những ngày cuối đời, khoảng 80 tuổi, đi về
thành Kusinara, nơi Phật sẽ nhập Niết Bàn. Ở mảnh đất
khô cằn đó, Ngài đã không thể giữ được 1250 đệ tử
ở lại với Ngài, vì thế Ngài khuyên họ giải tán và tự
đi kiếm sống. Sau đó Ngài đi đến vùng cây sala ở Kusinara
với Ananda, vị đệ tử trung thành của Ngài.
Ngài
Ananda bèn hỏi Đức Phật, ”Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sắp
nhập Niết Bàn, sao Thế Tôn không tụ họp các đệ tử lại
để giảng cho họ nghe bài Pháp cuối cùng?”.
Đức
Phật trả lời: “Ta đã nói cho họ nghe tất cả Pháp của
ta, và đã nói cho họ nghe tất cả những kinh nghiệm ta đã
trải qua. Nhưng nếu họ không có kinh nghiệm tự thân, thì
họ không thể nghe đặng lời của ta. Ta đã Giác Ngộ, ta
đã đạt đạo. Họ cũng phải làm như ta. Ta không muốn nói
với họ về những kinh nghiệm của riêng ta để họ giữ
mãi bên mình, cho lợi ích của riêng ta. Có lần ta đã nói
với họ về kinh nghiệm của mình và thế là đủ. Sao phải
tụ hội họ lại để làm mất đi thời gian tu tập để đạt
Giác Ngộ của họ? Những lời ta nói để họ hiểu, ta đã
nói sao phải lặp lại lần nữa?”.
Nếu
bạn đã kinh nghiệm về vấn đề gì đó, thì khi người khác
nói về kinh nghiệm của họ, bạn sẽ hiểu ngay. Nhưng nếu
bạn chưa từng kinh qua một điều gì đó, thì dầu người
khác có nói bao nhiêu lời, bạn cũng sẽ khó thấu hiểu.
Trong
Phật giáo, hành giả phải tự mình tu tập, tự mình thực
hành để khai sáng trí tuệ, để tự giải đáp cho mình những
thắc mắc về cuộc đời, thiên nhiên, vũ trụ. Còn đâu thì
giờ để nói về kẻ khác.
Vì
thế, người ta đã cho rằng Phật giáo có thái độ ích kỷ,
chỉ lo tu cho riêng mình -không để ý đến những đau khổ
của người khác. Và kết tội các nhà sư luôn sống ẩn dật
trong các nơi rừng núi hẻo lánh, không để ý đến cuộc
sống ở thế giới bên ngoài.
Ngày
nay, ở Nhật một số tu sĩ Phật giáo cũng bắt chước theo
Thiên Chúa giáo dạy kinh điển cho trẻ con vào ngày Chủ Nhật.
Số khác vẫn duy trì truyền thống cũ - không có những hoạt
động bên ngoài xã hội.
Tông
phái của tôi, Thiền tông, rất thụ động. Chúng tôi
bận rộn với việc tu học để giác ngộ mình trước, rồi
nếu còn thì giờ sau đó, chúng tôi mới giúp người khác
như một cách để báo ân Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chúng
tôi coi việc tu truyền Phật giáo như là một cách để báo
ân vì đã được uống “nguồn sữa của Pháp”. Giống
như đứa bé đang đói, hành giả được uống nguồn sữa
đạo luật từ vị Thầy của mình. Hành giả tự nuôi dưỡng
thân tâm mình nhu thế, và tự mở mắt ra để nhìn thấy được
những luật chân thật của vũ trụ, thiên nhiên và con người.
Nhờ thế khi bước chân vào đời, hành giả không cảm thấy
sợ hãi, bối rối, không thấy nghi ngại cuộc đời mình đang
sống. Hành giả đầy tự tin. Đối với hành giả hình
như thế giới bên ngoài không có bóng tối và thế giới bên
trong thì rõ ràng, phân minh. Chúng ta mang ơn Thầy, vị Thầy
Giác Ngộ Đức Phật Ca Mâu Ni, vì thế hành giả phải làm
gì đó để báo ân Thầy. Truyền pháp cho người khác
cũng là một cách để báo ân -không phải vì những mục đích
khác như tiền bạc, danh lợi- hành giả chỉ báo ân trong khả
năng của mình. Nếu không có nhân duyên để báo ân, hành
giả cũng chỉ chờ chúng đến. Vì thế, nếu có ai đến
với tôi, tôi sẽ dựa vào nhân duyên đó mà báo ân cho Phật.
Chúng
ta hy vọng có thể truyền thừa những điều Phật dạy được
lâu dài - qua những kiếp người và còn xa hơn nữa trong tương
lai. Nhưng chúng ta không thể tạo ra sự giác ngộ cho người
khác. Tôi không thể ăn giùm cho bạn. Đôi khi chúng ta băn
khoăn không biết phải làm gì, truyền dạy điều gì, kêu
gọi Phật tử như thế nào -nhưng tất cả những sự lo âu
đó đều là vô ích. Hành giả chỉ cần quán tưởng và thực
hành, và nếu có thì giờ thì hành giả báo ân thêm chút nữa.
Nếu không có nhân duyên thì chỉ việc chờ đợi. Đó mới
chính là quan niệm của các bậc thầy cũng như của người
tu học chân chánh. Không cần thiết phải làm gì hơn thế
nữa. Không cần thiết phải “quảng cáo” về sự Giác
ngộ của chính mình, của quý thầy. Không cần phải chỉ
trích ai hay chê bai chổ nầy, chổ kia. Hành giả chỉ cần
giữ tâm mình cho sáng. Nếu vị thầy có được lòng tin đúng
đắn và có khả năng giúp bạn hiểu được đạo một cách
chân chính, đó là tất cả những gì bạn cần -rồi bạn
sẽ đi đến đích thôi.
Diệu
Liên Lý Thu Linh
(Trích
Dịch trong The Zen Eye, NXB Weatherhill)
VƯỢT
TRỞ NGẠI
Của
Linda Ruth Cutts Diệu Liên Lý Thu Linh
(Lược
dịch theo Breaking Through The Concrete)
 |
 |
Tác
gỉa Linda R. Cutts là giảng sư về Thiền, hướng dẩn việc
tu Thiền ở Green Gulch Farm, ở California. Bà tu theo dòng Thiền
của Thiền Sư Shynryu Suzuki.
Khi
tôi bắt đầu tu tập, khỏang hai mươi tám năm về trước,
tôi đang ở trong trạng thái trầm uất, đau đớn, tưởng
như không có gì cứu được tôi. Có lúc tôi đứng trước
cánh cổng mạ vàng, chạm trổ công phu của Ghiberti (ND: Ghiberti
Lorenzo, nhà điêu khắc nổi tiếng của Ý), ở Florence, được
gọi đó là The Gates Of Haven (Cổng Thiên Ðàng). Trong các lớp
học về Mỹ thuật, tôi đã được nghe nhiều về chúng, đã
mơ ước được nhìn thấy tận mắt. Vậy mà giờ chúng đang
ở trước mắt tôi, nhưng hoàn toàn không gây được cảm
xúc gì trong tôi. Tôi nhớ đã tự trách mình: "Ngốc quá, đây
là một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại. Hãy quan sát!
Hãy ngắm nhìn!". Nhưng không chỉ có cái đầu của tôi đóng
băng mà cả con người tôi dường như cũng tê dại.
Ðã
có lúc trong cuộc sống, tôi phải sống như một tảng băng
để tự cứu lấy mình. Tôi quyết định khiến các cảm giác
tôi đông lạnh trước những nỗi đau khổ của mình.
Tôi
sụp đổ tinh thần là do phản ứng của gia đình khi biết
tôi mang thai vào năm đầu tiên bước chân vào đại học.
Ðó là năm 1966, và đó là một tấn thảm kịch cho cả tôi
và gia đình tôi. Tôi tự vặn tắt mọi cảm giác, để không
còn ai có thể làm cho tôi đau đớn thêm. Tôi không khóc nữa
trước mặt những người thân của tôi.
Chính
sự chuyển đổi trong cơ thể tôi -một cách bí mật và nhục
nhã- làm tôi đau đớn. Không còn cài được váy, chiếc quần
trượt tuyết của tôi phụt rách khi tôi khom người. Và sự
nôn ói. Không còn gì là tốt đẹp nữa. Thế giới không còn
là chỗ dung thân an toàn, một mái nhà cho tôi nữa. Và thân
thể xinh đẹp của tôi cũng biến mất. Cái thân thể
đã từng được người thân của tôi thương yêu, vỗ về,
giờ lại là mục tiêu của sự chê bai, ghét bỏ.
Mẹ
dẫn tôi đi mua đồ mặc bầu ở tận New York, thật xa các
cửa hàng quen thuộc ở thành phố tôi ở, lẩn tránh một
gặp gở tình cờ nào đó với những người quen biết.
Rồi
tôi được gửi đi đến một nơi rất xa, qua bao miền đất
nước, đến tá túc với một cặp vợ chồng chịu chứa chấp
những cô gái Do Thái chữa hoang. Mẹ tôi ra về sau khi đã
nhìn lướt qua ngôi nhà nơi tôi sẽ ở trong sáu tháng. Vậy
là tôi chỉ có một mình nơi xa lạ nầy. Mẹ không kể
gì với tôi về kinh nghiệm sinh nở của bà.
Mặc
bao khó khăn, mỗi tháng qua, tôi càng cảm thấy gắn bó sâu
đậm hơn với đứa con trong bụng mình. Khi nó bắt đầu máy
mó, tôi cảm thấy hạnh phúc bừng lên như một ngọn lửa
trong cái lạnh của khổ đau.
Tôi
tự chuẩn bị bằng cách đọc sách. Có một thư viện nhỏ
gần nhà, và mổi tuần vài chuyến tôi lại đến đó mượn
hàng đống sách về sinh sản. Năm ngày sau khi sinh, người
ta mang con tôi đi cho.
Ngay
buổi tối tôi trở về gia đình, không ai nhắc đến chuyện
ấy nữa. Tôi trở về nhà sau khi sinh con và bị tước đi
quyền làm mẹ, nhưng câu đầu tiên cha mẹ tôi nói là: "Con
định chọn môn gì trong khóa tới?".
Tôi
trở lại học đường, nhưng cảm thấy mình già dặn so với
các bạn gái quanh tôi. Cơ thể tôi đã đổi thay; tôi đã
có những vết rạn nứt. Ở tuổi mới lớn đó, lần đầu
tôi biết về tính cách vô thường của thân.
Trong
tình trạng đó, tôi được biết về thiền. Tôi sẽ không
bao giờ quên ơn những người thầy đã dạy cho tôi biết
Pháp. Sự tu tập đối với tôi như một sự tỉnh thức. Chánh
niệm là tỉnh thức. Như một người đã ngủ quên, tôi được
lay dậy, được chỉ đường để tỉnh lại. Những điều
rất đơn giản như: giử thẳng sống lưng, đếm hơi thở,
ngồi nhẹ nhàng... Bằng những điều thực tập
nhỏ nhặt như thế, tôi đã bắt đầu tỉnh thức.
Lần
đầu tiên bước chân đến trung tâm Thiền, tôi rất lo âu.
Sau bửa ăn, tôi được giao nhiệm vụ cất dẹp muối mè.
Người ta bảo: "Nè, làm cái nầy đi. Em sẽ thích đó". Có
mấy cái tô đựng muối mè với những cái muổng nhỏ xìu
xiu, một bàn chải cũng đặc biệt nhỏ và một hủ to đựng
muối mè. Bổn phận của tôi là dùng những cái muổng nhỏ
đó để xúc muối mè trong tô bỏ trở vào hủ lớn, dùng
bàn chải quét trong lòng tô cho sạch, rồi xếp tô chồng lên
nhau, từng cái một. Thật hạnh phúc được làm công việc
nhỏ mọn đó. Không có gì đòi hỏi phải suy nghĩ, chỉ cần
xúc từng muổng, quét, quét, rồi để xuống. Tôi có cảm
tưởng như mình đang làm những công việc nầy với tất cả
sự cẩn trọng, như thể đang chăm sóc từng hành động của
tôi, và như thế cũng có nghĩa là tôi đang chăm sóc chính
tôi.
Ðối
với tôi được làm công việc nhỏ mọn đó với tất cả
lòng chân thành là một liệu pháp giúp tôi trở về với cuộc
sống. Ðã bao nhiêu năm nay, tôi chỉ hành động để được
khen thưởng, được chấp nhận, để thu nhỏ mình lại tránh
bị để ý: đó từng là thế giới của tôi. Ðó là ngày
2 tháng 1, năm 1971. Tôi sẽ không bao giờ quên ngày đó. Tôi
được yêu cầu làm một việc vẹn toàn, không có điều kiện,
tôi coi đó là một hành động từ bi. Người bảo tôi làm
việc đó hẳn đã nhìn thấy nổi đau của tôi và nói: "Ðây
-em sẽ yêu thích việc nầy".
Thực
tập chánh niệm giúp ta bỏ được tâm phán đóan, phê bình.
Chánh niệm giúp ta chú tâm vào đối tượng, luôn ở với
nó, trong khi thế giới chung quanh ta, vạn vật vẫn xoay vần.
Ta có thể trụ ở hiện tại, mà vẫn ý thức được sự
chuyển đổi, vô thường của vạn vật. Ở thời điểm đó
trong cuộc đời, tôi đã rất may mắn được học thiền,
tọa thiền, thực tập chánh niệm, chú tâm đến hơi thở,
đứng ngồi trong sự tỉnh thức. Với thời gian, những năm
tháng đông lạnh dường như đã bốc hơi, sự tê dại trong
tâm hồn tôi đã biến mất. Sức sống như những sợi dây
leo xuyên mình qua bức tường trở ngại cho đến khi nở rộ
ra từng chùm lá xanh.
Nhưng
quá trình trở về với thân không phải là bằng phẳng. Những
năm sống ở Thiền viện Tassajara trên núi, tôi đã không thể
ngồi yên khi tọa thiền. Trong thiền đường, tôi nhích bên
nầy, bên kia bồ đoàn không ngừng, đến nỗi tôi phải bám
chặt lấy bồ đoàn, như thể đang ngồi trên chiếc chiếu
thần lơ lững, trong khi mọi người chung quanh đều ngồi yên
tĩnh. May mà tiếng chuông đánh lên, tôi đứng dậy sửa lại
tọa cụ, đi ra ngoài, làm công việc của mình thì mọi việc
dường như bình thường trở lại. Nhưng cứ hể bước vào
thiền đường, tôi như một mụ đàn bà lên cơn điên. Không
kiềm chế được tôi đụng người nầy, người kia, lấn
qua lằn ranh. Rồi ding, cúi lạy đi ra, và trở lại bình thường.
Tại sao vậy? Câu hỏi đó là công án của tôi trong suốt
mười năm. Trong mười năm, tôi ngồi với những cử động
không cưỡng chế được. Lúc đầu chúng phóng túng tự tác,
nhưng dần dần các cử động thu hẹp lại, bớt lại dần
cho đến ngày tôi có thể ngồi yên.
Bây
giờ tôi hiểu mười năm đó là thời gian cơ thể đông cứng
của tôi cần có để vỡ ra. Những cử động không kiềm
chế là biểu hiện của những khổ thọ tôi bưng bít, chôn
kín trong lòng. Những nỗi đau nơi thân tâm đòi hỏi tôi phải
chú tâm đến chúng, và quậy phá tôi cho đến lúc tôi phải
nhận diện chúng. Dần dần tôi đã để tâm đến chúng, chấp
nhận sự có mặt của chúng trong tôi; các khổ thọ đã đi
xuyên qua tôi, phá vỡ bức tường đông cứng.
Hậu
truyện: Vài năm trước đây tôi nhận được một cú điện
thoại từ một cán sự xã hội ở Philadelphia. Tôi bàng hoàng
-điều nầy chỉ có thể là.... Ðã nhiều năm qua, tôi cố
công tìm đứa con trai đã thất lạc của tôi, và đã để
lại địa chỉ, điện thoại để khi cần người ta sẽ liên
lạc với tôi. Người cán sự xã hội, sau khi chắc chắn tôi
là người bà muốn tìm, nói: "Con trai của bà hiện có mặt
trong văn phòng tôi, nó đã trưởng thành!" Rồi bà chuyển
điện thoại lại cho con tôi.
"Có
thật là con đó không? Con tên là gì?", tôi hỏi. Hai chúng
tôi nói chuyện gần tiếng đồng hồ, và rồi hẹn ngày gặp
mặt.
Thật
vui mừng và sung sướng khi biết rằng con tôi đã sống sót
và được nuôi dưỡng nên người. Con tôi còn sống! Vết
thương tôi vẫn mang trong lòng đã lành miệng. Một lần nữa,
tôi thực sự được sống!
Diệu
Liên Lý Thu Linh
(Lược
dịch theo Breaking Through The Concrete)
11-09-2008
03:12:34
|