NHỮNG
CÂU HỎI ĐÁP VỀ ĐẬU NÀNH
Sau
khi hai cuốn sách "Thực Phẩm Rau Đậu Qua Lăng Kính Khoa Học"
do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành và quyển "Quan Điểm
Về Ăn Chay Của Đao Phật" do Hoa Sen xuất bản, chúng tôi có
nhận được rất nhiều câu hỏi về ăn chay mà hầu hết
chúng tôi đã trả lời trên quyển "Quan Điểm Về Ăn Chay
Của Đạo Phật" ấn bản thứ nhì, ngoại trừ một số ít
câu hỏi liên quan đến đậu nành và đậu hũ mà chúng tôi
dành để trả lời nơi quyển sách này.
HỎI
Có người nghe một vị Bác Sĩ Đông y nói rằng ăn đậu hũ
có chất thạch cao, nên nếu ăn nhiều sẽ bị cứng gan, điều
nhận định nầy có đúng không?
ĐÁP
Chúng tôi có tham khảo với Bác Sĩ Lê Thành, Ph.D.,O.M.D.,CA
và được giải đáp như sau:
"Thạch
cao, tiếng anh là gypsom mà trong tự điển Bách Khoa Encarta Encyclopedia
định nghĩa là một loại chất khoáng rất phổ thông mang
tên hóa học là calcium sulfat (CaSO4 2H2O). Nó được tìm thấy
trong đá vôi (limestone), và hầu như có mặt ở mọi vùng trên
trái đất.
Trong
Đông Y, người ta dùng thạch cao để hạ nhiệt khi bị sốt,
khát nước, bứt rứt. Trong những chứng sốt nóng mê sảng,
người ta dùng Bạch Hổ thang, gồm có bốn vị thuốc là:
thạch cao, tri mẫu, ngạch mễ, và cam thảo. Trong thang thuốc
nầy, vị thạch cao là chính.
Trong
kỹ nghệ làm đậu hũ, thạch cao được dùng để làm đông
tụ chất sữa lấy ra từ hạt đậu nành và cũng để gia
tăng hàm lượng calcium trong đậu hũ, vốn dĩ có rất ít trong
sữa đậu nành, không đủ cung ứng cho cơ thể con người
(mỗi ngày cơ thể cần khoảng trung bình 800 mg calcium).
Calcium
là khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể, giúp tạo dựng
khung xương cứng cáp, giúp tránh bệnh loãng xương lúc tuổi
già. Khoảng 1% calcium (10 g) tác động dưới dạng ion đóng
một vai trò sinh học rất quan trọng, như thẩm thấu qua màng
tế bào, kích thích thần kinh cơ, tham gia vào việc chế tạo
nhiều loại enzym, tiết xuất nhiều loại hormone, ngăn ngừa
mệt mỏi và chứng co giật. Các chức năng ấy hoạt động
tốt khi lượng calcium trong máu được giữ ở mức 95-100 mg/lít.
Cơ
thể không tạo lập được calcium, nên cần phải ăn những
thực phẩm giầu calcium. Chất calcium thặng dư trong cơ thể
sẽ được thải hồi ra ngoài bằng đường tiểu qua bộ phận
thận. Ở một số người, vì một lý do nào đó, thận không
bài tiết tốt, chất calcium sẽ kết tủa và đóng sỏi gây
ra bệnh sạn thận. (chứ không phải gan cứng)
Gan,
một cơ quan tối quan trọng của bộ máy tiêu hóa, là cơ quan
lọc các chất độc và các chất không cần thiết cho cơ thể.
Gan cũng có nhiệm vụ là tiết ra chất mật nhằm tiêu hóa
chất béo, nó không lưu trữ chất calcium.
Cứng
gan thường là hậu quả bởi: (1) uống rượu, (2) có tiền
căn viêm gan siêu vi khuẩn A, B, C, (3) ăn uống bởi những thực
phẩm trong đó có nhiều chất hóa học độc mà gan không lọc
được. Thí dụ như các thức ăn bị mốc độc, như mắm,
nấm mọc hoang có độc. Các mốc nầy tiết ra những hóa chất
độc làm hại gan. Ngoài ra một số thuốc trị bệnh cũng
có ảnh hưởng đến gan, khi dùng những loại thuốc này, BS
phải theo dõi chức năng của gan bằng cách thử máu định
kỳ.
Theo
các nhà khoa học phân tích, thì trong đậu hũ không có chất
nào được liệt kê là chất độc. Chất trypsin inhibitors có
trong đậu nành, không phải là chất độc, mà chỉ là một
chất làm chậm tiêu hóa chất đạm, nhưng qua tiến trình làm
thành đậu hũ, do việc xử lý nhiệt, nên nó đã bị hủy
diệt. Còn chất thạch cao, như trên đã nói là chất khoáng
calcium rất cần thiết cho cơ thể.
Nói
rằng ăn đậu hũ nhiều? Chúng ta nên xác định như thế nào
là nhiều? Tôi chưa thấy ai ăn đậu hũ trừ cơm, và hầu
hết chúng ta dù ăn chay hay ăn mặn thì đậu hũ vẫn chỉ
được dùng như một trong những thực đơn trong bữa ăn mà
cơm là chính mà thôi. Và như vậy thì cơ thể vẫn đủ thì
giờ dung nạp để tiêu hóa.
Trên
thực tế ngày nay, từ Nhật Bản, Đại Hàn, Trung hoa v..v..
và cả Hoa kỳ nữa, càng ngày người ta càng có khuynh hướng
dùng đậu hũ thay cho thịt cá. Trong các bản báo cáo từ các
tạp chí y học, người ta chưa thấy nói đến bất cứ một
tai biến nào do đậu hũ gây ra.
Qua
các nhận định căn bản trên đây. Chúng ta cứ yên tâm dùng
đậu hũ như một thành phần dinh dưỡng trong trong thực phẩm
hàng ngày mà không lo ngại gì. Chẳng những ngăn ngừa bệnh
tật mà còn bồi bổ cho cơ thể qua những tác dụng tốt của
đậu nành, như chúng ta đã thấy kết quả nghiên cứu của
các cơ quan y học có thẩm quyền và đáng tin cậy.Ï
HỎI
Tôi nghe nói rằng đậu nành có chất kích thích tố nữ và
trong gia đình tôi có người bị ung thư vú. Vậy tôi có thể
dùng thực phẩm đậu nành như đậu hũ và sữa đậu nành
được không?
ĐÁP
Trước
đây người ta cho rằng estrogen là một loại kích thích tố
nữ chỉ có nơi loài động vật có vú. Nhưng ngày nay, các
nhà khoa học đã khám phá ra chất isoflavones trong đậu nành
có những cấu trúc và sự vận hành giống như chất kích
thích tố nữ (female hormone estrogen). Vì vậy họ gọi là estrogen
thảo mộc (plant estrogen) hay phytoestrogen. Sau khi nghiên cứu,
các khoa học gia đều cho rằng isoflavones có khả năng mãnh
liệt chống lại các tác dụng gây nên chứng ung thư liên
hệ đến hormone như ung thư vú, tử cung và buồng trứng. Do
đó bà nên ăn các thực phẩm đậu nành như đậu hũ và uống
sữa đậu nành thì tốt hơn là ăn thịt và uống sữa bò,
bởi vì chế độ dinh dưỡng nhiều thịt và chất béo, sẽ
làm tăng lượng estrogen, (buồng trứng tự động sản xuất
thêm estrogen khi quá chất béo cần thiết). Xin bà đọc thêm
chương nói về isoflavones đậu nành.
HỎI
Tôi không ăn thịt, cá, trứng, bơ, và sữa vì nghe nhiều người
nói ăn như thế gây bệnh nên chỉ ăn thực phẩm rau đậu,
nhưng không biết ăn như thế có đủ lượng calcium cần thiết
cho cơ thể không? Tôi là phụ nữ trên 50 tuổi và rất lo
sợ về bệnh loãng xương.
ĐÁP
Nếu bà không biết chắc bà tiêu thụ đủ calcium hằng ngày,
có lẽ bà nên uống thêm supplement mỗi ngày. Thêm vào đó
là nên tập thể dục thường xuyên như đi bộ hay aerobic và
ra ngoài trời để có vitamin D nhờ ánh nắng. Tuy nhiên, một
chế độ ăn thực phẩm rau đậu và đậu nành, đậu hũ với
nhiều rau xanh và trái cây tươi cũng đủ cung ứng nhu cầu
calcium hằng ngày.
Thêm
nữa là, nếu bà không ăn thịt, điều này lại rất tốt
cho xương. Rất nhiều nghiên cứu khoa học đã cho biết những
khu vực dân số ăn ít thịt và không uống sữa bò lại có
tỷ xuất về bệnh loãng xương thấp hơn là những khu vực
ăn thịt và uống sữa bò. Một nghiên cứu mới đây nhất
tại Nhật Bản được đăng tải trên tạp san American Journal
of Clinical Nutrition là họ tìm thấy nơi nhóm 700 người ăn
thịt bị thất thoát calcium nhiều hơn là nhóm không ăn thịt.
Xin bà xem thêm bài nói về bệnh xốp xương trong quyển sách
này.
HỎI
Chúng
tôi được đọc tập san Dinh Dưỡng Trị Liệu số 3, trong
đó có một bài viết về đậu nành do một vị nữ y sĩ chỉnh
xương biên soạn. Mặc dầu tác giả, trong phần kết luận,
nói là “đưa ra hai quan điểm đối chọi để người đọc
lựa chọn duyệt xét” về sự nguy hại hay không nguy hại
của thực phẩm đậu nành, nhưng trong nội dung, tác giả đã
không giữ được sự vô tư mà khẳng định là thực phẩm
đậu nành “không có lợi cho sức khỏe”.
(trang
48, cột thứ hai, dòng 31). Vậy xin ông cho biết quan điểm
về lời nói này?
ÐÁP
Trước tiên, chúng tôi xin lỗi là đã không trả lời bà trong
hai quyển sách mà chúng tôi đã xuất bản, vì chúng tôi đang
biên soạn quyển sách riêng về đậu nành, và muốn dành cho
câu hỏi của bà cũng như câu trả lời của chúng tôi có
một vị trí đặc biệt trong một quyển sách có tính cách
nghiên cứu khoa học.
Thật
ra, khi viết quyển sách này, một phần cũng là trả lời câu
hỏi của bà. Tuy nhiên còn một vài điều đặc biệt, nên
cũng dịp này trình bầy thêm để bà và quý độc giả hiểu
rõ.
Trước
hết phải nói ngay rằng bài viết của nữ y sĩ chỉnh xương
như bà nói, là người phụ trách trông nom và cũng là biên
tập viên tập san Dinh Dưỡng Trị Liệu, có trụ sở chánh
tại San Jose, không phải là một bài biên soạn có tính
cách nghiên cứu khoa học mà là một bài dịch, nhưng
lại không được dịch đúng và có thêm ý kiến của
người dịch vào, cũng lại không nói rõ xuất xứ nguồn tài
liệu và tên tác giả để người đọc có thể tìm hiểu
thêm.
Nguồn
gốc của bài viết có tựa là “Are Soy Products Dangerous?”
thực ra là của Charlotte Gerson đăng tải trên mạng lưới
Internethttp://www.gerson.org/soy.html, viết theo một tài liệu cũ
cách nay 32 năm, in trên tờ nguyệt san Newlife ở New York,
số tháng Năm năm 1966 bởi hai nữ tác giả Sally W. Fallon, và
Mary G. Enig. (có lưu trữ tại thư viện California State University,
Fullerton)
Nội
dung bài viết của Fallon và Enig đều chứa đựng những tin
tức cũ và sai lạc so với những khám phá khoa học bây giờ.
Điều
Thứ Nhất, tác giả cho rằng “Người Trung Hoa đã không
ăn đậu nành như họ đã ăn các thứ đậu khác, như đậu
lentil chẳng hạn vì đậu nành chứa một số lượng lớn
những chất độc hại,” mà một trong những chất ấy
tác giả gọi là “một loại điều tố cực mạnh có khả
năng ngăn điều tố trypsin và các điều tố khác cần thiết
cho sự tiêu hóa chất đạm đậu nành. Nấu chín cũng không
triệt tiêu được loại điều tố này và làm cho sự tiêu
hóa bị trở ngại.
Ðiều
này hoàn toàn sai lầm, vì (thứ nhất) cổ thư Trung Hoa còn
ghi lại là đậu nành xuất hiện từ trước thời đại nhà
Chu (Chou Dynasty, khoảng thế kỷ thứ 11 trước Tây lịch)
là một loại nông phẩm cổ nhất được dùng làm thực phẩm
chánh, qua cả hai dạng lên men như chao, nước tương, miso,
và dạng không lên men như đậu tươi luộc, đậu rang, bột
đậu nành, giá sống, tầu hũ ky, sữa và đậu hũ; và (thứ
hai), người Trung Hoa biết trong đậu nành có một chất làm
khó tiêu hóa, (mà về sau khoa học mới gọi là SBTI “soybean
trypsin inhibitors” có tác dụng ngăn cản nhiệm vụ của
một chất xúc tác giúp cho sự tiêu hóa protein) nên họ đã
hóa giải bằng cách ngâm đậu nành qua đêm xong xay nhuyễn
bằng cối xay đá, vắt bỏ bã rồi nấu sôi thành chất sữa
và từ đây biến ra các thực phẩm khác như đậu hũ, tầu
hũ ki,..do đó qua tiến trình biến chế này chất SBTI đã bị
khử trừ và các thực phẩm trở nên rất dễ tiêu hóa.
Điều
Thứ Hai, tác giả cho rằng các thực phẩm đậu nành đã
không được dùng cho đến khi kỹ thuật lên men được phát
triển. Nói như vậy là sai vì ngay từ khi khám phá ra đậu
nành người dân Trung Hoa đã ăn đậu nành qua dạng không lên
men như đậu tươi luộc, đậu rang, bột đậu nành làm bánh,
giá sống, tầu hũ ky, sữa và đậu hũ. Ðậu hũ bắt đầu
có từ thời đại nhà Hán vào khoảng thế kỷ thứ hai trước
Tây lịch. (Han Dynasty 206 B.C.-220 A.D.)
Điều
Thứ Ba, tác giả cho hay là thực phẩm đậu nành chứa
nhiều chất hóa học không tốt, ví dụ như hóa chất Phytate,
hóa chất Protease Inhibitors,..v..v..Ðiều này cũng hoàn toàn
sai vì, như chúng tôi đã trình bầy rất rõ ràng trong sách.
Xin bà xem lại chương nói về các hóa chất chống lại bệnh
ung thư.
Điều
Thứ Tư, tác giả cũng cho rằng trẻ sơ sinh uống sữa
đậu nành bị thiếu chất kẽm (zinc), nhiều chất phytate,
và bị dị ứng..v..v.. Ðiều này lại sai hơn nữa vì sữa
đậu nành cho trẻ sơ sinh mới là loại sữa tốt, cân bằng
đủ thứ vitamin và chất khoáng, nhất là lại càng không bị
dị ứng. Xin bà coi lại chương nói về sữa đậu nành và
sữa đậu nành công thức trẻ sơ sinh trong sách.
Cũng
xin kể thêm là cháu ngoại của người viết, vì uống sữa
bò bị dị ứng đầy mặt, đầy người, nên bác sĩ Hạnh
đã cho thay thế bằng sữa đậu nành hiệu Isomilk mà kết
quả là chứng dị ứng biến mất và rất là khỏe mạnh mập
mạp.
Điều
Thứ Năm, tác giả viết “trong lúc làm sữa đậu nành,
các nhà sản xuất cố gắng loại bỏ tối đa chất trypsin
inhibitors bằng cách cho đậu nành ngâm trong một dung dịch
kiềm (alkaline), sau đó đun nóng bằng sức ép ở nhiệt độ
115 độ, nhưng hại thay là chất đạm bị làm tan dạng thức
và số chất đạm còn lại khó có thể tiêu hóa được và
chất phytate trong sữa đậu nành ngăn không cho các khoáng chất
hấp thụ vào máu. Tệ hại hơn nữa chất kiềm dùng để
ngâm tạo ra mầm ung thư lysinealine và giảm chất cystine, một
chất rất quan trọng cho sự biến năng chất đạm. Thiếu
chất cystine này các chất đạm trở thành vô dụng ngoại
trừ ăn thêm các các thực phẩm có chất thịt, cá và các
sản phẩm bằng sữa động vật như cheese bơ. Rất tiếc người
ăn chay không có các chất này.”
Xin
trả lời là việc ngâm đậu nành trong một dung dịch kiềm
là phương pháp cổ điển, mà ngày nay, hầu hết các nhà sản
xuất thực phẩm đậu nành không còn áp dụng,
mà họ theo kỹ thuật boiling water-grind do viện
đại học Cornell University phát triển, vừa có
tác dụng không cho chất xúc tác hành hoạt (inactivate the soy
enzyme) mà lại còn làm chất sữa có mùi thơm tự nhiên hơn.
Lẽ dĩ nhiên, theo kỹ thuật này, đậu nành vẫn phải ngâm
khoảng 10 tiếng đồng hồ, nhưng chỉ với nước thường,
không pha thêm bất kỳ một hóa chất nào.
Ðó
là nói về tác giả Fallon, Enig và Charlotte Gerson, bây giờ
chúng tôi xin nói thêm về những điều mà tập san Dinh Dưỡng
Trị Liệu Số 3 đã cho thêm vào hoặc dịch không đúng
khi chuyển ngữ:
Thứ
Nhất, người biên tập viết rằng:
“Những lợi ích của sữa
đậu nành đã bị trầy vết khi các nhà khảo cứu
cho rằng đậu nành không những có lợi ích làm giảm cholesterol
mà còn có lợi chống ung thư và các triệu chứng của thời
kỳ sau tắt kinh.”
mà nguyên văn tiếng Anh như sau: “The health benefits of
soy foods keep piling up as research unveils new information about the
benefits of the components of soy, not only that is low cholesterol, but
that it is also linked to cancer benefits and may help menopause symptoms.”.
Chữ
soy
foods không thể dịch là sữa đậu nành,
chữ piling up cũng không thễ dịch là trầy
vết mà nó có nghĩa là chất đống, chất chồng.
Ý nghĩa toàn câu này là “Những
lợi ích sức khỏe của thực phẩm đậu nành được tích
lũy thêm bởi các nghiên cứu khám phá những tin tức mới
về lợi ích của các thành phần cấu tạo đậu nành, không
những chỉ làm giảm cholesterol, mà còn có lợi chống lại
bệnh ung thư và các triệu chứng sau khi mãn kinh của phụ
nữ”.
Thứ
Hai, trong khi nói rằng: “Ðậu
nành có tác dụng hạ cholesterol ra sao thì chưa được rõ.."
(trang 46 cột thứ nhất) thì ở một đoạn khác cô nói là:
“Ðậu nành có khả năng làm giảm cholesterol trong máu,
đồng thời còn ngăn ngừa chất LDL cholesterol xấu bị oxýt
hóa. (trang 46 cột nhì). Quả là mâu thuẫn, đủ chứng
tỏ người viết, đã không nắm vững vấn đề, cho nên mới
không được nhất quán như vậy.
Thứ
Ba, trong bản văn tiếng Anh, tác
giả Charlotte Gerson viết: “New soy products are being marketed
to the growing “health product” consumers: soy milk, soy baby formula,
soy yogurt, soy ice cream, soy cheese, soy flour for baking, and soy protein
as a meat substitute for the vegetarians.” Thế mà cô lại
dịch, có thêm vào (những chữ gạch dưới hàng) như sau: “Chúng
ta nên nhớ, những người ăn chay, ăn đậu hũ thường bị
thiếu khoáng chất rất trầm trọng.
Nhiều những sản phẩm mới làm bằng đậu nành như sữa
đậu nành, công thức sữa đậu nành cho trẻ em, yogurt đậu
nành, kem đậu nành, bột đậu nành được tuyên bố là “
lợi ích cho sức khỏe”
nhưng thật ra không có lợi cho
sức khỏe”. (trang 48)
Chúng
tôi rất tiếc cho người viết, một Doctor of Chiropractic, có
trách vụ nghề nghiệp là chăm sóc sức khỏe cho đồng bào,
lại viết một bài về dinh dưỡng không phù hợp với các
khám phá khoa học mới, vì cô chỉ y cứ vào một bài viết,
mà bài viết đó lại căn cứ vào một bài viết khác quá
cũ, đã xuất bản cách nay 32 năm, nhằm gây hoang mang cho những
người ăn chay, một chế độ dinh dưỡng mới, đang đi vào
dòng sinh hoạt chính của người dân Hoa Kỳ và các quốc gia
Tây Phương.
HỎI
Có thể ăn đậu hũ sống được không?
ĐÁP
Chúng tôi có thư hỏi công ty sản xuất thực phẩm đậu nành
House Foods America Corporation 7351 Orangewood Ave., Garden Grove, CA
92841 thì được họ trả lời là tất cả đậu hũ do họ
sản xuất mang nhãn hiệu Hinoichi đều đã được khử trùng
bằng phương pháp Pasteur vào giai đoạn cuối của tiến trình
sản xuất, vì thế rất là an toàn cho sức khỏe khi ăn ngay
từ trong hộp, không cần thiết phải nấu lại. Riêng về
các loại đậu hũ khác, cũng như đậu hũ do người Việt
Nam làm, chúng tôi không được rõ họ có khử trùng bằng
phương pháp Pasteur không, nên không dám trả lời. Thiết nghĩ,
muốn cho yên tâm, chúng ta cứ luộc lại thật sôi trước
khi ăn, càng thêm an toàn.
HỎI
Đọc xong hai quyển sách của ông "Thực Phẩm Rau Đậu Qua
Lăng Kính Khoa Học" và "Quan Điểm Về Ăn Chay Của Đạo Phật"Ï,
tôi thắc mắc không hiểu tại sao mà ông lại có vẻ tích
cực khuyến khích mọi người theo chủ nghĩa ăn thực phẩm
rau đậu. Theo ý tôi thì ăn uống cũng là một trong những
quyền tự do của con người, như tự do tôn giáo vậy. Nếu
như vận động người khác bỏ đạo của họ để theo đạo
mình là một điều thiếu tế nhị, một sự cuồng tín, thì
ông nghĩ sao nếu cứ rủ người ta bỏ ăn thịt mà ăn rau
đậu. Bà bạn tôi nói rằng có lẽ hãng đậu nành bỏ tiền
ra để cổ động cho sản phẩm của họ bán chạy nên ông
mới có khả năng để đi làm chuyện thiên hạ như vậy. Nếu
như lời nói của tôi có lỗ mãng, xin ông tha lỗi, vì lời
thật hay mất lòng.
ĐÁP
Trước hết, xin cảm ơn bà đã nói thật, nói thẳng những
điều bà nghĩ. Chính sự thành ý này của bà đã giúp tôi
cái chìa khóa để mở cánh cửa mời bà bước vào một thế
giới đẹp, một thế giới hoàn toàn khác hẳn với cái thế
giới ích kỷ hẹp hòi, được xây dựng nên bởi những con
người được mệnh danh là, lương tâm chỉ đủ để khỏi
bị treo cổ, có nghĩa là dù việc gì tàn ác đến đâu, mà
không bị pháp luật trừng trị, thì họ cũng cứ làm.
Thí
dụ như trói con thỏ lại vạch mắt nó ra, nhét bột xà bông
vào rồi tính giờ xem bao lâu thì mắt nó xưng lên và mù đi
để lấy kết quả xem bàn tay ngà ngọc của con người cầm
vào xà bông thì bao lâu sau da bị ngứa, mặc kệ tiếng rú
đau đớn của con vật khốn khổ.
Hoặc
như một vụ gần đây có nêu ra trường hợp một thanh niên
tên là Jeremy Strohmeyer cưỡng hiếp và bóp cổ đến chết
một bé gái bảy tuổi tại phòng vệ sinh casino ở Las Vegas,
trong khi bạn hắn tên là David Cash chứng kiến mà không hề
can ngăn. Sau đó, cả hai thản nhiên lên xe tiếp tục cuộc
du hành. Đến khi việc đổ bể ra, tên chính phạm bị bắt,
nhà báo hỏi tên bạn đã chứng kiến rằng:
- Anh
có thấy xúc động, thương xót cho cô bé gái nạn nhân không?
Thì
hắn thản nhiên trả lời:
-Không!
Nó chẳng liên hệ gì với tôi cả. Tôi không quen biết nó.
Cái
thế giới những con người nhẫn tâm, ích kỷ như vậy đối
với ngay chính đồng loại, mà kêu gọi họ ngưng chém giết
súc vật thì có khác gì tiếng gào trong sa mạc! Những từ
ngữ thiện tâm, từ bi, nhân đạo chắc hẳn là không bao giờ
xuất hiện trong ngôn ngữ và tư tưởng của họ.
Cho
nên tôi muốn giới thiệu với bà một thế giới khác. Ở
đó, có những con người hành xử khác hẳn với lối suy nghĩ
của những con người ở thế giới kia. Thí dụ như Bác Sĩ
Albert Schweitzer, người đã từ bỏ cuộc sống đầy đủ tiện
nghi, văn minh cơ khí, len lỏi vào tận nơi rừng sâu nước
độc Phi Châu để cứu giúp người da đen và loài vật. Ông
kể lại: ỘNgay từ thưở chưa bước chân đến trường,
tôi đã thắc mắc, không thể hiểu nổi tại sao những lời
cầu nguyện mỗi tối của tôi lại chỉ dành riêng cho loài
người mà thôi. Vì vậy, sau khi cùng mẹ tôi cầu nguyện và
được bà hôn, chúc ngủ ngon, tôi thường âm thầm cầu thêm
cho tất cả mọi loài, mọi sinh vật, như sau: Xin Chúa che chở
và ban phước lành cho tất cả mọi sinh vật. Xin giúp cho họ
tránh khỏi tai họa và được ngủ trong an bìnhỢ.
Ông
cầu cho tất cả sinh vật chứ không chỉ riêng cho loài người.
Ông cứu giúp cả người lẫn vật một cách bình đẳng. Ông
nói: "ÄBất cứ một tôn giáo hay triết thuyết nào mà không
đặt nền tảng trên sự tôn trọng sinh mạng thì đều không
phải là tôn giáo hoặc triết thuyết chân chính"Ï. Sinh mạng
là cả mạng người và mạng vật, chứ không chỉ riêng mạng
người, hoặc chỉ có mạng con vật lớn mới đáng kể.
Lại
thí dụ như ông John Robbins, tác giả cuốn Diet For A New America.
Ông nầy là con trai nhà tỷ phú cà rem Baskin Robbins, chủ nhân
hệ thống Baskin 31 Robbins Ice Cream trên thế giới. Nhưng ông
đã không kế nghiệp cha, khai thác ngành cà rem, vì ông cho
rằng chính cái nghề này của gia đình ông đã đẩy biết
bao thế hệ bò cái, bò con vào cuộc đời khốn khổ để
cung cấp sữa làm cà rem.
Mặc
dầu thân phụ ông làm ăn lương thiện, không lường gạt
ai, nhưng ông đã thấy sau lưng cái tài sản đồ sộ ấy là
hình bóng những con bò cái với những bầu vú nứt nẻ, phải
đeo yếm lên để khỏi bị chấm đất, do lòng tham của con
người, muốn tăng lượng sữa lên gấp hai, đã bắt chúng
phải uống thuốc kích thích để sản xuất mau, hình bóng
những con bò đực con, mới lọt lòng mẹ đã bị giật ra
khỏi vú mẹ, để khỏi bú tranh sữa dành cho người (mà lẽ
ra là sữa của nó). Giật ra khỏi lòng mẹ để đi đâu? Để
đến những cái chuồng đặc biệt, rất chật, sống khoảng
14 tuần, không được chạy nhẩy, không được cọ quậy để
thịt được mềm. Những con bê bất hạnh nầy đau bụng quanh
năm vì chỉ được ăn một loại thực phẩm, do đầu óc quái
ác của loài người chế ra, là lỏng và không có chất sắt
để sau này thực khách được ăn loại thịt bê non đặc
biệt, gọi là thịt veal mầu tai tái, lờ lờ và mềm mềm.
Để có được miếng ăn khoái khẩu, có bao giờ người ta
nghĩ đến cả cuộc đời khốn khổ của con bê đáng thương
kia không?
Thế
còn bò cái con thì sao? Thì cũng sẽ bị giật ra khỏi bầu
vú của mẹ nó, vì sữa phải để dành cho người! Nhưng nó
sẽ được nuôi nấng tử tế hơn các anh em trai của nó, để
mau thành máy đẻ và rồi sẽ đi suốt đoạn đường đời
mà mẹ nó đã trải qua.
Nghĩ
đến những thảm kịch mà con người đã tạo ra cho loài vật,
ông cùng vợ bỏ nhà, vào rừng, tự trồng trọt để nuôi
thân. Ông viết sách, đi diễn thuyết khắp nơi kêu gọi mọi
người dùng thực vật làm nguồn dinh dưỡng để cải tạo
sức khỏe, tăng trưởng lòng nhân đạo, cải tạo môi trường
sống cả vật chất lẫn tinh thần, cứu nước và đất đai
trồng trọt khỏi bị ô nhiễm vì phân súc vật và các chất
phế thải, chất hóa học được dùng trong công cuộc thúc
đẩy cho con vật mau nặng cân, các thuốc sát trùng, thuốc
tẩy uế chuồng trại v..v.. Và trên hết tất cả, ông kêu
gọi mọi người bỏ thịt để tiết kiệm thực phẩm ngũ
cốc, chuyển qua cho dân đói ở các nước nghèo, vì để có
một ký thịt ăn cho ngon miệng, trẻ đói ở Phi Châu sẽ mất
cơ hội có 10 ký ngũ cốc vào bụng, vì đó là con số ngũ
cốc dành cho súc vật ăn để tạo thành một ký thịt!
Cái
thế giới mà tôi muốn giới thiệu với bà rất đẹp. Họ
cũng rất đông. Gồm có hàng nửa triệu hội viên hội People
For The Ethical Treatment of Animals, vài trăm ngàn hội viên hội
The Humane Society of United States, The American Society for The Prevention
of Cruelty to Animals, v..v.., nhiều lắm.
Hàng
triệu hội viên của các hội nhân đạo ấy đã làm gì? Họ
là những người tình nguyện, hầu hết đều Ộăn cơm nhà
vác ngà voiỢ, đã không có bất cứ loại thù lao nào, còn
phải bỏ tiền túi ra để hoạt động mỗi khi nghe thấy có
chuyện tàn nhẫn xẩy ra. Họ liều mạng vào làm ở các trại
chăn nuôi, lò sát sinh để mắt thấy tai nghe những hành động
độc ác rồi tố cáo trước công luận để cải thiện đời
sống súc sinh, vô vị lợi.
Có
thể là vì không có dịp tiếp xúc với những con người cao
cả này, cho nên bà bạn của bà mới tưởng rằng mỗi khi
có ai làm gì thì chắc chắn là phải thủ lợi. Tuy nhiên,
lối suy đoán đó trong việc nầy thì hoàn toàn thiếu cơ sở
nghiên cứu và lý luận. Bởi vì, nếu như hãng đậu nành
muốn bán chạy thì họ thích dùng đậu nành nuôi súc vật
lấy thịt hơn vì số lượng bán sẽ tăng gấp mười lần.
Chứ nếu mọi người ăn rau đậu, thì sẽ không tốn nhiều
đậu nành như dùng đậu nành để nuôi súc vật lấy thịt,
số bán phải sút giảm mới đúng bà ạ.
Thực
tế, vì cảm kích việc làm không vụ lợi của chúng tôi nên
nhiều cá nhân giầu từ tâm đã bảo trợ ấn in. Riêng kỳ
ấn in đầu tiên ba ngàn quyển sách này, cũng như kỳ tái
bản lần thứ nhất 3,000 cuốn Quan Điểm Về ăn Chay Của
Đạo Phật, chỉ do một nhà từ tâm bảo trợ mà quý độc
giả thấy nơi bìa sau, hoàn toàn không liên hệ với kỹ nghệ
sản xuất thực phẩm đậu nành.
Còn
việc bà so sánh sự tự do ăn uống với tự do tôn giáo thì
hai vế không cân đối. Về tôn giáo, ai theo đạo nào thì
chỉ cá nhân người đó liên hệ. Về ăn uống, nếu ăn thịt,
ngoài bản thân người ấy dễ bị bệnh hoạn, còn làm đau
đớn, chết chóc biết bao sinh vật, làm biết bao người thiếu
ăn và làm tổn thương biết bao môi trường sống thiên nhiên
của nhân loại.
HỎI
Tôi vẫn có một thắc mắc là không biết ăn thực phẩm rau
đậu mà thực phẩm đậu nành là chính có đâỳ đủ sức
khỏe không khi mà ông xã tôi là thợ xây cất công trường,
phải làm việc chân tay nhiều?
ĐÁP
Thưa
bà, có lẽ trước tiên chúng ta nên bỏ thành kiến sai lầm
rằng ăn thịt cá mới có đủ sức mạnh. Thật ra người
ăn thịt cá không có sức mạnh và sức chịu đựng dẻo dai
bằng người không ăn thịt cá. Dr. Russel Chittenden, Physiological
Chemist thuộc viện đại học Yale University, sau nhiều năm nghiên
cứu chế độ dinh dưỡng dành cho nhóm lực sĩ và quân nhân
không ăn thịt cá, đã hoàn toàn bác bỏ thành kiến sai lầm
trên. Ông cho rằng những người không ăn thịt cá đã chứng
tỏ có sức mạnh và có sức chịu đựng dẻo dai hơn những
người ăn thịt cá.
Cũng
tại Viện Đại Học Yale, Giáo sư Irving Fisher đã thực hiện
liên tiếp nhiều cuộc thử nghiệm để so sánh và tìm xem
người ăn protein thịt hay người ăn protein đậu nành, ai nhiều
sức khỏe hơn. Ông tuyển lựa ba nhóm người, nhóm lực sĩ
ăn protein thịt, nhóm lực sĩ ăn protein đậu nành, và nhóm
người ở nhà ăn uống bình thường, ít hoạt động. Kết
quả của ông đã được tín nhiệm và ghi nhận nơi Tập san
y khoa Yale Medical JournalẲ, ông viết như sau: "Sau khi phân tích
và so sánh thành quả của cả ba nhóm thì nhóm lực sĩ ăn
protein thịt đã kém khả năng chịu đựng so với nhóm lực
sĩ ăn protein đậu nành và rau đậu, trái cây. Sự khác biệt
này là do nguyên nhân khác biệt về chính sách dinh dưỡng.
Đây là những bằng chứng hùng hồn chứng tỏ ăn rau đậu
có đầy đủ sức mạnh và khả năng chịu đựng dẻo dai
". Ông cho biết số điểm trung bình của nhóm lực sĩ ăn protein
đậu nành nhiều gấp hai lần số điểm trung bình của nhóm
lực sĩ ăn protein thịt.
Một
nghiên cứu tương tợ của bác sĩ J. Loteyko và V. Kipani thuộc
viện đại học Brussel, Bỉ quốc cũng cho một kết luận như
trên.
Thực
tế đã cho biết, đa số những lực sĩ thắng giải đua xe
đạp ở Âu Châu đều là những người không ăn thịt cá.
Murray Rose, bắt đầu ăn thực phẩm rau đậu lúc lên hai tuổi,
năm lên 17 tuổi cậu thắng ba huy chương vàng Thế Vận Hội
Melbourne, Australia năm 1956. Bốn năm sau, cậu trở thành người
bơi tự do 400 mét và 1.500 mét nhanh nhất thế giới tại Thế
Vận Hội Olympiad 1960. Bill Pickering, lực sĩ bơi nhanh nhất
thế giới qua eo biển English Channel lúc ông ta 48 tuổi cũng
là người ăn thực phẩm rau đậu từ nhỏ.
Thật
ra, theo những nhà nghiên cứu tâm lý thì họ không lấy làm
lạ khi có đa số người mang thành kiến về sự ăn thịt
cá mới có sức mạnh, vì niềm tin đó, dù là niềm tin sai,
cũng đã in sâu vào tiềm thức. Thí dụ như nói về sữa thì
chúng ta đã được "programmed" liên tục từ lúc lên ba tuổi,
"sữa là một thực phẩm tuyệt hảo nhất của thiên nhiên"
và phải "uống ba ly sữa một ngày" bởi kỹ nghệ quảng cáo
do National Dairy Council trả tiền. Sự thực đã không như vậy
và đã được chứng minh bởi khoa học ngày nay.
Trong
lãnh vực y khoa, các y sĩ đã biết từ nhiều thế kỷ qua
về cái mà y khoa gọi là "tác dụng placebo", là những dược
phẩm không lợi và vô hại, chỉ có tác dụng làm yên lòng
người bệnh nhưng họ vẫn cho bệnh nhân uống vì bệnh nhân
tin tưởng uống dược phẩm đó sẽ được khỏe và sau đó,
quả nhiên bệnh nhân báo cáo là khoẻ thật. Thành kiến ăn
thịt cá mới có đủ sức khoẻ cũng tương tự như vậy,
chỉ là một tác dụng tâm lý.
HỎI
Có nhiều người nói rằng protein đậu nành không tốt bằng
protein thịt động vật. Điều này có đúng không?
ĐÁP
Đó là quan niệm sai lầm đã được tạo dựng bởi kỹ thuật
quảng cáo để người dân tin rằng chỉ có thịt động vật
mới tốt và cần thiết cho sức khỏe.
Trước
1959, các khoa học gia đã sắp loại protein thịt động vật
là First class và protein thực vật là Second class. Tuy nhiên sự
phân loại này đã được hủy bỏ trong kỳ hội nghị quốc
tế về dinh dưỡng lần thứ sáu năm 1964. Họ thừa nhận
giá trị dinh dưỡng của protein thực vật bằng với protein
thịt động vật.
Ngoài
ra, Tập San Y Khoa Lancet, một tập san y khoa nổi tiếng và được
kính trọng trên thế giới, đã phủ nhận huyền thoại về
protein thịt tốt hơn protein thực vật qua những chữ như sau:
"Qua nhiều công trình nghiên cứu và thử nghiệm, protein thực
vật đã chứng tỏ sự tăng trưởng nơi những trẻ em không
khác gì sự tăng trưởng với sữa bò và protein thịt. Công
trình của Widdowson và McCance tại những viện trẻ em mồ côi
Đức Quốc đã chứng tỏ những trẻ em này lớn mạnh và
có sức khoẻ tuyệt hảo với dinh dưỡng hỗn hợp protein
thực vật mà không cần sữa bò."
Thực
tế, một vài thực phẩm rau đậu có chứa chất protein nhiều
gấp hai lần số lượng protein tìm thấy trong thịt động
vật như đậu nành chẳng hạn. Một trăm grams bột sữa đậu
nành có chứa 41,8 grams protein so với 100 grams thịt bò chỉ
có 20,2 grams protein.
HỎI
Có người cho rằng trong thực phẩm rau đậu không có 4 trong
8 loại amino acids thiết yếu: Lysine, tryptophane, threonine, và
methionine mà chỉ có trong thịt cá.
ĐÁP
Đây cũng là một điều sai lầm khác vì thiếu cập nhật
tin tức khoa học. Trước khi trả lời ông câu hỏi này, thiết
tưởng chúng ta cũng nên biết, protein là chuỗi phân tử dài
lập thành bởi những phân tử nhỏ hơn gọi là amino acids.
Những amino acids này là những khối kiến trúc của các bộ
phận sống cần thiết để bảo dưỡng các mô tế bào, xương
cốt, răng tóc, và chiến đấu chống lại sự nhiễm trùng
cùng là đảm nhiệm một vài vai trò quan trọng trong tiến
trình chuyển hóa năng lượng.
Mặc
dầu có tất cả 22 loại amino acids, nhưng trong số đó chỉ
có 8 chất amino acids (9 cho trẻ em) là không thể tự tạo bởi
cơ thể con người mà cần phải hấp thụ từ nguồn thực
phẩm bên ngoài. Tám chất amino thiết yếu này là: Trytophan,
Threonine, Isoleucine, Valine, Lysine, Methionine, Phenylalanine, và Leucine.
Cơ
thể chúng ta cần tất cả 8 loại amino acids này để cho đồng
bộ và điều chỉnh tỷ lệ với nhau. Nếu một trong tám chất
amino acids này thiếu, những thứ khác không thể tác hợp và
vận hành được, có nghĩa là tất cả các loại amino acids
cần phải được ăn vào và thẩm thấu cùng lúc để có thể
làm việc điều hòa.
Thịt
động vật không phải là thứ thực phẩm duy nhất có đầy
đủ chất protein, thực tế có nhiều loại thịt thiếu một
hoặc nhiều loại amino acids cần thiết. Đậu hũ, trứng, lúa
mì (wheat), và pinto bean có đầy đủ chín loại amino acids thiết
yếu.
Khái
niệm cho rằng đậu nành cũng như tất cả thực phẩm rau
đậu đều thiếu bốn loại amino acids thiết yếu là không
chính xác và thiếu cập nhật các dữ kiện nghiên cứu mới.
Một số thực phẩm rau đậu có chứa đầy đủ tất cả
các loại amino acids, bao gồm đủ phẩm và lượng.
Đậu
nành là loại protein hoàn hảo và nếu tập hợp với các thực
phẩm rau đậu khác tạo thành một loại thức ăn có chất
lượng và phẩm lượng cao, vượt xa giá trị protein của bất
cứ loại thực phẩm đơn độc nào. Gạo trắng không đầy
đủ amino acids vì đã loại bỏ chất cám và mầm khi giã gạo,
nhưng khi ăn hỗn hợp với các thực phẩm rau đậu thì trở
nên hoàn hảo.
Dân
nông thôn ở các nơi trên thế giới đã tự động ăn uống
hỗn hợp như vậy qua nhiều thế kỷ, như dân tộc da đỏ
thường ăn bắp ngô và đậu hay gạo và đậu; ở Ấn Độ
hỗn hợp beans và peas; ở Trung Hoa hỗn hợp gạo trắng, đậu
nành, và đậu đỗ. Cũng như nhiều dân tộc khác trên thế
giới không hề biết đến protein hay amino acids là gì mà họ
chỉ biết ăn thực phẩm lúa gạo, rau đậu mà sống khỏe
và sống lâu hơn chúng ta. Thí dụ như dân tộc Hunza, một
quốc gia nhỏ nằm ở phía tây-bắc Pakistan, đã tồn tại
hơn hai ngàn năm, có đời sống mạnh khỏe nhất, hạnh phúc
nhất, và sống lâu nhất thế giới. (tuổi thọ trung bình
là 120 và có một số lên đến 140) Chế độ ăn uống của
họ là ăn thực phẩm rau đậu, mà thực phẩm chính là đậu
nành, lúa mì và trái apricots. Họ ăn những thực phẩm còn
nguyên sơ chưa đãi lọc, không dùng những thực phẩm tinh
chế (refined), không dùng bột trắng, đường trắng, gạo trắng,
và dấm.Ẳ
Cũng
thế, nhiều dân tộc ở Trung và Nam Mỹ đã ăn bắp với đậu
từ nhiều thế kỷ, tất cả đều hoàn toàn đầy đủ protein
và Nhật Bản, là một quốc gia mà đa số dân chúng ăn thực
phẩm rau đậu với hai thực phẩm chánh là cơm và các sản
phẩm biến chế từ đậu nành cho đến giữa thế kỷ thứ
19 đã cho thấy là họ có sức khỏe tốt, không có nhiều
bệnh tật, cũng như ngày nay họ ít có những triệu chứng
rối loạn tiền mãn kinh, như chứng bốc hỏa, thường có
nơi những phụ nữ.
HỎI
Có nhiều người cho rằng cấu trúc cơ thể con người là
để ăn thịt động vật, không biết điều nhận định này
có đúng không?
ĐÁP
Điều
này cũng hoàn toàn sai lầm. Con người, từ cách cấu trúc
đến sự vận hành các bộ phận cơ thể đều hoàn toàn khác
biệt với loài thú ăn thịt.
LOẠI
THÚ ĂN THỊT, bao gồm cả sư tử, cọp, chó, mèo, v.v...,có
rất nhiều đặc tính đồng nhất, đã xếp chúng khác biệt
với các loại thú vật khác. Chúng đều có hệ thống tiêu
hóa đơn giản, ruột ngắn, với chiều dài chỉ bằng ba lần
chiều dài của cơ thể. Ruột ngắn như thế là để cho các
chất thải, sau khi tiêu hóa thịt, được mau lẹ bài tiết
ra ngoài, nếu không chất cặn bã đó sẽ trở thành độc
tố tàn phá cơ thể của. Ngoài ra răng nanh của chúng to dùng
để bắt mồi, răng hàm rất nhọn và sắc dùng để cắt
và xẻ thịt, móng chân cũng rất nhọn và bén dùng để chụp
mồi.
LOẠI
THÚ ĂN RAU CỎ như voi, bò, trâu, trừu, là loại nhai lại,
răng bằng, móng chân và móng tay cũng bằng không bén nhọn
như cọp, mèo, sư tử. Hệ thống tiêu hoá bắt đầu bằng
nhai, hòa trộn với nước miếng xong mới đưa vào dạ dày.
Vì thức ăn là rau cỏ không mau hư thối như thịt nên thực
phẩm không cần phải đi nhanh qua hệ thống tiêu hoá như loài
thú ăn thịt, do đó hệ thống ruột của loại thú này dài
gấp mười lần chiều dài của cơ thể.
LOẠI
THÚ ĂN TRÁI CÂY như vượn khỉ cũng tương tự như loài
thú ăn rau cỏ, răng bằng, móng chân và tay cũng bằng, răng
dùng để nhai và nghiền, riêng hệ thống ruột có chiều dài
bằng 12 lần chiều dài của cơ thể.
CON
NGƯỜI có những đặc tính giống như loài thú ăn trái
cây và có những điểm tương tự như loài thú ăn rau cỏ,
và hoàn toàn không giống như loài thú ăn thịt. Hệ thống
tiêu hoá của con người, răng, hàm, và sự vận hành của
chúng hoàn toàn khác biệt với loài thú vật ăn thịt. Hệ
thống ruột của con người dài bằng 12 lần chiều dài cơ
thể con người, vì thực phẩm rau đậu không bị hư thối
nhanh nên chúng có thể đi qua cơ thể chậm hơn.
Cấu
trúc của răng và hàm con người cũng vậy, là cấu trúc của
loài động vật ăn rau quả. Các nhà khoa học, gồm cả khoa
học gia Charles Darwin, người đã đưa ra thuyết tiến hoá,
đã hoàn toàn đồng ý rằng những người thời thượng cổ
là loài ăn trái cây và xuyên suốt lịch sử, cơ thể con người
chúng ta vẫn không thay đổi.
Tóm
lại qua những nghiên cứu khoa học, cách cấu trúc cùng sự
vận hành của cơ thể con người, chúng ta phải công nhận
loài người là một loài động vật ăn rau, quả, hạt, và
đậu.
Chiến
Ðấu Chống Ung Thư Vú
Bằng Thực
Phẩm Rau Ðậu
Ruth
Heidrich, Ph.D.
Năm
1982, Hội Ðồng Nghiên Cứu Quốc Gia Hoa Kỳ (the U.S. National
Research Council) đã công bố dinh dưỡng là yếu tố lớn nhất
dẫn đến ung thư, thế mà Hội Ung Thư Hoa Kỳ (the American
Cancer Society) và các hội thiện nguyện khác đã tiêu rất
ít tiền trong công tác giáo dục phòng ngừa. Thay vào đó,
họ đã phung phí hàng triệu dollars vào các cuộc thí nghiệm
vô dụng nơi thú vật. Tiến Sĩ Ruth Heidrich, thể tháo gia ba
bộ môn, tác giả hai quyển sách, diễn thuyết viên truyền
thanh và là người thoát chết ung thư, sẽ kể cho chúng ta
làm thế nào để chiến đấu chống lại căn bệnh quái ác
này. Cũng nên nhớ, bà vừa ăn thực phẩm rau đậu, vừa là
nhà thể thao ba bộ môn: chạy bộ, bơi lội và đạp xe đạp.
Thế thì chúng ta có còn nên tiếp tục bám chặt vào cái thành
kiến "ăn thực phẩm rau đậu không đủ sức khỏe" nữa hay
không? (Lời Dịch Giả)
Khi
biết bị ung thư vú vào năm 1982, phản ứng dữ dội trong
tôi là "tại sao lại tôi!" Tình trạng sức khỏe của tôi
vẫn tốt cơ mà. Tôi đã thường áp dụng một chính sách
dinh dưỡng, gồm có cả thịt gà và sữa bò loại non-fat mà
tôi nghĩ ràng rất bổ ích cho sức khỏe. Nhưng cục bứu to
gần bằng quả côn cầu trong vú tôi đã nói với tôi rằng
có một cái gì sai trái.
Sau
khi giải phẫu, các bác sĩ nói với tôi là cần phải tiếp
tục trị liệu bằng phương pháp hóa học (chemotherapy), nhưng
tôi biết hóa pháp trị liệu này sẽ hủy diệt hệ thống
miễn nhiễm trong cơ thể con người. Tôi chuyển qua John McDougall,
M.D., vị y sĩ tiền phong nghiên cứu về sự liên hệ giữa
bệnh tật và dinh dưỡng, và hiểu rằng vũ khí lớn nhất
chống lại căn bệnh giết người này không phải là trong
bệnh viện ung thư, mà là trong các tiệm thực phẩm. Vì thế,
tôi đã chuyển đổi chế độ dinh dưỡng từ ăn mặn qua
ăn chay thuần túy thật ít chất béo (very low-fat vegan diet),
mà hầu hết là rau, đậu, trái cây và loại bỏ tất cả
thức ăn có nguồn gốc từ thịt động vật, kể cả trứng,
cheese, bơ, sữa và tôm cua cá.
Ðồng
thời tôi tập luyện cho thân thể được mạnh mẽ hơn. Tôi
đã là một thể tháo gia chạy đường trường; bây giờ tôi
bắt đầu huấn luyện thêm để trở thành thể tháo gia ba
bộ môn, bắt đầu với bơi ngoài biển, tiếp theo đó là
đạp xe đạp và sau cùng là chạy đường trường.
Các
bạn bè của tôi đều cho rằng tôi quá già để huấn luyện
thành nhà thể thao ba bộ môn. Phu quân tôi rất bất bình khi
tôi vẫn liên tiếp từ chối trị liệu bằng phương pháp
quy ước, hóa pháp trị liệu. Các chuyên gia ung thư đều lắc
đầu.
Tôi
làm ngạc nhiên mọi người trừ Bác Sĩ McDougall, và tôi đã
thành công, sức khỏe trở nên mạnh mẽ và tốt hơn.
Tôi
muốn được chia sẻ những cái mà tôi đã kinh qua, cho nên
đã gia nhập chương trình "Reach to Recovery" của Hội Ung Thư
Hoa Kỳ (American Cancer Society), nơi quy tụ những người thoát
chết ung thư, đi thăm viếng những bệnh nhân khác đang bị
ung thư vú để khuyến khích họ đừng lo sợ và bỏ cuộc.
Bất hạnh thay, Hội Ung Thư Hoa Kỳ đã không muốn tôi nói
về kinh nghiệm dinh dưỡng ăn chay và tập thể dục, mà nó
đã cứu tôi khỏi chết về căn bệnh quái ác này. Các viên
chức của hội đã khẩn khoản yêu cầu tôi đừng làm mất
lòng các bác sĩ, e sợ sẽ mất đi sự bảo trợ của họ.
Tôi
đã cảm thấy bị tổn thương. Tại sao những người đàn
bà đang bị ung thư này lại không được biết đến những
kinh nghiệm quý báu mà nó có thể cứu sống đời họ?
Buồn
thay, thái độ của Hội Ung Thư Hoa Kỳ đối với tôi chỉ
là một trong nhiều vấn đề khó khăn của họ. Tôi cũng đã
khám phá ra rằng, giống như nhiều hội ung thư thiện nguyện
khác, các quỹ tài chánh thử nghiệm thú vật của họ đã
bị tiêu sài một cách hoang phí đến hàng triệu dollars, mà
đã không đem lại kết quả nào. Tỷ suất chết về ung thư
vú vẫn tiếp tục lên cao.
Tôi
tiếp tục nói về những điều thật cần phải nói bằng
những phương tiện truyền thông khác. Tôi đã viết hai quyển
sách, Race for Life và The race for Life Cookbook, và đã bắt đầu
đi giảng thuyết khắp nơi ở Hoa Kỳ. Tôi cũng phụ trách
chương trình phát thanh "Nutrition and You" để chia sẻ những
điều tôi đã học và kinh nghiệm qua. Và giờ đây ở tuổi
63, tôi thật khỏe mạnh. Bệnh ung thư chẳng bao giờ trở
lại.
Tài
Liệu Tham Chiếu
Chương
Thứ Nhất
1.
National Research Council. Recommended dietary allowances. 10th
ed. National Academy Press. Washington, DC, 1989.
2.
Raper NR, Cronin FJ, Exler J. Omega-3 fatty acid content of the US food
supply. J Am Coll Nutr 11:304-308, 1992.
3.
Odeleye OE, Watson RR. Health implication of the omega-3 acids. American
Journal Clinical Nutrition 1991; 53:177-78.
Kinsella
JE. Reply to O Odeleye and R Watson. American Journal Clinical Nutrition
1991; 53:178.
4.
Troll W, Wiesner R, Shellabarger CJ, Holtzman S, Stone JP. Soybean diet
lowers breast tumor incidence in irradiated rats. Carcinogenesis 1:469-472,
1980.
5.
St. Clair WH, Billings PC, Carew JA, Keller-McGandy C, Newberne P, Kennedy
AR. Suppression of dimethylhydrazine induced of the Bowman-Birk protease
inhibitors. Cancer Re 50:580-586, 1990.
6.
Witschi H, Kennedy AR. Modulation of lung tumor development in mice with
the soybean-derived Bowman-Birk protease inhibitor. Carcinogenesis 10:2275-2277,
1989.
7.
Takahashi M, Imaida K, Furukawa F, Hayashi V. Inhibitory effects of soybean
trypsin inhibitor during initiation and promotion phases ...Pp. 145-154.
Wiley Liss, Inc. New York, 1991.
8.
Messadi DV, Billings P, Shklar G, Kennedy AR. Inhibition of oral carcinogenesis
by a protease inhibitor. JNCI 76:447-452, 1986.
9.
Troll W, Kennedy A. Meeting report. Workshop report from the Division of
Cancer Etiology, National Cancer Institute, National Institute of Health.
Cancer Res 49:499-502, 1989.
10.
Heaney RP, Weaver CM, Fitzsimmons ML. Soybean phytate content: effect on
calcium absorption. Am J Clin Nutr 53:745-747, 1991.
11.
Shamsuddin AM. Phytate and colon cancer risk. Am J Clin Nutr 55:478-485,
1992.
12.
Graf E, Eaton JW. Dietary suppression of colonic cancer. Cancer 56: 717-718,
1985.
13.
Thompson LU, Zhang L. Phytic acid and minerals: effect on early markers
of risk for mammary and colon carcinogenesis. Carcinogenesis 12:2041-2045,
1991.
14.
Bast A, Goris RJA. Oxidative stress. Biochemistry and human diseases. Pharm
Weekbl (Sci) 11:199-206,1989.
15.
Graf E, Eaton JW. Antioxydant functions of phytic acid. Free Rad Biol Med
8:61-69,1990
16.
Nelson RL. Dietary iron and colorectal cancer risk. Free Rad Biol Med 12:161-168,
1992.
17.
Beard JL. Are we at risk for heart disease because of normal iron status?
Nutr Rev 51:112-115, 1993.
18.
Baten A, Ullah A, Tomazic VJ, Shamsuddin AM. Inositol-phosphate induced
enhancement of natural killer cell activity correlates with tumor suppression.
Carcinogenesis 10:1595-1598, 1989.
19.
Hirai K, Shimazu C, Takezoe R, Ozeki Y. Cholesterol, phytosterol and polyunsaturated
fatty acid level in 1982 and 1957 Japanese diets. J Nutr Sci Vitaminol
32:363-372, 1986.
20.
Nair PN, Turjman N, Kessie G, .. Diet, nutrition intake and metabolism
in populations at high and low risk for colon cancer. Am J Clin Nutr 40:927-930,
1984.
21.
British Medical Journal, 1986, vol. 293.
22.
New England Journal of Medicine, 1985, vol. 312.
23.
Odeleye OE, Watson RR. Health implications of the omega-3 fatty acids.
American Journal Clinical Nutrition 1991;53:177-78.
24.
Kinsella IE. Reply to O Odeleye and R Watson. American Journal Clinical
Nutrition 1991;53:178.
25.
Willis KJ, London DR, Ward HWC, Butt WR, Lynch SS, Rudd BT. Recurrent breast
cancer treated with the anti-estrogen tamoxifen: correlation between hormonal
changes and clinical course. Br Med J 1:425-428, 1977
26.
Anderson JW, Johnstone BM, Cook-Newell ME. Meta-analysis of effects of
soy protein intake on serum lipids in humans. New England Journal of Medicine
1995;333:276-282.
Anderson
JW, Soy Protein and Risk for Coronary Hearth Disease, American Dietetic
Association 80th Annual Meeting held 10-27-30-97, in Boston
MA
27.
James W. Anderson, M.D. Professor of Medicine and Clinical Nutrition University
of Kentucky, Lexington, KY. Phone 606-281-4954; fax606-233-3832, e-mail:
wandersmd@aol.com
Chương
Thứ Hai
1 Cancer
facts and figures - 1992. American Cancer Society. Atlanta, GA, 1992.
2
Messina MJ, Persky VL, Setchell KDR, Barnes S. Soy intake and cancer risk:
a review of the in vitro and in vivo data. Nutr Cancer. Manuscript.
3
Mark Messina, Virgiana Messina, Kenneth DR Setchell. The simple soybean
and your health:70-80. Avery Publishing Group New York 1994.
4
Lee HP, Gourley L, Duffy SW, Esteve J, Lee J, Day NE. Dietary effects on
breast-cancer risk in Singapore. Lancet 337:1197-1200, 1991.
5.
Watanabe Y et al. A case control study of cancer of rectum and the colon.
Nippon Shokakibyo Gakkai Zasshi 81:185-193, 1984.
6.
Hu J et al. Diet and cancer of the colon and rectum: a case control study
in China. Int J Epidemiol 20:362-367, 1991.
7.
Poole C. A case-control study of diet and colon cancer. Dissertation. Harvard
School of Public Health. Boston, 1989.
8.
Yingman Y et al. A study of the etiological factord in gastric cancer in
Fuzhou City. Chinese J Epidemiol 7:48-50, 1986.
9.
You W-C et al. Diet and high risk of stomach cancer in Shangdong, China.
Cancer Res 48:3518-3523, 1988.
10.
Haenszel W et al. Stomach cancer among Japanese in Hawaii. JNCI 49:969-988,
1972.
11.
Swanson CA et al. Dietary determinants of lung cancer risk: results from
a case-control study in Yunnan Province, China. Int J cancer 50:876-880,
1992.
12.
Koo LC. Dietary habits and lung cancer risk among Chinese females in Hong
Kong who never smokeed. Nutr Cancer 11:155-172, 1988.
13.
Steverson RK etal. A prospective study of demographics, diet, and prostate
cancer among men of Japanese ansestry in Hawaii. Cancer Res 49:1857-1860,
1989.
14.
Wang YY et al. Formation of mutagens in cooked foods. V. The mutagen reducing
effect of soy protein concentrates and antioxydants during frying of beef.
Cancer Lett 16:179-189, 1982.
15.
Kurechi T et al. Inhibition of N-nitrosamine formation by soya products.
Fd Cosmet Toxicol 19:425-428, 1981.
16.
Japan Times, September 27, 1988.
17.
Neaton JD et al. Serum cholesterol, blood pressure, cigarette smoking,
and death from coronary heart disease. Arch Intern Med 152:56-64, 1992.
18.
Enos WF et al. Coronary disease among United States soldiers killed in
action in Korea. JAMA 152:1090-1093, 1953.
19.
Strong Wbet al. Pediatric preventive cardiology: atherosclerosis and coronary
heart disease. Pediatric Review 9:303-314, 1988.
20.
1992 heart and stroke facts. American Heart Association, National Center.
Dallas, TX 1991
21.
Kammel WB et al.. The Framingham study. DHEW Public No. (NIH) 74-618,1973.
Thirty
years of follow-up in the Framingham study. Circulation 75 (Suppl V):V-V,
1987.
22.
Tao S et al. CHD and its risk factors in the People's Republic of China.
Inter J Epidemiol 18:S-S,1989.
23.
British Medical Journal, 1986, vol. 293.
24.
New England Journal of Medicine, 1985, vol. 312.
25.
Odeleye OE, Watson RR. Health implications of the omega-3 fatty acids.
American Journal Clinical Nutrition 1991;53:177-78.
26.
Kinsella IE. Reply to O Odeleye and R Watson. American Journal Clinical
Nutrition 1991;53:178.
27.
Robert Garrison et al. The Nutrition Desk Reference, 3rd ed.1995.
Keats Publishing Connecticut 1995.
28.
Koury SD et al. Soybean proteins for human diets. J Am Diadet Asso 52:480-484,
1968.
29.
Sirtori CR et al. Soybean protein diet in the treatment of type II hyperlipoproteinaemia.
Lancet 5:275-277, 1977.
30.
Carroll KK. Review of clical studies on cholesterol-lowering response to
soy protein. JADA 91:820-827, 1991.
31.
Gaddi A et al. Dietary treatment for familia hypercholesterolmia-differential
effects of dietary soy protein according to the apoliprotein E phenotypes.
Am J Clin Nutr 53:1191-1196, 1991.
31.
Barnard RJ, Lattimore L, et al., Response of non-insulin dependent diabetic
patients to an intensive program of diet and exercise. Diabetes Care 1982:5:30:370-74.
32.
US Department of Health and Human Services. Public Health Service, National
Institutes of Health. Osteoporosis research, education and health promotion.
NIH Publication No. 91-3216. Washingtong, DC, 1991.
33.
Tạp chí Lancet cho rằng phụ nữ uống estrogen dễ bị đông
máu hay bị những phản ứng phụ như có thể gây ung thư vú.
34.
Abelow BJ et al. Cross-cultural association between dietary animal protein
and hip fracture: a hypothesis. Calcif Tissue Int 50:14-18,1992.
35.
Mc Clellan et al. Prolonged meat diets with astudy of the meatbolism of
nitrogen, calcium and phosphorus. J Biol Chem 87:669-680, 1930.
36.
Anand CR et al. Effect of protein intake on calcium balance of young men
given 500 mg calcium daily. J Nutr 104:695-700, 1974
37.
Linkswiler HM et al. Protein-induced hypercalciuria. Fed Proc 40:2429-2433,
1981
38.
Breaslau et al. Relationship of animal protein-rich diet to kidney ston
formation and calcium metabolism. J Clin Endocrinol Metabol 66:140-146,
1988.
39.
Lerstetter JE et al. Dietary protein increases urinary calcium. J Nutr
120:134-136, 1989.
40.
University of California, Berkeley-Wellness Letter Volume 14, Issue 12
September 1998.
41
Dwyer, et al. Tofu and Soy drinks Contain Phytoestrogens. Jounal of the
American Dietetic Association 94, 7 (July 1994): 739
42.
Journal of Urology, 1997:157
43.
Kontessis P et al. Metabolism and hormonal responses to ingestion of animal
and vegetable proteins. Kid Inter 38:136-144, 1990.
44.
D'amico et al. Effect of vegetarian soy diet on hyperlipidaemia in nephrotic
syndrome. Lancet 339:1131-1134,1992.
45.
Curhan GC et al. A prospective study of dietary calcium and other nutrients
and the risk of symptomatic kidney stones. NEJM 328:833,1993.
46.
Rouse IL, et al. Blood pressure lowering effect of a vegetarian diet: controlled
trial in normotensive subjects. J Hypertension 4 (Suppl 6):S-S,1983.
47.
Kritchevsky D et al. Influence of vegetable protein on gallstones formation
in hamsters. Am J Nutr 32:2174-2176, 1979.
48.
Pixley F et al. Effect of vegetarianism on development of gallstones in
women. Br Med J 291:11-12, 1985.
Chương
Thứ Ba
1.
Composition of foods: Legumes and Legume Products, U.S. Department of Agriculture,
Human Nutrition Information Services; Soyfoods Association of America;
Rinzler, Carol Ann, Complete Book of Food (Mahwah, N.J.: World Almanac,
1987); Penington, Jean, and Helen Church, Food Values of Portions Commonly
Used (New York: Harper & Row, 1985); Bricklin, Mark, Nutrition Advisor
(New York: MJF Books, 1993).
2.
Hankinson SE, Willett WC, et al. Circulating concebtration of insulin-like
growth factor-I and risk of breast cancer. Lancet 1998;351:1393-6.
3.
Dr. Richard Burroughs là khoa học gia thâm niên tại cơ quan kiểm
soát thực phẩm và dược liệu Hoa Kỳ FDA đã bị sa thải
ngày 3 tháng 11 năm 1989 vì đã chống đối kịch liệt việc
chấp thuận cho sử dụng thuốc kích thích tố BGH.
4.
Second International Symposium On the Role Of Soy In Preventing and Treating
Chronic Disease September 15-18-1996 Brussells, Belgium, Poster Abstracts.
Chương
Thứ Tư
1.
Tham vấn bác sĩ Lê Thành ngày 02-10-1998
2.
William Shurtleff et al. The book of tofu, Ballantine Books, New York,
1979: trang 61.
3.
William Shurtleff et al. The book of tofu, Ballantine Books, New York,
1979: trang 76-80.
4.
William Shurtleff et al. The book of tofu, Ballantine Books, New York,
1979: trang 61.
5.
Fisher, Irving, "The Influence of Flesh Eating on Endurance," Yale Medical
Journal, 13(5): 221-205,1907.
6.
Bressani and Behar, "The Use of Plant Protein Foods in Preventing Malnutrition,
" ES Livingston, ed.: Proceedings of Six International Congress of Nutrition
(Edinburgh, 1964) p.182
7.
Editorial, The Lancet (london), 2 (1959), 956.
8.
Jay M. Hoffman, PH.D., Huza, Professional Pree Publishing Association,
Escondido, CA 1973 and Journal of the American Medical Association March,
1961.
9.
Ðăng trong tạp chí của PETAỖs Animal Times Summer 1998 trang 10-11.
Norfolk, VA
Chương
Thứ Năm
1.
Composition of Foods: Legume and Legume Products. USDA, Human Nutrition
Information Service, Agricultural Handbook Number 8-16. Rev. December 1986.
Tổng
Quát
1.
Adlercreutz, C. Herman. "Soybean Phytoestrogen Intake and Cancer Risk."
Paper presented at The First International Symposium on the Role of Soy
in Preventing and Treating Chronic Disease, Mesa, AZ, February 20-23, 1994.
2.
Messina, Mark and Messina Virginia. "The Simple Soybean and Your Health".Avery
Publishing Group, New York. 1994
3.
Winter, Ruth. "Super Soy The Miracle Bean" Crow Trade Paperbacks, New York.
1996
4.
Shurtleff, William and Aoyagi, Akiko. "The Book of Tofu", Ballantine Books.
New York 1975.
Tiệm
Bán Thực Phẩm Ðậu Nành
Eden
Foods Inc
701
Tecumseh Road, Clinton, MI 49236 Tel. 1-800-248-0320 Fax. 1-517-456-6075
Vitasoy
USA Inc.
99
Park La., Brisbane, CA 94005 Tel. 1-800-848-2769
Worthington
Foods, Inc.
900
Proprietors Rd., Worthington, OH 43085
Mail
Order Soybeans and Soyfoods
P.O.Box
99, Summertown, TN 38483
The
Soyfoods Center
P.O.
Box 234, Lafayette, CA 94549 USA Tel. 415-283-2991
Mother's
Market & Kitchen
225E.
17th Street Costa Mesa CA Tel. 631-4741
19770
Beach Blvd. Huntington Beach CA Tel. 963-MOMS
2963
Michelson Dr. Irvine CA Tel. 752-MOMS
Mail
Order Tel. 1-800-595-MOMS
Trader
Joe's (113 locations)
http://www.traderjoes.com/
Whole
Foods Market (12 locations)
http://wholefoods.com/
Rain
Bow Acres Natural Food Stores
13208
W. Washington Blvd Los Angeles CA 90066 Tel. 310-306-8330
11665
Santa Monica Blvd West LA. CA 90025 Tel. 310-444-7949
4756
Admiralty Way Marina Del Rey CA 90292 Tel 310-823-5373
Real
Food Daily
514
Santa Monica Blvd. CA 90401 Tel. 310-451-7544
Vita
Health Foods
7862
Sunset Blvd Los Angeles CA Tel. 323-876-6880
Pacific
Coast Green
22601
Pacific Coast Hwy Tel. 310-456-0353
Farm
Store
4243
Overland Blvd., Culver City CA Tel. 310-559-7901
Papa
Jon's Natural Market
5000
E. Second Street Long Beach CA Tel. 562-439-3444
Lotus
Vegetarian Cafe
1515
W. Chapman Ave. Orange CA Tel. 714-385-1233
Natural
Foods Market Erewhon
7660
Beverly Blvd., Los Angeles CA Tel. 323-937-0777
Denver
Tofu Co
6150
N. Federal Blvd. Denver Colorado Tel 303-426-0138
Memphis
South Soy Inc.,
P.
O. Box 17254 Memphis TN Tel. 901-365-7003
The
Farm Soy Dairy
156
Drakes Ln Summrertown TN Tel. 615-964-3584