HÒA
THƯỢNG
THUBTEN
OSALL LAMA
MINH
TỊNH-NHẪN TẾ
(1889
– 1951)
Hòa
thượng Thubten Osall Lama, pháp danh Chơn Phổ, pháp hiệu Nhẫn
Tế, nối pháp đời thứ 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Sau Ngài
cầu pháp với Tổ sư Huệ Đăng, được ban pháp danh là Trừng
Liến, pháp hiệu là Minh Tịnh, nối pháp đời thứ 42 dòng
Thiên Thai Thiền Giáo Tông.
Ngài
thế danh là Nguyễn Tấn Tạo, sanh ngày Rằm tháng Bảy năm
Kỷ Sửu – 1889, tại làng An Thạnh (thường gọi Búng) Lái
Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương). Thân
phụ là cụ ông Nguyễn Văn Lập, thân mẫu là cụ bà Lê Thị
Ri, Ngài sinh trưởng trong một gia đình trung lưu trí thức,
nên từ thuở nhỏ đã được song thân cho đi học Quốc ngữ
và Pháp ngữ.
Năm
Giáp Thìn 1904, khi lên 16 tuổi, Ngài tìm đến chùa Thiên Tôn,
một ngôi chùa cổ nổi tiếng trong vùng, xin quy y với Hòa
thượng Ấn Thành – Từ Thiện, được pháp danh là Chơn Phổ
để nghiên cứu và tham học giáo điển Phật đà. Nhờ có
trí tuệ mẫn thiệp và trình độ thế học, Ngài chóng thâm
nhập vào áo nghĩa kinh tạng, và có ý muốn một ngày nào
đó sẽ thực hiện hạnh giải thoát.
Sau
khi học hành thành đạt, Ngài được bổ làm công chức trong
ngành Y tế, được một thời gian, Ngài chán cảnh thế gian
đầy đua chen danh lợi, cũng như bất mãn trước sự cai trị
hà khắc của thực dân Pháp đối với dân chúng Việt Nam,
nên có ý muốn hồi hưu. Nhân mắc phải trọng bệnh trong
khi thừa hành công vụ, Ngài xin thôi việc, dứt bỏ trần
nghiệp, vân du học đạo khắp mọi nơi, lúc thì tu hạnh đầu
đà, khi thì khoác màu nguyên thủy để tìm cho mình hướng
đi đích thực trên con đường giải thoát.
Năm
Bính Dần 1926, chùa Long Hòa núi Thiên Thai, Bà Rịa mở
giới đàn, do Hòa thượng Huệ Đăng làm Đàn đầu truyền
giới, Ngài đến đăng đàn thọ Cụ túc giới. Cảm phục
đức độ và tư tưởng yêu nước của Tổ sư Huệ Đăng,
Ngài xin cầu pháp với Tổ sư, được ban pháp danh là Trừng
Liến, pháp hiệu là Minh Tịnh, nối pháp đời thứ 42 dòng
Thiên Thai Thiền Giáo Tông.
Đến
tháng 8 năm Quý Dậu – 1933, chùa Thiên Tôn mở Đại giới
đàn, do Hòa thượng Ngộ Định – Từ Phong làm Đàn đầu
truyền giới, Ngài được thọ đại giới lại với Sơn môn,
được ban pháp hiệu là Nhẫn Tế, để nối pháp đời thứ
40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh, chùa Thiên Tôn.
Trải
qua thời gian tu hành và tham học, Ngài cảm thấy vẫn chưa
thỏa mãn chí nguyện, muốn tìm về cội nguồn Phật tổ,
trước là để chiêm bái đảnh lễ thánh tích, sau là tham
cứu học hỏi phương pháp tu trì, mong đạt sở chứng tỏ
ngộ bản tâm, thoát ly sanh tử. Vì thế, Ngài rời chùa Thiên
Tôn, ra cất một cái am đặt hiệu Thiên Chơn để tu và ngày
đêm ấp ủ mộng lớn, chuẩn bị tư lương, học tập thêm
Anh ngữ để đợi ngày thực hiện ý định.
Năm
Ngài 47 tuổi, hội đủ nhân duyên, Ngài xuống tàu thủy tại
Sài Gòn khởi hành sang Ấn Độ vào ngày 17 tháng 4 năm 1935.
Trong thời gian trên đất Ấn, tùy thuận phong tục, Ngài đắp
y theo xứ Tích Lan và học tiếng Tamil khi ở Nam Ấn, học tiếng
Hindu khi ở Bắc Ấn. Lúc đến xứ Bhutan, Tây Tạng, Ngài lại
đổi sang pháp phục Lạt Ma và học tiếng Tây Tạng để ứng
hợp việc tham cầu giáo pháp.
Ngày
6 tháng 2 năm 1936, Ngài đến xứ Nepal tham lễ chùa tháp. Khi
đến Tháp Bodha Nath, Ngài được đảnh lễ chiêm ngưỡng Xá
lợi Phật tổ, và cần cầu Thượng tọa quản tháp xin thỉnh
được một phần Xá lợi để đem về bổn quốc làm chứng
tín cho hàng đệ tử Phật tôn thờ. Ngài là người đầu
tiên thỉnh được Xá lợi Phật về Việt Nam.
Ngày
27 tháng 2 năm 1936, Ngài bắt đầu khởi hành đi Tây Tạng
theo các vị Lạt Ma trong đoàn chiêm bái Bồ Đề Đạo Tràng
khi họ trở về xứ. Đường đi gian khổ vất vả, đi hơn
hai tháng mới đến xứ Bhutan, mất một tháng ở lại đây
học hỏi ngôn ngữ, phong tục, chờ tuyết tan và đi thêm một
tháng nữa mới đến thủ đô Lhasa. Ngài đến xứ Tây Tạng
vào ngày 28 tháng 6 năm 1936.
Tại
Tây Tạng, Ngài tham học về Kim Cang thừa Mật giáo với Lama
Quốc Vương. Để học được pháp môn này, Ngài phải trải
qua khảo thí khắt khe nghiêm mật trong cuộc thi tuyển toàn
quốc, Ngài là một trong hai người được tuyển chọn cuối
cùng. Sau một trăm ngày tu học ở Tây Tạng, Ngài được Lama
Quốc Vương ấn chứng sở đắc thiền quán, truyền tâm pháp
Kim Cang thừa và ban cho pháp danh là Thubten Osall Lama. Thành tựu
sở nguyện, ngày 29 tháng 10 năm 1936, Ngài lên đường rời
xứ Tây Tạng, mất một tháng để trở lại Ấn Độ. Ngài
ở lại đây đi chiêm bái và học hỏi một thời gian nữa,
rồi xuống tàu về nước.
Ngày
30 tháng 6 năm 1937, Ngài về đến Việt Nam, kết thúc chuyến
tường khảo thánh tích dài 2 năm 4 tháng. Ngài đến chùa Thiên
Thai đảnh lễ Tổ sư, dâng cúng ngọc xá lợi lên Hòa thượng
để làm biểu tượng chánh pháp tại đây. Về lại trụ xứ
Bình Dương, uy tín đạo đức của Ngài lan rộng, bổn đạo
làng Phú Cường cung thỉnh Ngài chứng minh trụ trì ngôi chùa
Bửu Hương, vốn thuộc giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Ngài
đổi tên chùa thành Tây Tạng tự, để ghi nhớ nơi Ngài đã
đến cầu pháp.
Năm
Mậu Dần 1938, Ngài khởi công xây dựng lại ngôi chùa Thiên
Chơn ở làng An Thạnh, ngay trên nền cũ của am nơi Ngài ở
tu trước khi đi Ấn Độ. Chùa được khánh thành vào năm
1940.
Năm
Ất Dậu 1945, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến,
Ngài tham gia Hội Phật giáo Cứu quốc Thủ Dầu Một và được
để cử làm Chủ tịch. Tháng 6 năm 1946, Ngài là thành viên
Mặt trận Việt Minh tỉnh Thủ Dầu Một tại khu Thuận An
Hòa. Ngài đã đóng góp nhiều công lao trong cuộc kháng chiến
chống Pháp của nhân dân Việt Nam. Dù ước muốn xây dựng
lại chùa Tây Tạng, nhưng với tấm lòng yêu nước và ủng
hộ kháng chiến, Ngài đã nói: “khi còn chiến tranh thì một
viên ngói, một viên gạch cũng không được sử dụng xây
chùa...”.
Trong
cuộc đời tu học và hoằng đạo, Ngài hóa độ rất nhiều
đồ chúng xuất gia và tại gia, đệ tử truyền thừa của
Ngài là Hòa thượng Như Trạm - Tịch Chiếu.Ngài có hai tác
phẩm lưu lại hậu thế :
-
Lăng Nghiêm Tông Thông (1997).
-
Nhật Ký Tham Bái Ấn Độ, Tây Tạng (1999).
Ngày
17 tháng 5 năm Tân Mão – 1951, Ngài thâu thần viên tịch tại
chùa Tây Tạng, trụ thế 63 năm, giới lạp 25 mùa Hạ. Môn
đồ nhập Bảo tháp nhục thân của Ngài tại chùa Thiên Chơn
và lập Bảo tháp thờ vọng tại khuôn viên chùa Tây Tạng.