Tập 02
Lời
đầu quyển
Cuốn
21
2.
Giải thích Phẩm Tựa (tiếp)
Chương
31: Giải thích: 8 thắng xứ, 10 nhất thiết xứ
Chương
32: Giải thích: 9 tưởng
Chương
33: Giải thích: 8 niệm
Cuốn
22
Cuốn
23
Chương
34: Giải thích: 10 tưởng
Chương
35: Giải thích: 11 trí
Cuốn
24
Chương
36: Giải thích: 10 lực
Cuốn
25
Chương
37: Giải thích: 4 việc không sợ, 4 trí vô
ngại
Cuốn
26
Chương
38: Giải thích: 18 pháp không chung
Cuốn
27
Chương
39: Giải thích: Đại từ bi, hãy tập hành
Bát-nhã
ba-la-mật
Cuốn
28
Chương
40: Giải thích: 6 thần thông
Cuốn
29
Chương
41: Giải thích: Tùy hỷ, hồi hướng
Cuốn
30
Chương
42: Giải thích: thiện căn cúng dường
Cuốn
31
Chương
43: Giải thích: 18 không
Cuốn
32
Chương
44: Giải thích: Nghĩa 4 duyên
Cuốn
33
Chương
45: Giải thích: Đến bờ kia
Cuốn
34
Chương
46: Giải thích: Tín trì
Cuốn
35
Giải
thích Phẩm Dâng bát thứ 2
Giải
thích Phẩm Tập tương ưng thứ 3
Cuốn
36
Cuốn
37
Cuốn
38
5.
Giải thích Phẩm Vảng sanh thứ 4
Cuốn
39
Cuốn
40
6.
Giải thích Phẩm Thán độ thứ 5
7.
Giải thích Phẩm Tướng lưỡi thứ 6
8.
Phụ lục
Lời
nói đầu
Trong
Tập II này gồm có nửa sau của phẩm Tựa đầu, từ chương
31 đến chương 46 (phẩm Tựa có 46 chương, 30 chương đầu
đã in ở tập I – 1997). Tiếp đó là phẩm Dâng bát thứ
hai, phẩm Tập tương ưng thứ ba, phẩm Vãng sanh thứ tư, phẩm
Thán độ thứ năm, phẩm Tướng lưỡi thứ sáu. Tất cả
trải dài trong 20 cuốn, từ cuốn 21 đến cuốn 40.
Ngài
Cưu-ma-la-thập dịch luận Đại Trí Độ này vào khoảng năm
402-404, trước Ngài Huyền Trang dịch trên hai thế kỷ, nên
có những thuật ngữ rất xưa, ít được phổ cập. Khi gặp
các thuật ngữ như vậy, tôi đã đổi lại một số theo thuật
ngữ của các vị dịch sau và đã được phổ cập nhiều
hơn. Ví dụ:
- Thuật
ngữ ngũ tình, lục tình đổi lại là ngũ căn, lục căn
- Thuật
ngữ ngũ chúng, ngũ thọ chúng, ngũ ấm, ngũ thọ ấm đổi
lại ngũ uẩn, ngũ thủ uẩn.
- Thuật
ngữ ngũ vô học chúng đổi lại ngũ vô lậu uẩn.
- Thuật
ngữ ẩn một vô ký, phi ẩn một vô ký, đổi lại là hữu
phú vô ký, vô phú vô ký.
- Thuật
ngữ sổ duyên tận, phi sổ duyên tận; sổ duyên diệt, phi
sổ duyên diệt; trí duyên tận, phi trí duyên tận; trí duyên
diệt, phi trí duyên diệt ở các chương 23,24,29,30,43 đều
đổi lại là trạch diệt, phi trạch diệt.
Phái
hữu bộ khái quát tất cả pháp vào 75 pháp, trong đó 72 pháp
thuộc hữu vi và 3 pháp thuộc vô vi. Hữu vi là pháp có mang
theo nó bốn tướng hữu vi là sanh, trụ, dị, diệt. Còn pháp
vô vi thì tức là chơn lý, chơn không, không có bốn tướng
ấy.
Ba
pháp vô vi:
1.
Hư không vô vi: chỉ cho tánh suốt thông không ngăn ngại của
hư không đối với sự vật. Tính trống không của hư không
thuộc sắc pháp, bị thay đổi sanh diệt, còn tính suốt thông
không ngăn ngại của hư không thì không hề thay đổi sanh
diệt, nên gọi là vô vi.
2.
Trạch diệt vô vi: do trí tuệ lựa chọn, quán sát pháp Tứ
đế, diệt được pháp hữu lậu hữu vi phiền não, làm hiển
lộ bản tính thanh tịnh vô vi vô lậu ngoài bốn tướng hữu
vi, đây tức là Niết-bàn.
3.
Phi trạch diệt vô vi: đây không phải do trí tuệ lựa chọn
làm tiêu diệt, mà chính vì thiếu duyên, hoặc bị trở ngại
nên pháp hữu lậu hữu vi tương lai không sanh khởi được.
Không sanh tức không diệt, nên cũng gọi là vô vi.
Ba
vô vi như vậy, dù dịch thuật ngữ có sai khác thì ý nghĩa
cũng đồng nhau mà thôi.
Trong
bản dịch này có đổi chỗ dựa theo kinh Đại Bát-nhã của
Ngài Huyền Trang dịch.
Đôi
điều như vậy, tôi xin lưu ý quí vị độc giả.
PL.
2542 Từ Đàm, mùa An cư Mậu Dần (1998)
Thích
Thiện Siêu