Cuốn
13
CHƯƠNG
21
GIẢI
THÍCH: THI BA-LA-MẬT
KINH:
Vì tội và không tội không thể có được, nên đầy đủ
Thi-la Ba-la-mật.
Hỏi:
Thi-la (Tàu dịch là Tánh thiện), là ưa hành thiện đạo, không
tự phóng dật, gọi là Thi-la. Hoặc thọ giới mà hành
thiện, hoặc không thọ giới mà hành thiện, đều gọi là
Thi-la. Nói tóm lược có tám thứ luật nghi nơi thân và
miệng: Không não hại, không trộm cắp, không tà dâm, không
nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không uống
rượu và nuôi sống một cách thanh tịnh; ấy là giới.
Nếu buông bỏ không nhiếp hộ; ấy là phá giới. Người
phá giới bị đọa vào trong đường ác. Nếu trì giới
bậc hạ thì sanh trong loài người; trì giới bậc trung thì
sanh trong cõi trời Lục Dục; trì giới bậc thượng lại tu
hành bốn Thiền, bốn Không định thì sanh trong các cõi trời
Sắc và Vô sắc thanh tịnh.
Trì
giới bậc thượng có ba hạng: Trì giới thanh tịnh bậc hạ
thì chứng A-la-hán; trì giới thanh tịnh bậc trung thì chứng
được Bích-chi-Phật; trì giới thanh tịnh bậc thượng thì
được Phật đạo. Không đắm trước, không ỷ y, không
phá, không khuyết, được Thánh nhân khen ngợi yêu thích, như
vậy gọi là thanh tịnh bậc thượng. Nếu vì thương
xót chúng sanh, vì độ chúng sanh, cũng vì biết thật tướng
của giới; tâm không ỷ y, đắm trước; trì giới như thế,
tương lai chứng đến Phật đạo. Như vậy gọi là được
giới vô thượng Phật đạo. Nếu người muốn cầu được
thiện lợi lớn, hãy kiên trì giới, như tiếc châu báu quý
trọng, như giữ thân mạng, vì cớ sao? Vì như đại địa,
hết thảy vạn vật hữu hình, đều nương đất mà tồn tại.
Giới cũng như vậy, giới là trú xứ của hết thảy thiện
pháp.
Lại
nữa, ví như không chân mà muốn đi; không cánh mà muốn bay;
không thuyền mà muốn qua sông, là không thể được.
Nếu không có giới mà muốn cầu quả báo tốt cũng như vậy.
Nếu người bỏ giới này, tuy ở núi tu khổ hạnh, ăn trái
cây, uống thuốc, thì không khác gì cầm thú. Hoặc có
người chỉ uống cho là giới; hoặc uống sữa, hoặc hớp
không khí; hoặc cắt tóc; hoặc mặc Ca-sa; hoặc mặc áo trắng;
hoặc mặc áo cỏ, hoặc áo da cây; hoặc mùa đông vào nước;
hoặc mùa hạ hơ lửa; hoặc từ núi cao sa xuống; hoặc tắm
sông Hằng; hoặc ngày tắm ba lần; lại cúng dường lửa,
tế tự đủ cách, chú nguyện đủ kiểu; chịu thực hành
các khổ hạnh, cho đó là giới, chỉ là trống không, không
được gì.
Nếu
có người tuy ở nhà cao điện lớn, mặc đẹp ăn ngon, mà
thực hành được giới này, cũng được sanh chỗ tốt và
được đạo quả. Hoặc người sang kẻ hèn, người lớn
kẻ nhỏ, thực hành được giới này, thì đều được lợi
lớn. Nếu phá giới này, thời không kể sang hèn, lớn
nhỏ, đều không được tùy ý sanh vào chỗ lành.
Lại
nữa, người phá giới, cũng ví như ao trong mát màcó rắn
độc, không đáng tắm rửa, cũng như cây có hoa quả ngon mà
có nhiều gai nghịch. Như người tuy được sanh ở nhà
quý trọng, thân thể đoan chánh, học rộng nghe nhiều, mà
không ưa trì giới, không có tâm từ bi, lại cũng như vậy,
như kệ nói:
"Sang
mà vô trí thời là suy,
Trí
mà kiêu mạn cũng là suy,
Người
trì giới mà lại phá giới,
Cả
đời này đời sau đều suy"
Người
tuy nghèo hèn mà trì giới, hơn người giàu sang mà phá giới.
Hương của hoa, hương của cây, không thể bay xa; hương của
trì giới, bay khắp cả mười phương. Người trì giới,
được đầy đủ sự an vui, tiếng tăm nghe xa, trời người
yêu kính, hiện đời thường được các thứ khoái lạc.
Nếu muốn sanh vào cõi trời cõi người, thủ lấy sự giàu
sang, sống lâu không khó. Người trì giới thanh tịnh,
ước gì đều được nấy.
Lại
nữa, người trì giới, thấy người phá giới bị hình ngục
tra khảo, đủ các thứ khổ não, mà tự biết mình vĩnh viễn
xa lìa việc ấy, lấy đó làm vui mừng. Nếu người trì
giới, thấy người lành được có vinh dự, danh tiếng, khoái
lạc, thì tâm sự suy nghĩ: "Như người được vinh dự,
ta cũng có phần". Người trì giới, khi mệnh chung, dù
có gió đao cắt thân, gân mạch đoạn tuyệt, tự biết mình
trì giới thanh tịnh, tâm không sợ hãi, như kệ nói:
"Trong
bệnh rất dữ,
Giới
là thuốc hay,
Trong
sợ hãi lớn.
Giới
làm thủ hộ.
Trong
chết tối tăm,
Giới
làm đèn sáng,
Trong
chỗ đường ác,
Giới
là cầu đò,
Trong
nước biển chết,
Giới
là thuyền lớn".
Lại
nữa, người trì giới thường được người đời nay cung
kính cúng dường, tâm vui không hối hận, áo cơm không thiếu,
chết được sanh lên trời, sau chứng được Phật đạo. Người
trì giới, không việc gì không có được; người phá giới,
tất cả đều mất. Ví như có người thường cúng dường
trời, người ấy nghèo cùng, một lòng cúng dường mãn mười
hai năm, mong cầu giàu sang, trời thương người đó, tự hiện
thân ra, mà hỏi rằng: "Ngươi cầu những gì?" Người
kia đáp: "Tôi cầu giàu sang, muốn cho những điều tâm
nguyện, hết thảy đều được". Trời trao cho một đồ
vật, gọi là cái bình đức, và nói: "Mọi vật cần
dùng, từ trong bình này xuất ra".
Người
kia được bình rồi, ứng theo ý muốn, mọi sự đều được.
Ðược như ý gây dựng nhà tốt. Voi Ngựa, xe cộ, bảy
báu đầy đủ, cung cấp cho tân khách, không thiếu sự gì.
Khách hỏi: "Trước ông nghèo cùng, nay sao do đâu được
giàu như thế này?" Ðáp: "Tôi được cái bình trời
cho, xuất ra các thứ vật, cho nên giàu như vậy". Khách nói:
"Ðua bình cho xem, kể cảvật từ bình xuất ra". Liền
đưa bình ra, trong bình dẫn ra đủ các thứ vật, người khách
kia kiêu căng phóng túng, đứng lên trên bình nhảy múa, bình
liền vỡ nát. Hết thảy các vật cùng một lúc
tiêu mất. Người trì giới cũng như vậy. Các thứ
diệu lạc, ước mong đều được, nếu người phá giới,
kiêu căng phóng túng tự do, cũng như người kia phá vỡ bình,
mất lợi.
Lại
nữa, người trì giới, hương thơm của danh tiếng, đời này
đời sau biến khắp trên trời và loài người.
Lại
nữa, người trì giới, được người ưa cúng thí, không tiếc
tài vật, không kinh doanh tài lợi ở được ở đời mà không
bị thiếu gì. Ðược sanh lên cõi trời, ở trước mười
phương Phật, vào tam thừa đạo mà được giải thoát.
Chỉ trừ sự trì giới theo các thứ tà kiến, về sau không
được gì.
Lại
nữa, nếu người tuy không xuất gia, chỉ biết tu hành giới
pháp, cũng được sanh cõi trời. Nếu người trì giới
thanh tịnh, tu thiền định, trí tuệ, muốn cầu độ thoát
sanh già bệnh chết khổ, nguyện ấy quyết chắc được.
Người trì giới tuy không có binh trượng, mà các sự dữ
không gia đến, tài vật của người trì giới, không ai cướp
được. Người thân của trì giới, tuy chết không rời,
sự trang nghiêm của trì giới quý hơn bảy báu. Do vì
lẽ đó, nên hộ trì giới, như hộ vệ thân mạng, như yêu
vật báu. Người phá giới, thọ khổ vạn đoan, như người
nghèo bị bình vỡ vật tiêu, trước kia.
Lại
nữa, người trì giới, quán thấy tội của người phá giới,
nên tự gắng sức, nhất tâm trì giới.
Thế
nào gọi là tội của người phá giới? Người phá giới,
người khác không kính, nhà nó như mồ hoang, không người
nào đến.
Người
phá giới, mất hết các công đức, giống như cây khô, người
không yêu thích.
Người
phá giới, như Hoa sen đầy sương, không ai ưa thấy.
Người
phá giới, có ác tâm đáng sợ, giống như quỷ La-sát.
Người
phá giới, người khác không quy hưởng, giống như người
khát, không tìm đến giếng khô.
Người
phá giới, tâm thường nghi ngờ hối hận, giống như người
phạm sự, thường sợ tội ập đến.
Người
phá giới, giống như ruộng bị mưa đá, không thể trông cậy.
Người
phá giới, giống như mướp đắng, tuy thân hình giống trái
ngọt mà không thể ăn.
Người
phá giới, giống như xóm giặc, không thể sống chung.
Người
phá giới, giống như bệnh nặng, không ai muốn gần.
Người
phá giới, không được khỏi khổ, giống như đường
dữ, khó đi qua.
Người
phá giới, không thể ở chung; giống như giặc dữ, khó thể
thân cận.
Người
phá giới, giống như hầm lửa, người đi đường tránh xa.
Người
phá giới, khó thể ở chung, giống như Rắn độc.
Người
phá giới, không thể gần gũi, giống như ngọn lửa lớn.
Người
phá giới, giống như thuyền vỡ, không thể chở qua sông.
Người
phá giới, giống như đồ mửa ra, không thể ăn lại.
Người
phá giới, ở trong chúng tốt giống như Ngựa dữ ở trong
Ngựa lành.
Người
phá giới, khác với người lành, như Lừa ở trong bầy Bò.
Người
phá giới, ở giữa chúng tinh tấn giống như đứa bé yếu
ớt ở giữa người mạnh.
Người
phá giới, tuy hình tợ Tỳ-kheo mà cũng như thây chết ở trong
con mắt người.
Người
phá giới, giống như ngọc giả ở giữa ngọc thiệt.
Người
phá giới, giống như cây Y-lan ở trong rừng Chiên-đàn.
Người
phá giới, tuy hình dáng tợ người lành mà bên trong không
có thiện pháp. Tuy cũng cạo đầu, nhuộm áo, theo thứ
lớp cầm thẻ (hành trú) gọi là Tỳ-kheo, mà thật chẳng
phải Tỳ-kheo.
Người
phá giới, nếu mặc pháp y thời đó là quấn thân với lá
sắt đồng nóng. Nếu ôm bình bát thời đó là đồ đựng
nước đồng nóng chảy. Nếu uống ăn thời đó là nuốt
hoàn sắt nóng.
Lại
nữa, người phá giới, thường ôm lòng sợ hãi, như ngươì
mắc trọng bệnh, thường sợ chết đến. Cũng như
người phạm tội ngũ nghịch, tâm thường tự nghĩ: Ta
là giặc của Phật, che dấu tránh nép, như giặc sợ người,
năm tháng ngày trôi qua, thường không an ổn.
Người
phá giới, tuy được cúng dường lợi lạc, thứ lạc đó
bất tịnh; giống như người ngu cúng dường trang sức thây
chết. Người trí nghe được, ghét không muốn thấy.
Vô
lượng tội phá giới như vậy, không thể kể hết. Hành
giả hãy nên nhất tâm trì giới.
Chương
22
GIẢI
THÍCH: NGHĨA CỦA GIỚI TƯỚNG
Hỏi:
Ðã biết các thứ quả báo, công đức như vậy, thế nào
gọi là giới tướng?
Ðáp:
Dứt ác không làm trở lại, gọi là giới. Hoặc từ
tâm sanh, hoặc từ miệng nói, hoặc từ nơi người khác lãnh
thọ mà dứt sự ác nơi thân và miệng; ấy là tướng của
giới. Sao gọi là ác? Nếu thật đó là chúng sanh,
biết là chúng sanh, sinh tâm muốn giết, cướp mạng sống
của nó, tạo thành thân nghiệp, có sắc tướng tạo tác,
ấy là tội sát sanh, ngoài ra trói, nhốt, đánh đập, v.v...
là cách giúp sát.
Lại
nữa, giết kẻ khác mắc tội sát, chứ chẳng phải tự giết
thân. Tâm biết rõ đó là chúng sanh mà giết, là thành
tội giết, không phải như ban đêm thấy người lại
cho là gốc cây rung rinh mà giết. Cố ý sát sanh mới
thành tội giết, chẳng phải không cố ý. Tâm khoái sát
sanh mới thành tội giết, chẳng phải si cuồng. Mạng
sống dứt mới thành tội giết, chẳng phải làm bị thương.
Thân nghiệp làm mới thành tội sát, chẳng phải chỉ có miệng
sai bảo. Miệng bảo là thành tội sát, chẳng phải chỉ
có tâm sanh nghĩ ác. Như vậy v.v... gọi là tướng mạo
của tội sát. Không làm tội ấy, gọi là giới.
Nếu người thọ giới, tâm sanh miệng nói: “Tôi từ
ngày nay, không còn sát sanh”. Hoặc thân không động,
miệng không nói, chỉ có tâm sanh, tự thề rằng: “Tôi
từ ngày nay, không còn sát sanh”, ấy gọi là giới không
sát sanh. Có người nói: “Giới không sát sanh ấy
hoặc thiện hoặc vô ký”
Hỏi:
Như trong A-tỳ-đàm nói Ca-chiên-diên-tử nói: “Hết
thảy giới luật nghi đều là thiện”, sao nay nói là vô ký?
Ðáp:
Như trong A-tỳ-đàm của Ca-chiên-diên-tử nói: “Hết
thảy là thiện”; còn trong các A-tỳ-đàm khác nói: “Giới
bất sát hoặc thiện hoặc vô ký”, vì cớ sao? Vì nếu
giới bất sát ấy luôn luôn làthiện, thì người trì giới
ấy, lẽ phải như là người đắc đạo, thường không bị
đọa vào ác đạo. Do vậy nên hoặc có khi là vô ký.
Vô ký thì không có quả báo, không sanh vào cõi trời, cõi
người.
Hỏi:
Không có giới vô ký nên đọa địa ngục; lại do có ác tâm
sanh nên đọa địa ngục?
Ðáp:
Không sát sanh được vô lượng thiện pháp, làm hay không làm
phước cứ ngày đêm phát sanh. Nếu gây một ít tội
thì phước ấy thành có hạn có lượng, vì cớ sao? Vì
nó theo có lượng mà không theo vô lượng. Do vậy nên
biết trong giới bất sát hoặc có khi là vô ký.
Lại
nữa, có người không theo Thầy thọ giới, mà chỉ tâm sanh
thề rằng: “Tôi từ ngày nay, không còn sát sanh”.
Không sát như vậy, hoặc có khi gọi là vô ký.
Hỏi:
Giới bất sát ấy trói buộc vào cõi nào?
Ðáp:
Trong A-tỳ-đàm của Ca-chiên-diên-tử nói: “Hết thảy
thọ giới luật nghi đều trói buộc theo cõi Dục”.
Còn trong các A-tỳ-đàm khác nói: “Hoặc trói buộc theo
cõi Dục, hoặc không trói buộc”. Nói cho đúng nên có
ba loại: Hoặc trói buộc theo cõi Dục, hoặc trói buộc
theo cõi Sắc, hoặc không trói buộc. Việc sát sanh tuy
ở cõi Dục, giới bất sát cũng phải theo việc sát mà ở
cõi Dục. Chỉ ở cõi Sắc không sát, tâm vô lậu không
sát, ấy là giới chân bất sát vì đã ngăn từ lâu xa...
Lại
nữa, có người không thọ giới, nhưng từ khi sanh về sau,
không ưa sát sanh, đó hoặc thiện hoặc vô ký, ấy gọi là
vô ký.
Pháp
bất sát sanh ấy chẳng phải tâm, chẳng phải tâm pháp, cũng
chẳng phải tâm tương ưng, hoặc cọng tâm sanh, hoặc chẳng
cọng tâm sanh. Trong A-tỳ-đàm của Ca-chiên-diên-tử nói:
“Không sát sanh là thân nghiệp khẩu nghiệp, hoặc có sắc
tướng tạo tác, hoặc không có sắc tướng tạo tác, hoặc
tùy tâm hành, hoặc không tùy tâm hành, chẳng phải là nghiệp
báo của đời trước. Hai lối tu nên tu, hai lối chứng
nên chứng. Do tư duy đoạn, thì hết thảy ở vào thân
cuối cùng tại cõi Dục chứng được; do kiến đế đoạn,
thời đoạn, thì phàm phu Thánh nhân chứng được. Nó
là sắc pháp, hoặc có thể thấy, hoặc không thể thấy, hoặc
là pháp có đối ngại, hoặc là pháp không đối ngại; pháp
có quả báo, pháp không có quả báo; pháp hữu lậu, pháp hữu
vi; pháp còn có pháp ở trên (pháp hữu thượng – đối lại
là pháp vô thượng), chẳng phải là tương ưng nhân.
Phân biệt như vậy; ấy gọi là giới bất sát.
Hỏi:
Giới của trong Bát chánh đạo cũng có giới không sát sanh,
cớ sao chỉ nói giới không sát sanh là có quả báo, là hữu
lậu?
Ðáp:
Trong đây chỉ nói pháp thọ giới luật nghi, không nói vô
lậu giới luật nghi.
Lại
nữa, trong các A-tỳ-đàm khác nói: “Pháp bất sát thường
không đi theo tâm, chẳng phải nghiệp thân khẩu. Nghịêp
hành không theo tâm thì hoặc có quả báo, hoặc không có quả
báo. Pháp chẳng tương ưng với tâm thì hoặc là hữu
lậu hoặc vô lậu”. Ðó là điểm sai khác, ngoài
ra đều đồng nhau. Lại có người nói: “Chư
Phật Thánh Hiền không hý luận các pháp, chỉ thấy hiện
tiền chúng sanh đều tiếc thân mạng nên Phật dạy chớ cướp
mạng sống kẻ khác, cướp mạng sống kẻ khác đời đời
bị đau khổ. Chhúng sanh thật có hay không sau sẽ nói.
Hỏi:
Người ta hay lấy sức thắng người, chiếm nước, giết oán,
làm thợ săn lấy da thịt, để cứu giúp rất lớn. Còn
nay không sát sanh được lợi ích gì?
Ðáp:
Ðược không sợ hãi, được an vui. Ta không hại kia,
kia không hại ta, do vậy không sợ không hãi. Người hiếu
sát, tuy ở địa vị làm vua người, cũng không tự an được
như người trì giới dạo đi một mình, không chi sợ sệt
tai nạn.
Lại
nữa, người hiếu sát, các loài có mạng sống đều không
ưa thấy, nếu không hiếu sát thì hết thảy chúng sanh đều
ưa nương dựa.
Lại
nữa, người trì giới, khi mạng chung tâm được an lạc, không
nghi, không hối, hoặc được sanh cõi trời, hoặc sanh cõi
người, thường được sống lâu. Ấy là nhân duyên đắc
đạo, cho đến khi được thành Phật, ở đời sống lâu vô
lượng.
Lại
nữa, người sát sanh, thì đời này đời sau thọ các loại
thân tâm đau khổ. Người không sát sanh, không có các
nạn đó; ấy là lợi lớn.
Lại
nữa, hành giả suy nghĩ: “Ta biết tiếc mạng sống,
yêu thân mình, thì kia cũng như vậy, cùng với ta khác gì?”
Do lẽ ấy, không nên sát sanh.
Lại
nữa, nếu sát sanh thì bị người lành chê trách, kẻ oan gia
ghen ghét, vì mắc nợ mạng nên thường hay sợ hãi, bị kia
oán ghét, khi chết ăn năn, sẽ đọa trong địa ngục, hoặc
trong loài súc sanh, hoặc sanh trong loài người thì thường
phải chết yểu.
Lại
nữa, giả sử đời sau không bị tội, không bị người lành
chê trách, oan gia ghen ghét, còn không nên cố cướp mạng kẻ
khác, vì sao? Vì người có được tướng lành, còn không
nên làm, huống gì cả hai đời đã có tội, đã bị quả
báo xấu ác.
Lại
nữa, sát sanh là tội nặng nhất trong các tội, vì sao?
Vì người khi gặp phải cái chết gấp, thì không tiếc vật
qúy báu, mà chỉ lo cho mạng sống trước tiên. Ví như
người khách buôn vào biển tìm châu báu, sắp ra khỏi biển,
thuyền chợt bị vỡ, trân bảo mất hết mà rất vui mừng,
đưa tay lên nói: ”Chút nữa mất vật báu lớn!” Mọi
người lấy làm lạ nói: “Ngươi mất hết tài bảo,
trần truồng thoát khỏi, cớ sao vui mừng nói: Chút nữa
mất vật báu lớn? Ðáp: “Trong tất cả vật báu,
mạng người báu nhất. Người vì mạng sống mà tìm
của báu, chứ không phải vì của báu mà tìm mạng sống”.
Vì lẽ ấy, Phật dạy trong mười bất thiện đạo, sát sanh
đứng đầu. Trong năm giới, giới bất sát cũng đứng
đầu. Nếu người tu nhiều phước đức màkhông có giới
bất sát sanh, thời không có ích gì, vì sao? Vì tuy có
được sanh vào nơi giàu sang, thế lực cường hào, mà không
được sống lâu, thì ai thọ hưởng cái vui ấy? Do vậy
biết trong các tội, tội sát sanh nặng nhất, trong các công
đức, công đức không sát sanh lớn nhất. Trong thế gian,
tiếc mạng sống là nhất, vì sao biết? Vì tất cả người
đời, thà cam chịu hình phạt, tàn tật, khảo đánh để hộ
mạng sống.
Lại
nữa, nếu có người thọ giới, tâm sanh, miệng nói rằng:
“Kể từ ngày nay không giết hết thảy chúng sanh”.
Thế là đối với vô lượng chúng sanh, đã đem thứ vật
yêu trọng mà thí cho, nên được công đức cũng vô lượng.
Như Phật dạy: “Có năm thứ bố thí lớn”. Những
gì là năm? 1- Không sát sanh, là việc bố thí lớn,
2- Không trộm cắp, 3- Không tà dâm, 4- Không
nói dối, 5- Không uống rượu, cũng như vậy.
Lại
nữa, thực hành Từ tam muội được phước vô lượng, nước
lửa không hại được, đao binh không tổn thương được,
hết thảy ác độc không thể trúng được. Vì hành năm
sự bố thí lớn, nên được như vậy.
Lại
nữa, các bậc tôn quý trong ba đời mười phương, Phật là
tôn quý nhất. Như Phật dạy Ưu-bà-tắc Nan-đề-ca rằng:
“Sát sanh có mười tội. Những gì là mười? 1-
Tâm thường ôm độc đời đời không dứt. 2- Chúng
sanh oán ghét, mắt không muốn nhìn. 3- Thường ôm
niệm ác, suy, nghĩ việc ác. 4- Chúng sanh sợ hãi
như thấy Cọp Rắn. 5- Khi ngủ tâm sợ, thức bất
an. 6- Thường có ác mộng. 7- Khi mệnh
chung cuồng sợ cái chết dữ. 8- Gieo nghiệp nhân
duyên của chết yểu. 9- Thân hoại mệnh chung, đọa trong
địa ngục. 10- Nếu được làm người, thường
phải chết yểu”.
Lại
nữa, hành giả tâm niệm suy nghĩ: “Tất cảloài có
mạng sống, cho đến côn trùng, đều tự tiếc thân mạng.
Cớ sao biết lấy y phục uống ăn để bảo hộ thân mình
mà lại giết chúng sanh?!”
Lại
nữa, hành giả nên học pháp đại nhân. Trong hết thảy
đại nhân, Phật là tối đại, vì cớ sao? Vì tất cả
trí tuệ được thành tựu, mười trí lực đầy đủ, hay
độ chúng sanh, thường hành từ mẫn, giữ giới sát sanh,
tự được thành Phật, cũng dạy đệ tử thực hành tâm từ
mẫn đó. Hành giả muốn học hạnh của đại nhân, cũng
nên không giết.
Hỏi:
Nếu không xâm hại ta thì tâm sát có thể dứt được, còn
nếu xâm hại, cưỡng đoạt, bức bách ta, thời phải làm
sao?
Ðáp:
Phải nên lường việc khinh trọng. Nếu người giết
mình, trước nên tự suy nghĩ: “Cái lợi toàn giới là
trọng hay toàn thân là trọng? Phá giới là mất mát hay
tán thân là mất mát?” Suy nghĩ như vậy biết giữ giới
là trọng, toàn thân là khinh. Nếu tạm khỏi nạn mà
được toàn thân, thì thân được cái gì? Thân là chỗ
tụ đọng của già bệnh chết, chắc chắn phải bại hoại.
Nếu vì giữ giới mà mất thân, lợi ấy rất trọng.
Lại suy nghĩ: “Ta trước sau mất thân, đời đời vô
số, hoặc làm thân giặc ác, cầm thú, chỉ vì tài lợi mà
làm các việc bất thiện, nay mới được vì sự giữ tịnh
giới cho nên không tiếc thân. Xả mạng để giữ giới,
hơn trăm ngàn vạn lần hủy cấm giới để giữ toàn thân,
không thể ví dụ được”. Ðịnh tâm như vậy, nên
phải xả thân để hộ tịnh giới. Như một vị Tu-đà-hoàn
sanh trong một nhà đồ sát, tuổi sắp thành nguời, phải cai
quản gia nghiệp mà không chịu sát sanh. Cha mẹ đưa dao
và một con dê, nhốt ở trong nhà mà bảo: “Nếu không
giết dê, không cho người ra mà thấy ánh mặt trời mặt trăng
và sinh hoạt ăn uống”. Người con tự suy nghĩ:
“Ta nếu giết một con dê này, bèn phải suốt đời làm nghiệp
này, há vì thân mà gây nên tội lớn này ư?” Liền
lấy dao tự sát. Cha mẹ mở cửa ra thấy dê đứng ở
một phiá còn đứa con thì đã mệnh tuyệt. Ngay lúc ựa
sát, liền sanh lên cõi trời. Hoặc được như thế ấy,
là vì không tiếc mạng sống để hộ toàn vẹn tịnh giới.
Những nghĩa như vậy, gọi là giới không sát sanh.
Không
cho mà lấy là, biết đó là vật của người khác mà sanh
tâm trộm cắp, lấy vật đem đi khỏi chỗ cũ, cho là vật
thuộc của ta; thế gọi là trộm. Nếu không làm, gọi
là không trộm. Ngoài ra, phương tiện so tính, cho đến
tay cầm mà chưa lìa khỏi chỗ; ấy gọi là cách giúp sự
ăn trộm.
Tài
vật có hai loại: Có loại thuộc của người khác,
có loại không thuộc của người khác. Lấy vật thuộc
của người khác là tội trộm. Vật thuộc của người
khác cũng có hai: 1- Vật ở trong làng xóm, 2-
Vật ở chỗ trống. Vật ở hai chỗ ấy, có tâm trộm
lấy, thì mắc tội trộm. Nếu vật ở chỗ trống, hãy
kiểm xét biết vật ấy gần nước nào? Vật ấy phải
có sở thuộc, không nên lấy. Như trong Luật tạng nói
về các việc không trộm. Ấy gọi là tướng mạo không
trộm.
Hỏi:
Không trộm có lợi ích gì?
Ðáp:
Mạng sống có hai: Trong và ngoài. Nếu cướp tài
vật, ấy là cướp mạng ngoài, vì sao? Vì mạng sống
dựa nơi cơm ăn, áo mặc v.v... mới sống. Nếu cướp,
nếu giật, ấy gọi là cướp mạng ngoài, như kệ nói:
“Hết
thảy chúng sanh
Lấy
cơm áo nuôi sống
Hoặc
cướp hoặc trộm lấy
Ấy
gọi là cướp mạng”
Vì
lẽ ấy, người có trí không nên cướp đoạt.
Lại
nữa, nên tự suy nghĩ: “Cướp giật được vật để
cung cấp cho mình, tuy thân có đầy đủ rồi cũng phải chết,
chết vào địa ngục. Tuy cả gia thất thân thuộc cùng
được thọ vui mà chỉ riêng mình chịu tội, cũng không cứu
được”. Quán sát được thế ấy, nên không nên trộm.
Lại
nữa, không cho mà lấy đây có hai thứ: 1- Trộm, 2- Cướp.
Cả hai đều gọi là không cho mà lấy. Trong tội không
cho mà lấy, trộm là rất nặng, vì sao? Vì mọi người
đều lấy tài vật nuôi sống, mà đào ngạch khoét vách trộm
lấy; vì không có sức hơn người, mà sợ chết nên mới trộm
lấy, ấy là rất bất tịnh. Trong tội cướp đoạt,
trộm là tội nặng. Như kệ nói:
“Ðói
khát thân ốm gầy
Thọ
tội chỗ đại khổ,
Của
người không thể đụng,
Giống
như đống lửa lớn.
Nếu
trộm lấy của người,
Chủ
nó khóc áo não,
Giả
sử là Thiên vương,
Cũng
còn lấy làm khổ”.
Tội
của người sát sanh tuy nặng, chỉ là giặc đối với kẻ
bị giết, còn người trộm cắp lại là giặc đối với hết
thảy người có của. Nếu phạm các giới khác, có khi
không phải là tội đối với trong nước khác, còn người
trộm cắp, thì tất cả các nước đều trị tội.
Hỏi:
Người cướp đoạt, đời nay có người khen cho là mạnh.
Vậy đối với việc cướp đoạt; vì sao phải buông xả?
Ðáp:
Không cho là mà trộm lấy, đó là tướng bất thiện.
Trong sự cướp đoạt, tuy có so le, nhưng đều là bất thiện.
Ví như đồ ăn ngon lẫn lộn chất độc, đồ ăn dở lẫn
lộn chất độc; ngon dở tuy khác nhau mà chất độc không
khác. Cũng như lúc sáng, lúc tối đạp lửa, ngày đêm
tuy khác nhau mà cháy chân thì là một. Ðời nay, người
ngu không biết quả báo tội phước trong hai đời, không có
lòng nhân từ, thấy người dùng sức xâm lấn nhau, cưỡng
đoạt tài sản kẻ khác, khen cho là mạnh, còn chư Phật Hiền
Thánh thì thương xót hết thảy, rõ suốt ương họa ba đời
không mất, nên không khen ngợi. Do vậy nên biết tội
trộm cướp đều là bất thiện, nên người lành và hành
giả không làm. Như Phật dạy: “Không cho mà lấy
có mười tội. Những gì là mười? 1- Chủ
tài vật thường giận. 2-Bị người nghi cho phạm trọng
tội. 3- Du hành phi thời, không trù tính. 4-
Bạn bè với kẻ ác, xa lìa bậc hiền thiện. 5-
Phá tướng lành. 6- Bị tội với quan. 7-
Tài vật không vào. 8- Gieo nghiệp nhân duyên của
sự nghèo. 9- Chết đọa vào địa ngục. 10-
Nếu được ra khỏi mà làm người, siêng khó cầu tài vật,
trở thành chung của cả năm nhà là hoặc vua, hoặc giặc,
hoặc lửa, hoặc con bất hiếu sử dụng. Cho đến chôn
dấu cũng bị mất.
-
Tà dâm là, nếu đối với con gái được cha mẹ, anh
em, chị em, chồng, con cái, pháp luật thế gian, và phép vua
thủ hộ, mà hoặc phạm đến, ấy gọi là tà dâm. Hoặc
có người tuy không có ai thủ hộ, mà do pháp thủ hộ.
Thế nào là pháp thủ hộ? Là hết thảy người nữ xuất
gia và người nữ thọ giới trong một ngày; ấy là pháp thủ
hộ. Nếu dùng sức, dùng tài vật, hoặc dụ dỗ, hoặc
tự có người vợ thọ giới; có thai, có con đang thời kỳ
bú; hoặc phi đạo; cho đến dùng tràng hoa cho dâm nữ để
yêu sách. Phạm những điều như vậy gọi là tà dâm.
Không làm những điều như vậy gọi là không tà dâm.
Hỏi:
Người thủ hộ nên người nổi sân, pháp thủ hộ nên phá
pháp, nên gọi là tà dâm. Còn người đối với vợ mình,
vì sao cho là tà?
Ðáp:
Ðã cho phép vợ thọ giới trong một ngày, đã ở trong pháp,
tuy vốn là vợ mà nay không được tự do. Qua khỏi ngày
thọ giới, thời chẳng phải là pháp thủ hộ. Lại,
người vợ đang mang thai, vì thân thể kia nặng nề, chán thói
cũ; lại vì sợ tổn thương bụng chửa; khi con còn thời kỳ
bú mà hành dâm mẹ nó thì sữa khô kiệt; lại vì tâm nữ
say dâm dục thì không còn săn sóc con. Chỗ phi đạo là
không phải nữ căn, tâm người nữ không vui mà cưỡng ép
phi lý nên gọi là tà dâm. Những việc ấy không làm,
nên không gọi là tà dâm.
Hỏi:
Nếu người chồng không biết, không thấy, không phiền não
thì người dâm kia có tội gì?
Ðáp:
Vì nó là tà. Ðã gọi là tà, ấy là bất chánh, cho nên
có tội.
Lại
nữa, việc này có các tội lỗi: Tình chồng vợ tuy khác
thân mà đồng thể. Cướp tình yêu của người khác,
phá bổn tâm của người ta; ấy là giặc, lại mắc trọng
tội, tiếng tăm xấu xa, bị người oán ghét, vui ít sợ nhiều,
hoặc sợ hình phạt giết chết. Lại sợ chồng và người
hai bên biết, thường ưa nói dối, bị Thánh nhân trách mắng
là tội của trọng tội.
Lại
nữa, người dâm dật nên tự suy nghĩ: “Vợ ta vợ người,
đồng là nữ nhân, xương thịt tình thái, kia đây không khác;
mà vì sao ta sanh tâm mê lầm ngang trái, chạy theo ý tà?”
Người tà dâm phá mất cái vui đời này, đời sau.
Lại
nữa, đổi chỗ xoay về mình, để tự chế tâm rằng:
“Nếu người kia xâm phạm vợ ta, thời ta giận độc; nếu
ta xâm phạm vợ người kia, thời người kia cũng thế khác
gì. Suy bụng mình để tự chế cho nên không nên làm”.
Lại
nữa, như Phật dạy: “Người tà dâm, sau đọa vào địa
ngục cây gươm, chịu đủ mọi khổ. Khi được ra khỏi
mà làm người thì gia đạo bất hòa, thường gặp dâm dục,
tà vậy, giặc ác. Tà dâm là hoạn nạn ví như Rắn độc,
cũng như lửa lớn, không gấp rút xa lánh, thì họa lại ập
đến”. Như Phật dạy: “Tà dâm có mười tội:
1- Thường bị phu chủ của người bị dâm muốn làm
nguy hại. 2- Chồng vợ bất hòa, thường đấu tranh
nhau. 3- Ngày ngày tăng trưởng các pháp bất thiện,
tổn giảm các pháp thiện. 4- Không thủ hộ thân,
vợ con côi cút. 5- Tài sản mỗi ngày hao mòn.
6- Có các việc dữ, thường bị người nghi. 7-
Thân thuộc, tri thức không vui mừng yêu mến. 8-
Gieo nghiệp nhân duyên về oan gia. 9- Thân hoại mạng
chung, chết vào địa ngục. 10- Nếu được ra khỏi
mà làm người nữ, phải chung chồng với nhiều người, còn
nếu là người nam, thì vợ không trinh khiết.
-
Nói dối là, tâm không thanh tịnh, muốn dối gạt người,
che dấu sự thật, xuất lời nói khác, sanh khẩu nghiệp; ấy
là nói dối. Tội vọng ngữ là do hai bên cùng hiểu về
ngôn ngữ mà có; nếu không cùng hiểu, thì tuy có nói không
thật, cũng không có tội nói dối.
Nói
dối là, biết nói không biết, không biết nói biết; thấy
nói không thấy, không thấy nói thấy; nghe nói không nghe, không
nghe nói nghe; ấy là nói dối. Nếu không làm, ấy là
không nói dối.
Hỏi:
Nói dối có những tội gì?
Ðáp:
Người nói dối trước hết tự dối mình, sau dối người.
Lấy thật làm hư; lấy hư làm thật, hư thật điên đảo,
không thọ nhận thiện pháp. Ví như cái bình úp, nước
không vào được. Người nói dối, tâm không tàm quý,
đóng bít cửa thiện đạo và Niết-bàn. Quán xét biết
tội ấy, cho nên không làm.
Lại
nữa, quán xét biết thật ngữ lợi nó rất rộng lớn.
Cái lợi của thật ngữ từ nơi mình ra, rất là dễ được.
Ðó là cái lực của hết thảy người xuất gia. Công
đức như vậy, người tại gia xuất gia đều có cái lợi
này. Ðó là tướng của người lành.
Lại
nữa, người thật ngữ, tâm họ ngay thẳng, dễ được khỏi
khổ. Ví như kéo cây ra chỗ rừng rậm, cây thẳng dễ
ra.
Hỏi:
Nếu nói dối có tội như vậy, tại sao người ta nói dối?
Ðáp:
Có người ngu si thiếu trí, gặp việc khổ ách, nói dối để
cầu thoát khỏi, không biết việc pháp xuất đời này mắc
tội, không biết đời sau mắc tội báo lớn. Lại có
người tuy biết tội nói dối, nhưng vì xan tham sân nhuế,
ngu si nhiều cho nên nói dối. . Lại có người tuy không
xan tham sân nhuế, mà dối làm chứng tội người, tâm cứ
bảo là thật, chết bị đọa vào địa ngục, như đệ tử
của Ðề-bà-đạt-đa là Câu-già-ly, thường tìm tòi lỗi
lầm của Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên. Lúc ấy hai ngài
hạ an cư xong, du hành qua các nước, lúc gặp trời mưa lớn,
đến nhà người thợ gốm, nghỉ lại trong nhà chứa đồ
đầy gốm. Trong nhà ấy, trước đã có một người nữ
ngủ ở chỗ tối, hai ngài không biết. Ðêm đó người
nữ nằm mộng xuất bất tịnh, sáng sớm đi đến chỗ có
nứơc để rửa. Bấy giờ Câu-già-ly ngẫu nhiên đi qua
trông thấy. Câu-già-ly có khả năng xem tướng, biết
tình trạng của người có giao hội, mà không biết được
có mộng hay không mộng. Câu-già-ly quay nói với đệ
tử: “Người nữ này đêm qua đã thông tình với người
khác”. Liền hỏi người nữ: “Cô nằm ở chỗ
nào?” Ðáp: “Tôi ngủ nhờ trong nhà người thợ
gốm”. Lại hỏi: “Cùng với ai?” Ðáp:
“Hai Tỳ-kheo”. Lúc ấy hai ngài từ trong nhà đi ra.
Câu-già-ly thấy rồi, lại xem tướng xét nghiệm, trong ý cho
rằng hai ngài chắc chắn đã làm điều bất tịnh. Trước
đã ôm sẵn tâm tật đố, nay thấy việc này, đem rêu rao
khắp các thành ấp xóm làng, sau đi đến Kỳ Hoàn, xướng
lên tiếng xấu ấy.
Giữa
lúc ấy, Phạm-thiên vương đi đến muốn hầu Phật,
Phật đã vào tịnh thất, yên lặng trong Tam muội. Chúng
các Tỳ-kheo cũng đều đóng phòng vào tam muội, không thể
đánh thức được, liền tự suy nghĩ: “Ta cố đến
hầu Phật. Phật vào tam muội”, và muốn trở lui, lại nghĩ
rằng: “Phật từ định dậy, chắc sẽ không lâu”,
nên ngừng lại chốc lát và đi đến trước phòng Câu-già-ly,
gõ cửa nói rằng: “Câu-già-ly! Câu-già-ly! Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên tâm thanh tịnh nhu nhuyến, thầy chớ hủy
báng mà phải chịu khổ suốt đời”. Câu-già-ly hỏi:
“Ông là người nào?” Ðáp: ”Tôi là Phạm-thiên vương!”
Hỏi: “Phật nói ông đã được đạo quả A-na-hàm,
vì cớ sao đến đây” Phạm-vương tâm suy nghĩ mà nói
kệ:
“Muốn
lường pháp vô lượng
Không
nên thử lấy tướng,
Muốn
lường pháp vô lượng,
Người
ấy bị che mắt”
Nói
kệ ấy xong, Phạm-thiên vương đi đến chỗ Phật, trình bầy
đầy đủ ý đó. Phật nói: “Lành thay! Lành
thay! Khéo nói kệ ấy”. Bấy giờ Thế Tôn nói lại
kệ ấy:
“Muốn
lường pháp vô lượng
Không
nên thử lấy tướng,
Muốn
lường pháp vô lượng,
Người
ấy bị che mắt”
Phạm-thiên
vương nghe Phật nói xong bỗng nhiên không hiện, liền trở
lại cõi Trời. Bấy giờ, Câu-già-ly đi đến chỗ Phật,
đầu mặt lễ chân Phật, lui ngồi một bên. Phật nói
với Câu-già-ly: ”Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên tâm
thanh tịnh nhu nhuyến, ngươi chớ hủy báng mà phải chịu
khổ suốt đời”. Câu-già-ly thưa Phật: “Con
đối với lời Phật dạy không dám không tin, chỉ vì tự
mắt thấy rõ ràng, biết chắc hai Tôn giả thật sự đã hành
bất tịnh”. Phật mắng như vậy ba lần, Câu-già-ly
cũng ba lần không chịu, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi
trở về phòng, toàn thân sanh mụn nhọt, mới đầu như hạt
cải, lớn dần như hạt đậu, quả táo, quả nại, càng lớn
như quả dưa, đông lại tiêu hoại, như lửa lớn đốt cháy,
kêu la rên siết, chết ngay trong đêm ấy, sa vào địa ngục
Ðại Liên Hoa.
Bấy
giờ có một Phạm-thiên ban đêm đi đến bạch Phật:
“Câu-già-ly đã chết”. Lại có một Phạm-thiên
nói: ”Bị đọa vào địa ngục Ðại Liên Hoa”.
Ðêm
ấy đã qua, Phật bảo chúng Tăng tập họp mà dạy rằng:
“Các ông có muốn biết thọ mạng của Câu-già-ly ở địa
ngục dài ngắn chăng?” Các Tỳ-kheo thưa: “Nguyện
muốn được nghe”. Phật dạy: “Có sáu mươi hộc
mè, có một người qua 100 năm lấy đi một hột mè. Cứ
như vậy đến hết mà thọ số trong địa ngục A-phù-đà
vẫn chưa hết. Thọ số trong hai mươi địa ngục A-phù-đà
là thọ số trong một địa ngục Ni-la-phù-đà. Thọ số trong
hai mươi địa ngục Ni-la-phù-đà là thọ số trong một địa
ngục A-a-la. Thọ số trong hai mươi địa ngục A-a-la là
thọ số trong một địa ngục A-bà-bà. Thọ số trong
hai mươi địa ngục A-bà-bà là thọ số trong một địa ngục
Hưu-hưu. Thọ số trong hai mươi địa ngục Hưu-hưu là
thọ số trong một địa ngục Âu-ba-la. Thọ số trong
hai mươi địa ngục Âu-ba-la là thọ số trong một địa ngục
Phân-đà-lê-ca. Thọ số trong hai mươi địa ngục Phân-đà-lê-ca
là thọ số trong một địa ngục Ma-ha-Ba-đầu-ma. Câu-già-ly
bị đọa vào địa ngục Ma-ha-Ba-đầu-ma ấy, lưỡi nó bị
kéo ra thật lớn, lấy năm trăm cái đinh đâm vào năm trăm
cái lưỡi cày cày lên”. Bấy giờ Thế Tôn mới nói
kệ:
“Người
sanh ở đời,
Búa
ở trong miệng,
Sở
dĩ chém thân,
Do
lời nói ác.
Ðáng
mắng lại khen,
Ðáng
khen lại mắng,
Miệng
chứa điều ác,
Trọn
chẳng được vui,
Tâm
khẩu nghiệp sanh ác.
Ðọa
ngục Ni-la-phù,
Ðầy
đủ trăm ngàn đời,
Chịu
khổ đau cay độc,
Nếu
sanh A-phù-đà,
Ðầy
đủ ba mươi sáu,
Lại
riêng có năm đời,
Chịu
đủ các khổ độc.
Tâm
nương tà kiến,
Phá
lời Hiền Thánh,
Như
tre sinh trái,
Tự
hủy thân nó”.
Như
vậy, tâm sanh nghi ngờ phỉ báng bèn đi tới quyết định
cũng là nói dối. Người nói dối, thậm chí lời Phật
cũng chẳng tín thọ. Vì chịu tội như vậy, nên không
nên nói dối.
Lại
nữa, như con Phật là La-hầu-la, khi còn ấu thơ, chưa biết
dè miệng, có người đến hỏi: “Thế Tôn có ở nhà
chăng?” Nói dối là: “Không có ở nhà”.
Nếu khi Phật không ở nhà, có người hỏi: “La-hầu-la,
Phật ở nhà chăng?” Nói dối là: “Phật ở nhà”.
Có người. Có người kể lại với Phật, Phật bảo
La-hầu-la: “Cầm chậu lấy nước cho Ta rửa chân”.
Phật rửa chân xong, bảo: “Úp chậu ấy lại”.
Theo lời dạy, La-hầu-la liền úp lại, Phật bảo La-hầu-la:
“Lấy nước rót lên”. Rót xong, Phật hỏi: “Nước
có vào trong chậu chăng?” Thưa: “Bạch Thế Tôn,
không vào”. Phật bảo La-hầu-la: “Cũng như vậy.
Người không biết tàm qúy, sự nói dối che tâm, đạo pháp
không vào được”. Như Phật dạy: Nói dối có
mười tội: 1- Hơi miệng hôi. 2- Thiên thần
xa lánh, kẻ phi nhân được tiện lợi. 3- Tuy có
nói thật không ai tin thọ. 4- Người trí mưu nghị,
thường không được tham dự. 5- Thường bị phỉ
báng, bị tiếng xấu ác đồn khắp thiên hạ. 6-
Không được người cung kính, tuy có dạy bảo, người ta không
thừa nhận ứng dụng. 7- Thường nhiều ưu sầu.
8- Gieo nghiệp nhân duyên cho sự phỉ báng. 9-
Thân hoại mạng chung sẽ sa vào địa ngục. 10- Nếu
được ra làm người, phi thường bị phỉ báng. Các thứ
như vậy không làm, ấy là không nói dối, gọi là thiện luật
nghi của miệng.
-
Không uống rượu là, rượu có ba thứ. 1- Rượu
gạo, 2- Rượu quả, 3- Rượu cây thuốc. Rượu quả là quả
nho, quả A-lê-tra, các thứ như vậy gọi là Rượu quả.
Rượu cây thuốc là các thứ cây thuốc hòa hợp với gạo,
men trong nước mía, có thể biến thành Rượu, giống như Rượu
sữa thú, tất cả sữa nóng đều có thể làm Rượu được.
Nói tóm, các thứ như vậy hoặc khô hoặc ướt, hoặc thanh
hoặc trược có thể khiến tâm người biến động phóng dật,
đều gọi là Rượu. Tất cả đều không nên uống, ấy
gọi là không uống Rượu.
Hỏi:
Rượu có thể trừ lạnh, ích thân, làm cho tâm hoan hỷ, vì
sao không uống?
Ðáp:
Ích thân rất ít mà hại thân rất nhiều, cho nên không nên
uống. Ví như đồ ăn ngon trong đó có lẫn độc.
Là những độc gì? Như Phật nói với Ưu-bà-tắc Nan-đề-ca:
“Rượu có 35 điều hại: 1- Hiện đời tài vật
hao kiệt, vì sao? Vì người uống rượu say, tâm không
biết tiết chế giới hạn, phí dụng vô độ. 2-
Cửa ngõ cho mọi tật bệnh. 3- Gốc của sự đấu
tranh. 4- Lõa lồ không biết hổ. 5- Tiếng
tăm xấu xa. 6- Không ai kính trọng. 7- Vật
đáng được lại không được, vật có được lại bị tan
mất. 8- Những việc kín đáo đem nói hết với người.
9- Các sự nghiệp bị bỏ phế không thành. 10-
Say là gốc sầu muộn, vì sao? Trong khi say gây nhiều tội
lỗi. 11- Thân lực càng kém sút. 12- Thân sắc
bại hoại. 13- Không biết thờ kính cha. 14-
Không biết thờ kính mẹ. 15- Không kính Sa-môn. 15-
Không kính Bà-la-môn. 16- Không kính Bác, chú và các
vị tôn trưởng, vì sao? Vì khi say hôn muội hoảng hốt,
không phân biệt được gì. 18- Không tôn kính Phật.
19- Không kính Pháp. 20- Không kính Tăng.
21- Bè bạn với kẻ ác. 22- Xa lìa bậc hiền thiện.
23- Làm người phá giới. 24- Không tàm quý.
25- Không thủ hộ các căn. 26- Phóng túng sắc
dục. 27- Bị người ganh ghét không ưa thấy.
28- Bị các thân tộc tôn qúy và các hàng trí thức đuổi
bỏ. 29- Hành pháp bất thiện. 30- Vứt
bỏ thiện pháp. 31- Bị ngừơi sáng kẻ trí không
tin dùng, vì sao? Vì phóng dật theo rượu. 32-
Xa lìa Niết-bàn. 33- Gieo nhân duyên về sự cuồng
si. 34- Thân hoại mạng chung đọa vào trong địa
ngục, ác đạo. 35- Nếu được làm người, nơi
sanh ra thường phải điên cuồng lẩn thẩn. Vì các điều
tai hại như thế, cho nên không uống, như kệ nói:
“Rượu,
mất tướng giác tri,
Thân
sắc trược mà xấu,
Trí
tâm động mà loạn,
Tàm
qúy đã bị cướp.
Thất
niệm, tăng sân hận,
Mất
vui, hủy tôn tộc,
Như
vậy tuy gọi uống,
Thật
là uống độc chết.
Không
đáng giận mà giận,
Không
đáng cười mà cười,
Không
đáng khóc mà khóc
Không
đáng đánh mà đánh,
Không
đáng nói mà nói,
Chẳng
khác chi người cuồng,
Cướp
các công đức lành.
Người
biết hổ không uổng
Bốn
tội như vậy không làm, là luật nghi thiện của thân.
Không nói dối là luật nghi thiện của miệng, gọi là năm
giới luật nghi Ưu-bà-tắc.
Hỏi:
Nếu giữ tám luật nghi (thân có 3, miệng có 4 và không uống
Rượu) và nuôi sống cách trong sạch, gọi là giới, vậy vì
sao Ưu-bà-tắc đối với trong luật nghi của miệng không có
3 luật nghi (nói hai lưỡi, nói ác, nói thêu dệt) và nuôi
sống cách trong sạch?
Ðáp:
Hàng cư sĩ tại gia, thọ dục lạc ở đời, chỉ kiêm tu phước
đức, không thể tu hết các giới pháp, cho nên Phật chỉ
khiến giữ năm giới.
Lại
nữa, trong bốn thứ khẩu nghiệp, nghiệp nói dối là nặng
nhất. Lại nữa, nói dối là sanh tâm cố làm, còn các
nghiệp khác (nói hai lưỡi v.v...) hoặc cố tâm làm, hoặc
không cố tâm làm.
Lại
nữa, chỉ nói dối là gồm đủ ba thứ kia.
Lại
nữa, trong các thiện pháp, chơn thật là lớn nhất. Nếu
nói lời chơn thật là đã gồm đủ được bốn thứ chánh
ngữ.
Lại
nữa, hàng cư sĩ ở đời, còn phải làm quan xử lý sự việc,
sứ giả của nghiệp nhà, cho nên khó giữ được giới không
nói ác. Nói dối là cố ý làm. Vì là việc trọng
nên chẳng nên làm.
Năm
giới này có năm bậc lãnh thọ là năm hạng Ưu-bà-tắc :
1- Nhất phần hành Ưu-bà-tắc, 2- Thiểu phần hành
Ưu-bà-tắc, 3- Ða phần hành Ưu-bà-tắc, 4-
Mãn phần hành Ưu-bà-tắc, 5- Ðoạn dâm Ưu-bà-tắc.
Nhất
phần hành là ở trong năm giới chỉ thọ được một giới,
không thể thọ trì bốn giới kia.
Thiểu
phần hành là hoặc thọ được hai giới, hoặc thọ được
ba giới.
Ða
phần hành là thọ được bốn giới.
Mãn
phần hành thọ trì đủ năm giới.
Ðoạn
dâm là sau khi thọ ngũ giới, ở trước Thầy lại phát lời
thề rằng: “Tôi đối với vợ mình không còn hành dâm”,
ấy gọi là năm giới, như Phật dậy kệ rằng:
“Không
giết cũng không trộm.
Cũng
không có tà dâm,
Thật
ngữ, không uống rượu
Chánh
mạng với tịnh tâm,
Nếu
làm được như vậy,
Trừ
lo sợ hai đời,
Giới
phước thường theo thân,
Thường
cùng với trời người.
Hoa
sáu thời ở đời,
Màu
tươi sáng cùng phát,
Vì
hoa một năm này,
Trên
trời một ngày đủ.
Cây
trời tự nhiên sanh,
Tràng
hoa và anh lạc,
Hoa
đỏ như đèn chiếu,
Các
màu xen lẫn nhau.
Ao
trời vô ương số,
Bao
nhiêu thứ màu sắc,
Tinh
bạch ánh mặt trời,
Nhẹ
kín không xen hở.
Thêu
dệt chiếu sắc vàng,
Văn
vẻ như hơi mây.
Áo
thượng diệu như vậy,
Ðều
từ cây trời ra.
Ngọc
sáng hoa tai trời,
Xa
cừ sáng tay chân,
Áo
mặc đẹp tùy tâm,
Cũng
từ cây trời ra.
Hoa
vàng cọng lưu ly,
Kim-cương
làm tua hoa,
Mềm
dịu hương thơm ngát,
Ðều
từ ao báu ra.
Ðàn
cầm, tranh, không hầu,
Trang
xức bằng bảy báu,
Ðồ
đẹp nên tiếng trong,
Cũng
đều từ cây ra.
Cây
Ba-lỵ-chất-đa,
Vua
giữa các cây trời,
Tại
vườn hoan hỷ kia
Không
có đâu sánh bằng.
Giữ
giới là cày ruộng,
Cây
trời từ đó ra,
Bếp
trời vị cam-lồ,
Uống
ăn trừ đói khát.
Gái
trời không giam ngại,
Không
có nạn mang thai,
Ðược
vui vẻ tự nhiên,
Ăn,
khỏi nạn đại tiểu.
Giữ
giới thường nhiếp tâm,
Ðược
sanh chỗ tự do,
Vô
sự cũng vô nạn,
Thường
được vui thỏa chí.
Chư
thiên được tự tại,
Lo
khổ không còn sanh,
Nghĩ
muốn gì liền đến.
Thân
quang chiếu tối tăm.
Các
thứ vui như vậy,
Ðều
do thí và giới,
Nếu
muốn được báo ấy,
Hãy
nên tự gánh sức”.
Hỏi:
Nay nói giới Ba-la-mật sẽ được thành Phật, vì sao lại
tán thán phước báo cõi Trời?
Ðáp:
Phật dạy ba sự chắc chắn được quả báo không sai:
Bố thí được đại phước, Trì giới được sanh chỗ tốt,
Tu định được giải thoát. Nếu riêng trì giới chỉ
được sanh chỗ tốt, nếu tu định, trí tuệ, từ bi hòa hợp
thì được đạo quả ba thừa. Nay chỉ tán thán trì giới
hiện đời được công đức, tiếng tăm, an vui, đời sau được
quả báo, như bài kệ đã tán thán. Ví như con nít, lấy
đường bọc thuốc đắng, sau mới uống được. Nay trước
hết tán thán phước đức của sự trì giới, vậy sau người
ta mới trì giới được. Trì giới rồi, lập thệ nguyện
lớn, được đi đến Phật đạo, ấy là trì giới sanh Giới
Ba-la-mật.
Lại
vì hết thảy người đều ưa đắm sự vui. Trong sự
vui của thế gian, vui trên trời là hơn cả. Nếu nghe
các thứ khoái lạc trên rời, liền thọ trì giới. Sau
lại nghe nói trên trơì vô thường sanh tâm nhàm chán, nên
có thể cầu giải thoát. Lại nghe vô lượng công đức
của Phật, nếu có tâm từ bi phát sanh, nương giới Ba-la-mật
sẽ được đạt đến Phật đạo. Do lẽ đó, tuy nói
phước báo của giới mà không lỗi.
Hỏi:
Hàng cư sĩ tại gia, chỉ thọ năm giới ấy hay còn có pháp
gì khác?
Ðáp:
Còn có giới thọ trì trong một ngày thọ vào trong sáu ngày
trai, công đức vô lượng. Hoặc trong mười hai tháng,
từ một ngày đến mười lăm ngày thọ trì giới này, được
phước đức rất nhiều.
Hỏi:
Làm sao để thọ giới trong một ngày?
Ðáp:
Cách thọ giới một ngày, là quỳ thẳng chắp tay (trước
giới sư) nói như vầy: “Con tên ... nay một ngày một
đêm Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng”. Nói như vậy
tiếp quy y lần thứ hai, lần thứ ba.
“Con
tên .... Quy y Phật rồi, Quy y Pháp rồi, Quy y Tăng rồi”.
Nói như vậy tiếp lần thứ hai, lần thứ ba Quy y rồi.
“Con
tên là ... hoặc thân nghiệp bất thiện, khẩu nghiệp bất
thiện, ý nghiệp bất thiện, vì tham dục sân nhuế, ngu si.
Hoặc đời này hoặc đời trước, có các tội như vậy, ngày
nay thành tâm sám hối. Thân được thanh tịnh, miệng
được thanh tịnh, thọ trì tám giới”. Ấy là Bồ-tát,
Tàu dịch là thiện túc (ngủ yên lành).
“Như
chư Phật, trọn đời không sát sanh, con tên là ... trong một
ngày một đêm không sát sanh, cũng như vậy”.
“Như
chư Phật, trọn đời không trộm cắp, con tên là ... trong
một ngày một đêm không trộm cắp, cũng như vậy”.
“Như
chư Phật, trọn đời không dâm dục, con tên là ... trong một
ngày một đêm không dâm dục, cũng như vậy”.
“Như
chư Phật, trọn đời không nói dối, con tên là ... trong một
ngày một đêm không nói dối, cũng như vậy”.
“Như
chư Phật, trọn đời không uống rượu, con tên là ... trong
một ngày một đêm không được uống rượu, cũng như vậy”.
“Như
chư Phật, trọn đời không ngồi giường cao lớn, con tên
là ... trong một ngày một đêm không ngồi giường cao lớn,
cũng như vậy”.
“Như
chư Phật, trọn đời không đeo tràng hoa, không xoa hương,
không mặc áo ướp hương, con tên là ... trong một ngày một
đêm không đeo tràng hoa, không xoa hương, không mặc áo ướp
hương, cũng như vậy”.
“Như
chư Phật, trọn đời không tự ca múa làm vui, không đi xem
nghe, con tên là ... trong một ngày một đêm không tự
ca múa làm vui, không đi xem nghe, cũng như vậy”.
“Ðã
thọ tám giới, như chư Phật, trọn đời không ăn quá ngọ,
nay con tên là ... trọn một ngày một đêm không ăn quá ngọ,
cũng như vậy”.
“Con
tên là ... thọ hành tám giới theo học pháp của chư Phật,
gọi là Bồ-tát. Nguyện giữ phước báo Bồ-tát này,
đời đời không bị đọa vào đường ác, tám nạn.
Con cũng không cầu cái vui trong thế giới Chuyển luân Thánh
vương, Phạm-thiên, Ðế-thích-thiên-vương, chỉ nguyện dứt
hết các phiền não, kíp được Tát-bà-nhã (trí tuệ) thành
tựu Phật đạo”.
Hỏi:
Làm thế nào để thọ năm giới?
Ðáp:
Quỳ thẳng chắp tay (trước giới sư) nói rằng: “Con
tên là... Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng”. Nói
như vậy lần thứ hai, lần thứ ba.
“Con
tên là... Quy y Phật rồi, Quy y Pháp rồi, Quy y Tăng rồi”.
Nói như vậy tiếp lần thứ hai, lần thứ ba.
“Con
là Ưu-bà-tắc của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, xin chứng trí
cho con tên là ... từ ngày nay cho đến trọn đời Quy y”.
Giới
sư nên nói: “Ưu-bà-tắc, ngươi hãy lắng nghe:
Ðức Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, biết người, thấy
người, vì hàng Ưu-bà-tắc thuyết ra năm giới này, ngươi
hãy trọn đời thọ trì. Những gì là năm?
-
Trọn đời không sát sanh là giới Ưu-bà-tắc. Trong đây
trọn đời không nên cố ý sát sanh. Việc này n