KẾT
THÚC CHUYẾN ĐI
MINH
MẪN
22/5/07
Ngày
09/5/07 đã kết thúc chuyến đi của TS TNH và tăng đoàn Làng
Mai ở VN; tại phi trường Nội Bài. Đoàn sang Hongkong rồi
đến Thailand dự lễ Phật Đản, sẽ về lại Pháp vào ngày
31/5/07
Thế
là hơn hai tháng tại quê nhà, bước chân hoằng hoá nhiều
tranh cải trên diễn đàn quốc tế liên tục xẩy ra, trước
ngày đến VN, đang ở VN, cũng như sau khi rời khỏi VN.
Mục
đích chính là lập Trai Đàn Bình Đẳng Chẩn Tế ba miền,
những mục còn lại là khoá tu, pháp thoại và thăm viếng.
Vấn
đề Đàn Chẩn, theo từ tin làng Mai, cũng có nhiều bàn cải
và tương nhượng giữa Làng Mai, nhà nước VN và GHPGVN qua
một vài thuật ngữ, như bỏ chữ Giải Oan, bỏ bài Phổ Cáo
quốc dân; một vài địa điểm như Nghĩa Trang Quân Đội Biên
Hoà, nghĩa trang Liệt Sĩ Thủ Đức…không thực hiện được;
và một ít cách thức làm việc, tuy nhiên, cho dù trong nội
bộ một tổ chức, một cơ chế hay một GH cũng luôn xẩy
ra những bất đồng, những hiểu lầm bởi phong thái, ngôn
ngữ và nhận xét về nhau.
Về
mặt tổng quát, mục đích Đàn Chẩn có mức thành công nhất
định, nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế ngoài ý
muốn;và sự hiện diện của sư ông trong chuyến về
năm 2007 nầy, trước đó nửa năm cũng đã có những xôn xao
dị nghị, có những chống báng rất bài bản trong nước và
xuyên tạc châm biếm từ ngoài nước.
Sự chống đối:
a/
khuynh hướng chính trị, những thành phần nặng bảo thủ,
chống chế độ, họ đều nghĩ rằng nhà nước VN dùng sư
ông như một con cờ giải oan cho chế độ về tai tiếng tự
do tôn giáo, tín ngưỡng và nhân quyền. Mặt khác, cũng từ
những dư luận đó, Thiền sư là con bài chiến lược, là
Trí vận, là biệt kích văn hoá…khi thành công vận động
cho chiến tranh chấm dứt, Mỹ rút khỏi miền Nam VN, bây giờ
tiếp sứ mạng hóa giải hận thù mà 32 năm qua vẫn còn kéo
dài ra ngoài biên giới đất nước, và đoàn kết dân
tộc mà một số còn chống đối, không đồng tình, tuy nhiên
đoàn Làng Mai cũng không thuận lợi hoàn toàn theo yêu cầu,
chứng tỏ sư ông không phải là tay sai như họ nghĩ.
b/
sự chống đối từ nội bộ PG, ai cũng biết rằng TS TNH từng
có cảm tình với HT Huyền Quang, HT QĐ, từng bênh vực cho
các ngài trước quốc tế, từng ca ngợi HT Quảng Độ
là Bồ Tát Vô Úy, thế nhưng khi Ngài về VN, những tình cảm
sâu đậm kia bổng chợt xoay chìêu 180 độ. GHTN nghĩ rằng,
sự xuất hiện của tăng thân làng Mai và sư ông NH là xác
định tự do tôn giáo của chế độ và tệ hơn là triệt
tiêu uy tín GHTN, thế là các Ngài không tiếp về chuyến đầu
và ngấm ngầm chống đối, bêu rếu từ Võ Văn Ái đến người
trong nước mạo danh Quách Thị Tam Thê viết nhiều bài thua
xa Quách thị Song Phu về nghệ thuật xuyên tạc lẫn kỷ thuật
viết lách., trong chuyến thứ hai 2007. T.Không Tánh chuyển tải
các tư liệu bôi bác TS. Một số chức sắc trong nước e ngại
uy tín của sư ông làm mất ảnh hưởng của họ đang có từ
quần chúng.
c/
Theo nguồn tin trong nước, Quách Thị Song Phu tức Nguyễn Thanh
Giản, viết về Hiện Tượng Nhất Hạnh là một đột xuất
bởi cá nhân chứ không có tổ chức, đố kỵ pháp môn mà
Huế là cái nôi tu Tịnh Độ, nhưng tại sao phân bố, phát
tán từ Già Lam? Có dư luận nghĩ rằng phát xuất từ
Già Lam, nhưng một vị chưa sắc GHTN trước đây tại Già
Lam tuyên bố: Không ai ngu làm chiuyện đó! Cá nhân
Giản làm tại sao tập thể hưởng ứng? đây là việc làm
không thể một người đảm trách, tùy mọi người thẩm định.
d/
GHPGVN thỏa thuận hợp tác Đại Đàn Chẩn Tế ba miền, nhưng
thái độ hợp tác, theo làng Mai là chưa tận tình. Tại TP
HCM, nhờ TT Lệ Trang chu tất từ A đến Z nên về hình thức
và nghi lễ đã đạt trên mức chuẩn, đầy ấn tượng. Về
quần chúng, là TP lớn nhất nước, nên quần chúng tham dự
đông đúc là chuyện đương nhiên. Riêng tại Huế, hầu hết
thiết trí lễ Đàn là người của Từ Hiếu và Bát Nhã đảm
trách mà Diệu Đế hay GH Thừa Thiên không chính thức chủ
động. Tại Huế, số chống đối TS chỉ có nhóm GHTN, không
đáng kể, một số học tăng học ni do ảnh hưởng sự xuyên
tạc và bất mãn lối giải quyết nội bộ chùa Từ Hiếu
và chùa Diệu Nghiêm trước đây, nên có thành kiến và chống
đối làng Mai bằng những động thái và ngôn cách nặng nề;
còn lại, đa số tăng ni thầm lặng hơn chuyến về 2005.
Phần lớn không chống cũng chẳng theo. Tại sao?
Nghi
Chẩn tại Huế đúng bài bản, Ban kinh sư tận tình với nghiệp
vụ; quần chúng, tuy chưa nhận đầy đủ thông tin về lễ
Bạt Độ, nhưng tham dự suốt ba ngày tương đối nhộn nhịp.
Với cái nôi của PGVN như Huế, tổng lực PG được huy động
và đoàn kết, chắc chắn lễ Đại Chẩn, tầm vóc sẽ
gấp trăm lần hơn chứ không chỉ có vậy. Tại sao?
Cuộc
chẩn tại Hà Nội cũng thế, GH tham gia như dè chừng, không
ai chống như Huế, nhưng chẳng ai tha thiết tham dự, ngoại
trừ một số đại biểu trượng trưng. GH trung ương không
cho mượn Học viện PG Sóc Sơn tổ chức lễ hay phòng ốc
lưu trú cho tăng đoàn, kể cả một phòng cho TS tạm nghĩ,
Đàn chẩn phải thiết trí tại chùa Non cách học viện 700m,
trên dốc cao, buộc lòng TS phải về khách sạn ngoài
thị trấn Sóc Sơn cách đó 3km. Cuộc Đại Chẩn như thế
được xem là của làng Mai chứ không phải của PGVN hợp tác.
Tại sao?
Pháp
hành An Ban Thủ Ý không liên hệ gì đến các triết gia tây
Phương mà có người đã nghĩ. Chưa thâm nhập vào
pháp môn thì chưa vội thẩm định theo cảm nhận riêng của
mình.PGVN lúc nầy cần sự đoàn kết hơn là đố kỵ. Theo
nhân quả, mình chống đối thì sẽ gặp sự chống đối.
Bảo rằng pháp hành của TS không thích hợp với VN hay bảo
là tà giáo, Thì Bồ Đề Đạt Ma vào Trung quốc, Lương Võ
Đế cũng xem ngài là ngoại đạo và các pháp thiền do chư
tổ Trung quốc sáng tạo cũng bị xem là không đúng tinh thần
Pg lúc bấy giờ, nhưng qua thời gian thử thách, giá trị của
chúng đã được xác định trên con đường thực hiện cho
những căn cơ thích hợp. Và tám muôn bốn ngàn pháp môn, không
pháp nào là tà và chánh mà có thích hợp căn cơ của mình
hay không thôi.
Ba
ngày về Nha Trang thăm viếng theo lời thỉnh cầu của địa
phương, tinh thần GH và tăng ni cư sĩ khá hồ hởi, tiếp đón
nồng ấm thầy trò, nhưng chả hiểu lý do nào âm thanh suốt
hai ngày vẫn trục trặc, dù giàn âm thanh mướn chứ không
phải của chùa, kết quả cuộc nói chuyện của thiền sư
không được như ý.
Sự
ủng hộ: Phần lớn quần chúng Phật tử đều ái mộ
thiền sư; tuy họ chưa hiểu nhiều, chưa tiếp xúc nhiều với
làng Mai, nhưng qua đạo hạnh tăng đoàn, phong thái và sự
trong sáng trên gương mặt của các tăng thân mà hàng ngày
họ không thấy có được trong nếp sống của các tu
sĩ bìngh thường trong nước. Chư tăng, một số đồng song
cũng có cảm tình và kiêng nể, một số tăng trẻ ham thích
pháp hành vừa đơn giản, vừa lạ lẩm, tuy đã có trong kinh
tạng PG, nhưng thế hệ cha anh họ đã mất căn bản, đã lạc
phương hướng nhiều trăm năm, chỉ duy trì Phật pháp qua nghi
lễ và hình tướng, không đủ năng lực chuyển đổi nội
tâm, biến tu sĩ thành một nghiệp vụ hơn là hành giả, giờ
đây, họ cảm nhận luồng sinh khí đã được Thiền
sư làm mới đạo Phật, đó là những tăng sĩ có óc cầu
tiến, theo đoàn suốt hai tháng đi xuyên Việt. Các quan chức
nhà nước có thời gian theo dỏi nội dung diễn giảng của
Thiền sư mục đích xây dựng xã hội và con người, thiết
lập nền tảng đạo đức cho đất nước, vì thế họ đã
ủng hộ cho Thiền sư thiết lập Đại Đàn Chẩn tế.
Thành công và
thất bại:
Thế
hệ trước 1975 đã từng nghe danh và đọc sách T.Nhất Hạnh,
bầu nhiệt huyết và tính lý tưởng của tuổi trẻ biến
tác giả thành thần tượng của giới trí thức miền Nam trong
thời chiến.
Sự
nhạy bén, trình độ Phật học và thế học uyên bác, cộng
thêm trí thông minh, nắm bắt trước thời đại, TS Nhất Hạnh
đã thành công trên môi trường thực dụng của phương
Tây qua sự cải biên pháp hành từ kinh tạng Nykaya và phương
tiện của PG Phát Triển, hiệu dụng cấp thời. Thiền sư
cũng diễn đạt PG bằng ngôn từ giản dị của thời đại.
Vừa là nhà thơ, vừa là Thiền sư, vừa là sử học,
xã hội học, chính trị học…Ngài đã có chỗ đứng nhất
định trong giai tầng xã hội trong và ngoài nước.
Trong
nước, trước ngày về 2005, TS Nhất Hạnh là ánh sáng lung
linh trên bầu trời PGVN, là thần tượng của nhiều tu sĩ
lẫn cư sĩ ái mộ qua sách vở, cho dù trong quá khứ đã sai
phạm lớn trong việc thành lập trường Thanh niên Phụng Sự
Xã Hội, hy sinh nhiều xương máu của tuổi trẻ mang bầu nhiệt
huyết với quê hương giữa hai lằn súng đạn, một việc
làm mạo hiểm chưa cần thiết lại tạo ngờ vực cho đôi
bên mà lý tưởng tuổi trẻ bấy giờ không đủ minh chứng
cho lẽ phải đối với dân tộc bởi thù hận còn ngút ngàn.
Ngoài lý do chính trị, nội bộ PG cũng không muốn Ngài hiện
diện trong cơn chuyển mình phục hưng tầm vóc, nhất
là Viện đại học PG Vạn Hạnh đầu tiên được hình thành.
Ngài lưu vong trên đất khách với sứ mạng vận động hoà
bình cho VN qua hình thức phản chiến, cũng từ đó, ngài thành
công Phật sự tại phương Tây.
Ngoài
nước, An Ban Thủ Ý là bộ kinh căn bản của hệ Nykaya, Người
thực hiện bằng pháp hành thục dụng, hiệu quả, đem đến
an lạc cho xã hội công nghiệp mà người dân bản xứ phải
chạy theo tiếng tích tắc của đồng hồ cơ học, tinh thần
xã hội căng trương theo quy trình công nghiệp và cơ giới,
Ngài đã giúp họ ngăn chận stress và tìm lại thế cân bằng
tâm linh giữa đời sống phồn thịnh vật chất từ lâu người
dân bị hụt hẩng bởi tôn giáo bản địa không đủ khả
năng đáp ứng.
Thật
ra trước Ngài khá lâu, giới trí thức phương Tây cũng đã
biết PG qua bộ Thiền Luận của D.T Suzuki, một số sách
báo viết về PG Tây Tạng, Ấn Độ, Á Châu của các
học giả người Anh, người Pháp, người Đức, người Nga;
biết đến kinh điển PG Phát Triển bởi E.Conze…và những
pháp tu của Tây Tạng do đức Đạt Lai Lạt Ma truyền
bá, một số đại sư của Trung Hoa, Hồng kông, Đài Loan có
mặt tại Mỹ.
Thế
kỷ XX bổng dưng những hệ phái tâm linh rộ nở nơi trời
phương ngoại, ngoài PG còn có Trường Sinh Học của Dasira
Narada được Lương Minh Đáng triển khai. Một năng lượng
âm lưu của thánh sư Bare Maharaji do môn đồ phát triển dưới
dạng thức Quán Âm. Thủy Hoả ký tế được Lương Sĩ Hằng
thực hiện dưới dạng Vô Vi pháp… nhưng bề mặt
nổi vẫn là TS Nhất Hạnh, người đứng sau Đạt Lai Lạt
Ma về uy tín, nhưng tài năng có phần vượt trội, vì thế
người phương Tây đã đến với PG qua con đường làng Mai
khá dễ dàng, và, nhà thờ cổ kính, nhà thờ chánh tòa Saint
Paul ở Old Town Edingburgh tại Scotland cũng sắp biến thành thiền
đường , vì PG đang lan tỏa nhanh trên xứ sở Kito giáo. Phải
chăng phương Tây là mãnh đất màu mỡ để TS Nhất Hạnh
phát triển tài năng và uy tín, (Khác với quê hương, kính
nhi viễn chi) Với những uy tín đó, càng bồi đắp thêm cho
niềm tin và thiện cảm của những ai vốn xem TS là thần
tượng!
Năm
2004, khi phong thanh tin đồn TS Nhất Hạnh sẽ về VN, những
Phật tử ai nấy đều phấn khởi, nhà thơ Đức Trung cả
quyết: Nếu cho tự do đón tiếp, dòng người sẽ đứng dài
từ Tân Sơn Nhất đến Vĩnh Nghiêm là chắc. Nhưng rồi, đoàn
đến thẳng Hà Nội, sau đó mới vào TP HCM thì sự hưng phấn
của quần chúng cũng bị xẹp một phần và một phần do GHPGVN
cũng ngần ngại nghinh đón trước uy tín ngút ngàn đó.
Lần
đầu về VN trong một thể chế mới, chưa ai hiểu ai, mọi
người còn giữ kẽ kiêng dè nhau, nhưng qua ba tháng hành hoạt,
VN đã thấy thiện chí của Người đối với dân tộc, và
vì tính chủ quan trong tình đồng đạo cũng như không nắm
rõ tâm lý đối kháng của GHTN, bước đầu làng Mai đã gặp
phải sự lạnh nhạt từ giới lãnh đạo của GHTN, Thanh
Minh Thiền Viện, Già Lam, Nguyên Thiều và Thập Tháp. Cơ hội
đoàn kết tinh thần đồng đạo đã vụôt khỏi tầm tay mà
phiá GHTN cứ ngỡ là một thái độ phản ứng oanh liệt cho
mọi người thấy ý chí cương quyết của lập trường
bất khoan dung; nếu thái độ đó làm bẽ mặt TS Nhất Hạnh
thì chính GHTN cũng đã tự mình suy giảm uy tín dưới cái
nhìn chiến lược của giới chính trị khách quan và đánh
mất cảm tình một bộ phận quần chúng Phật tử trí thức.
Theo nhận xét của kẻ có tầm nhìn chiến lược, nếu GHTN
hoan hỷ đón tiếp làng Mai thì uy tín và tầm vóc PGVN đã
đổi khác và chính bản thân GHTN chứng tỏ một bản lãnh
thượng thừa kẻ cả và cao kiến; cũng như năm 1966, nếu
Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang bị chia đôi vì chính trị,
nhưng nội bộ lấy đó làm kế hoạch hổ trợ tác chiến
thì làm sao PGVN bị suy vi! Thế mới biết PG không thể làm
chính trị và không bao giờ có khả năng hoạt động chính
trị, cũng như đủ trình độ ý thức về chính trị, nếu
va vấp vào đó là một sai lầm lớn, lấy sở đoản làm sở
trường để bị ngoại lực lạm dụng chi phối! để rồi
PG dẫm chân tại chỗ không thể phát triển hơn, so với tôn
giáo bạn. Một Palestine đối mặt với kẻ thù Israel. giờ
nội bộ quay lại chống nhau quyết liệt, phải chăng làm trò
cười dè bỉu cho thiên hạ!
Trong
niềm phấn khởi chung của quần chúng Phật tử nhân ngày
về lần đầu của TS, ngoài sự quay mặt của GHTN, làng Mai
đã vấp phải một số sai lầm ngoài dự tính. “Bộ kế
hoạch hoằng hoá” chỉ nghĩ đến đại thể, bỏ quên tâm
lý tình cảm của cá thể mà là cá thể không thể quên. HT
Từ Mãn và một số bậc tôn túc than trách: Thầy Nhất
Hạnh về VN, lên Bảo Lộc được mà không lên thăm HT Thanh
Từ , không lên Đà Lạt thăm ân nhân ở Linh Sơn, không về
Nha Trang thăm mồ mã thân thuộc….việc trách cứ không
sai, nhưng cũng chưa đúng khi chương trình đã không có
những nơi ấy, ngược lại HT QĐ viện cớ không tiếp vì
không có trong chương trình của làng Mai viếng thăm. Chỉ có
nội bộ làng Mai và đoàn tiền trạm mới hiểu sự thật.
Thời
gian đoàn lưu trú và sinh hoạt tại Hoằng Pháp Hốc Môn, TS
quy y cho một số Phật tử, vốn họ đã quy y với vị thầy
mình rồi, do ban tổ chức vô ý đã gây hiểu lầm tranh dành
đệ tử giữa TT trụ trì Hoằng Pháp và sư ông làng Mai, tiếng
đồn lan toả nhanh trong cộng đồng PG.
Ngày
về Huế (2005), TS được cảm tình của GH và tu sĩ Thừa Thiên
kể cả tăng đoàn của GHTN, nên thành công trong việc Bố
tát chung tại Linh Quang, cuộc Bố Tát lịch sử chưa từng
có 30 năm qua, thế nhưng phong cách kẻ cả ( như một số vị
nhận định ) của sư ông đã tạo bất mãn ngấm ngầm và
thất vọng trong giới tu sĩ, chẳng những thế, khi quyết định
chọn Từ Hiếu làm Tu viện theo đường lối làng Mai với
những điều kiện khắc khe mà tu sĩ VN phần lớn quen lối
hưởng thụ, khó thể chấp nhận, buộc phải ra đi, thế là
thêm một lý do bất mãn. Thầy Thái Hoà sốt sắng đón tiếp
sư ông ngày đầu như thế nào, sau nầy tỏ ra lạnh nhạt
như thế ấy.( thầy Thái Hoà buồn vì sư ông không đoái hoài
gì đến sự nhiệt tình của thầy, nếu qua thầy, thì sự
gặp gỡ với cấp lãnh đạo GHTN sẽ không thất bại, thầy
tin như thế )
Trước
uy thế của TS Nhất Hạnh lần đầu trở về Huế, và chúng
tăng trong Tăng Đoàn của GHTN phải ra khỏi Từ Hiếu, thầy
Thiện Hạnh thổi phồng sư ông về Huế phá vở hạ tầng
cơ sở GHTN, vì thế tại Nguyên Thiều, HT Huyền Quang đã phẩn
nộ và từ chối gặp TS Nhất Hạnh mà trước đó không lâu,
Người đồng ý tiếp TS.
Tại
sao Tăng đoàn Huế hợp tác ngày đầu và đồng ý Bố tát
chung? Thật ra chư tăng không ai chống Thiền sư, vì quá khứ,
Ngài từng gửi tiền về cấp dưỡng đời sống tu sĩ tại
Từ Hiếu cũng như giúp đở các trường học miền xa và những
gia đình khốn khó, do công tác từ thiện đó mà tăng chúng
trẻ Thừa Thiên đã kính trọng Ngài, như đàn anh họ đã
kính trọng một nhân tài của PGVN. Khi TS thấy tình trạng
xuống cấp của tu sĩ VN, Ngài quyết định dùng Từ Hiếu
làm Tu viện cho những ai chấp nhận đời sống kham khổ
chuyên tu.. Trong cung cách giải quyết nội bộ thế nào mà
đưa đến sự bất mãn như hiện nay, chẳng những thế, chùa
Diệu Nghiêm cách Từ Hiếu vài trăm bước chân, sư bà toạ
chủ cũng bị đồ chúng phản kháng khi hiến cúng Tam Bảo
cho làng Mai. Đệ tử hỏi:
Sau
nầy thầy mất, chúng con thờ thầy ở đâu?
–
Các con khỏi lo, có Từ Hiếu lo.
hỏi
tiếp :Mấy chị em con đi học xa, sau nầy về ở đâu?
–
Đáp; Thầy đã xin cho các con 2 phòng ở chùa Diệu Đức…
Cách
trả lời như thế, tuy thật tâm, nhưng xúc phạm tình cảm
của đệ tử đối với thầy.Sư Bà là thần tượng, là người
thầy là mẹ tâm linh của họ đang tôn thờ, giải quyết nội
bộ một cách vô tình như thế đương nhiên gặp sự phản
ứng mạnh, và điều gì xẩy ra suốt hai năm liền tại Diệu
Nghiêm, ai cũng rõ, dĩ nhiên các học ni không thể thắng thầy
và chống lại làng Mai, họ chấp nhận thua cuộc, ra đi trong
đau buồn tủi nhục, nói lên những oán hận mà họ kết tội
sư ông về cướp chùa của họ. Diệu Nghiêm là Tổ đình,
là Từ Đường của họ, sư bà là thầy tổ của họ, khi
bị mất trắng, tâm trạng bơ vơ của chim mất tổ, con mất
mẹ, họ có quyền đau khổ và phản ứng. Họ có cái lý của
họ, vì chưa hiểu họ nên chưa thương họ.
Diệu
Nghiêm là tài sản của Từ Hiếu, giờ giao lại Từ Hiếu
cũng là chuyện bình thường, nhất là sư bà tự nguyện, không
ai có lỗi trong vấn đề nầy, nhưng lỗi do chưa quán thông
nhau và chưa có phương án truyền thông cho nhau, đó là lý
do giận cá chém thớt mà sư ông phải chịu tai tiếng. Nếu
sư bà Diệu Trí hay sư ông làng Mai, hoặc HT Chí Mậu cho họ
một mãnh đất để cất thảo am riêng, chị em đùm bọc nhau,
nếu họ không chấp nhận đời sống tu hành kham khổ theo
làng Mai, thì sự thể không đến nổi đem con bỏ chợ, gây
cho đám đệ tử lòng non dạ kém đó có cảm tưởng bị chia
đàn xẻ nghé như thế! Nội bộ tăng đoàn Từ Hiếu và nội
bộ Diệu Nghiêm khác nhau, vì thế không thể giải quyết giống
nhau. Chính những sơ suất đó mà tai tiếng lan toả nhanh, tạo
thêm một thành phần bất mãn chống đối làng Mai tại Huế.
VN
ta ảnh hưởng tập quán phong kiến lâu đời của Trung Hoa,
người nữ luôn là chiếc bóng của nam giới, cho dù đó là
nhân tài, thà rằng đơn thân độc mã đứng ra tạo dựng
cơ đồ, nhưng không thể dưới trướng một anh quân mà vẫy
vùng trước thiên hạ; chính quan niệm đó mà cộng đồng
PGVN, một số đã chống sư cô Chân Không, khi Người xuất
hiện nổi bật trước quần chúng; họ rêu rao rằng sư cô
khống chế sư ông, không cho sư ông tiếp khách, không để
sư ông giữ tiền, không muốn sư ông sử dụng điện thoại
di động…mọi sinh hoạt làng Mai đều do sư cô Chân Không
hoạch định, bao biện! Vì một tu sĩ VN hiện nay phần lớn
đều tự mình làm chủ những cơ ngơi và tài sản đó, tận
dụng những tiện nghi vật chất đó, nên thấy đời
sống của sư ông đảo ngược lại, họ có cảm tưởng như
bị khống chế. Giả thử sư ông bị khống chế như thế,
chả lẽ dưới tay sư ông hàng trăm vị tiến sĩ, bác sĩ,
trí thức trong tăng đoàn không thấy việc đó và cúi đầu
cam chịu vô lý?
Đông
cũng như Tây, sau lưng một người thành đạt luôn là
người phụ nữ tài ba. Đối với phương Tây, một người
năng nổ tháo vác như sư cô Chân Không đã giúp TS Nhất
Hạnh thành đạt mọi Phật sự quốc tế là chuyện đương
nhiên, và dưới tay sư cô là những vị năng nổ, trí thức,
phẩm hạnh như thầy Pháp Ấn, Pháp Khâm, Pháp Liệu…đã
hổ trợ nhau trong chương trình hoằng hoá quanh năm trên
thế giới. Khách quan mà nói, làng Mai đã có một ban bệ hoạt
động nhịp nhàng trôi chảy và chuyên nghiệp. Âm thanh, ánh
sáng, quay phim đều do quý thầy quý cô trẻ thực hiện. Một
ni trẻ trên dưới 20,chạy điện, nối dây, bắt loa không
thua một nam giới bình thường. Họ làm trong tư thái
từ tốn, an lạc, không vội vả cau có. Hầu hết gương mặt
họ sáng rực niềm tin. Nhưng người đa tài không tránh khỏi
đa tật, vì thế mà sư cô Chân Không bị mang tiếng độc
tài, nhưng khôn ngoan tế nhị; sư xuất hiện của sư cô trong
chuyến về năm 2005 cộng thêm một số rao báng từ Phòng
TTPGQT méo mó qua cuộc phỏng vấn của đài nước ngoài, và
những va chạm trong chuyện từ thiện mà làng Mai làm
theo nguyên tắc, các chùa VN làm theo cảm tính, đưa đến chuyện
bất
hoà, ác cảm.
Các
vị tiền trạm, tuy là người Việt, nhưng sống lâu trên xứ
người, phong cách làm việc theo phương Tây, áp dụng
vào VN cũng đã gây ngộ nhận và tổn thương không ít. Ví
dụ thầy Pháp Khâm, đối diện với bậc tôn túc để trao
đổi vấn đề, đó là chuyện bình thường và lịch sự của
người phương Tây, nhưng Á đông, nhất là trong PG còn mang
nặng óc bảo thủ phong kiến, xem việc đó là phạm thượng,
nhỏ không nên đứng trước mặt các ôn, phải đứng hầu
một bên! thế là sư ông bị mang tiếng không biết dạy học
trò. Sau khi đoàn tiền trạm bàn bạc thống nhất với các
cấp GH liên hệ, bắt tay vào việc, theo phương án đó
mà làm, làng Mai phổ biến những yêu cầu đã thoả
thuận để các cấp thực hiện, nhưng PG nhà ta không
có thói quen tác hướng công nghiệp, muốn thi hành là làng
Mai một lần nữa trực tiếp đến khề khà trà đạo, tâm
sự dẫn trình, đàm luận hội ý nhau lần nữa mới vào cuộc:
nhà
nước và nhân dân cùng làm. Thói quen như thế vừa
mất thời giờ vừa dẫm chân nhau. Do vậy các thầy nhà ta
có cảm giác làng Mai làm việc bằng chỉ thị!
Qua
chuyến về 2007, phần lớn quý thầy VN cảm thấy làng
Mai và PGVN có một khoản cách như Việt kiều và người trong
nước. Một đàng như đoàn của các lãnh tụ quốc gia đến
thăm một quốc gia khác, lực lượng phô trương rầm rộ,
một đàng cảm nhận sự thua kém của kẻ ngồi xó bếp, thiếu
kiến thức và thiếu tầm vóc. Sư ông đến viếng xã giao
với một vài chức sắc GH rồi lui về phòng riêng, sinh hoạt
riêng với làng Mai và các khoá pháp thoại với đệ tử, .Tâm
lý của các tăng sĩ VN, khách đến nhà thăm, cá nhân đàm
luận với cá nhân nó nồng thắm hơn là một lượng người
kéo đến một gia đình, chẳng khác đoàn từ thiện đến
thăm viếng một số phận kém may mắn, làm sao tự nhiên bộc
bạch tâm sự, cũng như chưyến về 2005, HT Trí Quang muốn
tâm tình với đồng đạo sau mấy mươi năm viễn xứ, nhưng
sự xuất hiện của TT Giác Toàn một cách không bình thường
đã làm mất hứng cuộc chuyện trò giữa hai vị! Cũng thế,
ngoài cuộc thăm viếng xã giao kia,sự có mặt của sư ông
tại VN là cái gì xa lạ đối với chư tôn túc quê nhà, thay
vì, sư ông có buổi mạn đàm bên chung trà mà sư ông đích
thân mời quý ngài đến chốn riêng tư. Chính cái khoản cách
để lại sau 2005 đã đóng băng tình cảm đồng đạo chứ
phần lớn không ai chống Ngài. Vì vậy, thay vì TS mời chư
tôn túc sang làng Mai giải bày nguyện vọng Chẩn tề, mong
được hợp tác, TS chỉ cho tiền trạm và qua văn bản cung
thỉnh tham dự như từng cung thỉnh sư Huyền Tôn theo kiểu
hành chánh, sư Huyền Tôn không giữ được lễ độ như các
thầy VN, cũng qua văn bản! Vì vậy, tại Huế cũng như Sóc
Sơn, chức sắc GHPGVN cứ nghĩ đây là công việc và nguyện
vọng của làng Mai, họ hổ trợ bằng cách chỉ cho mượn
mặt bằng mà không cho mượn người. Cách làm việc của làng
Mai đã tạo ấn tượng bất mãn cho tu sĩ VN. Nhưng thật tâm
sư ông, ngài muốn làm cái gì đó cho đất nước, cho dân
tộc bằng thiện ý của mình, nhưng chưa tạo được cảm
thông với đồng đạo.
Một
vị tu sĩ từ phương xa, muốn biết phản ứng của TS, hỏi
tôi:
Di
gan TNH may tuan nay, anh co dip nao tiep can that gan de nhin thay cho
that ro trai tim va ban tay, tu thai va tam hon, phong cach va tam nhin,
tinh cam va ly tri, vv..vv.. cua TNH?? co tu ai, co khiem nhuong,
co dung hoa, co rong mo, co khoan thu, co bao la, co tam quy, co hao danh,
co bi Chon Khong khong che.... nhu thien ha xam xi, don dai, phan nao khong??
Cái
chuyện độ lượng khoan dung hay không, tôi không gần,
không tiếp xúc, không rõ. Cô Chân Không khống chế chắc chắn
là không rồi. Tôi luôn giữ một khoản cách nhất định với
làng Mai để duy trì vị thế vô tư khi cầm bút, có lần,
tại đồi Từ Hiếu, tôi cảm nhận cái nhìn trách cứ khó
chịu của sư ông đối với một người nhiếp ảnh luôn đi
trước để chụp ảnh, mà đáng ra không phải lưu tâm tỉ
mỉ như thế; Và trong một buổi pháp thoại nào đó, tiếng
chuông sư ông đánh nghe như ậm ực khó chịu tức tưởi,
thể hiện một tâm thái không hài lòng. Ai cũng nghĩ tôi
bỏ gia đình theo đoàn hơn hai tháng là chịu sự thọ ân của
làng Mai, nhưng thật tình tôi không có mối liên hệ hữu hảo
nào, và tránh mặt gặp gỡ các quan chức làng Mai, tuy vẫn
tôn quý họ. Chi Hạnh Mãn hỏi: Anh có gặp sư ông không?
Tôi
đáp: Gặp để làm gì, việc mình , mình làm, việc sư ông
thì sư ông làm. Chị nhờ tôi chụp cho chị tầm ảnh kế
sư ông tại khu văn Miếu, tôi cự tuyệt: Tại sao cứ phải
chụp với sư ông mới được, vừa nói xong, mấy ông lại
đến cũng nhờ tôi việc đó. Thà các vị đứng ngay trụ
đèn tôi chụp.Chị Hạnh Mãn cười xởi lởi quay qua những
ông nọ nói: Tánh anh nầy kỳ lắm, các quan chức nhà nước
muốn gặp, ảnh cũng không chịu, ai đến với ảnh thì đến
chứ ảnh chẳng đến với ai.
Vị
thầy đặt câu hỏi trên đây thật sâu sắc tâm lý, vì thầy
chưa xác quyết phong thái cao thượng của một thiền sư hay
sau phong thái đó còn ẩn tàng những bản năng vi tế của
tam độc, bởi lẽ, còn thân người vẫn còn lợn cợn phiền
não như lời đồn đại.
Tăng
thân làng Mai, ngoài thầy Pháp Ấn, một vài giáo thọ trẻ
làm việc theo nguyên tắc và theo cảm tính mà thiếu tình cảm
đối với đồng đạo trong nước. Ví dụ thầy Minh Thủ,
sư Minh Mẫn ở Bà Rịa Vũng Tàu và một sư khách khác đã
bị thầy Trung Hải từ chối cho tháp tùng với lý do
không phải người của làng Mai,Bát Nhã hay Từ Hiếu, sợ
phong cách không đủ, làm mất thể diện uy tín làng Mai, khi
đến chùa Đình Quán cũng không sắp xếp chỗ lưu trú, hai
sư kia đành tìm chỗ khác, quý ngài viện cớ: Công an không
cho người lạ theo đoàn, lên xe, để bảo đảm an ninh. Nhưng
tôi được công an trả lời: Đó là chuyện nội bộ
làng Mai, công an xen vào làm gì. Nhà nước chỉ giữ an ninh
vòng ngoài thôi.
Phần
lớn đã tạo cảm giác cho mọi người là những gì của làng
Mai đều số một. Các vị trẻ có niềm tự hào mình là người
làng Mai, chính những tiểu tiết đó đã tạo hố ngăn
cách cho tu sĩ VN và làng Mai .( phài thành thật công nhận các
tăng trong làng Mai ăn nói nhỏ nhẹ, từ tốn, phong cách điềm
đạm thong dong, dể gây ấn tượng cho người gặp gỡ, nhưng
cung cách làm việc với người trong nước còn thiếu kinh nghiệm
) Tăng Từ Hiếu và Tăng Bát Nhã cùng anh em Tiếp Hiện làm
cật lực để Đàn Chẩn thành công, thì quý thầy trẻ
làng Mai vô tư như chuyện của thiên hạ, ngồi nhìn những
Phật tử lớn tuổi lao động vất vả tại Sóc Sơn, đây
là điều kém tế nhị!
Những
khó khăn trở ngại từ Huế đến Hà Nội cảm thấy mình
bị cô lập, lạc lõng; người trong đoàn than rằng: nhà
nước VN không hổ trợ hết mình. Về phía nhà nước
nghĩ rằng mình có bổn phận tạo điều kiện thuận
lợi, chứ không có bổn phận phải hổ trợ, nhưng
cuối cùng, vì niềm tin của quần chúng, lòng mộ đạo của
Phật tử, đã tạo sinh khí hồ hởi để TS phấn chấn qua
những buổi pháp thoại đầy thú vị. Trở ngại và thuận
lợi, lạnh nhạt và nồng ấm, ít nhiều cũng tác động lên
tâm tư của một TS, dù là vi tế, điều đó thể hiện qua
những buổi pháp thoại, hiu quạnh tại Từ Hiếu, nhộn nhã
tại Đà Nẳng và Hà Nội, nhất là những ngày sau cùng của
chuyến đi đã được đáp bù bằng lòng nhiệt thành của
quần chúng và giới trí thức tại miền Bắc.
Ưu
điểm của Thiền sư qua văn bút và hành trì tạo cảm
tình người đọc và nhìn thấy. Việc làm của TS có tầm
vóc chiến lược và công ích. Chuyến 2005 và 2007. sau khi sinh
hoạt trong nước, TS đạo đạt nhiều nguyện vọng, góp ý
khá táo bạo, như chỉnh tu bảo Tháp Bồ Tát Thích
Quảng Đức, đòi bỏ Ban Tôn giáo, lấy PG ra khỏi Mặt trận,
giải trừ Ban Tôn giáo, lập Đàn Cầu siêu cho cả lính hai
miền, dựng tượng đài người vượt biên trong mười điều…Dĩ
nhiên nhà nước còn phải điều nghiên, nhưng sư ông không
lý giải sâu sắc cho nhà nước hiểu cái lợi về lâu về
dài, mà trước mắt có thể tạo ngờ vực cho nhà nước VN:
liệu
một chiến lược như thế có phải do áp lực hay chiêu bài
đế quốc? Những đề nghị của TS thật sự góp phần
cải thiện đất nước rất lớn, nhưng dưới cái nhìn chính
trị, họ phải đặt nhiều nghi vấn. VN sẳn sàng tiếp thu
mọi thiện ý, đồng thời cũng cảnh giác việc lập lờ.
Chiếc nón lá cầm tay của các sư ngoại quốc làng Mai, mãnh
áo da và chiếc khăn mỏ quạ của ni chúng đều biểu hiện
tinh thần văn hoá dân tộc. Hàng trăm đầu sách và vô số
việc làm lợi ích cho cuộc sống đã nói lên thiên chức của
một công dân Âu Lạc, chắc chắn những gợi ý của TS cũng
không ngoài quyền lợi về lâu về dài của đất nước.
Chính vì thế, chủ tịch nước, ông Nguyễn Minh Triết, bí
thư thành ủy Đà Nẳng, ông Nguyễn Bá Thanh, hay các viên chức
khác đểu ngỏ lời mong mỏi TS liên tiếp trở lại xây dựng
quê hương về mặt đạo đức cũng như văn hoá. Đó không
hẳn là lời xã giao. Quần chúng cũng mong mỏi nhận được
phương pháp hoá giải mắc mứu nội tâm, gia đình và cộng
đồng. Tăng phong đạo cách của làng Mai cũng tạo một
ấn tượng đáng kính so với cộng đồng tu sĩ VN hiện nay.
Ba tháng chưa đủ thời gian tạo cảm thông, kết nối các
bộ phận PG mà lần đầu về, mọi người hy vọng Ngài
là sợi giây xâu kết những cánh hoa rời rạc.
Khiếm
khuyết, vâng, ngài không phải là một vị Thánh, ngay cả
đức Phật cũng không thể làm được mọi thứ, do vậy, cơ
hội vàng đầu tiên đã tuột khỏi tầm tay TS. Lý thuyết
và góp ý, ngài đã đứng bên trên như một quốc sư can đảm,
nhưng hành xử nội bộ tu sĩ PGVN, ngài đã đứng ngang hàng
với họ, cũng có những bất như ý, cũng có những toan tính
hơn thua trước thái độ nghịch thượng của một số chư
tăng Huế. Ngày Bố Tát tại Linh Quang, làng Mai không có mặt,
vì sư ông nghe tin sẽ có sự chống phá. Lễ tác pháp Yết
Ma mà có lời phản chống thì lễ bất thành, vì thiếu sự
đồng thuận; có lẽ vì thế mà sư ông không tham dự. Nhưng
làng Mai bảo rằng vì tăng thân làng Mai không thọ Bồ
Tát giới nên không đến! Thế nhưng, nếu sau lễ Bố Tát,
TS xuất hiện tại phòng khách, đàm đạo hỏi thăm huynh đệ,
có lẽ tình thế có khác hơn, vì không thuộc nghi lễ tôn
giáo nữa mà tình đồng đạo; Cũng như ngày Kị Tổ Từ Hiếu,
nếu sư ông đích thân mời thỉnh chư tôn túc Thừa Thiên,
trụ trì các tổ đình lớn về tham dự thì chắc chắn các
ngài dẹp bỏ tự ái,hờn mát mà đến với nhau. Một bậc
cao đức tâm sự: Ngài là Việt kiều, về nước với
hàng trăm đệ tử, tiếng tăm vang lừng, chả lẽ chúng tôi
tự động đến cầu cạnh ngài, thấy sang bắt quàng làm họ?
Nếu ngài ngỏ ý mới chúng tôi đến chơi, chả lẽ chúng
tôi chối từ!
Trong
thời Pháp thoại đầu tiên, trước ngày kỵ tổ, sư ông có
nói đến vấn đề hoá giải mắc mứu trong gia đình, trong
thầy trò, đồng đạo…làm thầy, làm huynh, làm lớn
phải chủ động hạ mình giải toả những kiến giải
sai lầm với nhau, thế nhưng , rất tiếc, những vị lớn đến
thắp nhang rồi về mà không được một lời lưu thỉnh từ
phía sư ông cũng như tổ đình Từ Hiếu. Làng mai nghĩ rằng
việc đó là trách nhiệm thầy Chí Mậu trụ trì tổ đình,
nhưng người ta đến là vì sư ông chứ đâu phải thầy Chí
Mậu. Hai năm nay thầy Chí Mậu hy sinh tình đồng đạo giữa
chốn Thần Kinh rất nhiều khi chấp nhận biến Từ Hiếu thành
tu viện của làng Mai, gặp phải chống đối và khó khăn từ
mọi phía.Thầy Đức Nghi có công phát triển cơ sở cho làng
Mai thì thầy Chí Mậu có công xây dựng và bảo tồn cơ sở
phải chịu áp lực trong giới tu sĩ Huế, . Tuy là huynh đệ,
nhưng thầy Chí Mậu tôn kính sư ông như một bậc thầy, đã
hết lòng vì sư ông, vì thế đã có một ít sức mẻ tình
cảm với đồng đạo tại Huế.
Lần
đầu về Huế, HT Chơn Thiện líu lo ríu rít với sư ông, thì
chuyến về nầy đã quay lưng 180 độ. Tại sao? Chư ni Huế
ngấm ngàm phản đối. Tại sao? Trong buổi giảng, sư ông không
đồng tình chư tăng tham gia Quốc Hội hay các cấp Mặt Trận.
Luật dạy chư tăng bất kiến quân vương. TS đã mạnh dạn
phanh phui tình trạng tăng ni xuống cấp đến độ
hàng năm có bao vụ phá thai! Chính những điều nói thẳng
nóí thật đó đã làm cho những ai phạm lỗi đều tự
ái và tự ái cả những đồng môn liên đới
Tại
Đà Nẳng, tuy nổi trội nhờ Lễ hội Quan Âm tại Ngũ Hành
Sơn, sự nồng nhiệt do lần đầu tiên sư ông đến đó,
được chính quyền địa phương và Ban Trị sự hết lòng
nghinh tiếp, khoá tu cư sĩ trên 4 ngàn người, bề mặt nổi
khá thành công so với Huế, nhưng trong thời gian lưu trú
tại Đànẳng, đoàn không tránh khỏi những bất mãn, hiểu
lầm nhau từ nội bộ: Thầy Huệ Vinh trụ trì chùa Quan
Âm thất vọng khi khoá tu dự tính khoá sinh sẽ trú tại
hai điểm,- Hương Sơn và Quan Âm, nhưng cuối cùng bao nhiêu
phương tiện để chuẩn bị đã bỏ trống, vì đoàn kéo về
trú tại chùa ni Hương Sơn cách đó 300m. Và quan trọng hơn,
thầy Huệ Vinh ngoại giao để một công ty tài trợ đêm thơ
du thuyền trên sông Hàn, nhưng cuối cùng hủy bỏ mà không
thông báo, khi thầy Huệ Vinh hỏi thì làng Mai bảo:- công an
xét du thuyền không đủ tiêu chuẩn an toàn, đêm đó, làng
Mai dự tiệc chiêu đải của BTS Đànẳng để cảm tạ đoàn
và thầy Huệ Vinh cũng phải điều động người nhà
cho đủ số lượng của cụộc du thuyền. Về phía làng Mai
giải thích: họ không kham nổi phải chịu phân nửa chi
phí tại lễ hội Quán âm do thầy Huệ Vinh yêu cầu, nên rút
lui. Và ngày cuối chuẩn bị đi Hà Nội, làng Mai cho mấy vị
tăng đến cám ơn thầy Huệ Vinh mà không có vị nào lớn
đủ uy tín đại diện cho làng Mai như thầy Pháp Ấn, Pháp
Khâm chẳng hạn. Thầy Huệ Vinh nói: đối xử như thế
làm sao có lần thứ hai. mặc dù , theo thầy cho biết, thầy
đích thân qua làng Mai thỉnh sư ông về Đànẳng tham dự lễ
hội Quan Âm!
.
Tất
cả chư tăng lãnh đạo GH hay không lãnh đạo, nằm trong
hay ngoài GH, đều có một ấn tượng và sự mỹ cảm khi nhắc
đến tên TS, khi mà TS còn lưu vong trên đất khách, như nhân
dân Tây Tạng quy ngưỡng đức Đạt Lai Lạc Ma. Nhưng khi TS
về VN là lúc những tốt đẹp bị xói mòn đối với đồng
môn, nhưng với quần chúng thì không suy giảm, có phần gia
tăng khi họ chứng kiến oai nghi tế hạnh của tăng đoàn làng
Mai và tham dự các khoá tu. Duy chỉ có tại Huế là quần chúng
tham dự có hạn chế, mặc dù tín hữu ái mộ Ngài, nhưng
thầy họ không đến với sư ông thì họ cũng không thể tự
ý tham dự. Có nhiều nguồn tin tung ra hăm doạ phá hoại, nhưng
ngành an ninh đã bảo vệ tốt suốt hơn 2 tháng sinh hoạt của
tăng đoàn. Khi đoàn Khất thực cổ Phật tại Đàn Nam Giao.
kẻ xấu tung tin có truyền đơn hăm dọa có chất nổ
để hạn chế người tham dự, duy nhất thời gian sinh hoạt
tại cố đô, chỉ có buổi pháp thoại tại địa điểm
Festival, Liễu Quán là đông nhất.
Tóm
lại, xét về mục đích chuyến hoằng hoá tại VN là ba
Đại Trai Đàn Bình Đẳng Chẩn Tế đã có kết quả tốt,
thành công trên 80%, tuy có phiền muộn và vất vả. Về nghi
lễ, đạt kết quả tốt trên 2/3, phía Nam và miền Trung. Về
lượng người tham gia thì Miền Bắc hàng đầu, thứ đến
miền Nam. Về tâm đạo và đức tin thì người miền Bắc
rõ nét nhất, có lẽ họ khao khát từ lâu, nhưng còn nặng
màu nê tín.
Về
các khóa tu, tu viện Bát Nhã thoáng rộng, nên số người
tham dự tu tập nổi bậc hơn 2005, riêng Huế thì khoá tu
không mấy kết quả vì chư tăng địa phương không nhiều,
nếu không có Từ Hiếu, Bát Nhã và một số chư tăng thập
phương thì người ta chỉ thấy người nước ngoài chiếm
toàn bộ tại Tổ đình Từ Hiếu. Ngược lại tại Hà Nội,
quần chúng tham dự khóa tu đông hơn chư tăng.
Gần
ba tháng cũng chưa phải thời gian đủ để chuyển hoá
những tập khí của con người, nhưng cũng đã tạo ấn tượng
tốt cho quần chúng Phật tử. Mục đích cuộc chẩn tế
để xoá bỏ hận thù, đoàn kết dân tộc hình như chưa được
như ý, vì ngay nội tình PG, sư ông chưa xoá được lằn ranh
ngăn cách đệ huynh, chẳng những thế, một bộ phận quần
chúng Phật tử ở Huế đã nói: Chúng tôi đang có 2 GH,
sư ông về không những chẳng đoàn kết được mà còn tạo
thêm một GH thứ ba của Làng Mai.
Làng
Mai chú trọng tầm vóc lớn mà không lưu ý đến những chi
tiếc của tình người, cách làm việc và tập quán địa
phương, nhất là người VN, không giống Tây Âu
Quần
chúng thuần tuý đã đến với làng Mai bằng tâm chân thành
ngưỡng mộ, vì khát vọng tâm linh. Một số tu sĩ
tham dự các khoá tu bằng sự ngưỡng vọng một pháp hành
mà cha anh của họ đã mất phương hướng, hàng trăm
năm duy trì một hình thái PG như một nghiệp vụ sinh nhai bằng
cúng kiến lo cho người chết, bỏ quên sự lợi ích cho kẻ
đang sống và tách lìa PG ra khỏi xã hội bởi cuộc sống
thiếu lợi ích cụ thể.sư ông đã khôi phục lại sự lợi
ìch của đạo Phật đối với xã hội.
Sư
ông chưa tạo được sự liên kết cho cộng đồng tu sĩ trong
nước mà phần lớn đã có cảm tình với sư ông từ lâu.
Sư
ông đã dạy:Trong gia đình, cộng đồng, người đã đánh
mất khả năng truyền thông với nhau. Vợ không nói chuyện
được với chồng, cha không nói chuyện được với con. Vì
vậy có sự bế tắc rất lớn… nhưng khi đã tiếp xúc với
pháp môn trong đạo Phật, giúp họ chuyển hoá những bế tắc,
thiết lập được truyền thông giữa mình với người khác,
nếu chúng ta chưa thiết lập được truyền thông có nghĩa
là chúng ta tu chưa giỏi.
Như
vậy giữa làng Mai và chư tăng trong nước vẫn còn nhiều
bế tắc, có nghĩa chưa thiết lập được truyền thông với
nhau, mấu chốt vấn đề ở đâu? Sư ông hay sư tăng trong
nước, ai là người đủ năng lượng giải toả những bế
tắc đó. Phật tử VN tin rằng sư ông thành công trên xứ
người bằng lối truyền giảng thì cũng phải thành công tại
quê nhà bằng lối thực hành, một thực hành bằng hoà hợp
và khiêm tốn chân thành, để làng Mai đi rồi, vẫn còn
lưu lại một luyến tiếc trên quê hương hơn là biến thành
khối băng tình cảm phủ nhoà dấu chân hoằng hoá, như thế
vẫn chưa gọi là thành công của chuyến đi.
MINH
MẪN
22/5/07
05-23-2007
05:23:13
