Mục
Lục
Lời
giới thiệu
Chương
I. Hóa thân của Bồ Tát Văn Thù
Chương
II. Vị đại tỳ kheo nghiêm trì giới luật cẩn mật và đại
hành giả lỗi lạc chân tu thật chứng có trí huệ quảng
đại bác học đa văn
Chương
III. Hóa độ vua chúa và tổ chức pháp hội cúng dường cầu
nguyện
A.
Hóa độ vua chúa.
B.
Tổ chức pháp hội cúng dường cầu nguyện.
Chương
IV. Nhà cách mạng tôn giáo vĩ đại ở Tây Tạng
A.
Đề xướng việc nghiêm trì giới luật của ba thừa (Tiểu
Thừa, Bồ Tát Thừa, Mật Thừa) thanh tịnh.
B.
Cải cách và xiển dương đường hướng tu học Phật pháp
bằng cách hợp nhất mọi giáo nghĩa Luật giáo Hiển giáo
Mật giáo của tất cả tông phái ở Ấn Độ và Tây Tạng
về nơi biển Phật pháp.
Chương
V. Vị tổ sư của phái Hoàng giáo (dge-lugs; Cách Lỗ hay tân
Ca Đương)
Chương
VI. Hoàng giáo lan truyền khắp nơi
A.
Sự truyền thừa của chùa Cách Đăng (Ganden).
B.
Sự truyền thừa của chùa Triết Bang (Drepung).
C.
Sự truyền thừa của chùa Sắc Nhạ (Sera).
D.
Sự truyền thừa ở chùa Trát Thập Luân Bố (Tashi Lhupo).
E.
Sự hoằng pháp tại vùng A Lý.
G.
Sự hoằng truyền tại vùng Từ Thị Châu ở Xương Đô.
H.
Sự hoằng pháp tại vùng A Đa.
I.
Sự hoằng pháp ở Hậu Tạng.
L.
Danh tánh của các vị Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma.
i.
Đạt Lai Lạt Ma và sự chuyển sanh.
ii.
Ban Thiền Lạt Ma (hay Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni).
Chương
VII. Lược thuật về những tông phái chính ở Tây Tạng
A.
Phái Ninh Mã (Nyingma; Hồng giáo).
B.
Phái Ca Nhĩ Cư (Kagyudpa, Cát Cử, hay phái Bạch Giáo).
C.
Phái Tát Ca (Sakya; hay phái Đa Sắc).
Chương
VIII. Kết luận
Chú
Thích
Lời
Giới Thiệu
Đại
sư Tông Khách Ba (Tsongkhapa; 1357-1419) vốn được tôn xưng là:
- Hóa
thân của Bồ Tát Văn Thù.
- Vị
đại tỳ kheo nghiêm trì giới luật cẩn mật và đại hành
giả lỗi lạc chân tu thật chứng có trí huệ quảng đại
bác học đa văn.
- Nhà
cách mạng tôn giáo vĩ đại ở Tây Tạng:
- Đề
xướng việc nghiêm trì giới luật của ba thừa (Tiểu Thừa,
Bồ Tát Thừa, Mật Thừa) thanh tịnh.
- Cải
cách và xiển dương đường hướng tu học Phật pháp bằng
cách hợp nhất mọi giáo nghĩa Luật giáo Hiển giáo Mật giáo
của tất cả tông phái ở Ấn Độ và Tây Tạng về nơi biển
Phật pháp.
- Vị
tổ sư của phái Hoàng giáo (hay tân Ca Đương) và định lập
chế độ chuyển thế tái sanh của Đạt Lai Lạt Ma và Ban
Thiền Lạt Ma.
Bàn
về tiểu sử, đại sư Tông Khách Ba giáng sanh với nhiều
điềm linh dị kiết tường tại vùng Tông Khách ở Thanh Hải
(Tây Tạng), trong một gia đình quan lại quyền thế vào năm
1357.
Lên
ba tuổi: Được tổ Cát Mã Ba Nhiêu Tất Đa Kiệt (Kar-ma-pa
rol-pa'l-rdo-rje, 1340-1383) đời thứ tư của chi phái Ca Nhĩ Mã
(Karmapa) thuộc phái Cát Cử (Kargyupa) truyền năm giới cấm
và lấy pháp danh là Cống Cát Ninh Bố (Kun-dga'snying-po, tức
Hoan HỶ Tạng).
Lên
bảy tuổi: Thọ giới Sa Di với giáo thọ A Xà Lê là Đốn
Châu Nhân Khâm Nhân Ba Thiết (vị đại Lạt Ma thuộc phái
Ca Đương (Kadam), và đã chứng đạo và thành tựu thánh quả;
đối với giáo pháp Hiển-Mật đều viên dung), lấy pháp hiệu
là Hiền Huệ, danh xưng là Kiết Tường.
Sau
mười năm tu học với ngài Đốn Châu Nhân Khâm Nhân Ba Thiết,
Đại Sư xin phép vị ân sư qua Tây Tạng tầm sư học đạo.
Sau
mười ba năm tu học, Đại Sư đã lãnh thọ tất cả giáo
pháp về Nội Minh (kinh luật luận Hiển-Mật giáo), Thanh Minh,
Nhân Minh, Y Phương Minh, Công Xảo Minh từ các vị đại Lạt
Ma của những tông phái chính ở Tây Tạng như Ninh Mã (Nyingma,
Hồng-giáo), Ca Đương (Kadam), Tát Ca (Sakyapa, Đa Sắc-giáo),
Cát Cử (Kagyudpa, Bạch-giáo).
Năm
hai mươi chín tuổi: Đại Sư chính thức thọ giới tỳ kheo
và thu nhận đồ đệ.
Năm
ba mươi hai tuổi: Đại Sư bắt đầu đội mũ vàng, với thâm
ý muốn hoằng dương giới luật tỳ kheo, chấn chỉnh giới
pháp. Đồng thời, vào năm đó, tại chùa Sát Tự, Đại Sư
bắt đầu hệ thống hóa tất cả lời chú giải của hai mươi
mốt vị luận sư Ấn Độ, mà trước tác quyển Hiện Quán
Trang Nghiêm Luận Sư Tử Hiền Thích Tường Sớ.
Năm
ba mươi ba tuổi: Đại Sư khởi sự chuyển bánh xe chánh pháp.
Mười
năm kế tiếp (34 đến 44 tuổi): Tuy vẫn còn đi tham học với
các vị đại Lạt Ma cũng như lãnh trọng trách hoằng pháp
lợi sanh, nhưng Đại Sư vẫn thường chú trọng việc tinh
tấn tu trì khổ hạnh, nên đã đạt được Mật pháp bí yếu
viên mãn, thành tựu và chứng đắc vô lượng công đức không
thể nghĩ bàn, được chư Phật và chư Bồ Tát hiện thân
gia trì cùng thọ ký.
Sau
năm bốn mươi bốn tuổi: Đại Sư bắt đầu tiến hành công
cuộc cách mạng tôn giáo qua việc đề xướng giới luật
thanh tịnh của ba thừa (Tiểu Thừa, Bồ Tát Thừa, Mật Thừa),
cùng trước tác quyển Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận.
Năm
bốn mươi bảy tuổi: Đại Sư lại trước tác quyển Mật
Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận. Hai quyển Bồ Đề Đạo
Thứ Đệ Quảng Luận và Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận
vốn là những tác phẩm đại biểu cho tư tưởng hệ thống
hóa toàn bộ giáo nghĩa Đại-Tiểu Thừa Hiển-Mật giáo của
Đại Sư.
Năm
năm mươi hai tuổi: Đại Sư tuyên thuyết kinh luận Hiển-Mật
liễu nghĩa và bất liễu nghĩa. Trong năm đó, tuy được vua
Minh Thành Tổ cung thỉnh sang Trung Hoa hoằng pháp, nhưng Đại
Sư vẫn từ khước.
Tháng
giêng năm 1409: Đại Sư thiết lập đại pháp hội cúng dường
chư Phật tại chùa Đại Chiêu ở Lạp Tát với sự tham dự
của hàng trăm ngàn tăng ni và cư sĩ, cùng đạt được rất
nhiều điềm linh dị kiết tường (từ đó cho đến ngày nay,
chư tăng Tây Tạng vẫn y theo truyền thống tổ chức đại
pháp hội cúng dường chư Phật vào tháng giêng trong mỗi năm).
Đồng thời, do lời thỉnh cầu của chư đệ tử, Đại Sư
kiến lập chùa Cách Đăng (Ganden) để làm đạo tràng chính
cho phái Hoàng giáo.
Năm
mươi lăm và năm mươi sáu tuổi: Thể theo lời dạy của Bổn
Tôn Bồ Tát Văn Thù cùng Diệu Âm Thiên Nữ, Đại Sư cùng
hơn bốn mươi đồ đệ tu trì và được thành tựu với pháp
tiêu tai tăng thọ mạng.
Năm
1415: Đại đệ tử của Đại Sư là Ráng Dương Kiếp Kết
sáng lập chùa Triết Bang (Drepung), trở thành đạo tràng thứ
hai của Hoàng giáo.
Năm
sáu mươi mốt tuổi: Đại Sư kiến lập mật điện Quảng
Nghiêm trong chùa Cách Đăng để chuyên tu Mật pháp.
Năm
1418: Đại đệ tử của Đại Sư là Thích Ca Dã Hiệp kiến
lập chùa Sắc Nhạ (Sera), trở thành đạo tràng thứ ba của
Hoàng giáo.
Ngày
hai mươi lăm tháng mười năm 1419, sau khi cơ duyên hóa độ
chúng sanh đã viên mãn và phó chúc pháp duyên cho các đại
đệ tử xong, Đại Sư an tường thị tịch, thọ sáu mươi
ba tuổi, với ba mươi ba hạ lạp.
Sau
này, các đại đệ tử tiếp tục tu tập và hoằng truyền
giáo pháp Hiển-Mật, y chỉ theo đường hướng cải cách giáo
chế của Đại Sư. Thế nên, suốt hơn sáu trăm năm, Hoàng
giáo đã và đang là một tông phái lớn nhất và đào tạo
chư vị cao tăng đầy đủ giới hạnh cùng tài đức nhiều
nhất ở Tây Tạng. Hiện tại, dưới sự lãnh đạo của đức
Đạt Lai Lạt Ma đời thứ XIV, Hoàng giáo nói riêng và Phật
giáo Tây Tạng nói chung, được xiển dương hoằng truyền
khắp thế giới.
Nguồn:
Đại Tùng Lâm Vạn Phật Đảnh