Nói
theo truyền thuyết và thuật ngữ của Phật giáo, lần chuyển
pháp luân thứ nhất, có tính khai đạo, của Ðức Phật tại
vườn Lộc uyển, phía bắc Hằng Hà, gần Varanasi thuộc miền
nam Ấn Ðộ, vào khoảng năm 531 tr.C.N, đã được triển khai
thành học thuyết của Phật giáo nguyên thuỷ. Hai trong các
chủ đề chính của các bài giảng mở đầu ấy là Tứ diệu
đế và Bát chánh đạo. Khoảng sáu trăm năm sau, sự xuất
hiện qui mô của truyền thống Ðại thừa đánh dấu sự triển
khai lần chuyển pháp luân thứ hai cũng của chính Ðức Phật
tại núi Linh Thứu.
Chúng
tôi sẽ cố gắng hết sức vận dụng ngôn ngữ thông thường
khi trình bày nội dung của các từ ngữ Hán Việt thường
được sử dụng trong kinh sách Phật giáo. Ở những chỗ cần
chua thêm chữ Phạn, thay vì dùng tiếng Pali, chúng tôi sẽ
dùng tiếng Sanskrit là ngôn ngữ được dùng để ghi kinh sách
Ðại thừa.
I. Quá trình
phát triển
Thời
điểm thế kỷ thứ nhất sau C.N. – như vừa nêu – chỉ
đánh dấu truyền thống Ðại thừa được hệ thống hoá
với Long Thọ, vị đại luận sư nổi tiếng nhất. Trước
đó, đã có những dấu vết gốc tích của Ðại thừa trong
Ðại chúng bộ. Thật ra, trong lần kết tập kinh điển thứ
hai khoảng 100 năm sau ngày Ðức Phật tịch diệt, đã phát
triển bên trong các cộng đoàn Phật giáo một tuyến tư duy
tuy mới mẻ nhưng vẫn triển khai dựa theo nội dung nguyên
thuỷ của Phật pháp.
Hai
điểm phê phán
Truyền
thống được gọi là mới mẻ ấy phê phán một số cách
thức trình bày Phật pháp đương thời. Hai nội dung tâm điểm
của sự phê phán này là:
Sự
giải thoát tập trung vào cá nhân mỗi người – như đã được
trình bày trong giáo thuyết của các bộ phái thời kỳ đầu
– bị xem là có tính hẹp hòi và vị kỷ. Con đường đạo,
với những thao tác hướng tới quả vị Phật, không chỉ
đơn thuần vì phúc lợi của bản thân mà còn phải vì phúc
lợi của hết thảy các hữu thể có tri giác. Trong nỗ lực
quảng đại cứu độ tha nhân đó, truyền thống mới mẻ
ấy trình bày một lý tưởng tân kỳ, ngày càng được hâm
mộ và nổi tiếng, đó là Con đường Bồ tát.
Hình
thức minh triết có tính phân tích được đề cao theo lối
hiểu Luận tạng đương thời (cũ) cũng bị xem là quá đơn
giản. Ðó chỉ là sự thao luyện bằng cách phân nhỏ toàn
bộ kinh nghiệm phức tạp thành các dharmas (pháp): những thành
phần căn bản cấu thành mọi vật phức hợp. Giờ đây, truyền
thống mới mẻ lập luận rằng hành động ngày càng nhận
biết các dharmas trong tự nó không là cứu cánh của minh triết
Phật giáo. Hành trình giác ngộ phải đưa tới trạng thái
bắt gặp thêm cái gì nữa, và dần dà, cái “thêm” ấy
được gọi là Trí huệ Bát nhã hoặc Minh triết hoàn hảo.
Như
thế, ta có thể rút gọn hai điểm phê phán trên thành hai
từ thường được dùng để miêu tả sự khai triển có tính
chất phê phán và xuyên sâu của triết học Ðại Thừa: Từ
bi và Trí huệ.
Khác
biệt giữa Tiểu thừa và Ðại thừa
Về
mặt danh xưng, ở đây chúng tôi dùng chữ Tiểu thừa chỉ
để thuận tiện đối chiếu với Ðại thừa. Như đã có
lần trình bày, lối gọi “Tiểu thừa” dễ làm chạnh lòng.
Từ sau Hội nghị Phật giáo Thế giới họp tại Katmandu (Népal)
năm 1956, Tiểu thừa được chính thức gọi là Phật giáo
Nguyên thuỷ với Thượng tọa bộ (Theravada) là đại diện
của truyền thống đó trong thời hiện đại.
Tiểu
thừa – cỗ xe nhỏ, và Ðại Thừa – cỗ xe lớn tuy xuất
phát từ hai nhánh của Tiểu thừa là Ðại chúng bộ và Nhất
thiết hữu bộ, có một số đặc tính khác nhau. Thu Giang Nguyễn
Duy Cần trong Phật học tinh hoa, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1965,
tt 108-109 liệt kê như sau:
“Chỗ
khác nhau giữa Ðại và Tiểu thừa có thể quy vào mấy điểm
chính sau đây:
Tiểu
thừa thì lo tự độ (độ lấy mình ra khỏi luân hồi sinh
tử); tâm lượng khiêm tốn, chỉ lo về tự giác mà thôi;
– còn Ðại thừa thì chẳng những lo tự độ, mà còn lo
phổ độ chúng sinh (giác tha); tâm lượng quảng đại, gồm
trong câu: Tự giác nhi giác tha. Cả hai đều bổ túc nhau chứ
không phải đối chọi nhau.
Tiểu
thừa chỉ lo phá ngã chấp, chứ không lo phá pháp chấp; –
còn Ðại thừa thì kiêm cả sự phá ngã chấp và pháp chấp.
Tiểu
thừa thì giải thoát ly thế gian tướng; – còn Ðại thừa
thì giải thoát không ly thế gian tướng.
Tiểu
thừa thì căn khí cùn, chán đường sinh tử, khổ não mà mong
cầu chứng Niết bàn – thoát vòng luân hồi. Tiểu thừa quan
niệm Niết bàn tách rời Sinh-Tử; – còn Ðại thừa thì căn
khí nhọn bén, biết rõ phiền não vốn không, không trụ nơi
sinh tử, cũng không trụ nơi Niết bàn, phiền não tức Bồ
đề, Sinh tử và Niết bàn là một.
Cái
quả cùng cực của Tiểu thừa là La-hán (Arhat); – còn quả
của Ðại thừa là Phật. Bởi vậy mới có nói: Ðại thừa
là cái ngộ của Phật, còn Tiểu thừa là cái ngộ của La-hán.
Chỗ
chủ trương về Hữu và Không (Sắc Không) của hai thừa cũng
khác nhau xa: Tiểu thừa cho rằng vạn sự vạn vật (vạn pháp)
là có thật, còn vạn tượng thì rất sai biệt (khác nhau).
Ðại thừa có hai phái […]. Quyền Ðại thừa [Duy thức tông]
cho rằng vạn sự vạn vật (vạn pháp) đều do Tâm mà có,
ngoài Tâm không có sự sự vật vật gì thật cả. Thực Ðại
thừa [Trung quán tông] thì chủ trương Phi hữu phi không, diệc
hữu diệc không (chẳng “có” chẳng “không”, mà cũng
vừa “có” vừa “không”), khác Tiểu thừa ở chỗ “chấp
hữu” và khác Quyền Ðại thừa chỗ “chấp không”.
Thế
thì Tiểu thừa tuy nhận vạn tượng là Sai biệt mà chưa từng
biết đến chỗ Bình đẳng của bản thể. Quyền Ðại thừa
thì tuy phá được chỗ Sai biệt của vạn tượng và biết
đến chỗ Bình đẳng của bản thể, nhưng chưa rõ đến chỗ
gọi là Trung đạo của Thực Ðại thừa; bản thể là hiện
tượng, hiện tượng là bản thể, sinh tử là niết bàn, niết
bàn là sinh tử… nghĩa là phiền não tức Bồ đề… [Ghi
thêm của chúng tôi: Bình đẳng, theo Phật giáo, đồng nghĩa
với Tuyệt đối, nghĩa là Bất nhị (không có hai)].
Tất
cả tinh hoa của Phật học Ðại thừa là ở chỗ thực hiện
được cái Tâm bình đẳng mà Thực Ðại thừa đã nói rõ
trong các Kinh Pháp hoa và Hoa nghiêm.
Tiểu
thừa trọng về văn tự; lệ thuộc từng câu từng chữ, gò
bó sát theo kinh sách; – còn Ðại thừa thì phóng khoáng, tự
do, bất chấp văn tự [...].
Tóm
lại, Tiểu thừa và Ðại thừa tuy có nhiều điểm khác nhau,
nhưng thực sự không có cái nào cao, cái nào thấp… mà chỉ
là vấn đề trình độ và giai đoạn. Thật sự chỉ có một-thừa,
là Phật thừa, – còn kỳ dư Tam-thừa đều là phương tiện
cả [...].”
Bốn
mặt trời
Về
mặt địa lý, như đã trình bày, Tiểu thừa được gọi là
Nam tông vì truyền giáo về phương nam theo ngả Tích Lan, Ðại
thừa là Bắc tông, theo ngả Trung Hoa, Tây Tạng. Trong lịch
sử triết học Phật giáo Ấn Ðộ, cả bốn vị Ðại luận
sư được kính ngưỡng là Bồ tát và được ví như bốn
mặt trời chiếu sáng thế giới đều có liên hệ tới Ðại
thừa và Thiền tông, tuy hậu thế chỉ có thể phỏng đoán
thời điểm sống của mỗi vị dựa theo truyền thuyết. Chư
vị ấy gồm:
Mã
Minh (Asvagosa). Nhà thơ và luận sư người Ấn Ðộ. Trước
khi xuất gia, sư từng lập gia đình. Danh xưng Mã Minh có ý
tán tụng tài thuyết pháp của sư tuyệt vời tới độ ngựa
cũng phải hí lên ca ngợi. Sư sống khoảng thế kỷ 1–2 sau
Công Nguyên (CN) và là tổ thứ 12 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Tác phẩm quan trọng của sư ngoài Phật sở hạnh tán viết
về cuộc đời Ðức Phật, còn có cuốn nổi bật nhất là
Ðại thừa khởi tín luận. Ðây là tác phẩm căn bản của
Ðại thừa trong đó sư trình bày các khái niệm quan trọng
nhất cùng với giáo pháp của Ðại thừa và cách thức tu
tập.
Long
Thọ (Nagarjuna). Vị đại luận sư nổi tiếng nhất mà sự
xuất hiện của sư được xem là cuộc triển khai lần chuyển
pháp luân thứ hai của Ðức Phật . Sư sống khoảng từ năm
150-250 sau C.N., và là vị tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Tác phẩm chính là Trung quán luận. Ta sẽ còn gặp gỡ vị
này rất nhiều dịp ở các phần sau.
Thánh
Thiên (Aryadeva). Còn được gọi là Ðề-bà-một-mắt (Kanadeva).
Sư là học trò của Long Thọ và là Đại luận sư nổi tiếng
của Trung quán tông, sống tại Tích Lan vào thế kỷ 3. Trong
các tác phẩm chính của sư có Tứ bách luận, chuyên về các
luận đề của triết học Long Thọ, được nghị luận theo
phép biện chứng phủ định của thầy mình nhằm giải thích
lý thuyết về Vô ngã và Không tính. Sư là tổ thứ 15 của
Thiền tông Ấn Ðộ; tương truyền sư bị những kẻ chống
Phật giáo sát hại.
Cưu-ma-la-đa
(Kumaralata). Sinh thời của sư khoảng thế kỷ 3 sau CN. Sư gốc
đẳng cấp Bà-la-môn, về sau làm tổ thứ 19 của Thiền tông
Ấn Ðộ. Thuộc phái Nhất thiết Hữu bộ, rất tinh thông
nghĩa lý kinh điển. Các tác phẩm chính của sư gồm có Dụ
man luận, Si man luận, Hữu liễu luận, v.v…
Chúng
ta sẽ bắt đầu phần tiếp theo của chương này bằng cách
xem xét nội hàm “Từ bi” trong “Lý tưởng Bồ tát” cùng
những hàm ý đạo đức của lý tưởng ấy. Kế đó, chúng
ta sẽ nhìn triết học Ðại thừa với những ý triển khai
của nó như một lối tiếp cận vào Trí huệ Bát nhã.
II. Lý tưởng
Bồ tát
Ý
nghĩa của Bồ tát
Theo
nghĩa đen, Bồ tát có nghĩa là một “hữu thể đã giác ngộ”.
Từ ngữ ấy được dùng để nói tới một người đã tới
đích cuối của cuộc hành trình giác ngộ, đạt quả vị
Phật, nhưng tự ý trì hoãn bước tối hậu ấy, nguyện không
nhập cảnh giới Niết bàn khi chúng sinh chưa giác ngộ. Vị
ấy tiếp tục sống quanh quẩn trong cõi thế này, nhận lãnh
mọi khổ não của đồng loại và chuyển nhường hết công
đức của mình cho kẻ khác. Bồ tát biểu lộ lòng từ bi
vô lượng đối với mọi sinh linh đang đau khổ bằng cách
giúp chúng sinh tinh tiến trên con đường tâm linh. Với những
phẩm tính tuyệt vời ấy, Bồ tát còn tiêu biểu cho lý tưởng
cao cả của người theo Phật.
Nguyên
gốc tiếng Sanskrit, Bồ tát là Bodhisattva. Chữ kép ấy gồm
Bodhi là giác ngộ; sattva là chúng sinh. Người theo lý tưởng
Bồ tát trên thì cầu đạo giác ngộ vô thượng tức quả
vị Phật, dưới thì phát nguyện cứu độ cho hết thảy chúng
sinh viên thành Phật đạo không kém gì mình. Ðặc trưng của
Bồ tát là thể hiện lòng từ bi vô lượng đối với chúng
sinh bằng thực hành hạnh vị tha, đặt căn bản trên phương
pháp tu tập hạnh Trí huệ hoàn hảo (Bát nhã ba-la-mật), như
sẽ trình bày ở một đoạn dưới.
Trong
Phật giáo thời kỳ đầu, thái tử Tất-đạt-đa được mô
tả là một Bồ tát trước thời điểm ngài thành đạo. Các
câu chuyện cảm động về những tiền kiếp của ngài vừa
cho thấy hình ảnh Bồ tát của chính ngài vừa cung cấp gương
mẫu cho những ai tu theo hạnh Bồ tát. Người Phật giáo tin
tưởng rằng trong tương lai, vào một thời mạt pháp nhất
định, khi lời giảng của Phật pháp bị suy vi, sẽ xuất
hiện một vị tôn sư khác, đó là Bồ tát Di Lặc.
Ðại
thừa và Bồ tát
Phật
giáo Ðại thừa triển khai rộng rãi phạm vi thao tác của
Bồ tát với đối tượng là hết thảy các hữu thể khao
khát được giác ngộ. Như thế, mọi Phật tử, cả người
xuất gia lẫn kẻ tại gia đều được xem là những Bồ tát
tập sự. Ðồng thời, kiểu mẫu Bồ tát còn bao gồm mọi
hữu thể nguyên mẫu được hình dung trong quán tưởng (chiêm
nghiệm) và biểu hiện các khía cạnh của ý thức giác ngộ.
Từ
quan điểm đó, lý tưởng Bồ tát được đưa dẫn vào Phật
giáo nhắm tới hai điều:
Làm
cứu cánh tâm linh cho cá nhân mỗi người;
Lấy
mọi hữu thể tâm linh làm đối tượng tận hiến rộng lớn
của bản thân người tu tập.
Với
hai mục đích tương liên ấy, Phật giáo Ðại thừa ngày càng
cực kỳ phong phú về lý thuyết triết học lẫn thực hành
tôn giáo. Ta sẽ thấy rõ qui mô ấy khi đối chiếu với tính
chất đơn giản của lối tiếp cận mang tính Phật giáo Nguyên
thuỷ trước đó.
So
với Kitô giáo
Cùng
từ ngữ Cứu thế và Cứu độ, nhưng trong Kitô giáo và Phật
giáo, chúng mang nội dung khác nhau về tính chủ động, thụ
động hay tích cực.
Theo
Kitô giáo, Ðấng Cứu thế là kẻ cứu độ và giải thoát
loài người khỏi tội lỗi, khiến con người được hoà giải
với Thiên Chúa; Ðấng Cứu thế đó là Ðức Giê-su Kitô.
Chữ Kitô là phiên âm Hán Việt từ chữ La-tin Christus, có
nghĩa là Ðấng Cứu thế. Không một ai trong loài người có
khả năng tự cứu độ vì trạng thái tội tỗi của nó như
một hệ luỵ từ “tội tổ tông”; nếu không có ơn cứu
độ của Ðấng Cứu thế thì nó không bao giờ được giải
thoát. Sức mạnh giải thoát, như thế, chỉ phát xuất từ
Thiên Chúa.
Quan
điểm của Phật giáo theo Walpola Rahula (1909-1997), cao tăng Tích
Lan và giáo sư đại học hàng đầu, trong What the Buddha Taught
(Bản dịch: Tư tưởng Phật giáo – Con đường thoát khổ
của Thích nữ Trí Hải, Phật học viện Quốc tế tái bản
năm 1990) thì cũng có thể hiểu Ðức Phật là Ðấng Cứu
thế nhưng, “Nếu người ta có thể gọi Ðức Phật là một
đấng ‘cứu thế’ đi nữa thì chỉ với ý nghĩa rằng ngài
đã tìm ra và chỉ dẫn con đường đi đến giải thoát, niết
bàn. Nhưng tự chúng ta phải tự bước trên con đường ấy”.
Như thế, có lẽ đó cũng là đường lối cứu độ chúng
sinh của Bồ tát: mỗi sinh linh đều có khả năng tự cứu
độ và chỉ có nó mới có thể giải thoát nó; và trong nỗ
lực giúp mỗi sinh linh “tự mình bước trên con đường đi
đến giải thoát, niết bàn”, Bồ tát chỉ tuỳ phương tiện
thích hợp mà gia trợ.
Ý
nghĩa Ba-la-mật
Xét
theo truyền thống, người giác ngộ có sáu phẩm tính vẹn
toàn, gọi là hạnh Ba-la-mật-đa, cũng được gọi tắt là
Ba-la-mật. Ðây là tiếng phiên âm Hán Việt chữ ‘paramitta’,
và là một thuật ngữ cực kỳ quan trọng trong triết học
Phật giáo.
Ba-la-mật
có nghĩa:
“Ðáo
bĩ ngạn”, đã vượt qua sông mê lầm để thoát sang bến
giác ngộ ở bên kia;
“Ðộ”,
cái nâng dắt người tu tập đạt tới bờ giải thoát;
Hoàn
tất, hoàn hảo, viên mãn, viên thành, tột cùng, siêu việt,
v.v… hiểu cặn kẽ và vượt quá mặt bên kia của chuyển
hoá, của hiện tượng.
Hạnh
Ba-la-mật
Ba-la-mật,
theo truyền thống, chủ yếu gồm sáu hạnh chính, gọi là
Lục độ:
Bố
thí. Làm việc từ thiện, tặng của cải vật chất và tinh
thần. Bố thí còn bao hàm lòng từ bi và bao dung, sẵn sàng
chuyển nhường hết công đức của mình để cứu độ người
khác.
Giữ
giới. Sống với động thái đứng đắn, tiết chế. Có hành
vi tốt để chế ngự những đam mê, tự mình bảo đảm cho
mình một kiếp tái sinh thuận lợi để có thể tiếp tục
hoạt động cứu rỗi chúng sinh.
Nhẫn
nhục. Khó khăn phiền não nào của người nào cũng có nguyên
nhân cá biệt của nó, người ngoài khó có thể hiểu thấu.
Nắm vững quan điểm đó ta sẽ có lòng bao dung, biết thông
cảm và kiên nhẫn khi tiếp nhân xử thế.
Tinh
tiến. Bền bỉ, quyết tâm trong mọi nỗ lực. Giữ ý chí
kiên định để tinh tiến đạo đức và tâm linh, không để
cho tâm tư mình bị xao lãng vì bất cứ cái gì.
Thiền
định. Theo phương pháp quán tưởng như một phương tiện
làm tan biến ảo giác về cái tôi – bản ngã. Trong thiền
định, hành giả nhận ra mối liên kết giữa bản thân và
tha nhân, cảm thụ được mọi hân hoan sầu khổ của chúng
sinh.
Trí
tuệ. Cũng là trí huệ, tuỳ người đọc. Hiểu được trí
năng cao nhất, đạt tới trình độ giác ngộ vô thường.
Thấu hiểu rằng vạn pháp chỉ do tâm tạo thành và do nhân
duyên hoà hiệp mà có nhưng bản thể cũng vẫn là không.
Về
sau, còn được thêm vào bốn hạnh nữa, thành Thập độ:
Phương
tiện thiện xảo. Hiểu rõ phương thế thích hợp nhất để
giúp đỡ từng đối tượng và tuỳ việc tiện lợi để
làm, nhằm cứu độ chúng sinh. Không tiếc mạng sống mình.
Xem chúng sinh đều ngang nhau, sẵn sàng giảng dạy và tự hiến
để độ chúng sinh vượt sông mê.
Nguyện.
Quyết chí hết sức mình, cứu giúp cho chúng sinh hiểu thấu
Trung đạo, dứt sạch phiền não, hết lòng tu học và viên
thành Phật đạo.
Lực.
Dùng trí huệ và sức mạnh của mình để chuyển hoá những
phần tử có tà ý và hỗ trợ chúng sinh đắc nhập Pháp Ðại
thừa.
Trí.
Hiểu rõ các Pháp, giữ vững Trung đạo. Không chán sinh tử,
chẳng ham niết bàn, có đại xả tâm thương xót chúng sinh.
Luôn luôn khai tâm điểm đạo nhằm giúp chúng sinh đắc thành
chánh quả.
Hạnh
trở thành nguyên lý
Những
quảng diễn trên chỉ có mục đích gợi ý chứ không thể
nào trình bày hết nội hàm của Lục độ hay Thập độ. Hành
giả theo lý tưởng Bồ tát thường ghi nhớ mỗi từ ngữ
vừa liệt kê ấy biểu hiện một cách căn bản về nguyên
lý cho một “độ”, và chiêm nghiệm chúng để theo đó thực
hành, ngày càng vượt lên trên bản thân trong chiều hướng
tận hiến cho tha nhân. Thích Minh Châu & Minh Chi trong Từ
điển Phật học Việt Nam, t. 391, nêu thí dụ về một vài
hạnh rằng:
“Tu
hạnh bố thí Ba-la-mật, vị Bồ tát không những đem cho của
cải, mà nếu cần, vị Bồ tát có thể hy sinh cả thân mình.
Tu hạnh nhẫn nhục Ba-la-mật, vị Bồ tát không bao giờ tỏ
ra sân giận đối với những người làm hại mình, hay là
lăng nhục mình, v.v…”
Việc
chiết giải như trên chỉ để thuận tiện tiếp cận, vì
những quán tưởng và thực hành các độ ấy mang tính đồng
bộ
và liên hoàn. Là những nguyên lý, Lục độ hay Thập độ
không mô tả một đường hướng hành động cá biệt, nhưng
gom chung lại sẽ cho thấy một cách gọn gàng các hành động
nhằm tiến tới giác ngộ mà hằng ngày, người tu theo lý
tưởng Bồ tát khao khát và tìm cách sở đắc.
Tuy
thế, cư sĩ L.H. Tịnh Huệ hẳn có ý kể lại những chứng
nghiệm của mình khi viết trong cuốn Ðại thừa yếu lược
hay Cẩm nang của người tu Ðại thừa, bản in ronéo tại Sài
Gòn năm 1988, t. 66, rằng: “Nên nhớ rằng trong Lục độ Ba-la-mật,
Bát-nhã Ba-la-mật [trí huệ hoàn hảo] là mẹ đẻ của năm
Ðộ kia, là nguyên lý chỉ đạo, vì thiếu nó năm Ðộ kia
sẽ lạc đường, lạc hướng như bọn mù”.
Ðộ
là hạnh để tự xét mình
Lục
độ hoặc cả Thập độ, như đã viết, đều được gọi
là các hạnh. Hạnh được hiểu là nền nếp thể hiện trong
ba mặt, làm thành cuộc sống của người Phật giáo:
Nếp
sống đạo đức cá nhân;
Cách
thức tu dưỡng hằng ngày để biến thành tập quán;
Tâm
tư nung nấu niềm khao khát cao cả được góp phần cứu độ
chúng sinh.
Bằng
việc nhấn mạnh các hạnh Ba-la-mật của một hữu thể giác
ngộ, người Phật tử luôn luôn tìm cách thế thích hợp để
thực hành chúng; mỗi hạnh bao hàm một nội dung đặc thù
nhưng xét một cách phổ quát, hạnh này bổ sung cho hạnh kia.
Và điều đặc biệt hơn nữa là các hạnh ấy phản ánh cuộc
sống của cư sĩ tại gia hơn là của tu sĩ trong tu viện.
Trong
Phật giáo thời kỳ đầu, đạo đức học của cộng đoàn
Phật giáo tập trung vào năm giới – không sát sinh, không
trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không say sưa men
rượu – áp dụng chung cho mọi thành phần Phật tử, cả
tu sĩ lẫn cư sĩ. Ngoài ra còn có hàng trăm giới khác được
giới tu sĩ chấp nhận giữ suốt ngày đêm, hoặc hàng chục
giới khác được giới cư sĩ chấp nhận giữ trong một khoảng
thời gian có hạn. Sang tới thời kỳ này, bằng việc thêm
vào một số giới dưới hình thức các hạnh, Ðại thừa
đã lập thành một bộ phận các lề luật và truyền thống
có tính toàn bộ, biến chúng trở thành Luật Tạng mang tính
tu viện trong một chừng mực nhất định. Tuy thế, chúng không
bao giờ bị xem là lề luật tuyệt đối phải giữ mà chỉ
là những nguyên tắc để tự mình thẩm định hạnh kiểm.
Giả
dụ tôi đã giác ngộ
Dựa
trên sự vắng mặt mọi khái niệm về Thượng đế và sự
thừa nhận tính liên tục biến đổi của thực tại, Phật
giáo không lập cơ sở cho lối tiếp cận mang tính tuyệt đối
chủ nghĩa vào đạo đức học. Vận động triển khai lý tưởng
Bồ tát chẳng những không đi ngược lại nội dung đạo đức
học trước đó mà còn cung cấp phương cách mới mẻ để
mỗi cá nhân tự soát xét hạnh kiểm của mình, dựa trên
ý nguyện tự nhiên muốn thâm nhập vào trạng thái của người
đã giác ngộ theo tưởng tượng và trải nghiệm.
Ta
có thể trình bày nhận xét trên theo một cách khác. Thay vì
đặt câu hỏi rằng: “Theo lời giảng của Ðức Phật, tôi
nên làm gì để tinh tiến tâm linh?” người theo đạo Phật
sẽ tự hỏi: “Trong tình huống này, nếu là người giác
ngộ, tôi sẽ làm gì? Tôi nên có loại hành động nào để
biểu lộ các phẩm tính bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, tinh
tiến, thiền định và trí huệ mà người giác ngộ sở đắc?”
Nếu
liên hệ thí dụ minh hoạ vừa kể với ý nghiệp, ta sẽ thấy
Lục độ nhấn mạnh tới các hạnh của nó trong từng hành
động lẫn trong dự tính nằm đằng sau hành động, chứ không
chỉ trong tự thân hành động. Ðiều ấy phản ánh quan điểm
đạo đức tổng quát của Phật giáo rằng tự thân hành động
không tốt hoặc xấu; hành động là công quả nên chủ yếu
là tính công đức (kusala) hoặc không công đức (akusala) của
nó. Ðối với chủ thể hành động, mỗi hành động đều
biểu lộ nhận thức và dự tính của người ấy – nghĩa
là phản ánh lòng từ bi và trí huệ người ấy. Chính từ
bi và trí huệ nằm đằng sau mỗi hành động mới là yếu
tố quyết định phẩm tính đạo đức của nó.
Tính
dục và bất tổn sinh
Trong
truyền thống Ðại thừa, có một số chủ đề đạo đức
được triển khai một cách đặc thù. Thí dụ, trong tu tập
Mật tông – vốn do một số đại sư trong Ðại thừa triển
khai nên – có một quan điểm về tính dục, theo đó khuyến
khích sử dụng tính dục như một cỗ xe chuyển tải cái nhìn
thấu suốt. Quan điểm ấy tương phản với các quan điểm
trước đó cho rằng đối với người sống đời tu sĩ, cần
phải tự nguyện từ bỏ tính dục vì lợi ích của cuộc
truy tầm tâm linh, và đối với người sống đời cư sĩ,
sinh hoạt tính dục trong điều kiện bình thường thì trung
tính, nhưng trong điều kiện xấu nhất, nó gây chướng ngại
cho quá trình tinh tiến tâm linh.
Ðại
thừa cũng có đóng góp riêng biệt vào vấn đề chay tịnh.
Rõ ràng trong năm giới, giới thứ nhất không sát sinh gợi
cho thấy nên tránh ăn thịt, nhưng trong Diệu pháp liên hoa,
một trong những kinh điển quan trọng nhất của Ðại thừa,
có gợi ý rằng cuộc tái sinh có thể mang hình thức thực
vật cũng như loài vật. Ý tưởng ấy có nội hàm triệt để
vì như thế, trên nguyên tắc, việc làm tổn hại sự sống
của cỏ cây cũng bị đánh giá ngang với việc làm tổn hại
sự sống của thú vật.
Về
mặt thực tiễn, để giải quyết nan đề bất tổn sinh ấy,
người ta đưa ra lời hướng dẫn khái quát rằng dù mọi
việc sát sanh có dự tính đều không công đức, nhưng trong
trường hợp đối tượng là loài vật thì ít phạm giới
hơn là loài người. Và như thế, lời ấy cũng hàm ý rằng
trong trường hợp đối tượng là thực vật thì ít phạm
giới hơn là loài vật.
Nhân
đây, ta có thể đưa ra đôi chút ý kiến. Nếu mọi vật trong
thế giới này đều tương liên nối kết, lúc đó, việc duy
trì sự sống cho bản thân ta có cái giá phải trả, và không
hành động nào có khả năng bất tổn sinh tuyệt đối. Tình
thế nan giải là nếu bạn cố ý không làm tổn hại hết
thảy mọi vật đang sống, cả loài vật lẫn thực vật, có
nghĩa rằng bạn đang đi tới kết cuộc làm tổn hại sự
sống của chính bạn, và như vậy bạn cũng không tránh khỏi
việc phạm giới cấm thứ nhất. Tuy nhiên, người ta không
thể nào giải quyết nan đề ấy về mặt đạo đức. Nó
không phải là vấn đề liên quan tới hành động phát triển
tính nhạy cảm của mỗi người, chính là cái mà tất cả
những gì Ðại thừa muốn đề cập khi nhấn mạnh tới trí
huệ và từ bi.
Ý
thức, dự tính và công đức
Dĩ
nhiên hành động tổn sinh không cố ý không bị xem là phạm
giới, vì chính dự tính làm phát sinh hành động ấy mới
là yếu tố quyết định nội hàm nghiệp báo của nó. Và
do đó, với chủ thể hành động vào lúc ấy, việc tổn sinh
vô dự tính không bị đánh giá là công đức hoặc không công
đức.
Quan
điểm vừa đề cập ấy rất quan trọng trong đạo đức học
Phật giáo. Ðối với một sự việc, cho dù xảy ra ở một
phần đất khác của địa cầu và chẳng can dự gì tới cá
nhân tôi, thí dụ như nạn đói ở châu Phi chẳng hạn, dù
tôi không trực tiếp gây ra nạn đói ấy nhưng tôi vẫn có
thể bị quy trách phần nào, bởi vì tôi có khả năng tiếp
tay tạo thay đổi nhưng tôi không chịu làm. Sự quy trách ấy
dựa trên cơ sở rằng tôi biết mình có thể góp phần làm
nạn đói giảm bớt được chút nào hay chút nấy thế mà
tôi đã chọn cách chẳng hành động gì cả. Tôi không thể
bị quy trách về việc tôi không thể làm, nhưng tôi có thể
bị quy trách về việc tôi có thể làm một cách thích đáng
nhưng đã cố tình không chịu làm.
Tuy
nhiên, điều chúng ta cần để ý là đạo đức học trong
bối cảnh như thế hoàn toàn khác với sự thẩm định có
tội hoặc không có tội. Cái chúng ta có ở đây là nội hàm
của việc theo đuổi lý tưởng Bồ tát, một hữu thể giác
ngộ đang khai triển mọi phẩm tính của từ bi và trí huệ,
kẻ hiểu rõ nhu cầu của từng tình huống và có cách thức
đáp ứng thích đáng. Các hạnh Ba-la-mật cung cấp bản phác
thảo cho mọi phẩm tính ấy.
Hành
động và giác ngộ
Như
chúng ta đã thấy ở đoạn trên, vì mục đích thiết thực
nên khi thẩm định tình huống, với lối tiếp cận này sẽ
nảy sinh câu hỏi: “Trong hoàn cảnh như thế này, người
giác ngộ sẽ làm điều gì?” Thêm nữa, nên nhớ quan điểm
căn bản của Phật giáo rằng cá nhân vốn không cố hữu
bản ngã cố định, khiến người ta không thể tự bào chữa
bằng cách nói “nhưng mà tôi là kẻ không được giác ngộ”,
vì nói như vậy có nghĩa làm như thể giác ngộ là một phẩm
tính cố hữu và được sở hữu. Ðúng hơn, chính hành động
của một hữu thể giác ngộ chứng tỏ mức độ giác ngộ,
và như thế, chính hành động (hoặc không hành động) của
bạn chứng tỏ trạng thái tâm linh của bạn. Sinh linh nào
có khả năng nhận biết và có khả năng đáp ứng thích đáng
tức là nó đang đạt tinh tiến trên con đường hướng tới
giác ngộ.
Lối
tiếp cận tinh tiến bản thân ấy thoạt nghe có vẻ vị kỷ.
Thí dụ bạn là chủ thể thực hiện một hành động chính
đáng chẳng qua chỉ vì bạn muốn đóng góp công quả vào
sự tinh tiến của bản thân mình trên đường hướng tới
giác ngộ. Nhưng nghĩ như thế tức là bạn đã hiểu sai chữ
giác ngộ, vì từ điểm nhìn của lý tưởng Bồ tát, giác
ngộ có nghĩa là ứng xử vị tha với từ bi và trí tuệ.
Nếu bạn thực hiện một hành động chỉ vì muốn tìm kiếm
sự tinh tiến cho bản thân bạn mà thôi, nó sẽ sản sinh kết
quả ngược lại, vì như thế có nghĩa là vị kỷ. Và đối
với người Phật giáo, chính dự tính mới đáng kể, mới
được xem là đích thực có công quả hay không công quả về
mặt đạo đức.
Còn
nữa, đặc tính chủ chốt của đạo đức học Phật giáo,
vốn nảy sinh từ triết lý nền tảng của Ðức Phật, là
hành động khắc phục ảo giác của bản sắc vị kỷ. Hữu
thể giác ngộ có khả năng hành động với lòng từ bi đối
với mọi đối tượng, đơn thuần chỉ vì hữu thể ấy đã
được giải thoát khỏi tính vị kỷ, cái vốn phát sinh bởi
ảo giác về một bản ngã độc lập và thường tại của
mình.
Lý
trí quyện với cảm xúc
Toàn
bộ triết học Phật giáo đặt cơ sở trên lý trí và phân
tích. Một mặt, nó khuyến khích bạn khảo sát các mệnh đề
và kiểm tra chúng bằng chính kinh nghiệm của bạn: thân chứng.
Mặt khác, nó khuyến khích bạn ngày càng tinh tiến trong việc
nhận biết các trải nghiệm hiện thời cùng phản ứng của
bản thân trong các trải nghiệm đó. Chính định hướng nền
tảng ấy khiến chúng ta có khả năng nghiên cứu Phật giáo
như một triết lý. Ngược lại, một khi bị hoàn toàn cách
ly với cảm xúc, lý trí sẽ quay lưng lại với thành phần
có ý nghĩa quan trọng trong kinh nghiệm nhân sinh. Ðể có một
triết lý về đời sống mà không khích lệ cảm xúc tức
là tự mâu thuẫn về từ ngữ.
Những
phê phán do người Ðại thừa đưa ra về các bộ phái trước
đó, và cách riêng các luận cứ được phản ánh trong những
triển khai của các đại luận sư về lý tưởng Bồ tát,
đã đóng vai trò tích cực trong nỗ lực giúp cho người Phật
giáo sống cuộc đời tràn đầy cảm xúc khi bước đi trên
con đường đạo. Và như thế, chúng ngăn không để cho toàn
bộ sự nghiệp tôn giáo và triết học Phật giáo bị biến
thành quá trình phân tích lạnh lùng và khô khan.
Một
phần quá trình sống chan chứa cảm xúc ấy liên quan tới
lối tiếp cận bằng chiêm nghiệm – hoặc quán tưởng –
đầy ấn tượng. Trong khi toàn bộ thực hành Phật giáo thời
kỳ đầu chỉ liên quan tới việc kiểm tra nhận thức cùng
phân tích trạng thái thì truyền thống Ðại thừa bao hàm
việc hình dung một số lượng hình ảnh những hữu thể giác
ngộ – những hình ảnh mà người chiêm nghiệm có thể tự
đồng hoá với chúng, đồng thời sử dụng chúng như đối
tượng sùng mộ và tận hiến. Ở phần sau trong chương này,
chúng ta sẽ thấy cách triển khai nội hàm ấy thành ý tưởng
Tam thân (trikaya): ba loại thân của một vị Phật.
Bồ
tát: niềm hứng khởi và gương mẫu
Tạm
thời lúc này chúng ta không thể không thừa nhận rằng lý
tưởng Bồ tát đã làm phát sinh một sự triển khai giàu ý
tưởng, trong đó có thể hiện hữu một số lượng các Bồ
tát cao cả và đa dạng, từ người tín đồ hành đạo giữa
cuộc đời thường, kẻ được xem là đang khao khát trở thành
Bồ tát, tới một qui mô các dạng thức tưởng tượng được
hành giả sử dụng trong khi hình dung hoá.
Từ
những mô tả Phật giáo thời kỳ đầu như một trường phái
phân tích với cứu cánh tối hậu là giác ngộ cá nhân và
quả vị A-la-hán, sang tới Ðại thừa đã mở ra một số
lượng đa dạng và phong phú các dạng thức Bồ tát, bao gồm
những hình ảnh hào hứng, tiêu biểu cho từng phẩm tính của
từ bi trí huệ, và thích hợp với nhu cầu triển khai của
người đi theo bước chân Phật. Ðể từ đó, cá nhân hành
giả có thể tự thân đi vào các hình ảnh thích hợp với
mình mà thăm dò thấu đáo, hào hứng tu tập và ngày càng
tinh tiến trên con đường Phật đạo.
Nói
cách khác, với giáo lý Ðại thừa cống hiến những hình
ảnh của các hữu thể giác ngộ để cá nhân con người có
thể tự đồng hoá, lý tưởng Bồ tát đã cung cấp phương
thế cho hành động dấn mình vào cảm xúc, thực chất là
một bước tiến mới trong quá trình diễn tiến, so với trước
đó người Tiểu thừa (Nguyên thuỷ) lấy lý trí làm ưu tiên.
Phương thế mới mẻ này không phủ nhận giá trị lối tiếp
cận của thời kỳ đầu, mà là tìm cách bổ sung và làm cho
nó phong phú thêm.
III. Triết
học Trung quán tông
Trong
Phật giáo Ðại thừa có hai tông phái chính, triển khai từ
truyền thống thông giải các kinh sách vốn không được chấp
nhận như là thành phần của Kinh điển viết bằng tiếng
Pali, một thổ ngữ Ấn độ, xuất phát từ Phạn ngữ (Sanskrit)
và được Thượng toạ bộ dùng để viết các bộ kinh điển
của mình. Nhiều học giả cho rằng bởi tính cách mộc mạc
và bình dân của Pali nên nó là ngôn ngữ được Ðức Phật
dùng khi ngài giảng dạy.
Trung
quán tông, hay Trung luận tông và còn có thể gọi là Trung
đạo, thông giải bộ kinh Bát nhã Ba-la-mật, nghĩa là Huệ
đáo bỉ ngạn hay Trí tuệ hoàn hảo, và Duy thức tông hay
Du già hành tông, thông giải một số lượng các kinh khác,
mà một số học giả phương Tây gọi là “mang bản sắc
duy tâm chủ nghĩa”.
Hai
tông phái ấy về sau chia thành nhiều chi phái đa dạng và
cũng đưa ra nhiều nỗ lực nhằm tổng hợp chúng. Tuy thế,
vì mục đích của cuốn sách này, chúng ta sẽ chỉ giới hạn
những quan tâm của mình vào các lối tiếp cận căn bản của
Trung quán tông và Duy thức tông.
Ðiều
quan trọng chúng ta không thể không thừa nhận là người sử
dụng kinh sách Ðại thừa đều nghĩ rằng các bộ kinh ấy
quả thật chẳng đưa ra điều nào mới mẻ về Phật pháp.
Họ xác tín rằng những truyền thống được các bộ kinh
ấy thể nhập đều từng được Phật Thích Ca đích thân
giảng dạy, và đã được lưu truyền ngay từ các lần kết
tập kinh điển theo truyền thống tụng đọc. Và như chúng
ta sẽ thấy ở phần sau, họ cũng tin tưởng rằng một phần
của các bộ kinh ấy được bảo tồn dành cho người đã
được điểm đạo, chứ không dành để truyền giảng rộng
rãi cho những ai chưa sẵn sàng đón nhận các ý tưởng ở
trình độ cao hơn cấp vỡ lòng.
Tâm
kinh
Một
trong những tác phẩm được ghi lại trễ nhất nhưng cô đọng
nhất, đó là Tâm kinh (mahaprajnaparamitta-hrdaya-sutra). Kinh ấy
đặc biệt quan trọng và độc đáo vì rất ngắn gọn, chỉ
hơn 250 chữ, xúc tích, dễ nhớ, dễ đọc thuộc lòng, và
do đó, nó là một phương cách chủ chốt để hội tụ và
truyền bá triết học độc đáo này.
Tâm
kinh ứng xử với các chủ đề chủ chốt nhằm mở cánh cửa
am hiểu Phật giáo Ðại thừa. Chúng ta sẽ lần lượt xem
xét các chủ đề đó. Nay có thể tạm thời tóm lược như
sau:
Mọi
hiện tượng đều không có sự tồn tại (hiện hữu) cố
hữu của riêng chúng; chúng không thể tồn tại độc lập
với nhau.
Dù
các thực thể phức tạp, thí dụ thân xác, hiện hữu một
cách qui ước – nghĩa là vì cứu cánh thực tiễn, chúng ta
buộc phải nói tới chúng như những thực thể đơn lẻ, nhưng
nếu phân tích cặn kẽ chúng ta sẽ thấy rằng chúng không
tồn tại bên ngoài và cao hơn các thành phần cấu tạo nên
chúng – nghĩa là bạn không có “thân xác” nào khác hơn
tổng số mọi thành phần làm thành thân xác bạn.
Do
đó, mọi hiện tượng chỉ đơn thuần là vẻ ngoài. Bạn
có thể thấy cái cây trước mặt bạn; một cách qui ước,
bạn có thể gọi nó là cái cây. Trong thực tế, nó có thể
bị phân tích thành các phân tử và nguyên tử, thậm chí thành
các lực vi hạt nhỏ hơn nguyên tử. Cái cây chỉ vỏn vẹn
là sự tích luỹ hết thảy các nguyên tử ấy; nó không tồn
tại hoàn toàn độc lập với phần còn lại của thế giới
và với cách thức vũ trụ này được cấu thành.
Mọi
vật đều có cả hình thức lẫn hư không. Ðối với cái
cây, “hình thức” là cái cây, “hư không” là thực tế
rằng nó không hiện hữu tự thân nó nhưng chỉ hiện hữu
như một sự sắp xếp các nguyên tử đang liên tục biến
đổi, v.v... Không có cái nào tồn tại mà không có cái khác.
Nếu
không được giác ngộ, chúng ta không thể nào thấy trong cùng
một lúc cả hình thức lẫn hư không.
Mục
đích là trở nên giác ngộ, để bạn thấy mọi vật là đang
“hư không” (trống rỗng) trong sự hiện hữu cố hữu, và
do đó bạn chấp nhận như-nó-đang-là, trong một thực tại
đang luôn luôn biến đổi của nó, để bạn không có hành
động nắm bắt nó hoặc phóng chiếu các ý tưởng cố định
của bạn lên trên nó.
Phân
tích như trên rõ ràng là đã quá đơn giản hoá một chuỗi
những ý tưởng rất phức tạp và cô đọng, nhưng tạm thời,
hãy cứ xem như việc làm ấy cần thiết để tiện nắm bắt
ý tưởng về “hình thức” và “hư không”, nhằm đi tới
việc hiểu các khái niệm triết học trong Phật giáo Ðại
thừa.
Ðối
chiếu hồi cố
So
với các truyền thống lưu hành trước Ðại thừa, ta thấy
có điểm rất khác. Luận Tạng của các truyền thống ấy,
thí dụ Tiểu thừa, tập trung vào việc phân tích các sự
vật đa hợp thành các thành phần cấu tạo chúng (các pháp,
dharmas). Diễn tiến ấy có dự tính là làm cho con người nhận
biết tính chất đa hợp để qua đó, nhận thức bản tính
vô thường của vạn vật.
Từ
điểm nhìn của bộ kinh Bát nhã Ba-la-mật, người Ðại thừa
thấy quá trình ấy có vấn đề: nó gợi cho thấy các thành
phần (các pháp, dharmas) tự chúng có tính thường tại. Thế
nhưng đối với bộ kinh Bát-nhã Ba-la-mật và qua những thông
giải của Long Thọ (Nagarjuna), đặc điểm chủ chốt của
toàn bộ quan điểm của Phật giáo về thực tại là, một
cách tuyệt đối, không cái nào có hoặc không có gì có tự
tính; tự tính tức là tính tự hiện hữu, tính tồn tại
cố hữu (svabhava).
Ðại
thừa và tự tính
Về
phương diện tự tính, Long Thọ cho rằng điều luôn quan trọng
là bạn cần phải phủ định tự tính của mỗi vật vì tự
tính mang hàm ý thường tại. Tự tính được hiểu là cái
bản tính nằm đằng sau mọi hiện tượng: cái ngã; nó là
bản chất bên trong, là tính cách cá thể, là khát vọng thể
hiện cá tính.
Mọi
sự đều không có tự tính, đều vô ngã, tức là đều không
có cái chắc chắn, riêng biệt đứng đằng sau vẻ ngoài của
nó. Mọi sự đều tương liên nối kết, do đó đều vô thường,
tức là đang trong trạng thái cùng theo nhau biến đổi. Một
khi bạn định vị cái gì đó là thường tại thì bạn cảm
thấy mình có khả năng ra sức bám víu và nương dựa vào
nó – và hành động ấy khiến bạn lâm cảnh khổ não. Phật
giáo quả quyết rằng không có gì thường tại, và như thế,
tìm kiếm sự thường tại bao giờ cũng là ảo giác.
Khoa
học hiện đại có khuynh hướng đồng thuận quan điểm ấy.
Trong khi các nguyên tử có thể được xem là thường tại,
như một hình thức đối lập với các phân tử và các thực
thể phức tạp hơn mà chúng kết hợp để cấu thành, rõ
ràng toàn bộ vật chất chỉ thành hiện thực dưới một
nhiệt độ nhất định và có thể bị chuyển đổi thành
bức xạ. Một số thực thể trong vũ trụ tồn tại liên tục
trong một khoảng thời gian rất dài, nhưng không vật nào có
tự tính, vì không vật nào có thể tồn tại độc lập hoàn
toàn với các điều kiện.
Từ
Trí huệ tới Không tính
Có
nên đặt vấn đề ba-la-mật (paramitta) của trí huệ không?
Nan đề ấy hợp lý vì trước hết ba-la-mật (hoàn hảo) của
trí huệ (prajna: bát nhã), là danh xưng của bộ kinh Bát-nhã
Ba-la-mật (Prajnaparamitta-sutra). Thêm nữa, rõ ràng chìa khoá
để mở bộ kinh ấy là ý tưởng Không tính (sunyata), nhưng
nó liên quan nhiều hơn tới sự nắm bắt có tính trí tuệ
khái niệm đó.
Một
đặc điểm quan trọng của triết học Ðại thừa là nó không
chỉ bị nắm bắt một cách duy nhất ở cấp bậc trí tuệ;
nó là quan điểm về cuộc sống mà cá nhân mỗi người đầu
có thể đi vào. Ðại thừa sử dụng Không trong Không tính,
hoặc tính Không như một danh từ (sunyata), xem Không là vạn
sự, vạn sự là Không, tức là tự thân mọi hiện tượng
đều không có tự tính.
Việc
nhìn vạn vật đang là “không, hư không, trống rỗng” sẽ
làm biến đổi động thái của chúng ta đối với các sự
vật và rồi tới lượt nó ảnh hưởng lên các chọn lựa
đạo đức và hành động của chúng ta. Do đó, hư không hoặc
Không
tính là một thái độ của tâm trí trong khi ứng xử với
cuộc sống chứ không chỉ là một phương cách để nhấn
mạnh tính vô thường của cuộc đời. Ðại thừa cho rằng
thái độ ấy của tâm trí chính là và luôn luôn là nền tảng
của triết học Phật giáo.
Ðại
luận sư Long Thọ
Trung
quán tông hay Trung luận tông hay Trung đạo, đôi khi còn được
gọi là Không tông, là một trường phái triết học Phật
giáo do Long Thọ (Nagarjuna) thành lập, mà sự ra đời của
vị đại sư ấy trong lịch sử được người Phật giáo xem
là một Bồ Tát hoá thân, “cha đẻ của Ðại thừa”, người
đầu tiên trong lịch sử Phật giáo lập thành một “hệ
thống” triết học hẳn hoi, và đó là triển khai lần chuyển
pháp luân thứ hai của Ðức Phật. Dĩ nhiên, nó vẫn đặt
cơ sở trên lần thứ nhất do đích thân Phật Thích Ca giảng
khai đạo ở Lộc uyển. Và từ đó, đưa tới lần triển
khai thứ ba là sự xuất hiện của Kim cương thừa (Mật tông).
Cho
đến nay, chưa thể biết chắc chắn sư Long Thọ sống trong
khoảng thời gian nào – từ giữa thế kỷ thứ 2 tới giữa
thế kỷ thứ 3 sau CN. Chỉ biết vị đại sư ấy có giảng
dạy tại Viện Phật giáo Nalanda và theo truyền thuyết là
vị tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Ðộ. Thích Minh Châu và
Minh Chi trong sách đã dẫn, t. 383, cho biết một số chi tiết
như sau:
“Thọ
là cây, chỉ cây arjuna, nơi sinh ra Luận sư. Mẹ Luận sư hạ
sinh ra ông dưới gốc cây arjuna nên lấy tên cây đặt cho
tên con.[...] Long Thọ sinh ra và lớn lên trong một gia đình
Bà-la-môn ở miền nam Ấn Ðộ. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng
là người học giỏi, thông thạo toàn bộ kinh điển Bà-la-môn
giáo. Sau khi được giác ngộ theo đạo Phật, ông cùng với
học trò là Aryadeva (Thánh Thiên) lập ra trường phái Trung
luận tông (S. Madhyamaka), cũng gọi là trường phái Không luận
(S. sunyatavada)”.
Tuy
có rất nhiều tác phẩm được qui cho sư Long Thọ, nhưng chắc
chắn ba tác phẩm do sư sáng tác là: Thập nhị môn luận (Dvadashadvara-shatra);
Ðại thừa nhị thập tụng (Mahayana-vimshaka); và Trung quán
luận tạng (Madhyamika-karika). Công trình trọng đại nhất của
sư Long Thọ là hệ thống hoá và đào sâu lý thuyết của
bộ kinh Bát nhã Ba la mật (Prajnaparamitta-sutra). Về mặt phương
pháp luận, sư Long Thọ khai triển một môn luận lý đặt
nền tảng trên tương quan đối kháng giữa các mệnh đề.
Danh
xưng Trung quán tông có nghĩa là “quan điểm trung dung” được
phản ánh trong các lời giảng có tính tâm điểm:
Vật
không hiện hữu một cách tuyệt đối;
Vật
cũng không hoàn toàn không hiện hữu;
Do
đó, chúng hiện hữu một cách tương đối.
Sư
Long Thọ tuyên bố rằng quan điểm ấy là sự giải thích
đơn giản các lời giảng nguyên thuỷ của Ðức Phật trong
đó ngài bác bỏ cả vĩnh cửu chủ nghĩa lẫn tịch diệt
chủ nghĩa.
Như
đã có đề cập, triết học Trung quán tông hoặc Trung đạo
của sư Long Thọ hệ thống hoá các tư tưởng trong bộ kinh
Bát-nhã Ba-la-mật với chìa khoá để mở là Không tính của
hết thảy các thành phần (vạn pháp: dharmas) lập nên thế
giới hiện hữu. Một đặc điểm quan trọng khác nữa của
triết học Trung quán tông mà chúng ta sẽ xem xét ở đây là
sự phân biệt giữa chân lý tối hậu và chân lý qui ước.
Bằng
việc thông giải bộ kinh ấy, sư Long Thọ không cống hiến
triết học nào mới. Sư chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng nhất
của ý tưởng về Không tính trong quan điểm Phật giáo về
thực tại. Thay vào đó, sự xuyên sâu chính yếu của Long
Thọ là dùng lý luận để chứng minh tính chất phi lô-gic
trong những tuyên bố của người khác, bằng việc sử dụng
lối lập luận theo phương pháp giảm thiểu để làm lộ rõ
sự phi lý của chúng. Ðây là một diễn tiến lập luận rút
tỉa tính chất mâu thuẫn từ một chuỗi các giả định nào
đó, và kết luận rằng chuỗi ấy hoàn toàn không đứng vững
vì ít nhất trong đó có một giả định bị bác bỏ. Các
luận cứ của sư Long Thọ được trình bày cụ thể trong
cuốn Trung quán luận tạng, thường được gọi là Trung quán
luận. (Hiện có ít nhất ba bản Việt dịch của Thích Nữ
Chân Hiền, Thích Viên Lý và Thích Tịnh Nghiêm, website Thư
viện Hoa Sen).
So
với triết học Tây phương
Lối
tiếp cận của sư Long Thọ giống với lối tiếp cận của
Socrates. Ðó là từng bước:
Nhìn
cặn kẽ niềm tin được bảo lưu chung;
Khảo
sát các nội hàm của chúng; hé lộ tính chất phi luận lý
của chúng;
Từ
đó đánh giá lại các giả định nguyên thuỷ.
Biện
chứng pháp Long Thọ
Sư
Long Thọ phát triển một biện chứng pháp đặc biệt. Sư
đẩy các luận cứ phản đề tới chỗ phi lý. Khởi đi từ
nguyên lý xem vạn vật chỉ tồn tại bằng mặt ngược lại
của nó – mặt bên kia của trạng thái biến đổi liên tục
– sư chứng minh mọi sự mọi vật đều tương đối và không
có tự tính, và như thế, đó là Không tính hoặc tính Không.
Sự bác bỏ các mặt khác nhau ấy là căn bản xuất phát của
phương pháp Long Thọ; nó được dùng làm cơ sở cho triết
học Trung đạo và trực tiếp gắn liền với những lời giảng
nguyên thuỷ của Ðức Phật. Có thể tóm tắt quan điểm Trung
quán này bằng bài kệ Bát bất (Tám phủ định) mở đầu
cuốn Trung quán luận:
Bất
sinh diệc bất diệt
Bất
thường diệc bất đoạn
Bất
nhất diệc bất nhị
Bất
lai diệc bất xuất
Phỏng
dịch:
Chẳng
sinh cũng chẳng diệt
Chẳng
còn cũng chẳng mất
Chẳng
đồng nhất, chẳng dị biệt
Chẳng
đến cũng chẳng đi.
Chân
lý qui ước và chân lý tối hậu
Rõ
ràng, về mặt ngôn ngữ, sẽ có vấn đề khi tuyên bố rằng
mọi sự mọi vật đều “hư không”, vì theo lối nói bình
thường hằng ngày, chúng ta phải nói tới loài người, loài
vật, các hiện tượng vật lý, thậm chí các biến cố chỉ
xảy ra trong chốc lát, rằng chúng đều “hiện hữu”. Thật
ra khi nói như thế chúng ta không có ý bảo rằng chúng sẽ
tồn tại mãi mãi và rằng chúng độc lập với mọi cái khác;
chúng ta chỉ có ý nói rằng chúng hiện hữu, thay cho câu nói
rằng chúng không hiện hữu.
Như
thế, chúng ta không thể nào không nói lên câu “cái đó hiện
hữu”. Trung quán tông mở lối thoát ra khỏi tình thế lưỡng
nan đó bằng cách cho rằng có hai loại chân lý: một có tính
qui ước và một có tính tối hậu; đúng hơn, chân lý có
hai mặt, gọi là nhị đế.
Chân
lý qui ước (samvrti-satya). Các khái niệm chúng ta có được
trên căn bản sinh hoạt hằng ngày. Chân lý này được gọi
là tục đế, dành cho các hiện tượng và các khái niệm đời
thường. Chúng bị qui định theo lối suy nghĩ mang tính nhị
nguyên chủ nghĩa để có thể tiếp cận bằng lý luận thông
thường. Tuy không là chân lý tối hậu, nhưng tục đế cũng
có giá trị nhất định.
Chân
lý tối hậu (paramartha-satya). Chân bản thể của mọi vật,
trong cái nhìn rũ bỏ hết mọi khái niệm qui ước. Chân lý
này được gọi là chân đế. Nó giản dị, đơn thuần, không
còn các mặt đối lập.
Như
thế, chân lý qui ước đòi hỏi chúng ta nói tới các cá thể
như thể chúng là các thực thể thường tại và riêng lẻ
vì nếu không nói như thế, chúng ta không thể nào ứng xử
với chúng trên căn bản đời thường hằng ngày. Nhưng xét
đến cùng thực tại, chân lý tối hậu cho chúng ta biết rằng,
thí dụ, cái mà nhiều người cho là bản ngã thường tại
thì thật ra, không có cái như thế.
Xét
về mặt chân lý qui ước, thế giới và Phật pháp không phải
không có giá trị, nhưng xét về mặt chân lý tối hậu, tất
cả những cái đó đều không tồn tại vì mọi sự vật đều
chỉ là bề ngoài, chỉ là hình thức.
Trình
bày theo cách khác
Ở
cấp bậc qui ước, bạn hiện hữu. Người khác biết bạn
qua giao tiếp với bạn; nếu bạn yêu cầu, họ có thể mô
tả về bạn, ít nhất về diện mạo của bạn. Nhưng ở cấp
bậc tuyệt đối, bạn không hiện hữu; bạn là các thành
phần tạm thời “được đặt vào nhau” của thế giới
này. Tôi cũng thế. Chúng ta chẳng khác gì nhau. Cuộc đời
ngắn ngủi “chưa đầy một gang tay” của tôi sẽ lại càng
hữu hạn hơn một khi tôi không còn dưỡng khí để hít vào!
Tôi gồm các tế bào; chúng tăng trưởng nhờ thực phẩm tôi
ăn vào. Tôi ở trong trạng thái liên tục biến đổi về mặt
vật lý, và mọi sinh linh đều như vậy. Cũng thế, cái “Tôi”
liên quan tới người khác cũng đang biến đổi liên tục tương
ứng với mối quan hệ của tôi với môi trường sống hằng
ngày của mình.
Do
đó, về mặt qui ước, “Tôi” là toàn bộ thể ấy, nhưng
theo lối nói tuyệt đối, tôi không hiện hữu. Bằng cách
lập nên sự phân biệt giữa tính tuyệt đối và tính qui
ước, triết học Ðại thừa có khả năng tiếp tục quá trình
phân tích cực kỳ rốt ráo mọi sự vật mà không làm cho
cuộc sống và lối nói bình thường trở thành bất khả thi.
Nhận
thức và động thái
Nhân
đây, có lẽ không vô ích khi nhắc lại rằng khi nhìn vào
Phật giáo Ðại thừa cũng như toàn bộ triết học Ðông phương,
đối tượng chủ chốt để thăm dò và đánh giá là những
nội hàm tôn giáo và con người trong quan điểm của các triết
thuyết ấy về thực tại.
Thế
giới qui ước trong đó mỗi chúng ta đều có vẻ hiện hữu
như những bản ngã thường trực và cá thể, là một thế
giới có thể dẫn tới thất tình lục dục: ghen tị, kiêu
ngạo, ganh đua, yêu thương, thù hận và mọi đam mê khác.
Một khi trạng thái ấy bị kiềm chế bởi nhận thức rằng
chúng ta, một cách tối hậu, đều là “hư không”, thì có
niềm hy vọng rằng đã tới lúc quan điểm ít vị kỷ và
quân bình hơn sẽ thắng thế.
Thanh
thản và an tĩnh không phải là vấn đề yếm thế, không quan
tâm hoặc không chăm lo tới những gì đang xảy ra, hoặc tìm
cách tuỳ tiện giữa các khả năng chọn lựa này nọ, mà
là nhìn mọi sự mọi vật một cách quân bình và thừa nhận
rằng mọi cái đều nhất thời và đều là đối tượng của
biến đổi.
Khắc
phục ý niệm qui ước
Như
đã trình bày ở trên, ta không thể không sử dụng khái niệm
qui ước về hiện hữu để lập luận và ứng xử trên căn
bản sinh hoạt hằng ngày. Vấn đề là bạn vừa phải sử
dụng vừa phải tước bỏ nó để có thể nhìn thấu suốt
chân lý tối hậu. Có hai cách khắc phục ý niệm qui ước
về tồn tại.
Ðối
với điều đã và đang được nói tới – thí dụ sự hiện
hữu của thần linh hoặc con người có linh hồn – chúng có
thể bị phản bác bằng các luận cứ hợp lý chứng minh rằng
mọi sự mọi vật đều tuỳ thuộc nhau và do đó, không cái
nào có tính tự hiện hữu hoặc tồn tại.
Ở
cấp bậc sâu xa hơn, có lối nhìn thế giới theo cách thông
thường, như thể các sự vật mà chúng ta đang thấy đều
là các thực thể thường tại. Lối nhìn ấy đã ăn rất
sâu trong tâm thức và trở thành định kiến nên nó không
nhượng bộ, không chịu thua bất cứ lập luận nào khác.
Cách duy nhất để khắc phục nó là bằng chiêm nghiệm: quán
tưởng hoặc thiền định.
Trong
hai cách ấy, nói chung Ðại thừa nhấn mạnh cách sử dụng
lập luận lý tính, đưa tới việc nhìn mọi sự đúng như
chúng là chúng. Thuật ngữ Chân như (tathata) của Phật giáo
diễn tả điều đó, rằng sự vật là đúng như nó đang là
trong cách thức nhất thời và tương đối của nó. Lời phát
biểu ấy không mang tính phủ định; nó không phủ định cái
gì cả. Nó đơn giản chỉ là lối nói tương ứng với sự
vật như nó đang thật sự là, trong trạng thái chủ thể gạt
bỏ mọi tưởng tượng mang tính vĩnh cửu chủ nghĩa.
Nói
cách khác, đừng cố cho rằng “cái này là mãi mãi” vì
bạn thừa biết nó không là mãi mãi, và thái độ như thế
chỉ làm cho bạn có hành động hoang tưởng, thèm muốn, nắm
bắt nó để rồi thất vọng, chịu khổ não. Hãy chỉ nói
rằng “cái này đúng như nó là nó”, nghĩa là “nó hiện
hữu như nó đang là”, lúc đó bạn có thể đánh giá nó,
thưởng ngoạn nó đúng với tự thân nó, và bạn không có
bất cứ hành động nào cưỡng chế nó thành “cái nên là”
cho phù hợp với sự tưởng tượng mang tính vĩnh cửu chủ
nghĩa của bạn.
Một
nội dung triết học như thế nghe có vẻ không khác biệt lắm
với tư duy Phật giáo thời kỳ đầu. Vì thế, chúng ta thấy
sư Long Thọ xem đó chỉ là cách trình bày có tính luận lý
những lời do chính Ðức Phật giảng dạy. Thế nhưng đã
có sự phân biệt quan trọng giữa một số tông phái trước
đó, cách riêng Nhất thiết hữu bộ, và Trung quán tông: phân
biệt về trạng thái của “Không tính” và các pháp, hoặc
các thành phần cấu tạo (dharmas).
Không
tính
Tính
Không, Không tính hoặc Không – trong tiếng sanskrit nếu dùng
dưới dạng danh từ là sunyata, dưới dạng tính từ là sunya
– có nghĩa là “hư không, trống rỗng, rỗng không”. Mọi
sự vật được diễn tả là đều “trống rỗng” cái tự
tính (svabhava): chúng là không tính. Dù ý tưởng ấy nghe có
vẻ như một quan điểm không nhiều thì ít phủ định thực
tại, nhưng thật ra nó không có ý đó.
Trong
Phật giáo thời kỳ đầu đã có thừa nhận hai đặc điểm
phổ quát của thực tại. Một là vô thường: mọi sự mọi
vật đang liên tục biến đổi; hai là vô ngã: không có bản
ngã cố định. Hành động bám víu vào ý niệm về một bản
ngã thường tại chính là nguyên nhân của khổ não. Phật
pháp tìm cách chứng minh rằng mọi sự mọi vật phát sinh
trong tuỳ thuộc vào các điều kiện mà các điều kiện đó
thì đang biến đổi liên tục và không ngừng.
Như
thế, tự tính là thuật ngữ dùng để chỉ cái gọi là “bản
ngã đang hiện hữu một cách thường trực”, và người Phật
giáo cho rằng mọi sự vật đều “trống rỗng, rỗng tuếch,
hư không” cái tự tính đó; chúng đều bị điều kiện hoá
và đang liên tục biến đổi. Ðó là ý nghĩa của thuật ngữ
“Không tính” trong Phật giáo Ðại thừa. Nó đơn giản chỉ
là hệ quả thuận lý của quan điểm căn bản của Phật giáo
về cuộc sinh tồn, sự hiện hữu hay tồn tại đang bị điều
kiện hoá.
So
với triết học Tây phương
Mọi
pháp chỉ là những dạng xuất hiện, những vẻ ngoài của
Không tính, đều là Không. Không tính vừa chứa mọi hiện
tượng vừa xuyên suốt mọi quá trình phát triển sự vật.
Khi trình bày Không tính (hư không) như vừa kể ta cần phải
tránh và phải phân biệt nó với hư vô chủ nghĩa (nihilism).
Hư
vô chủ nghĩa cho rằng hoàn toàn không có gì cả hoặc có
cũng như không. Với niềm tin rằng cuộc đời này vô nghĩa,
nó từ khước hết thảy các nguyên tắc đạo đức và tôn
giáo. Hư vô chủ nghĩa còn là một dạng thức cực đoan của
hoài nghi chủ nghĩa; nó cho rằng không có gì thật sự hiện
hữu.
Như
thế, mọi vật đều không tính (không có tự tính) hoàn toàn
khác với mọi vật đều hư vô (không hiện hữu). Mọi vật
đều không tính không có nghĩa chúng không thật sự hiện
hữu; chúng chỉ “hiện hữu” theo vẻ bên ngoài mà thôi
vì thế không phù hợp với “Hiện thực thật” của chúng;
chúng không có một bản chất riêng (tự tính) nào bởi vì
chúng đang tương thuộc và biến đổi.
Thách
đố Nhất thiết hữu bộ
Trong
các truyền thống Phật giáo trước Ðại thừa, người ta
công nhận rằng các sự vật phức hợp (như “bản ngã”)
không hiện hữu do tự chính cá thể của chúng. Chúng ta đã
thấy quan điểm ấy được chứng minh bằng cách phân tích
các sự vật thành những thành phần lập nên chúng (phức
hợp), được gọi là các pháp (dharmas). Các dharmas – hoặc
các thành phần cấu tạo – là những đơn vị nhỏ bé nhất
của thực tại và của mọi thực thể phức hợp được chúng
hợp thành.
Ðối
với người Nhất thiết hữu bộ, quan điểm ấy mang nội
hàm rằng các dharmas có tính vĩnh cửu nhưng ngược lại, các
vật được chúng hợp thành thì không như thế. Bộ phái này
cho rằng có 75 pháp (dharmas), và cho rằng những đơn vị cuối
cùng ấy không thể chia cắt và đều hiện hữu đồng thời.
Chỉ các dharmas là có thật. Sư Long Thọ thách đố nội hàm
đó. Sư đặt vấn đề rằng nếu hết thảy các sự vật
đều tuỳ thuộc vào các điều kiện đang biến đổi, thế
thì tại sao các dharmas lại có ngoại lệ, lại không bị tuỳ
thuộc vào các điều kiện? Tại sao các pháp ấy lại có sự
tự tồn tại? Và như thế, ta phải chấp nhận rằng các dharmas
cũng không tính (trống rỗng “sự hiện hữu cố hữu - tự
tính”).
Không
tính và vô thường
Nói
cách khác, đây là vấn đề làm thế nào bạn có thể hiểu
một cách triệt để ý tưởng của Phật giáo về vô thường.
Theo người Nhất thiết hữu bộ, các sự vật phức hợp đều
vô thường nhưng chúng được lập thành bởi các dharmas đang
hiện hữu thường trực. Theo sư Long Thọ, ở cấp bậc tuyệt
đối, mọi sự vật đều vô thường; mọi sự vật đều
có phẩm tính không tính (trống rỗng, rỗng không). Ngôn ngữ
được sư Long Thọ dùng ở đây mang tính tuyệt đối, không
thuộc loại ngôn ngữ qui ước hằng ngày và đời thường,
vì về mặt qui ước, các sự vật vẫn được mô tả là
đang hiện hữu.
Việc
thừa nhận mọi sự vật đều trống rỗng (không tính) không
có nghĩa chúng không có giá trị. Ðối với người Phật giáo
Ðại thừa thì hoàn toàn ngược lại: chúng vẫn là thật,
chẳng có gì về chúng bị biến đổi, chúng vẫn là chúng.
Nhưng bằng việc thừa nhận mọi sự vật đều không tính,
thì không có vấn đề ra sức nắm bắt hoặc níu giữ sự
vật nào hoặc trông mong rằng nó sẽ không biến đổi. Ðúng
hơn, sự vật không tính được trông mong rằng nó đang phát
triển và biến đổi để tương tác với chúng ta và với
phần còn lại trong môi trường của nó.
Tác
dụng của ý niệm không tính
“Không
tính” ngăn không cho con người đặt câu hỏi rằng: Cái “tôi”
thật sự là cái gì? Bạn chính xác là những gì bạn đang
là: các ý nghĩ của bạn, các ngôn từ và các hành động
của bạn. Bạn là cái bạn đang là lúc này, như kết quả
của cái bạn từng là trong quá khứ. Nghiệp (karma) của bạn
sản sinh các kết quả của nó. Cũng thế, cái bạn sẽ là
trong tương lai thì tuỳ thuộc phần nào vào những chọn lựa
của bạn lúc này, và nó cũng tuỳ thuộc vào những thành
tố khác mà bạn không thể kiểm soát chúng; chúng là những
điều kiện để các tình huống đa dạng cùng các biến cố
phát sinh cho bạn trong tương lai.
Do
đó bạn “trống rỗng” (không tính) – bạn không có bản
ngã cố định và hằng cửu, cái bằng cách nào đó nhận
thấy chính nó bị mắc kẹt trong thế giới đang liên tục
biến đổi này. Dù thích hay không thích, bạn đang là thành
phần của quá trình biến đổi ấy; nếu bạn hành động
nhằm ngăn trở hoặc có ý đi ngược lại diễn tiến ấy
tức là bạn chạy theo ảo giác, và như thế nó đương nhiên
dẫn bạn tới trạng thái thất vọng và khổ não không tránh
khỏi.
Ðiều
đó không có nghĩa rằng không có gì hiện hữu vì như thế
có nghĩa là chủ trương tịch diệt hoặc tận diệt chủ nghĩa
(annihilationism). Nó chỉ có nghĩa là không có cái gì hiện
hữu một cách vĩnh cửu do tự chính cá thể của nó. Sự
vật nào cũng chỉ hiện hữu trong tương quan với các điều
kiện làm xảy ra nó; một khi các điều kiện ấy chấm dứt,
sự vật đó chấm dứt.
So
với triết học Tây phương
Trong
triết học Tây phương về tâm trí, có vấn đề được gọi
là “cái tôi hay lảng tránh và khó nắm bắt” của David
Hume. Thí dụ, về thực tế, tôi có thể nói tới “thể xác
của tôi” và “tâm trí của tôi” với hàm ý rằng có một
“cái tôi” ở bên trên tất cả hai cái “vật của tôi”
ấy. Vấn đề là “cái tôi” ấy lại có bản tính hay lảng
tránh và khó nắm bắt.
Phật
giáo đi vào cuộc tranh luận đó bằng cách đơn giản gợi
ý rằng “Cái tôi ấy hay lảng tránh và khó nắm bắt vì
thật ra, nó chỉ là ảo giác. Về mặt tối đa, bạn chỉ
có thể dùng lối nói ấy như một cách qui ước để diễn
tả bản thân bạn mà thôi”.
Như
thế, dù đến với vấn đề “cái tôi” ấy từ một vị
trí khác, quan điểm của Phật giáo không khác lắm so với
các kết luận khoảng hai ngàn năm sau của Gilbert Ryle trong
cuốn The Concept of Mind (Khái niệm về tâm trí), 1949 (xem thêm
Ðại cương triết học Tây phương).
Một
số nội hàm của Không tính
Sư
Long Thọ đã đi tới kết luận rằng, một cách tối hậu,
hoàn toàn không có sự khác biệt nào giữa niết bàn và vô
thường, cho dù ở cấp bậc qui ước cả hai có khác nhau.
Xét
về mặt truyền thống, lời phát biểu ấy nghe có vẻ cấp
tiến vì Phật giáo được xem là phương thế nhằm chế ngự
thế giới vô thường đang biến đổi không ngừng với toàn
bộ khổ não liên quan tới nó, và đồng thời nhằm làm cho
con người có khả năng đạt tới trạng thái an tĩnh của
niết bàn. Nhưng nếu niết bàn và vô thường quả thật chẳng
khác gì nhau, thế thì ta nên hiểu truyền thống ấy như thế
nào?
Ðiều
mà sư Long Thọ muốn thuyết phục là, nếu Vô thường cũng
như mọi sự vật khác, đều không có sự hiện hữu cố hữu,
đều không thể là sự vật thường tại được xác định
và tách biệt, thế thì nó không là một thực thể tách biệt
để hoàn toàn đi ngược lại với tất cả những cái khác
- trạng thái được ta gọi là niết bàn. Cũng như thế, trong
trạng thái ở đó mọi đam mê đều tĩnh lặng, toàn bộ là
hạnh phúc và thấu suốt, thì không có “cái gì đó” hiện
hữu chống lại mọi các khác – nó không thể là “sự vật”
thường tại. Niết bàn đơn giản chỉ là trạng thái nhìn
thấy bản tính bị điều kiện hoá của sự tới lui liên
tục hối hả có liên quan đến vô thường. Niết bàn là việc
thừa nhận rằng mọi sự vật đều “không tính” và rằng
không có gì có thể nắm bắt và bảo lưu.
Trình
bày theo cách khác
Quan
điểm của sư Long Thọ về niết bàn: trạng thái an tĩnh,
và về vô thường: thế giới hiện tượng, rất đặc biệt
và cấp tiến. Ta thử trình bày theo cách khác may ra có thể
dễ lĩnh hội.
Niết
bàn và thế giới vô thường là đồng nhất;
Cả
hai là biểu hiệu khác nhau của một cái thôi;
Cái
đó nếu xét về mặt tuỳ thuộc và qui ước thì nó là thế
giới vô thường;
Cái
đó nếu xét về mặt không tuỳ thuộc và tối hậu thì nó
là niết bàn;
Do
đó, niết bàn không để đạt tới, mà là việc nhận thức
bản tính chân chính của các hiện tượng trong đó hết thảy
những biểu hiện tạm thời muôn hình muôn vẻ của chúng
đều bị xoá sạch.
Về
quan hệ nhân quả
Có
thể áp dụng triết học của sư Long Thọ vào vấn đề quan
hệ nhân quả như sau:
Nguyên
nhân và kết quả không thể giống nhau (vì ngược lại, sẽ
không xảy tới cái gì mới mẻ).
Nguyên
nhân và kết quả không thể không nối kết với nhau (vì ngược
lại, cái này không thể gây nên cái kia – kinh nghiệm cho
chúng ta thấy thực tế chúng nối kết vì nói cho cùng, thế
giới có thể được dự báo phần nào).
Kết
quả không thể là thành phần của nguyên nhân (vì ngược
lại, sẽ không thể nào gây nên cái gì đó mới mẻ).
Do
đó, theo tư duy qui ước, để cho cái gì đó được tạo nên,
phải có sự liên tục nhưng đồng thời cũng phải có cái
gì đó mới mẻ.
Vì
thế, lối lập luận có tính qui ước ấy bị sụp đổ, nó
không có khả năng giải thích quá trình biến đổi.
Câu
trả lời nằm trong “không tính” – nguyên nhân cũng như
kết quả, cả hai đều không có sự hiện hữu thường trực
và tách biệt. Chỉ trong ý nghĩa qui ước chúng mới là hai
thực thể riêng biệt và tách biệt đang đòi hỏi phải nối
kết nhau bằng cách nào đó.
Như
thế, sunyata (không tính) cho thấy rằng vấn đề về cách
làm thế nào sự vật này có thể nói là gây nên sự vật
nọ, trong thực tế, chỉ là các dấu hiệu lệch lạc của
tư duy qui ước của chúng ta mà thôi.
Một
ấn tượng cần tránh
Tại
Việt Nam trước đây, vào giai đoạn thiếu thuốc men, để
trị các thứ bệnh thông thường như nhức đầu sổ mũi,
trúng gió, người ta thường dùng dầu cù là. Và có lời quảng
cáo từ chương trình khuyến mãi tư nhân trên đài phát thanh
Sài Gòn rằng “Không có gì trị bá bệnh hữu hiệu cho bằng
dầu cù là Con khỉ khô, chú Hai cô Ba đã dùng mọi thứ thuốc
nhưng không lành bệnh ngay. Lần tới chú Hai cô Ba cứ thử
dùng dầu cù là Con khỉ khô. Không có gì, không có gì bằng
dầu cù là Con khỉ khô”. Lời quảng cáo ấy được lặp
đi lặp lại nhiều lần trong ngày suốt mấy năm, tới độ
nó biến thành câu châm biếm: “Sổ mũi ho hen cứ lấy ‘không
có gì’ mà bôi”! Và cụm từ “không có gì” trở thành
tiêu biểu cho dầu cù là Con khỉ khô, một thực thể, một
sự vật.
Do
đó, bạn hãy đề phòng lối suy nghĩ cho rằng có một thực
thể nào đó được gọi là “không tính” (không có gì:
trống rỗng, hư không, rỗng không) làm căn bản của mọi
sự vật – một thực thể vô hình “không có gì” nào đó.
Học thuyết về không tính quả quyết rằng không hiện hữu
một thực thể, một sự vật như thế.
08-04-2008
10:12:34